1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (tt)

13 288 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 13
Dung lượng 483,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

…………/…………

BỘ NỘI VỤ

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ LOAN

THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI

LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI

HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

Hà Nội - 2017

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

…………/…………

BỘ NỘI VỤ

……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN THỊ LOAN

THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ CHÍNH SÁCH CÔNG

Mã số: 60 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS VÕ VĂN TUYỂN

Hà Nội - 2017

Trang 2

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vấn đề lao động và việc làm nói chung, việc làm cho người lao

động ở nông thôn nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong

chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đã và đang được

Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm

Huyện Đông Anh nằm ở phía Bắc của Thủ đô Hà Nội, với nhiều

tiềm năng để phát triển sản xuất nông nghiệp,công nghiệp, dịch

vụ.Từ năm 2010 đến nay có trên 150 dự án được triển khai thực hiện

trên địa bàn huyện với diện tích đất nông nghiệp phải thu hồi là

1.700 ha, số hộ bị thu hồi đất trên 21.000 hộ, số lao động bị ảnh

hưởng do thu hồi trên 26.000 lao động Trên địa bàn huyện vẫn tiếp

tục đón nhận các dự án của Trung ương và Thành phố Thực tế hiện

nay, việc chuyển quỹ đất nông nghiệp sang các mục đích sử dụng

khác ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của người lao động bị thu hồi

đất.Chính vì vậy, lực lượng lao động trong lĩnh vực này cần được

quan tâm tạo việc làm, đảm bảo đời sống của người dân, đồng thời

giải quyết ổn thoả tâm trạng của người lao động sau khi thu hổi đất,

đây là vấn đề cấp thiết cần giải pháp thực hiện

Xuất phát từ lý do trên với mong muốn góp phần nhỏ vào việc

giải quyết các vấn đề bức xúc đang đặt ra trên địa bàn huyện Đông

Anh nên em chọn đề tài: “Thực thi chính sách tạo việc làm cho

người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện

Đông Anh, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp của mình

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham

khảo, phần nội dung luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo việc làm và thực thi sách tạo việc

làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp;

Chương 2: Thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho

người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành

phố Hà Nội;

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả

thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất

nông nghiệp ở huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO VIỆC LÀM VÀ THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU

HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1.1 Một số vấn đề cơ sở lý luận về tạo việc làm, thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp 1.1.1 Các khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Việc làm, người lao động, tạo việc làm

Khái niệm việc làm

Theo tổ chức Lao động thế giới (ILO) thì việc làm là những hoạt động lao động được trả công bằng tiền hoặc hiện vật

Theo điều 13, chương 2 Bộ Luật Lao động: “Mọi hoạt động tạo

ra nguồn thu nhập và không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm” Theo quy định này các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:

- Tất cả các hoạt động tạo ra của cải, vật chất hoặc tinh thần, không bị pháp luật cấm, được trả công dưới dạng tiền hoặc hiện vật;

- Những công việc tự bản thân làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo thu nhập cho gia đình, cộng đồng, kể cả những việc không được trả công bằng tiền hoặc hiện vật

Việc làm đầy đủ được hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu về việc làm cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân Việc làm hợp lý được hiểu là sự thỏa mãn nhu cầu làm việc cho bất kỳ ai có khả năng lao động trong nền kinh tế quốc dân và phù

hợp với trình độ, nguyện vọng, sở thích của họ

Người lao động

Theo Điều 03 của Bộ Luật Lao động nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2012: “Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”.Trên thực tế, ngoài nhóm đối tượng được quy định là người lao động ở trên vẫn có nhu cầu làm việc nhưng với mục đích nghiên

Trang 3

cứu và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn tập trung hướng tới đối tượng

người lao động quy định trong Điều 03 Bộ Luật Lao động 2012 cụ

thể là người lao động trong độ tuổi lao động từ 15 đến 60 tuổi đối với

nam và từ 15 đến 55 tuổi đối với nữ

Tạo việc làm cho người lao động:

