1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)

311 373 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 311
Dung lượng 2,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-/ -

BỘ NỘI VỤ -/ -

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VĂN LINH

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

HÀ NỘI, NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

-/ -

BỘ NỘI VỤ -/ -

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN VĂN LINH

CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 60 34 04 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN HỮU HẢI

Hà Nội, Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan, bản luận văn thạc sĩ chính sách công với đề tài “Chính sách phát

triển du lịch biển Đà Nẵng” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, được thực hiện

dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Hữu Hải Luận văn không sao chép ở bất

kỳ một công trình nghiên cứu nào khác Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực và chính xác, các tài liệu tham khảo và trích dẫn được sử dụng trong luận văn đều có xuất xứ, nguồn gốc, tác giả cụ thể và được ghi trong danh mục các tài liệu tham khảo của luận văn Tôi xin chịu trách nhiệm trước pháp luật về lời cam đoan trên

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Học viên

Nguyễn Văn Linh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn với đề tài “Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng”, trước

hết tôi xin đặc biệt cảm ơn thầy hướng dẫn PGS TS Nguyễn Hữu Hải đã tận tâm giúp đỡ, hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tác giả luận văn xin trân trọng cám ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, lãnh đạo Khoa sau đại học, lãnh đạo Khoa Hành chính học, các thầy, các cô giáo tại Học viện Hành chính Quốc gia, Sở Du lịch thành phố Đà Nẵng, đã tạo những điều kiện tốt nhất, tham gia góp ý kiến khoa học, cung cấp tài liệu, ủng hộ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập nghiên cứu, điều tra khảo sát để hoàn thành luận văn

Xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn hỗ trợ, động viên, chia sẻ

và tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi vượt qua những khó khăn để hoàn thành luận văn này Với những điều kiện khách quan và chủ quan, chắc chắn kết quả nghiên cứu của luận văn còn có những thiếu sót Tác giả luận văn rất mong tiếp tục nhận được những ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn góp phần tích cực cho công cuộc phát triển du lịch biển của Việt Nam nói chung và của thành phố Đà Nẵng nói riêng

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Linh

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG 4

MỞ ĐẦU 4

1 Lý do chọn đề tài luận văn 5

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 6

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 9

4 Đối tượng và phạm vi của luận văn 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 12

7 Kết cấu của luận văn 12

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN 13

1.1 Khái niệm, nội dung chính sách phát triển du lịch biển 13

1.2 Vai trò của chính sách phát triển du lịch biển đối với phát triển kinh tế - xã hội ……….………… 20

1.3 Chính sách phát triển du lịch ở một số địa phương trong và ngoài nước 23

Tiểu kết chương 31

Chương 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG 32

2.1 Khái quát chung về thành phố Đà Nẵng 32

2.2 Chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng 39

2.3 Đánh giá chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng 57

Tiểu kết chương 75

Chương 3: HOÀN THIỆN NỘI DUNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG 77

3.1 Định hướng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng 77

3.2 Đề xuất hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng 84

3.3 Một số kiến nghị cụ thể 91

Tiểu kết chương 96

KẾT LUẬN 98

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Chi phí dành cho phát triển du lịch 2011-2015……….… …….55

Bảng 2.2 Chi phí dành cho phát triển du lịch 2016-2020 56

Bảng 2.3 Số lượng khách du lịch đến Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016 ……… 63

Bảng 2.4 Doanh thu ngành du lịch của Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016……… 63

Bảng 2.5 Tổng số vốn đầu tư vào các dự án thuộc lĩnh vực du lịch tại Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016……… 64

Bảng 2.6 Số lượng cơ sở lưu trú và số buồng phòng phục vụ du lịch biển Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016……… …65

Bảng 2.7 Kinh phí dự kiến dành cho xúc tiến thị trường, quảng bá du lịch Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016……….71

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, không chỉ mang đến doanh thu trực tiếp từ các lĩnh vực dịch vụ như khách sạn, tour tuyến, điểm tham quan mà còn tạo nguồn thu, góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề liên quan khác như giao thông vận tải, ăn uống, giải trí, thương mại và một số dịch vụ phụ trợ khác (thông tin liên lạc, ngân hàng, ).Trong những năm qua trước yêu những yêu cầu, thách thức của hội nhập kinh tế thế giới và khu vực, cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế khác, ngành du lịch nước ta trong những năm qua đã có những bước phát triển đáng kể và ngày càng khẳng định được vị trí quan trọng của mình trong cơ cấu kinh tế quốc gia nói chung cũng như đối với các địa phương nói riêng và đặc biêt

là đối với các địa phương coi du lịch là ngàng kinh tế mũi nhọn như thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng là một trong những thành phố có tiềm năng du lịch rất lớn của nước ta Với những lợi thế về địa lý, điều kiện tự nhiên như sở hữu 1 trong 10 bãi biển đẹp nhất thế giới, các bán đảo, đảo, bãi tắm đẹp,… đã tạo ra những điều kiện hết sức thuận lợi cho việc phát triển du lịch biển cho thành phố Sau hơn 40 năm phát triển, ngành du lịch Đà Nẵng đã có những bước phát triển mạnh mẽ, trở thành một trong những ngành kinh tế quan trọng đóng góp vào sự tăng trưởng của thành phố Du lịch phát triển đã làm thay đổi diện mạo, tạo thêm nhiều việc làm, cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân

Một trong những yếu tố quan trọng góp phần quan trọng trong việc giúp thành phố đạt được những kết quả đáng khích lệ như vậy chính là sự hợp lý, hiệu quả của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố đến thời điểm hiện tại Hệ thống chính sách phát triển du lịch biển của thành phố trong thời gian qua đã tạo ra những tác động tích cực, cũng như tạo ra môi trường thuận lợi khuyến khích sự phát triển của du lịch biển Đà Nẵng theo định hướng của Đảng và Nhà nước nói chung cũng như của thành phố Đà Nẵng nói riêng Bên cạnh những ưu điểm của mình, hệ thống

Trang 8

chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng cũng không thể tránh khỏi việc tồn tại những hạn chế nhất định Như việc một số yếu tố phát triển du lịch biển chưa được đầu tư quan tâm đúng mức, một số phương án chính sách được đưa ra nhằm phát triển du lịch biển của thành phố chưa thực sự đáp ứng được các các yêu cầu, đòi hỏi thực tế đối với việc giải quyết các vấn đề của phát triển du lịch biển Đà Nẵng

Trong thời gian qua, với mục đích tìm ra những phương án nhằm phát triển du lịch biển Đà Nẵng, nhiều nhà khoa học, nghiên cứu đã thực hiện những đề tài, công trình nghiên cứu kho học về thực trạng phát triển du lịch Đà Nẵng nói chung cũng như du lịch biển Đà Nẵng nói riêng, từ đó đề xuất các phương án cụ thể nhằm góp phần phát triển hơn nữa du lịch biển Đà Nẵng Tuy nhiên, những đề tài, nghiên cứu liên quan đến phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian qua phần lớn được các nhà khoa học, nghiên cứu khai thác, nghiên cứu dưới góc độ về kinh tế, du lịch, quản

lý công trong khi các nghiên cứu về phát triển du lịch biển Đà Nẵng trên phương diện chính sách công còn rất hạn chế

Trong bối cảnh đó, việc làm rõ một thực trạng và đề xuất một số phương án nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng, qua đó góp phần khai thác thác tối đa các tiềm năng, tạo ra và nắm bắt các cơ hội để phát triển

du lịch biển của thành phố Đà Nẵng là rất cần thiết Đây là lý do tác giả chọn đề tài

“Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng”

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trong thời gian qua đã có rất nhiều nhà khoa học, nghiên cứu thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học, các đề tài nghiên cứu có nội dung liên quan đến phát triển du lịch biển nói chung cũng như phát triển du lịch biển Đà Nẵng nói riêng Cụ thể:

2.1 Một số nghiên cứu về phát triển du lịch biển nói chung

Tác giả Ngô Quang Duy (2008) với nghiên cứu "Phát triển Du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh", luận văn Thạc sĩ Du lịch học - Trường đại học Khoa học Xã

Trang 9

hội và Nhân văn đã tập trung nghiên cứu và làm rõ cơ sở lý luận về biển, đảo, du lịch biển đảo từ đó làm căn cứ cho việc nhận diện các tài nguyên du lịch biển đảo ở Vân Đồn, Quảng Ninh Đồng thời thông qua các nghiên cứu phân tích về thực trạng hoạt động du lịch biển đảo ở Vân Đồn đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch biển đảo ở Vân Đồn