Tạo việc làm cho người lao động là tổng thể các biện pháp, chính

sách kinh tế - xã hội từ vi mô đến vĩ mô tác động đến mọi mặt của đời

sống xã hội, tạo điều kiện để người lao động có thể có việc làm

1.1.1.2 Khái niệm và nội dung chính sách tạo việc làm cho

người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp Chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông

nghiệp là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp mà Nhà

nước sử dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý

nhằm giải quyết vấn đề chính sách, thực hiện những mục tiêu về việc

làm cho người lao động sau thu hồi đất

Chính sách tạo việc làm là một trong những chính sách xã hội cơ

bản của mọi quốc gia nhằm góp phần đảm bảo an toàn, ổn định và

phát triển xã hội

1.1.1.3 Khái niệm và quy trình thực thi chính sách tạo việc làm cho

người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Thực thi chính sách công là quá trình đưa chính sách công vào thực

tiễn đời sống xã hội thông qua việc ban hành các quy định, thủ tục,

chương trình và thực hiện chúng nhằm đạt được mục tiêu chính sách

Trong quá trình thực thi chính sách, các nguồn lực vật chất, tài

chính, khoa học công nghệ và con người được đưa vào các hoạt động

có tính định hướng để đạt các mục tiêu đã đề ra Đây là quá trình kết

hợp giữa con người với các nguồn lực vật chất, tài chính, khoa học

công nghệ nhằm sử dụng các nguồn lực này một cách có hiệu quả

theo những mục tiêu đã đề ra

1.1.2 Đặc trưng của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp thường mang những

nét đặc trưng sau:

Thứ nhất, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu, người lao động gắn bó với canh tác nông nghiệp qua nhiều thế hệ

Thứ hai, phần lớn người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp chưa được đào tạo chuyên môn

Thứ ba, thu nhập thấp khiến đời sống của người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp gặp khó khăn

Thứ tư, trình độ hiểu biết về chính sách, pháp luật còn hạn chế

1.1.3 Vai trò của chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Tạo việc làm cho người lao động không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị - xã hội, nối liền kinh tế với xã hội Chính sách tạo việc làm cho người lao động nói chung và người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp nói riêng phù hợp có vai trò quan trọng trong

sự phát triển kinh tế, chính trị và xã hội

 Vai trò về mặt kinh tế

 Vai trò về mặt chính trị

 Vai trò về mặt xã hội

1.1.4Các yếu tố ảnh hưởng đến thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

 Nhóm yếu tố bên trong

 Nhóm yếu tố bên trong

1.2 Cơ sở thực tiễn – Kinh nghiệm ở một số địa phương về thực thi chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

1.2.1 Kinh nghiệm của huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng

Huyện Thuỷ Nguyên tập trung cao cho việc thực hiện chuyển đổi

cơ cấu kinh tế nông nghiệp và cơ cấu kinh tế nông thôn, khôi phục làng nghề truyền thống và phát triển làng nghề mới…Hàng năm tạo

ra lượng việc làm mới cho trên một nghìn lao động ở nông thôn bị thu hồi đất nông nghiệp

1.2.2 Kinh nghiệm của huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh

Trang 4

Huyện Yên Phong đã đưa ra một số biện pháp cơ bản:

- Chủ trương xây dựng kế hoạch chuyển đổi nghề nhằm tạo việc

làm ngay từ sau khi duyệt quy hoạch các khu công nghiệp Việc đền

bù và thu hồi đất chỉ được thực hiện khi có kế hoạch chuyển đổi

nghề và tạo việc làm được cấp có thẩm quyền phê duyệt

-Tạo việc làm thông qua chương trình phát triển công nghiệp

- Huyện chủ động thành lập quỹ hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc

làm để hỗ trợ tài chính một cách kịp thời cho người lao động học

nghề Với lao động dưới 35 tuổi, được đào tạo nghề hoàn toàn mới

để cung cấp cho các doanh nghiệp trên địa bàn huyện

Trước tác động của chính sách hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề,

tạo việc làm trên địa bàn huyện Yên Phong tỷ lệ lao động qua đào

tạo tăng từ 37% năm 2010 lên 45% năm 2014

1.2.3 Kinh nghiệm của huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội

UBND huyện đã thành lập Ban điều hành Đề án Hỗ trợ người lao

động bị thu hồi đất học nghề và tạo việc làm Đồng thời phối hợp với

Ngân hàng Chính sách xã hội hỗ trợ cho người lao động thuộc diện

bị thu hồi đất vay vốn để sản xuất kinh doanh, tự tạo việc làm

Ban điều hành Đề án tiến hành thu thập và xử lý thông tin về việc

làm và phối hợp với Phòng Chính sách lao động việc làm của Sở Lao

động – Thương binh và Xã hội Thành phố Hà Nội tổ chức các phiên

giao dịch việc làm Đặc biệt thành lập được các điểm tư vấn nghề và

việc làm cho người lao động ngay tại cơ sở Từ năm 2010 đến nay,

huyện Hoài Đức thường niên tổ chức các phiên giao dịch việc làm tại

Nhà văn hoá huyện Trong phiên giao dịch đầu tiên đạt kết quả

phỏng vấn 1.745 lượt, tuyển dụng trực tiếp được 683 lao động và 453

lao động được hẹn phỏng vấn lần hai

1.2.4 Những bài học kinh nghiệm thực thi chính sách tạo việc

làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đối với huyện

Đông Anh, thành phố Hà Nội

Qua nghiên cứu kinh nghiệm thực tế về thực thi chính sách tạo

việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp có thể rút ra

được một số bài học về tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất ở huyện Đông Anh như sau:

Thứ nhất, cần hệ thống chính sách một cách đồng bộ về tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Thứ hai, trong hệ thống chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp thì chính sách đào tạo nghề có vai trò quan trọng

Thứ ba, khi thực hiện chính sách tạo làm cần thực hiện đồng bộ các chính sách khác cùng với chính sách đào tạo nghề như chính sách chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chính sách hỗ trợ tài chính, vay vốn phát triển làng nghề truyền thống và chính sách xuất khẩu lao động

Thứ tư, chính sách tạo việc làm cho người lao động là chính sách đầu tư cho phát triển con người cả trong ngắn hạn và tương lai Thứ năm, trách nhiệm thực hiện chính sách tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi đất không chỉ của các cơ quan quản lý nhà nước vì vậy việc xã hội hoá, thu hút sự tham gia của các chủ thể khác như các doanh nghiệp, nhà đầu tư, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội và người lao động là hoàn toàn cần thiết

Trong xu thế phát triển chung hiện nay, huyện Đông Anh cần tham khảo, vận dụng linh hoạt những bài học kinhnghiệm được rút ra

ở các địa phương để có thể vận dụng, nhằm tạo ra nhiều việc làm cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn

Trang 5

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC THI CHÍNH SÁCH TẠO VIỆC LÀM

CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG BỊ THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP

TẠI HUYỆN ĐÔNG ANH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

2.1 Khái quát về tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Đông Anh

2.1.1 Về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý

Đông Anh là huyện ngoại thành nằm ở vị trí cửa ngõ phía Bắc

của Thủ đô Hà Nội với diện tích tự nhiên 18.213,9ha (182,14km2)

Phía Bắc giáp huyện Sóc Sơn, Hà Nội Phía Nam giáp huyện Từ

Liêm, quận Tây Hồ và quận Long Biên, Hà Nội Phía Đông Bắc giáp

huyện Yên Phong và Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh; phía Đông Nam giáp

huyện Gia Lâm, Hà Nội Phía Tây giáp huyện Mê Linh, Hà Nội.Với

diện tích tự nhiên khá rộng, lại nằm hoàn toàn ở khu vực phía Bắc

sông Hồng và tiếp giáp với nội thành nên Đông Anh có vị trí và vai

trò chiến lược trong định hướng phát triển đô thị của Thủ đô Hà Nội

những năm tới

2.1.1.2 Điều kiện tự nhiên

a, Đặc điểm địa hình

Địa hình của Đông Anh tương đối bằng phẳng, độ dốc thoải dần

theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Đặc điểm địa hình trên là yếu tố

quan trọng để định hình sự phát triển nông nghiệp, chuyển đổi cơ cấu

cây trồng vật nuôi và quy hoạch các vùng chuyên canh sản xuất

b, Đặc điểm khí hậu, thời tiết

Đông Anh - Hà Nội nằm ở vùng đồng bằng Sông Hồng, có chế

độ khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, thuận lợi cho hoạt động sản xuất

nông nghiệp, nhất là các loại cây lương thực, rau, cây ăn quả, hoa

Song, điều kiện thời tiết cũng gây trở ngại nhất định cho cây trồng

như : Bão lụt, mưa phùn, gió mùa Đông Bắc cũng là những điều kiện thời tiết gây nhiều khó khăn cho sinh hoạt và đời sống của nhân dân

c, Các nguồn tài nguyên

Tài nguyên đất

Tài nguyên nước

Tài nguyên du lịch, nhân văn

2.1.2 Về điều kiện kinh tế

Thu nhập đầu người khu vực nông thôn năm 2015 ước đạt 29 triệu đồng/người/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng

tỷ trọng ngành Thương mại dịch vụ, giảm tỷ trọng ngành Công nghiệp - Xây dựng, Nông nghiệp Ngành Thương mại - dịch vụ chiếm 14,46%, tăng 3,63%; Công nghiệp - Xây dựng chiếm 81,58% giảm 2,42%; Nông - Lâm - Thủy sản chiếm 3,96%, giảm 1,19%

2.1.3 Về dân số - lao động

a Dân số:

Tổng số dân trên địa bàn huyện Đông Anh đến cuối năm

2015 khoảng 35,05 vạn người, chiếm khoảng 5,2% dân số Thủ đô Hà Nội Mật độ dân số năm 2015 là 1,924 người/1.000m2 (1.924 người/km2) Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của huyện Đông Anh giai đoạn 2011-2015 (khoảng 1,4-1,5%/năm) cao hơn so với giai đoạn

2006 -2010 trước đó (khoảng 1,2-1,3%/năm) Có thể nói, quy mô dân số lớn là một nguồn lực đáng kể trong quá trình phát triển của huyện Đông Anh

b Lao động:

- Về số lượng: Tổng số nguồn lao động của huyện Đông Anh

chiếm gần 60% số dân Nguồn lao động đông đảo chính là nguồn lực quan trọng bậc nhất để thực hiện quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện Đông Anh những năm tới đây

- Về cơ cấu: Cơ cấu nguồn lao động huyện Đông Anh có sự

chuyển dịch tích cực trong giai đoạn 2011-2015 Tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm từ gần 65% năm 2011 xuống 59% năm 2015 Tỷ lệ lao

Trang 6

động công nghiệp duy trì ở mức 29-30% Tỷ lệ lao động dịch vụ tăng

từ 4,6% năm 2011 lên 12% năm 2015

- Về chất lượng: Chất lượng nguồn nhân lực của huyện đang

ngày càng được nâng cao Tuy nhiên, tỷ lệ lao động qua đào tạo của

huyện Đông Anh hiện còn thấp, chưa tới 50%

2.2 Khái quát về tình hình thu hồi đất nông nghiệp của huyện

Đông Anh từ năm 2010 đến nay

2.2.1 Quỹ đất huyện Đông Anh

Đông Anh là huyện ngoại thành có diện tích thuộc loại lớn của

Thủ đô Hà Nội Hơn nữa, toàn bộ diện tích Đông Anh là đất đồng

bằng và bán sơn địa, rất phù hợp để phát triển nông nghiệp, công

nghiệp và đô thị

Bảng 2.2.1: Cơ cấu sử dụng đất năm 2015 của huyện Đông Anh

(ha)

Tỷ lệ (%)

1.1 Đất sản xuất nông nghiệp 8.932,04 49,04

1.1.1.1 Đất trồng lúa 7.822,98 42,95

1.1.1.2 Đất cỏ dùng vào chăn nuôi - -

1.1.1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 917,44 5,04

1.3 Đất nuôi trồng thủy sản 553,26 3,04

2.2.1 Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 246,46 1,35

2.2.3 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp 898,96 4,95

2.3 Đất tôn giáo, tín ngưỡng 11,24 0,06

2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 171,77 0,94

(ha)

Tỷ lệ (%)

2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 2.049,03 11,25 2.6 Đất phi nông nghiệp khác 44,14 0,24

Nguồn: UBND Huyện Đông Anh

Như vậy, có thể thấy tiềm năng quỹ đất của huyện còn khá lớn,đây là tiềm năng lớn nhất của huyện để phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn đến năm 2020

Trong quá trình phát triển theo hướng đô thị hóa tới đây, với diện tích đất chưa sử dụng còn lại và gần 9.000 ha đất nông nghiệp mà phần lớn có thể chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp, Đông Anh có thuận lợi lớn Vấn đề đặt ra là phải quy hoạch và sử dụng thật hữu hiệu nguồn lực quan trọng này phục vụ cho sự phát triển bền vững kinh tế - xã hội của huyện

2.2.2 Thực trạng việc triển khai các dự án thu hồi đất nông nghiệp để phục vụ phát triển kinh tế, văn hoá

Trong những năm gần đây, trên địa bàn huyện Đông Anh đã triển khai nhiều dự án phát triển kinh tế, đô thị Tổng diện tích đất đã hoàn thành là 400 ha, trong đó nổi bật là các dự án: Đường cao tốc Hà Nội

- Thái Nguyên, đường Võ Văn Kiệt, Cầu Đông Trù, cầu Nhật Tân và tuyến đường Võ Nguyên Giáp, bệnh viện nhiệt đới và nhiều dự án khác

2.3 Phân tích thực trạng thực thi chính sách tạo việc làm cho người

lao động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố

Hà Nội

Quá trình triển khai chính sách tạo việc làm được thực hiện thông qua nhiều chính sách khác nhau Căn cứ Bộ luật Lao động ngày 18 tháng 6 năm 2012 quy định các chính sách hỗ trợ tạo việc làm cho người lao động gồm: đào tạo nghề tín dụng ưu đãi tạo việc làm; hỗ trợ chuyển dịch việc làm cho lao động nông thôn; hỗ trợ đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng Căn cứ vào chỉ đạo của Thành ủy, HĐND, UBND Thành phố Hà Nội, UBND huyện

Trang 7

Đông Anh đã quy định rõ trách nhiệm của các ban ngành, đoàn thể

trong việc triển khai, thực hiện chính sách

Hàng năm, UBND huyện xây dựng chương trình và dự trù

nguồn kinh phí tạo việc làm của địa phương trình HĐND quyết định

và thực hiện Quyết định đó UBND huyện định hướng, hỗ trợ, đôn

đốc và kiểm tra chương trình thực thi chính sách tạo việc làm ở các

23 xã và 01 thị trấn

2.3.1 Chính sách đào tạo nghề nhằm tạo việc làm cho người lao

động bị thu hồi đất nông nghiệp

Thành lập Ban chỉ đạo Quyết định 1956 huyện, đồng thời xây

dựng Đề án số 01/ĐA –UBND về đào tạo nghề cho lao động nông

thôn trong đó chú trọng lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa

bàn huyện đến năm 2020

Hàng năm, UBND Huyện xây dựng và ban hành kế hoạch về

công tác đào tạo nghề, kiểm tra, giám sát tình hình đào tạo nghề cho

lao động nông thôn trên địa bàn huyện và kiện toàn Ban chỉ đạo theo

Quyết định số 1956 của huyện

Về hoạt động tuyên truyền, tư vấn học nghề

Về công tác điều tra, khảo sát nhu c u dạy nghề cho lao động

nông thôn

Về xây dựng các mô hình dạy nghề hiệu quả cho lao động

nông thôn

Trong giai đoạn 2011-2016, Huyện đã mở 12 lớp với 390 học

viên, thời gian đào tạo là 3 tháng Đại đa số học viên sau khi học

nghề có thu nhập cao hơn so với trước khi tham gia học nghề Một số

học viên đã mạnh dạn mở rộng sản xuất kinh doanh tại gia đình, gia

tăng thu nhập bình quân từ 2 đến 2,5 triệu/ người/ tháng

2.3.2 Hỗ trợ làng nghề

Chính sách hỗ trợ làng nghề đã được quan tâm chú trọng Chính

sách về vốn và đầu tư, tín dụng đã có nhiều đổi mới, góp phần tạo

môi trường và điều kiện thuận lợi cho các hộ gia đình và các doanh

nghiệp trong làng nghề phát triển

Căn cứ vào các văn bản của Nhà nước,UBND ban hành Quyết định số 32/2012/QĐ-UBND về một số chính sách khuyến khích phát triển làng nghề tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn

Đối với các cơ sở sản xuất làng nghề: Cơ sở làng nghề tham gia hội chợ triển lãm trong và ngoài nước, tham gia Phiên chợ hàng Việt

về nông thôn Bên cạnh đó, cơ sở làng nghề được hỗ trợ xây dựng Website thương mại điện tử với mức hỗ trợ tối đa 70% chi phí nhưng không

quá 5 triệu đồng/Website

2.3.3 Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn tạo việc làm mới

Chủ tịch UBND huyện đã ban hành chính sách khuyến khích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện Đông Anh giai đoạn 2012-2016 (Quyết định số 67/2012/QĐ-UBND ngày 16/3/2012) nhằm khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư cơ

sở hạ tầng và chuyển đổi vật nuôi, cây trồng, phát triển ngành nghề nông thôn

 Lĩnh vực nông - lâm - thủy sản:

Huyện có chủ trương, chính sách giao quyền sử dụng đất nông nghiệp ổn định lâu dài cho hộ nông dân Đồng thời thực hiện chủ trương dồn điền đổi thửa đất sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện, tạo điều kiện cho người dân sản xuất trên quy mô diện tích đất lớn, tập trung Ban chỉ đạo cũng tập trung đẩy mạnh chuyển đổi

cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất cây hàng hóa có giá trị kinh tế cao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp Huyện

đã hoàn thành việc lập quy hoạch chuyển đổi cây trồng tại 23 xã Nhiều mô hình trong trồng trọt cho hiệu quả kinh tế Đông Anh thực hiện chính sách khuyến khích phát triển các mô hình chăn nuôi, trang trại chăn nuôi tách khỏi khu dân cư nhằm nâng cao hiệu quả và khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường Chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy sản được quan tâm phát triển

 Lĩnh vực công nghiệp - xây dựng:

Trang 8

Huyện đã ban hành nhiều chính sách để phát triển công nghiệp –

xây dựng với mục tiêu đưa công nghiệp – xây dựng phát triển nhanh,

từng bước theo hướng hiện đại, công nghệ cao

Sản xuất công nghiệp và xây dựng trên địa bàn huyện đã và đang

tiếp tục được quy hoạch theo các khu vực tập trung, hạn chế việc

phát triển các cơ sở sản xuất trong khu dân cư, tránh gây ô nhiễm

môi trường và ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của nhân dân Các

ngành sản xuất công nghiệp, xây dựng phát triển mạnh trên địa bàn

huyện là gia công cơ khí, may mặc và chế biến lâm sản Các khu vực

tập trung công nghiệp và khu công nghiệp tập trung, khu/cụm công

nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn huyện Đông Anh hiện nay bao gồm:

- Khu vực tập trung công nghiệp Đông Anh hình thành từ những

năm 1970-1980 trên trục đường quốc lộ 3 Khu vực này được phân

bố trên quy mô khoảng 70ha và hiện có khoảng 30 doanh nghiệp

thuộc các ngành cơ khí, vật liệu xây dựng

- Khu công nghiệp tập trung Thăng Long (Bắc Thăng Long), nằm

trên địa bàn các xã Kim Chung, Võng La do Công ty Khu Công

nghiệp Thăng Long làm chủ đầu tư Tổng số lao động đang làm việc

trong KCN Bắc Thăng Long là 48.000 người, trong đó có hơn 8.000

là người Đông Anh

- Cụm công nghiệp Nguyên Khê với tổng diện tích 95,6 ha nằm

trên địa bàn xã Nguyên Khê Đây là một trong số 49 cụm công

nghiệp đã đầu tư xây dựng và đi vào hoạt động trên địa bàn thành

phố Hà Nội hiện nay

- Khu công nghiệp Đông Anh: quy mô khoảng 600ha, nằm trên

địa bàn các xã Xuân Nộn, Thụy Lâm và thị trấn Đông Anh, đang

được nghiên cứu lập và phê duyệt quy hoạch

 Lĩnh vực dịch vụ:

Nắm bắt điều kiện lý tưởng này, UBND huyện chỉ đạo Phòng

Công thương kết hợp với Phòng Tài Nguyên và Môi trường xây

dựng chương trình phát triển Thương mại, dịch vụ trên địa bàn huyện

phát triển rộng khắp, hàng hóa, dịch vụ phong phú về chủng loại,

mẫu mã, đáp ứng được nhu cầu về sản xuất và tiêu dùng của nhân dân trong huyện Đồng thời, xây dựng dịch vụ du lịch một cách nhanh chóng và bền vững với nhiều loại hình du lịch khác nhau như:

du lịch sinh thái, du lịch văn hoá, ẩm thực, du lịch thể thao, lễ hội Huyện xác định việc phát triển mạnh du lịch sẽ có tác dụng thúc đẩy nhiều ngành cùng phát triển như: việc khôi phục và phát triển các nghề truyền thống, thủ công mỹ nghệ, dịch vụ thương mại

Ngành dịch vụ du lịch của huyện cũng bước đầu hình thành và có

xu hướng phát triển tốt dựa vào thế mạnh du lịch của huyện là các di tích lịch sử văn hoá, đặc biệt là di tích Cổ Loa Hình thành tuyến du lịch trọng điểm Cổ Loa - Ca trù Lỗ Khê - Rối nước Đào Thục - Làng nghề Vân Hà được du khách nhiều nơi biết đến

2.3.4 Hỗ trợ lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp

Xác định xuất khẩu lao động là một trong các giải pháp chính sách thiết yếu để tạo việc làm, nâng cao thu nhập, nâng cấp tay nghề cho người nông dân, đặc biệt người nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp Ban chỉ đạo xuất khẩu lao động của huyện đã chỉ đạo các xã, thị trấn phối hợp với các doanh nghiệp có chức năng hợp pháp về tuyển lao động để xuất khẩu trên địa bàn hỗ trợ người lao động bị thu hồi đất nông nghiệp đi xuất khẩu lao động

Phòng LĐ-TB&XH huyện hỗ trợ, hoàn thiện hồ sơ của đối tượng đã được Ủy ban nhân dân xã xác nhận trình Sở LĐ-TB&XH

để xem xét, quyết định hỗ trợ cho người lao động

Hàng năm, căn cứ vào hợp đồng đưa người lao động đi làm việc

ở nước ngoài do doanh nghiệp xuất khẩu lao động ký với người lao động và phiếu thu của doanh nghiệp hoặc ủy nhiệm chi của ngân hàng chuyển cho doanh nghiệp xuất khẩu lao động, UBND huyện quyết định số lượng và danh sách lao động cư trú trên địa bàn đi xuất khẩu lao động được hưởng chính sách hỗ trợ; chi trả trực tiếp cho người được ủy quyền hợp pháp của người lao động đi làm việc ở nước ngoài