Tác giả Nguyễn Trịnh Ngọc Hiền (2009), với nghiên cứu về "Phát triển bền vững du lịch biển Nha Trang", luận văn Thạc sĩ Địa lý học - Trường đại học Sư phạm Hồ Chí Minh, đã tập trung việc tổng quan các cơ sở lý luận đối với việc phát triển du lịch biển Đồng thời nghiên cứu, phân tích tiềm năng, hiện trạng phát triển

du lịch biển Nha Trang theo hướng bền vững Từ đó kết hợp với các định hướng chiến lược phát triển kinh tế- xã hội của quốc gia, của khu vực, kiến nghị một số giải pháp nhằm phát triển du lịch bền vững ở thành phố Nha Trang

Tác giả Vũ Đình Nguyên (2013) với nghiên cứu "Phát triển bền vững du lịch biển Cát Bà", luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Du lịch - Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn đã khái quát về du lịch biển và phát triển du lịch biển bền vững Khảo sát hiện trạng hoạt động du lịch biển ở Cát Bà Phân tích các nguyên nhân khiến du lịch biển Cát Bà thiếu bền vững Đưa ra những giải pháp phù hợp hướng đến phát triển du lịch biển bền vững tại Cát Bà

Tác giả Châu Quốc Tuấn (2016) với nghiên cứu "Phát triển du lịch biển đảo vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh", Luận án Tiến sĩ - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch biển đảo, làm cơ sở để thực hiện việc phân tích thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch biển đảo Vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh Từ đó đề xuất các giải pháp phát triển du lịch biển đảo Vịnh Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh

2.2 Một số công trình nghiên cứu có liên quan tới phát triển du lịch biển Đà thành phố Đà Nẵng

Tác giả Nguyễn Đăng Trường, Ngô Trường Thọ, Dương Thị Thơ (2003) đã thực hiện nghiên cứu khoa học “Nghiên cứu phát triển các loại hình và hoạt động

Trang 10

dịch vụ du lịch trên địa bàn TP.ĐN” ( Do Sở Khoa học và Công nghệ là cơ quan quản lý) Nghiên cứu đã tập trung nghiên cứu và phát triển các loại hình sản phẩm và hoạt động dịch vụ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn 2003 - 2010 Cụ thể, đề tài nghiên cứu các sản phẩm du lịch, các hoạt động dịch vụ du lịch của Đà Nẵng trong mối liên hệ động với các yếu tố môi trường, trên cơ sở đó, nghiên cứu và

đề xuất hệ thống các giải pháp phát triển các sản phẩm và hoạt động du lịch của Đà Nẵng

Tác giả Trần Thị Kim Ánh (2010) đã triển khai đề tài “Nghiên cứu phát triển du lịch biển Đà Nẵng”, Thạc sĩ chuyên ngành Du lịch - Trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch biển

và phát triển du lịch biển, nghiên cứu kinh nghiệm trong nước và quốc tế về phát triển du lịch biển, làm rõ tiềm năng và thực trạng khai thác phát triển du lịch ven biển tại Đà Nẵng và đưa ra định hướng cũng như đề xuất giải pháp để phát triển du lịch biển Đà Nẵng

Tác giả Hoàng Thanh Hiền và Nguyễn Thị Như Liên (2010) cùng đề tài nghiên cứu “Thực trạng và một số giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng”, đã được đăng bài trên Tạp chí khoa học và công nghệ - Đại học Đà Nẵng số 5.2010 Đề tài đã tập trung phân tích một số vấn đề lý luận và thực tiễn về du lịch biển và phát triển du lịch biển, làm cơ sở cho việc phân tích, làm rõ tiềm năng và thực trạng khai thác phát triển du lịch biển tại Đà Nẵng Từ đó nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để phát triển du lịch biển Đà Nẵng

Tác giả Hoàng Thị Thu Thảo (2012) đã triển khai đề tài “Phát triển sản phẩm

du lịch tại thành phố Đà Nẵng”, luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triểm - Đại học Đà Nẵng Thông qua đề tài, tác giả đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận liên quan đến các sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của sản phẩm

du lịch, từ đó đánh giá các sản phẩm du lịch của thành phố Đà Nẵng và đề xuất các giải pháp phát triển sản phẩm du lịch của thành phố Đà Nẵng

Tác giả Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) với nghiên “Phát triển du lịch biển Đà Nẵng”,

Trang 11

cơ sở lý luận và thực trạng phát triển du lịch biển tại thành phố Đà Nẵng Từ đó chỉ

ra những ưu điểm cũng như những hạn chế còn tồn tại của du lịch biển Đà Nẵng Từ

đó làm cơ sở cho việc phân tích và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch biển Đà Nẵng

Tác giả Trần Ngọc Khánh (2014) với nghiên cứu “Một số giải pháp phát triển

du lịch tại Đà Nẵng”, luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh - Trường Đại học Công nghệ thành phố Hồ Chí Minh, đã hệ thống hóa các cơ sở lý luận có liên quan đến du lịch, sản phẩm du lịch trên thành phố Đà Nẵng Nghiên cứu và đánh giá thực trạng quản lý ngành du lịch tại TP Đà Nẵng cũng như đánh giá thực trạng hoạt động dịch

vụ DL trên địa bàn thành TP Đà Nẵng Từ đó đưa ra những đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch Đà Nẵng

Mặc dù có nhiều đề tài đã đề cập đến nội dung phát triển du lịch biển Đà Nẵng, tuy nhiên, các đề tài nêu trên chỉ mới tiếp cận vấn đề ở các khía cạnh về quản lý, kinh tế và du lịch nhưng chưa tiếp cận vấn đề ở khía cạnh Chính sách Hơn thế nữa, các giải pháp được đề xuất trong các đề tài có thể không còn phù hợp với thực trạng kinh tế - xã hội hiện tại nói chung Chính vì vậy, việc triển khai đề tài nghiên cứu

“Chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng” là cần thiết, khách quan và đáp ứng nhu cầu đòi hỏi của ngành du lịch địa phương

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng, luận văn đề xuất một số nội dung nhằm hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ

Để đạt được mục đích trên, luận văn đặt ra những nhiệm vụ cơ bản sau:

- Nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về nội dun chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng

Trang 12

- Phân tích, làm rõ thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng ở thời điểm hiện tại

- Từ thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng và bài học kinh nghiệm từ các địa phương trong và ngoài nước, đề xuất các phương án hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong thời gian tới

4 Đối tƣợng và phạm vi của luận văn

4.1 Đối tƣợng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là nội dung chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng

4.2 Phạm vi nghiên cứu

4.2.1 Về Nội dung

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng, bao gồm mục tiêu và các chương trình chính sách Các phương án nhằm hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

4.2.2 Về thời gian

Luận văn nghiên cứu hệ thống các văn bản quản lý Nhà nước có liên quan đến nội dung chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng đang có hiệu lực thi hành ở thời điểm hiện tại

Các số liệu, phân tích, tài liệu có liên quan đến kết quả thực hiện chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng giai đoạn 2011 – 2016 định hướng đến năm 2025

Trang 13

triển du lịch biển trên cơ sở kế thừa nghiên cứu của các ngành khoa học, chính trị,

xã hội và nhân văn làm phương pháp luận chung, lấy phương pháp phân tích và tổng hợp, logic và lịch sử, so sánh, thống kê mô tả, làm phương pháp luận trực tiếp để nghiên cứu và phân tích về chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng bao gồm:

- Phương pháp nghiên cứu văn kiện, tài liệu

Đây là phương pháp quan trọng được sử dụng để hoàn thiện luận văn này Phương pháp được vận dụng một cách linh hoạt để có thể thu thập thông tin một cách đầy đủ, chính xác nhất về chính sách thu phát triển du lịch biển Đà Nẵng: nội dung chính sách, kết quả thực hiện chính sách trong những năm qua, các bài học, kinh nghiệm phát triern du lịch biển của một số nước, địa phương,

- Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp thống kê: Từ những thông tin, tài liệu đã thu thập cần được thống

kê lại một cách đầy đủ, khoa học để có thể nghiên cứu, phân tích các tài liệu dễ dàng hơn, trình bày một cách dễ hiểu, đặc biệt các thông tin liên quan đến con số như: số lượng khách du lịch đến Đà Nẵng, doanh thu từ du lịch, số lượng nhân lực phục vụ

du lịch biển trong giai đoạn 2011 - 2016,

- Phương pháp phân tích tài liệu, số liệu

Phương pháp được áp dụng nhằm hiểu rõ được nội dung của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng, cũng như làm sáng tỏ các vấn đề liên quan đến ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của hạn chế và cách khắc phục để hoàn thiện chính sách thì phương pháp phân tích tài liệu, số liệu là không thể thiếu

- Phương pháp so sánh

Vận dụng phương pháp này để so sánh số lượng khách du lịch, doanh thu từ du lịch, với các quận, huyện, thành phố khác để thấy được tính hợp lý và mức độ cạnh tranh với địa phương khác

Trang 14

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

6.2 Về mặt thực tiễn

Qua việc phân tích một số chính sách phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng của các địa phương trong và ngoài nước Luận văn đưa ra một số bài học kinh nghiệm đối với chính sách phát triển du lịch biển của Đà Nẵng

Thông qua nghiên cứu phân tích các đặc điểm, điểu kiện kinh tế - xã hội - tự nhiên của thành phố Đà Nẵng, luận văn rút ra những kết luận về cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong giai đoạn sắp tới

Trên cơ sở phân tích thực trạng nội dung chính sách phát triển du lịch biển ở thời điểm hiện tại Luận văn rút ra những ưu, nhược điểm của chính sách phát triển

du lịch biển Đà Nẵng hiện nay Từ đó luận văn đưa ra những phương án đề xuất nhằm hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

Kết quả nghiên cứu này làm dữ liệu tham khảo cho các nhà hoạch định và thực thi chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng trong việc xây dựng, điều chỉnh chính sách cho phù hợp với thực tiễn địa phương nhằm phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng trong tương lai

7 Kết cấu của luận văn

Nội dung luận văn gồm 03 chương:

 Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách phát triển du lịch biển

 Chương 2: Thực trạng chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

 Chương 3: Hoàn thiện nội dung chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN

1.1 Khái niệm, nội dung chính sách phát triển du lịch biển

1.1.1 Khái niệm chính sách phát triển du lịch biển

1.1.1.1 Du lịch biển

Hoạt động du lịch đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử phát triển của loài người Tuy nhiên, cho đến nay nhận thức về nội dung, khái niệm du lịch vẫn chưa thống nhất Dưới mỗi góc độ nghiên cứu khác nhau (do tiếp cận trên góc độ của người đi

du lịch; tiếp cận trên góc độ người kinh doanh du lịch; tiếp cận trên góc độ của chính quyền địa phương; tiếp cận trên góc độ cộng đồng dân cư sở tại) lại có một cách hiểu

về du lịch khác nhau

Dưới góc độ của chính quyền địa phương, phương diện quản lý Nhà nước du lịch được hiểu là: Việc tổ chức các điều kiện về hành chính, về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật để phục vụ du khách Du lịch là tổng hợp các hoạt động kinh doanh

đa dạng, được tổ chức nhằm giúp đỡ việc hành trình và lưu trú tạm thời của cá thể, là một cơ hội để bán các sản phẩm địa phương, tăng thu ngoại tệ, tăng các nguồn thu nhập từ các khoản thuế trực tiếp và gián tiếp, đẩy mạnh cán cân thanh toán và nâng cao mức sống vật chất và tinh thần cho dân địa phương

Du lịch biển là một loại hình du lịch gắn liền với biển, hay tài nguyên biển Có

thể hiểu “Du lịch biển loại hình du lịch gắn liền với việc sử dụng tài nguyên biển (tài

nguyên biển trong du lịch bao gồm: bãi biển, hang động, các loại sinh vật biển như tôm, cá, san hô,…) gắn với bản sắc văn hoá địa phương với sự tham gia của cộng đồng nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí, ăn uống, khám phá, thăm quan,… của khách du lịch và tạo sự phát triển bền vững”

1.1.1.2 Chính sách phát triển du lịch biển

Chính sách công là không phải là khái niệm mới mẻ trong hoạt động quản lý Nhà nước cũng như trong khoa học chính sách Tuy nhiên, hiện nay vẫn chưa có

Trang 16

những quan điểm thống nhất về khái niệm này Trong khi một số định nghĩa tiếp cận khái niệm chính sách công một cách khá phức tạp thì một số định nghĩa khác lại khá đơn giản Cụ thể:

Thomas Dye (năm 1972) đưa ra một định nghĩa rất đơn giản về chính sách công Theo Thomas Dye “Chính sách công là bất kỳ những gì mà Nhà nước lựa chọn làm hoặc không làm” Wiliam Jenkins (năm 1978) đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn

về chính sách công W Jenkins định nghĩa “Chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau được ban hành bởi một hoặc một nhóm các nhà hoạt động chính trị liên quan đến lựa chọn các mục tiêu và các phương tiện để đạt mục tiêu trong một tình huống xác định thuộc phạm vi thẩm quyền” James Anderson lại đưa ra một định nghĩa về chính sách công chung hơn “Chính sách công là một đường lối hành động có mục đích được ban hành bởi một hoặc một tập hợp các nhà hoạt động để giải quyết một vấn đề phát sinh hoặc vấn đề quan tâm” Hay theo PGS.TS Nguyễn Hữu Hải “Chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau nhằm thúc đẩy xã hội phát triển” [11, tr.14]

Dù có nhiều quan điểm khác nhau về chính sách công, tuy nhiên có thể rút ra những điểm cơ bản về chính sách công như sau:

Thứ nhất, chính sách công bắt nguồn từ quyết định do Nhà nước ban hành và

bao hàm các quyết định của Nhà nước

Thứ hai, chính sách công bao hàm một tập hợp các quyết định diễn ra qua một

giai đoạn dài và kéo dài vượt ra ngoài quá trình hoạch định chính sách ban đầu

Thứ ba, chính sách công hướng tới giải quyết vấn đề công và việc giải quyết

vấn đề này sẽ ảnh hưởng đến một hoặc nhiều nhóm dân số trong xã hội

Thứ tư, chính sách công hướng đến việc thay đổi hành vi của đối tượng và thúc

đẩy xã hội phát triển theo định hướng

Trang 17

Thứ năm, chính sách công luôn thay đổi theo thời gian, vì những quyết định sau

có thể có những điều chỉnh tăng dần so với quyết định trước đó, hoặc do có những thay đổi trong định hướng chính sách ban đầu

Thứ sáu, chính sách công bao gồm hai bộ phận cấu thành là mục tiêu và giải

pháp chính sách

Như vậy, có thể hiểu “Chính sách công là định hướng hành động được thể hiện

bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định” [13, tr.21-22]

Chính sách phát triển du lịch biển là một loại chính sánh cụ thể của chính sách công, là công cụ được Nhà nước sử dụng nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng của Nhà nước thông qua việc thực hiện các mục tiêu, giải pháp nhằm phát triển du lịch biển Thông qua chính sách phát triển du lịch biển các đường lối, quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về vấn đề phát triển du lịch biển được cụ

thể hóa và thể chế hóa Cụ thể có thể hiểu Chính sách phát triển du lịch biển là định

hướng hành động do nhà nước lựa chọn thể hiện bằng một hệ thống các quyết định

có liên quan với nhau (do Nhà nước ban hành), bao gồm các mục tiêu và giải pháp nhằm hướng tới phát triển du lịch biển, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội theo định hướng

1.1.1.3 Đặc điểm chính sách phát triển du lịch biển

Thứ nhất, chính sách phát triển du lịch biển không chỉ thể hiện định hướng của nhà hoạch định chính sách về mục tiêu giải quyết vấn đề phát triển du lịch biển, mà còn bao gồm những định hướng về cách thức thực hiện các dự định nói trên Chính

sách phát triển du lịch biển trước hết thể hiện dự định của các nhà hoạch định chính sách nhằm phát triển du lịch biển của địa phương Song, nếu chỉ là những dự định,

dù được ghi thành văn bản thì nó vẫn chưa phải là một chính sách Chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng phải bao gồm các hành vi thực hiện những dự định nói trên và đưa lại những kết quả thực tế

Trang 18

Nếu chỉ hiểu chính sách phát triển du lịch biển một cách đơn giản là những chủ trương của Nhà nước, địa phương ban hành nhằm phát triển du lịch biển, điều đó đúng nhưng chưa đủ Nếu không có việc thực thi chính sách để đạt được những kết quả nhất định thì những chủ trương đó chỉ là những khẩu hiệu mà thôi

Thứ hai, chính sách phát triển du lịch biển gồm nhiều quyết định có liên quan

lẫn nhau Trước hết, chúng ta không nên đồng nhất khái niệm quyết định ở đây với

các quyết định hành chính, càng không thể coi đó chỉ là những văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước Khái niệm quyết định ở đây có nghĩa rộng hơn, nó có thể được coi như một sự lựa chọn hành động của Nhà nước Các quyết định này có thể bao gồm cả luật, các quyết định dưới luật, thậm chí cả những tư tưởng của các nhà lãnh đạo thể hiện trong lời nói và hành động của họ Chính sách phát triển du lịch biển là một hệ thống hay một loạt các quyết định cùng hướng vào việc giải quyết một vấn đề chính sách ở đây là phát triển du lịch biển, do một hay nhiều cấp khác nhau trong bộ máy Nhà nước ban hành và thực thi trong một thời gian dài Chính sách phát triển du lịch biển ở đây có thể được thể chế hóa thành các văn bản pháp luật để tạo căn cứ pháp luật cho việc thực thi, song nó cũng bao gồm những phương án hành động không mang tính bắt buộc, mà có tính định hướng, kích thích phát triển

Thứ ba, chính sách phát triển du lịch biển thay đổi theo thời gian Do tính chất

vận động liên tục của môi trường kinh tế- xã hội của đất nước cũng như thế giới, những kinh nghiệm thực tế thu được trong quá trình thực thi chính sách, những thay đổi của các vấn đề của phát triển cdu lịch biển những điều này tác động đến chính sách phát triển du lịch biển, khiến một số định hướng, giải pháp của chính sách không còn phù hợp, hay không hiệu quả và cần có sự thay đổi, dẫn đến chính sách phát triển du lịch biển có thể có những thay đổi, điều chỉnh nhất định về định hướng chính sách, hay các phương án chính sách được sử dụng nhằm phát triển du lịch biển

Thứ tư, chính sách phát triển du lịch biển có tính kế thừa lịch sử Lịch sử phát

triển xã hội đã khẳng định quy luật phát triển xã hội luôn có trong nó sự kế thừa lịch

sử Chính sách công nói chung và chính sách phát triển du lịch biển nói riêng cũng không nằm ngoài quy luật này Việc hoạch định, thực thi, đánh giá, chính sách phát

Trang 19

triển du lịch biển để có thể đạt được hiệu quả tốt nhất phải dựa trên những bài học, kinh nghiệm từ các chính sách đã và đang được áp dụng Đối với chính sách phát triển du lịch biển quá trình xây dựng, thực thi chính sách ở giai đoạn trước đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế còn tồn tại của chính sách Đây là những kinh nghiệm, cơ sở cho việc tiếp tục thực hiện hay thay đổi một số nội dung của chính sách từ đó giúp chính sách phát triển du lịch biển dần được hoàn thiện

Thứ năm, chính sách phát triển du lịch biển ảnh hưởng đến nhiều nhóm dân số

khác nhau trong xã hội Chính sách phát triển du lịch biển không chỉ tác động trực

tiếp đến các nhóm đối tượng có liên quan đến du lịch biển như đội ngũ nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển, các cá nhân, tổ chức kinh doanh dịch vụ liên quan đến du lịch biển, người dân địa phương nơi có hoạt động du lịch biển, khách du lịch thông qua các biện pháp chính sách về nâng cao số lượng, chất lượng đào tạo, nguồn nhân lực phục vụ du lịch biển, các biện pháp ưu đãi đầu tư cho du lịch biển, quản lý hoạt động kinh doanh dịch vụ có liên quan đến du lịch biển mà còn liên quan đến các bộ phận dân cư khác như người dân địa phương khác một cách gián tiếp thông qua các tác động của việc thực thi chính sách phát triển du lịch biển mang lại

1.1.2 Nội dung chính sách phát triển du lịch biển

Từ khái niệm về chính sách công nói chung cũng như khái niệm về chính sách phát triển du lịch biển nói riêng như đã phân tích nêu trên cho thấy nội dung cấu trúc của chính sách công nói chung cũng như chính sách phát triển du lịch biển nói riêng bao gồm hai bộ phận là mục tiêu chính sách và giải pháp chính sách

1.1.2.1 Mục tiêu chính sách

Mục tiêu của chính sách phát triển du lịch biển là những giá trị hay kết quả mà Nhà nước mong muốn đạt được thông qua việc thực hiện các giải pháp chính sách Các mục tiêu này thể hiện ý chí của Nhà nước trong giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển du lịch biển

Mục tiêu của chính sách cũng phản ánh thái độ của Nhà nước trước vấn đề công, thái độ đó có thể tích cực hoặc tiêu cực Hơn đó, trong các xã hội dân chủ, mục

Trang 20

tiêu của chính sách phải thể hiện được ý chí và nguyện vọng của nhân dân trong việc giải quyết các vấn đề công Cùng với đó, mục tiêu chính sách phải phù hợp với mục tiêu phát triển của đất nước Ví dụ, xã hội xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Nhà nước ta đang xây dựng là: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, và mọi chính sách của Nhà nước phải phù hợp với mục tiêu định hướng này

Mục tiêu chính sách phát triển du lịch biển được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau, từ mục tiêu chung đến mục tiêu cụ thể, từ định tính đến định lượng Thông thường, mục tiêu chính sách ban hành ban đầu hay còn gọi là mục tiêu mang yếu tố định tính, tức là nó được thể hiện dưới dạng ngôn từ thay vì được thể hiện dưới dạng các con số Nhưng mục tiêu chung này lại được cụ thể hóa thành các mục tiêu ở cấp

độ cụ thể hơn hay còn gọi là chỉ tiêu Các mục tiêu cụ thể này phản ánh những khía cạnh cụ thể của mục tiêu chung cho một giai đoạn, thời gian nhất định, phù hợp với điều kiện thực thi cụ thể Các mục tiêu cụ thể cung cấp cơ sở cho việc giám sát, đo lường và đánh giá mức độ đạt được mục tiêu chung của chính sách

Chích sách phát triển du lịch biển được Nhà nước ban hành với các mục tiêu chính nhằm:

- Tăng nguồn thu từ du lịch biển cho ngân sách địa phương;

- Thúc đẩy sự phá triển của các ngành kinh tế khác;

- Tạo công ăn việc làm cho người dân, góp phần nâng cao chất lượng đời sống vật chất và tinh thần cho người dân;

- Bảo vệ, cải tạo môi trường du lịch biển của địa phương;

- Góp phần phát triển du lịch địa phương theo định hướng của Nhà nước

Các mục tiêu chung này sẽ được cụ thể hóa thông qua các mục tiêu cụ thể như doanh thu từ du lịch biển, số lượng khách du lịch biển, số lượng cơ sở hạn tầng phục

vụ du lịch biển, nguồn nhân lực, Các mục tiêu cụ thể này được xác định cho từng giai đoạn phát triển cụ thể, phù hợp với các điều kiện, mục tiêu và định hướng của Nhà nước

Trang 21

1.1.2.2 Các giải pháp chính sách

Giải pháp chính sách phát triển du lịch biển là cách thức để giải quyết các vấn

đề đặt ra đối với phát triển du lịch biển nhằm đạt được mục tiêu của chính sách Trên

cơ sở mục tiêu của chính sách, Nhà nước xác định các giải pháp thích hợp để đạt được các mục tiêu đó Nói cách khác, giải pháp chính sách phải thích hợp với mục tiêu chính sách

Trong mối tương quan giữ mục tiêu và giải pháp, việc mục tiêu của chính sách phát triển du lịch biển được thể hiện ở nhiều cấp độ khác nhau từ mục tiêu chung đến các mục tiêu cụ thể dẫn đến việc các giải pháp của chính sách phát triển du lịch biển cũng đi từ giải pháp chung đến các giải pháp cụ thể

Các giải pháp chung có tính định hướng về cách thức giải quyết vấn đề, và giải pháp cụ thể chứa đựng cách thức cụ thể để đạt được mục tiêu cụ thể Những giải pháp cụ thể chỉ định được những công cụ được sử dụng để thực thi chính sách, các nguồn lực cần thiết, dự kiến tổ chức thực hiện