Trang 9

2.4 Đánh giá công tác thực thi chính sách tạo việc làm cho người

lao động bị thu hồi đất nông nghiệp huyện Đông Anh, thành phố

Hà Nội

2.4.1 Những kết quả đạt được

Thứ nhất, tỷ lệ người lao động được tạo việc làm thông qua đào

tạo nghề trên tổng số người lao động bị mất việc do thu hồi đất nông

nghiệp theo hướng gia tăng Giai đoạn 2011-2016, Huyện đã mở

được 155 lớp dạy nghề với 5.289 lao động nông thôn Trong đó,

nghề phi nông nghiệp là 108 lớp với số học viên là 3.705 người

Trong đó: lao động nông thôn là 3703 học viên, học viên là lao động

bị thu hồi đất canh tác là 1370 học viên Hiệu quả dạy nghề được

khẳng định cả về kinh tế và xã hội Cụ thể là :

Về mặt kinh tế:

* Nghề nông nghiệp: 100% học viên đều ký cam kết tự tạo việc

làm tại nhà, hơn 80% lao động nông thôn sau khi học nghề đã có

năng suất lao động cao, góp phần tăng thu nhập

* Nghề phi nông nghiệp: Sau khi đào tạo, học viên đã nắm bắt

được kiến thức, chủ động xin việc làm, học viên có được việc làm ổn

định sau khi tốt nghiệp

Về mặt xã hội: lao động sau đào tạo có việc làm đã góp phần ổn

định trật tự an ninh xã hội Các xã đã gắn chương trình xây dựng nông

thôn mới với đào tạo nghề, từng bước chuyển dịch dần một bộ phận lao

động nông nghiệp sang làm việc ở các ngành nghề phi nông nghiệp

Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm thay đổi rõ rệt

theo hướng tỷ trọng nông nghiệp giảm và tỷ lệ lao động công nghiệp,

dịch vụ gia tăng

Thứ ba về hỗ trợ lao động các làng nghề:

Các làng nghề tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân khu vực

(trung bình thu nhập của người lao động trong các làng nghề cao gấp

3-4 lần so với người lao động thuần nông), đồng thời việc phát triển

thương hiệu cũng được chú trọng

Cụ thể, năm 2015 tại các làng nghề truyền thống trên địa bàn Đông Anh đã tạo ra 13.250 việc làm Liên Hà, Vân Hà là hai xã có làng nghề phát triển mạnh nhất Đông Anh, trong đó Liên Hà phát triển nghề sản xuất đồ gỗ công nghiệp (gỗ phun sơn) và Vân Hà phát triển nghề mộc, chạm khắc, đồ gỗ mỹ nghệ và gia dụng Tiềm năng phát triển của hai làng nghề này còn rất lớn Khu sản xuất làng nghề tập trung xã Liên Hà có quy mô 3ha đã hoàn thành đầu tư hạ tầng kỹ thuật, các hộ cũng đã đấu thầu quyền sử dụng đất thuê 50 năm Khu sản xuất này tập trung các cơ sở sản xuất đồ gỗ phun sơn, giảm ô nhiễm môi trường cho khu dân cư

Khu sản xuất tiểu thủ công nghiệp tập trung làng nghề xã Vân Hà với hình thức tương tự xã Liên Hà đã triển khai đầu tư xây dựng cơ

sở hạ tầng

Bên cạnh Liên Hà, Vân Hà nghề truyền thống tại các làng nghề khác cũng đang phát triển mạnh, sản phẩm tiêu thụ tốt trên thị trường Trong đó, Dục Tú phát triển nghề cơ kim khí (kéo sắt); Võng

La, Cổ Loa phát triển nghề chế biến thực phẩm, làm bún; Vân Nội, Đông Hội phát triển nghề đan lát, sản xuất đồ gia dụng từ tre, nứa; Bắc Hồng, Uy Nỗ phát triển nghề may

Thứ tư, về chính sách hỗ trợ xuất khẩu lao động:

Theo báo cáo về tình hình lao động, việc làm của Phòng LĐ- TB&XH huyện Đông Anh, năm 2015, số lượng người xuất khẩu lao động là 756 lao động

Thông qua xuất khẩu lao động không chỉ giảm bớt được gánh nặng việc làm trước mắt mà còn thu được nguồn ngoại tệ do người lao động gửi về Đồng thời trình độ tay nghề, ngoại ngữ của người lao động cũng tăng cao

2.4.2 Những tồn tại, hạn chế

Chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ còn chậm, chưa tạo ra được bước chuyển biến mạnh mẽ, nông nghiệp vẫn là ngành lao động chủ yếu, công nghiệp và dịch vụ phát triển chưa tương xứng với tiềm năng