Ví dụ, một trong những mục tiêu chung của chính sách phát triển du lịch biển của nước ta đó là tăng nguồn thu từ du lịch biển cho ngân sách Mục tiêu này mang tính trừu tượng và định tính Nhà nước không thể xác định được thời gian cần thiết

để hoàn thành mục tiêu tổng quát này, vì vấn đề nguồn tu từ du lịch biển sẽ thay đổi theo thời gian Vì vậy, mục tiêu tổng quát này được cụ thể hóa thành các mục tiêu cụ thể cho từng giai đoạn dưới dạng các chỉ tiêu như tăng 15% so với năm 2011 Để đạt được các mục tiêu này, nhà nước có thể xác định các biện pháp cụ thể như quảng bá

du lịch biển; xây dựng sản phẩm du lịch biển; và các giải pháp này được thực hiện thông qua ác chương trình cụ thể như: Chương trình xúc tiến thị trường, quảng bá du lịch biển; chương trình xây dựng, phát triển sản phẩm du lịch biển

Như vậy, có thể thấy nội dung cấu trúc của chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng bao gồm hai bộ phận hợp thành và thống nhất với nhau là mục tiêu và giải pháp chính sách Mối quan hệ giữa hai bộ phận cấu thành này là mối quan hệ logic giữa mục đích và phương tiện, mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả

Trang 22

1.1.2.3 Thời gian tồn tại của chính sách phát triển du lịch biển

Đối với chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng, không có bất kỳ một quy định nào về thời gian tồn tại của chính sách Về mặt lý luận chung, thời gian tồn tại của chính sách có thể được chia làm ba nhóm gồm chính sách dài hạn, chính sách trung hạn, và chính sách ngắn hạn Tuy không có quy định bắt buộc nào về thời gian tồn tại của chính sách nhưng nhìn chung thời gian tồn tại của một chính sách chí ít cũng phải đủ để thực hiện được mục tiêu ban đầu của chính sách (ngoại trừ những chính sách sai), vì vậy thời gian tồn tại của một chính sách thường không ngắn

Trên thực tế, thời gian tồn tại của một chính sách phụ thuộc sự tồn tại của vấn

đề chính sách Như vậy, về mặt lý thuyết có thể thấy chính sách phát triển du lịch biển chỉ tồn tại cho đến khi Nhà nước, chủ thể của ban hành chính sách không muốn phát triển du lịch biển hay vấn đề phát triển du lịch biển không còn là vấn đề của chính sách công

1.2 Vai trò của chính sách phát triển du lịch biển đối với phát triển kinh tế - xã hội

Trong quản lý Nhà nước, Nhà nước sử dụng chính sách phát triển du lịch biển

làm công cụ để giải quyết những vấn đề liên quan đến phát triển du lịch biển nhằm thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng nhất định Vai trò của chính sách phát triển du lịch biển thể hiện ở những khía cạnh như:

Thứ nhất, định hướng mục tiêu cho các chủ thể tham gia hoạt động phát triển

du lịch biển Chính sách phát triển du lịch biển phản ánh thái độ, quan điểm của Nhà

nước đối với vấn đề phát triển du lịch biển, nên nó thể hiện rõ những xu thế tác động của Nhà nước lên các chủ thể có liên quan đến hoạt động phát triển du lịch biển (công ty du lịch, khách du lịch, người dân địa phương, ), giúp họ vận động đạt được những giá trị tương lai mà Nhà nước mong muốn Giá trị đó chính là mục tiêu phát triển phù hợp với những nhu cầu cơ bản của đời sống xã hội Nếu các chủ thể liên quan đến hoạt động phát triển du lịch biển hoạt động theo định hướng tác động của

Trang 23

chính sách thì không những dễ dàng đạt được mục tiêu phát triển mà còn nhận được những ưu đãi từ phía Nhà nước hay xã hội

Thứ hai, tạo động lực cho các đối tượng tham gia hoạt động kinh tế - xã hội theo mục tiêu chung Muốn đạt được các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội chung,

Nhà nước phải ban hành nhiều chính sách, trong đó mỗi chính sách lại có những cách thức tác động mang tính khuyến khích đối với các chủ thể thuộc mọi thành phần Chính sách phát triển du lịch biển được ban hành không chỉ tác động đến một đối tượng nhất định nào dó mà tác động lên tất cả các đối tượng có liên quan đến phát triển du lịch biển như người dân, chủ đầu tư, các công ty kinh doanh lữ hành, hướng dẫn viên, khách du lịch Sự tác động của chính sách phát triển du lịch biển không mang tính bắt buộc, mà chỉ khuyến khích các chủ thể có liên quan hành động theo ý chí của Nhà nước Chẳng hạn, để tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng vào lĩnh vực du lịch biển, Nhà nước ta ban hành chính sách khuyến khích như miễn, giảm thuế, cho các chủ thể trong nước và nước ngoài nhằm tạo ra động lực cho các chủ đầu tư tích cực đầu tư vào phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch biển

Thứ ba, phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục những hạn chế của nền

kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường, quy luật cạnh tranh và các quy luật

thị trường khác đã thúc đẩy mỗi chủ thể trong xã hội đầu tư vào sản xuất kinh doanh, không ngừng đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm,

hạ giá thành hàng hóa và dịch vụ cung cấp cho xã hội Nhờ đó mà cả xã hội và từng người dân, tổ chức đều được hưởng lợi như: hàng hóa và dịch vụ tăng về số lượng,

đa dạng, phong phú về chủng loại, thương hiệu, mẫu mã, chất lượng ngày càng được nâng cao với giá tiêu dùng ngày càng rẻ Tuy nhiên, sự vận hành của thị trường cũng gây ra những tác động tiêu cực mà các nhà kinh tế gọi là mặt không thành công hay mặt trái của thị trường như: độc quyền trong sản xuất cung ứng không đầy đủ hàng hóa công cộng, sự bất công bằng, chênh lệch giàu nghèo và thất nghiệp gia tăng, bất

ổn định kinh tế vĩ mô, cá lớn nuốt cá bé, gây ảnh hưởng không tốt lên toàn xã hội

và mỗi người dân Trong tình hình đó, Nhà nước sử dụng chính sách phát triển du

Trang 24

lịch biển như một công cụ để giải quyết những vấn đề bất cập về kinh tế, xã hội liên quan đến phát triển du lịch biển

Thứ tư, tạo lập sự cân đối trong phát triển Để kinh tế - xã hội phát triển một

cách ổn định bền vững, Nhà nước sử dụng chính sách phát triển du lịch biển như một công cụ để tạo lập các cân đối vĩ mô cơ bản như cân đối giữa hàng - tiền, cung - cầu trong hoạt động du lịch biển, Đồng thời, Nhà nước còn dùng chính sách phát triển

du lịch biển để điều tiết đảm bảo cho sự phát triển cân đối giữa các vùng miền của đất nước và giữa các lĩnh vực

Thứ năm, kiểm soát và phân bổ các nguồn lực trong lĩnh vực du lịch biển Nhà

nước luôn luôn quan tâm đến quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho phát triển Mục tiêu phát triển bền vững bao gồm cả gia tăng về lượng và cải thiện về chất trong hiện tại và tương lai, vì thế tài nguyên tự nhiên và xã hội của một quốc gia là cái hữu hạn luôn trở thành vấn đề quan tâm chính yếu của Nhà nước Để sử dụng có hiệu quả tài nguyên theo hướng bền vững, Nhà nước thông qua các chính sách công nói chung, chính sách phát triển du lịch biển nói riêng nhằm thực hiện sự kiểm soát đối với trình khai thác, sử dụng tài nguyên và phân bổ hợp lý các nguồn lực trong xã hội nói chung, hay trong lĩnh vực du lịch biển nói riêng

Thứ sáu, tạo môi trường thích hợp cho các hoạt động kinh tế - xã hội Thông

qua chính sách phát triển du lịch biển, Nhà nước tạo những điều kiện cần thiết để hình thành môi trường thuận lợi cho các chủ thể xã hội hoạt động Góp phần tạo ra những kích thích đủ lớn, cần thiết để biến đường lối chiến lược của Đảng cầm quyền thành hiện thực, góp phần thống nhất tư tưởng và hành động của mọi người trong xã hội, đẩy nhanh và hữu hiệu sự tiến bộ của các hoạt động thuộc mục tiêu bộ phận mà chính sách hướng tới và thực hiện các mục tiêu chung của phát triển kinh tế quốc dân

Thứ bảy, thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cấp, các ngành Việc thực

hiện các giai đoạn trong chu trình chính sách công nói chung, chính sách phát triển

du lịch nói riêng không chỉ và không thể do một cơ quan Nhà nước đảm nhiệm, mà

Trang 25

nhiều tổ chức, cá nhân Vì vậy, thông qua quá trình chính sách sẽ thúc đẩy sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các tầng lớp nhân dân, góp phần tạo nên sự nhịp nhàng, đồng bộ trong hoạt động thực thi chính sách

1.3 Chính sách phát triển du lịch ở một số địa phương trong và ngoài nước 1.3.1 Chính sách phát triển của một số địa điểm du lịch quốc tế

1.3.1.1 Chính sách phát triển du lịch đảo Nami, Hàn Quốc

Đảo Nami nằm ở thành phố Chuncheon, cách thủ đô Seoul, Hàn Quốc khoảng 70km Năm 2013, đảo Nami thu hút gần 3 triệu khách du lịch, trong đó xấp xỉ 1 triệu khách quốc tế Đây là con số đáng kinh ngạc bởi trên thực tế, du lịch của hòn đảo nhỏ bé này đã từng có giai đoạn suy thoái, tưởng chừng không thể vực dậy được Việc khai thác đảo Nami được chính thức bắt đầu từ năm 1966 khi công ty phát triển du lịch KyoungChun được thành lập, lượng khách du lịch thăm quan đảo tăng đều cho đến năm 1989, tuy nhiên, đến năm 1990 bắt đầu đi vào suy thoái Từ năm

2002, công ty tuyên bố cải tạo lại đảo và những nỗ lực trong quá trình tái tạo lại môi trường du lịch nơi đây đem lại kết quả là đảo Nami đã quay trở lại vị trí vốn có của

nó, là một trong những địa điểm du lịch tiêu biểu của Hàn Quốc Các biện pháp, phương án cải tạo đảo đã được áp dụng bao gồm:

- Phục hồi hệ sinh thái: đảo Nami đã tiến hành việc cải tạo môi trường kể từ

sau năm 2002, công ty Kyoung Chun đã tiến hành thay cột đèn điện, lắp lại đường dây điện, phá bỏ các hàng rào, vứt bỏ các thùng rác bẩn, quyết định không tiến hành

ký lại hợp đồng khi các đơn vị thuê đất làm ăn trên đảo hết hạn hợp đồng,…

Cùng với Hiệp hội bảo vệ môi trường ở thành phố ChunCheon, Ban quản lý đảo đã xây dựng trung tâm tái chế tại đảo Nami trên khu đất ngày xưa dùng để đốt rác thải Những rác thải có thể tái chế thu được trong quá trình đào xới đất để tìm lượng rác thải bị chôn bất hợp pháp như nhiều loại bình rỗng, các tấm gỗ ép, gỗ thải, đã được phân loại và sử dụng vào các mục đích cải tạo môi trường du lịch

Trang 26

khác nhau như làm nguyên vật liệu trong việc cải tạo nhà, thủy tinh nghệ thuật, gốm nghệ thuật, đẽo gỗ trang trí, làm quà lưu niệm,

Hơn thế nữa, đảo Nami đã thành công khi xây dựng văn hóa tái chế trở thành biểu tượng của mình qua các sự kiện được tổ chức trên đảo như trưng bày các sản phẩm tại viện nghệ thuật đảo Nami, lễ hội văn hóa về tái chế, Với những nỗ lực về tái chế như vậy, đảo được công nhận là thiên đường tái chế, hòn đảo tái sinh môi trường, những thành tích về tái chế của đảo được truyền thông các nước như Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc, Anh, Mỹ đưa tin trong các bản tin thời sự của nước họ

- Phát triển về lĩnh vực văn hóa: đảo Nami đã tiến hành thử nghiệm để trở

thành một không gian văn hóa - nơi mà văn hóa nghệ thuật được hòa mình cùng thiên nhiên của con sông Bắc Hàn Thời kỳ còn là một công viên cây xanh đơn thuần, nhiều kiến trúc trên đảo được sử dụng như một khu vui chơi giải trí, nghỉ ngơi thông thường nhưng sau đó đã có một chiến lược chuyển đổi mục đích sử dụng các không gian này Một số tòa nhà trên đảo đã được tái kiến trúc trở thành khu trưng bày phức hợp với rất nhiều các loại hình nghệ thuật về văn hóa, kiến trúc, mỹ thuật khác nhau được trưng bày

Xác định những người làm nghệ thuật là đối tượng khách quan trọng của mình, đảo Nami tạo mọi điều kiện thuận lợi cho những vị khách này trong việc nghỉ ngơi

và sáng tạo Ban quản lý sẽ sử dụng các tác phẩm của họ để trưng bày, cho ra sách ảnh để quảng bá hình ảnh của đảo nhằm thu hút khách du lịch Cũng tương tự đối với các nghệ sĩ biểu diễn trong concert tại đảo, họ được hỗ trợ những điều kiện tốt nhất

và để tham dự được những buổi biểu diễn này thì khách du lịch sẽ tới thăm đảo Nami Đã có rất nhiều sự kiện lớn được tổ chức tại đảo để thu hút khách du lịch mang tên: “Giấc mộng đêm hè”, “Ngày hội sách thế giới”, “Ngày hội biểu diễn của thanh thiếu niên thế giới”,

- Hợp tác với các Tổ chức quốc tế, hiệp hội và sự tham gia của cộng đồng: với

chiến lược mở rộng hợp tác, liên kết, ban quản lý đã tạo không gian trên đảo để Hiệp hội Unicef Hàn Quốc, Trung tâm giáo dục môi trường Hàn Quốc và nhiều cơ quan khác sử dụng Các cơ quan này tổ chức nhiều hoạt động trải nghiệm như trại hè đào

Trang 27

tạo môi trường, sân chơi văn hóa,… và giờ đây, các hoạt động này đã trở nên nổi tiếng, thu hút được nhiều khách du lịch đến với đảo hơn

Đảo cũng tổ chức sự kiện trồng cây với sự tham gia của cộng đồng Năm 2006, với sự tham gia của đông đảo khách tham quan, công ty quản lý đã tiến hành trồng

400 cây thủy sam và gọi nơi đây là “Sequaia family garden - Rừng cây thủy sam”, năm 2007 trồng “Rừng cây Nami”, 2008 trồng “Rừng cây bách phong” Trên mỗi cây sẽ gắn biển tên người tặng, và những người tham gia lễ trồng cây đều được giấy chứng nhận là công dân nước cộng hòa Nami cũng như được phát hộ chiếu trọn đời,

lễ hội đã gây ấn tượng mạnh cho người dân trong việc nhận thức về bảo vệ môi trường và cũng đã góp phần tăng hiệu quả quảng bá nhằm thu hút khách du lịch tới thăm quan nhiều lần nữa

- Du lịch phim ảnh (Film tourism) và hiệu quả của làn sóng văn hóa Hallyu

Hàn Quốc: giai đoạn tái sinh của đảo Nami được rút ngắn đi rất nhiều nhờ thành

công của bộ phim “Bản tình ca mùa đông” Việc quay phim “Bản tình ca mùa đông”

là hoạt động nằm trong kế hoạch tái phát triển của đảo Nami Công ty cổ phần đảo Nami đã hỗ trợ hết mức cho Đoàn làm phim trong thời gian quay phim tại đây Sự thành công của “Bản tình ca mùa đông” đã đưa hình ảnh đảo Nami đến với toàn thế giới Số lượng khách châu Á ghé thăm đảo chỉ để được nhìn thấy tận mắt nơi quay

bộ phim mà mình yêu thích tăng vọt và đảo Nami được coi là điểm du lịch tiêu biểu trong làn sóng văn hóa Hàn Quốc Hallyu Ngoài ra, hình ảnh đảo Nami còn hiện diện trong bộ phim “Khách vãng lai mùa đông”, “Nam và nữ” và một số phim ngắn quảng cáo khác,