Trang 10

của địa phương Tỷ lệ lao động làm việc trong khu vực nông, lâm

nghiệp và thủy sản vẫn chiếm tỷ trọng cao

Xuất khẩu lao động chưa tương xứng với tiềm năng và nhu cầu của

người lao động Số lượng người đi xuất khẩu lao động còn hạn chế

Công tác khảo sát nhu cầu học nghề chưa sát với thực tế, công

tác tuyên truyền, tư vấn cho lao động chọn nghề và tham gia học

nghề chưa phù hợp, chưa gắn với quy hoạch phát triển kinh tế-xã hội

của huyện và gắn với quy hoạch xây dựng nông thôn mới Công tác

kiểm tra, giám sát tổ chức lớp học nghề ở các xã chưa thường xuyên,

một số xã chưa chủ động trong việc xây dựng kế hoạch tổ chức thực

hiện đề án đào tạo nghề hàng năm.Một số ngành nghề lao động nông

thôn có nhu cầu theo học cao như các nghề: sửa chữa và lắp ráp điện

thoại, lái xe ô tô, sửa chữa ô tô nhưng không nằm trong nhóm các

ngành nghề được UBND Thành phố Hà Nội hỗ trợ

Công tác giáo dục đào tạo, đào tạo nghề chưa đồng bộ, chưa đáp

ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của huyện Ngành nghề

đào tạo cũng chưa thật sự phong phú và sát với nhu cầu của lao động

nông thôn,

Nguồn kinh phí còn eo hẹp Công tác xã hội hóa trong tạo nguồn

vốn cho tạo việc làm còn hạn chế, chưa huy động được các nguồn

lực từ doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và nhân dân

Trong thực thi chính sách chưa xây dựng được cơ chế phối hợp,

quy trình cụ thể nên trách nhiệm của các phòng, ban còn Phân tán,

đến khi triển khai chính sách vào cuộc sống còn nhiều trở ngại

Trình độ và năng lực của đội ngũ cán bộ công chức còn nhiều

hạn chế trong quá trình thực thi chính sách

Công tác thanh kiểm tra chưa thật sự chật chẽ, đôi khi còn mang

tính hình thức

2.4.3 Nguyên nhân

Do xuất phát kinh tế của huyện chủ yếu vẫn là nông nghiệp, cơ

cấu kinh tế chuyển dịch chậm, nên sự chuyển dịch cơ cấu việc làm

theo hướng công nghiệp và dịch vụ không đáng kể Khả năng tạo

việc làm có chất lượng cao cho người lao động còn gặp khó khăn Cơ chế, chính sách của nhà nước chưa thể giải quyết hết được số lao động chưa qua đào tạo và giải quyết lao động thất nghiệp

Công tác khảo sát nhu cầu học nghề tại các xã chưa sát với thực tế, công tác tuyên truyền phổ biến tới người dân về chính sách dạy nghề chưa làm cho người lao động nhận thức được quyền lợi trong công tác đào tạo nghề, chưa hiểu đầy đủ về sự cần thiết lợi ích của việc đi học nghề nên còn ngại đi học và chưa chuyên cần trong học nghề

Ngân sách của Nhà nước đầu tư trực tiếp cho các chương trình về tạo việc làm còn hạn chế, chưa thoả đáng với nhiệm vụ

Bên cạnh đó trong thời gian qua huyện cũng chưa có chủ trương, giải pháp cụ thể về tạo việc làm, do vậy trong lãnh đạo, chỉ đạo cũng như công tác tham mưu cho cấp ủy, chính quyền còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế

Công tác dự báo còn yếu và còn thiếu chủ động trong việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng người lao động Mặt khác huyện còn buông lỏng cơ cấu đào tạo, để phát triển tự phát theo nhu cầu của người dân, chưa chú trọng định hướng và đào tạo ngành nghề phù hợp

Quy mô các trường dạy nghề, đào tạo chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được nhu cầu học nghề, tự tạo việc làm của người dân Chương trình đào tạo và cơ cấu ngành nghề đào tạo còn hạn chế, thiếu sự áp dụng của thông tin, công nghệ, chưa thực sự đáp ứng yêu cầu của xã hội

Cơ quan thực thi chính sách cấp huyện chưa được đảm bảo nguồn lực về số lượng và chất lượng (sự hiểu biết, trình độ, năng lực) Do đó, khi thực hiện chính sách tạo việc làm cho người lao động chưa đạt được hiệu quả cao

Ngày đăng: 18/12/2017, 23:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w