1.3.1.2 Chính sách phát triển du lịch của Singapore

Singapore là một quốc đảo nhỏ, tài nguyên hạn chế, nhưng đã biết phát huy triệt

để tiềm năng, thế mạnh về vị trí địa lý và nguồn lực con người để có những bước phát triển vượt bậc Diện tích quốc đảo chỉ có 710 km2 nhưng có đến 5,2 triệu người đang sinh sống, làm việc ở đây, trong đó có gần 2 triệu người nước ngoài Trong các thành công của Singapore thời gian qua phải kể đến sự thành công của chính sách phát triển du lịch

Trang 28

Tháng 6 năm 2010, quốc đảo Singapore chạm mốc “1.000.000 khách du lịch trong một tháng” Năm 2010 có 11,64 triệu khách quốc tế đến Singapore và năm

2011 là 13 triệu Năm 2010, du lịch đóng góp cho nền kinh tế Singapore 18,8 tỷ đô la Singapore, năm 2012 là 22,2 tỷ đô la Singapore, chiếm 3% GDP Singapore hiện có khoảng trên 50.000 phòng khách sạn, với giá dịch vụ trung bình khoảng 245 đô la Singapore/phòng/ngày (khoảng hơn 4 triệu đồng Việt Nam), tỷ lệ sử dụng phòng năm 2011 đạt đến 86% Đây thực sự là những con số ấn tượng của ngành du lịch ở một đất nước nhỏ bé, ít tài nguyên và chưa hẳn đã có nhiều lợi thế để phát triển du lịch như Singapore

Để có được kết quả này, phải nói đến sự thành công của việc hoạch định, xây dựng chiến lược và các kế hoạch phát triển du lịch phù hợp cho từng giai đoạn của Chính phủ Singapore Từ năm 1965 đến nay, Singapore đã hoạch định chiến lược, xây dựng 6 kế hoạch phát triển du lịch khác nhau, đó là: “Kế hoạch Du lịch Singapore” (năm 1968), “Kế hoạch Phát triển du lịch” (năm 1986), “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), “Du lịch 21” (năm 1996), “Du lịch 2015” (năm 2005)

và “Địa giới du lịch 2020” (năm 2012)

Với “Kế hoạch phát triển du lịch” (năm 1986), Singapore chủ trương bảo tồn và khôi phục các khu lịch sử - văn hóa như: Khu phố của người Hoa, Tanjong Tagar, Little India, Kampong Glam và sông Singapore Với “Kế hoạch Phát triển chiến lược” (năm 1993), Singapore tập trung phát triển các sản phẩm du lịch mới như: du thuyền, du lịch chữa bệnh, du lịch giáo dục, du lịch trăng mật; phát triển các thị trường du lịch mới; tổ chức các lễ hội lớn mang tầm cỡ quốc tế; tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ du lịch; trao các giải thưởng về du lịch; giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về du lịch,…

Năm 1996, Singapore triển khai “Du lịch 21”, chuẩn bị và thực hiện tầm nhìn dài hạn cho sự phát triển của du lịch trong Thế kỷ 21, với các chiến lược thị trường

du lịch mới nổi, chiến lược du lịch khu vực, chiến lược phát triển sản phẩm du lịch mới, chiến lược nguồn vốn du lịch và chiến lược “Nhà vô địch du lịch Singapore”

Trang 29

Trong “Du lịch 2015” (năm 2005), Singapore tập trung phát triển các thị trường chính với phương châm tạo sự hiểu biết tốt hơn về Singapore, phát triển Singapore thành một điểm du lịch “phải đến”, cải thiện tiêu chuẩn dịch vụ nhằm cung cấp các dịch vụ đáng nhớ cho khách du lịch, nâng cấp cơ sở hạ tầng du lịch, phát triển các doanh nghiệp du lịch và nguồn nhân lực du lịch chuyên nghiệp, phát triển các sản phẩm trọng tâm của du lịch,… Năm 2012, Singapore chi 300 triệu đô la Singapore để

tổ chức các sự kiện du lịch, 340 triệu đô la Singapore nhằm phát triển các sản phẩm

du lịch và 265 triệu đô la Singapore giúp phát triển nguồn nhân lực du lịch Đến năm

2015, Singapore sẽ đầu tư cho Quỹ phát triển du lịch 2 tỷ đô la Singapore, dự kiến đón khoảng 17 triệu khách du lịch quốc tế và doanh thu từ du lịch khoảng 30 tỷ đô la Singapore

1.3.2 Chính sách phát triển du lịch biển Nha Trang - Khánh Hòa

Khánh Hòa là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ, có bờ biển trải dài 385 km với hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ, môi truờng tự nhiên khá trọn vẹn, khí hậu

ôn hòa đầy nắng gió quanh năm, là điều kiện lý tuởng để vùng biển xinh đẹp này phát triển mạnh về du lịch biển, đảo

Tại Nha Trang, tổ chức Quảng bá điểm đến Nha Trang (NTDMO) được thành lập và chính thức đưa vào hoạt động vào cuối năm 2014, với mục đích chung tay với các cơ quan ban ngành và các công ty trên địa bàn phát triển ngành dịch vụ du lịch

và các hoạt động quảng bá tiếp thị du lịch địa phương Mục tiêu của tổ chức là mang tiêu chuẩn quốc tế đến cho nền du lịch Nha Trang, cũng như tăng cường các chương trình khuyến mãi của Nha Trang dành cho các du khách trong và ngoài nước, tập trung hướng tới nhiều sáng kiến tích cực cho cộng đồng và góp phần vào sự phát triển của kinh tế - xã hội Ban đầu chỉ có 6 thành viên, nhưng đến nay, Visit Nha Trang đã có tới 15 thành viên, trong đó có 14 thành viên ở Khánh Hòa Đây là tập hợp của những khách sạn, nhà hàng, quán bar, dịch vụ thể thao trên biển hàng đầu Nha Trang như InterContinental, Sheraton, Six Senses Ninh Vân Bay, An Lâm Ninh Vân Bay, Evason Ana Mandara, Mia Resort, Diamond Bay, Novotel; nhà hàng Lantems, Lunar; quầy bar Patrick Wine, Skylight, Sailing Club và Vietnam Sailing

Trang 30

Ngay sau khi ra đời, Visit Nha Trang xác định rõ thị trường trọng điểm gồm các nước Nga, Hàn Quốc, Trung Quốc và thị trường khách nội địa, đi cùng đó là thị trường khách giàu tiềm năng chính là Nhật Bản, Úc, Hồng Kông, Singapore và một

số nước ở khu vực Đông Nam Á khác Để xúc tiến việc giới thiệu du lịch Nha Trang đến các quốc gia trên, Visit Nha Trang đã tiến hành soạn thảo nội dung quảng bá bằng 6 ngôn ngữ: tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản và tiếng Hàn Quốc Những nội dung này được thể hiện qua những bài viết, những clip về du lịch Nha Trang - Khánh Hòa và được chia sẻ rộng rãi trên các trang mạng xã hội cũng như các website du lịch hàng đầu thế giới

Kết quả của sự hợp tác giữa các thành viên Visit Nha Trang trong nỗ lực quảng

bá về du lịch Nha Trang không chỉ mang đến lợi ích thiết thực cho mỗi thành viên,

mà nó còn góp phần nâng cao hình ảnh Nha Trang trong lòng du khách Rất nhiều du khách trong và ngoài nước sau khi tham khảo những thông tin do Visit Nha Trang giới thiệu, đã quyết định đến trải nghiệm và sử dụng các dịch vụ cao cấp của các thành viên trong tổ chức này Nhiều du khách đã có những phản hồi rất tốt sau thời gian đến Nha Trang Minh chứng cho điều đó chính là việc Nha Trang được bình chọn là 1 trong 10 điểm đến đang phát triển hàng đầu châu Á trên website du lịch TripAdvisor Cũng theo trang web này, nhiều khách sạn, khu nghỉ dưỡng ở Nha Trang được du khách bình chọn vào nhóm khách sạn, khu nghỉ dưỡng hàng đầu Việt Nam, thậm chí là hàng đầu châu Á như: Six Senses Ninh Vân Bay, An Lâm Ninh Vân Bay, Evason Ana Mandara, Mia Resort và Inter Continental

Những chính sách của tỉnh Khánh Hòa đã mang lại những hiệu quả rất lạc quan đối với sự phát triển du lịch của Khánh Hòa Theo Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch tỉnh Khánh Hòa, trong 9 tháng đầu năm 2015, tổng lượng khách du lịch đến Nha Trang – Khánh Hòa lưu trú đã đạt con số trên 3,2 triệu lượt So với cùng kỳ năm

2014, lượng khách trên tăng 17,3% và đạt 80,8% so với kế hoạch năm Trong đó, lượng khách quốc tế lưu trú cũng có chiều hướng tăng khi đạt hơn 674.000 lượt (tăng 10,8% so với cùng kỳ)

Trang 31

1.3.3 Một số bài học kinh nghiệm cho chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng

Từ kinh nghiệm về chính sách phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng của một số địa phương trong và ngoài nước có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cho chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới như sau:

Thứ nhất, việc phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng cần gắn liền với hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch Việc khai thác, sử

dụng tài nguyên du lịch quá mức cũng như việc không chú trọng đến hoạt động bảo

vệ môi trường du lịch là một trong những nguyên chính dẫn đến tình trạng suy thoái của du lịch đảo Nami giai đoạn 1990 – 2002 Ngay sau khi có những biện pháp nhằm cải tạo, phục hồi hệ sinh thái, môi trường du lịch đã đưa du lịch đảo Nami trở lại vị trí vốn có của nó, là một trong những địa điểm du lịch nổi tiếng của Hàn Quốc Du lịch biển của Đà Nẵng phụ thuộc chủ yếu vào hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên, cũng như các tài nguyên du lịch biển trong khi đây không phải là những tài nguyên

vô tận Cùng với đó vấn đề môi trường du lịch biển là một trong những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến du lịch biển Chính vì vậy, việc phát triển du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng cần gắn liền với hoạt động bảo vệ tài nguyên và môi trường du lịch là bài học kinh nghiệm rất lớn cho việc xây dụng và thực thi chính sách phát triển du lịch biển của Đà Nẵng Kinh nghiệm này có thể giúp du lịch biển

Đà Nẵng tránh khỏi những hậu quả xấu đối với du lịch biển như đã diễn ra đối với

du lịch đảo Nami, Hàn Quốc

Thứ hai, cần nâng cao vai trò của các tổ chức quốc tế, các hiệp hội và sự tham gia của cộng đồng đối với hoạt động phát triển du lịch biển Kinh nghiệm từ chính

sách phát triển du lịch đảo Nami, Hàn Quốc cũng như chính sách phát triển du lịch biển Nha Trang tỉnh Khánh Hòa đều cho thấy rằng việc hợp tác với các tổ chức quốc

tế, các hiệp hội cũng như sự tham gia của cộng đồng có tác động rất tích cực đến việc phát triển du lịch của địa phương như tăng cường hiệu quả của công tác quảng bá,

Trang 32

xúc tiến thị trường du lịch, việc cải tạo, phát triển môi trường du lịch của địa phương cũng như nâng cao nhận thức của người dân trong việc bảo vệ môi trường

Thứ ba, chủ động trong việc áp dụng biện pháp quảng bá du lịch phim ảnh nhằm tạo ra các làn sóng văn hóa Thành công của du lịch đảo Nami có sự đóng góp

rất lớn từ thành công của hoạt động quảng bá du lịch Việc thực hợp tác, đầu tư trong việc sản xuất các bộ phim như “Bản tình ca mùa đông” hay “Khách vãng lai mùa đông”, “Nam và nữ”… đã tạo ra những làn sóng văn hóa trên khắp Hàn Quốc cũng như các quốc gia trên thế giới Điều này đã nâng cao chất lượng quảng bá du lịch của đảo góp phần không nhỏ trong việc đưa hình ảnh của du lịch đảo Nami đến với khách du lịch trong và ngoài nước, từ đó thu hút được lượng lớn khách du lịch đến đảo Thành công của việc áp dụng biện pháp quảng bá du lịch phim ảnh nhằm tạo ra các làn sóng văn hóa trong nước cũng như trên thế giới là bài học kinh nghiệm dành cho việc xây dựng và thực hiện chương trình quảng bá và xúc tiến thị trường du lịch biển Đà Nẵng nói riêng cũng như chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng nói chung

Thứ tư, cần xác định lộ trình, kế hoạch cụ thể đối với từng giai đoạn trong việc phát triển du lịch Từ quá trình phát triển cũng như những kết quả đạt được của du

lịch Singapo cho thấy tầm quan trọng của việc xác định lộ trình, kế hoạch cụ thể đối với từng giai đoạn trong việc phát triển du lịch Kinh nghiệm từ chính sách phát triển

du lịch của Singapo cho thấy để chính sách phát triển du lịch biển Đà Nẵng thực sự chất lượng và hiệu quả, chính sách cần xây dựng, xác định rõ ràng xác định lộ trình,

kế hoạch cụ thể đối với từng giai đoạn trong việc phát triển du lịch Tránh việc thực hiện quá nhiều mục tiêu, giải pháp trong cùng một giai đoạn cuẩ chính sách, cần xác định các mục tiêu, các giải pháp ưu tiên trong từng giai đoạn cho phù hợp với tiềm năng, nguồn lực Từ đó nhằm nâng cao chất lượng cũng nhu hiệu quả của chính sách phát triển du lịch biển của mình

Trang 33

TIỂU KẾT CHƯƠNG

Chính sách phát triển du lịch biển có vai trò to lớn trong việc phát triển ngành

du lịch nói riêng cũng như kinh tế - xã hội quốc gia nói chung Trong khuôn khổ nội dung của chương 1, luận văn đã trình bày những nội dung cần thiết về cơ sở lý luận của chính sách phát triển du lịch biển Theo đó luận văn tập chung làm rõ một số vấn

đề lý luận chính như khái niệm về du lịch biển, chính sách công, chính sách phát triển du lịch biển Đồng thời, thông qua nội dung chương Luận văn cũng phân tích làm rõ những đặc điểm, nội dung chủ yếu của chính sách phát triển du lịch biển cũng như vai trò cũng như tác động của chính sách phát triển du lịch biển đối với kinh tế -

xã hội

Nhận thức rõ nét về tầm quan trọng của những kinh nghiệm thực tế trong việc xây dựng, thực thi chính sách du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng đối với việc hoàn thiện chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng Luận văn đã lựa chọn, phân tích chính sách phát triển du lịch nói chung cũng như chính sách phát triển du lịch biển nói riêng của một số quốc gia trên thế giới như Singapo, Đảo Nami cũng như chính sách phát triển du lịch biển của một trong những địa điểm

du lịch biển phát triển nhất của nước ta đó là Nha Trang Những phân tích, đánh giá

về chính sách phát triển du lịch của một số địa điểm du lịch nêu trên sẽ là những bài học kinh nghiệm đối với chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng

Để có thể phân tích một cách chính xác, hiệu quả thực trạng của chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng cần có những phân tích, hệ thống các

cơ sở lý luận liên quan đến chính sách phát triển du lịch biển nói chung Chính vì vậy, những cơ sở lý luận được phân tích, tổng hợp ở chương 1 sẽ là cơ sở cho việc hệ thống, tiền đề quan trọng trong việc nghiên cứu thực trạng chính sách phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng Từ đó đưa ra những đánh giá, nhận định về ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế, các cơ hội và thách thức đối với phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng trong thời gian tới Từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp và những đề cuất cụ thể nhằm hoàn thiện chính sách phát triển

du lịch biển của thành phố Đà Nẵng

Trang 34

Chương 2

THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH PHÁT TRIỂN DU LỊCH BIỂN ĐÀ NẴNG

2.1 Khái quát chung về thành phố Đà Nẵng

2.1.1 Vị trí địa lý

Thành phố Đà Nẵng trải dài từ 15°15' đến 16°40' Bắc và từ 107°17' đến 108°20' Đông Phía bắc thành phố giáp tỉnh Thừa Thiên - Huế, phía tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam còn phía đông giáp với biển Đông Trung tâm thành phố cách thủ

đô Hà Nội 764km về phía Bắc, cách thành phố Hồ Chí Minh 964km về phía Nam, cách kinh đô thời cận đại của Việt Nam là thành phố Huế 108 km về hướng Tây Bắc

2.1.2 Khí hậu tự nhiên

Đà Nẵng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa điển hình với nền nhiệt độ cao và ít biến động, là nơi chuyển tiếp giữa 2 vùng khí hậu miền Bắc và miền Nam Việt Nam, với tính trội là khí hậu nhiệt đới ở phía Nam Mùa mưa ở Đà Nẵng kéo dài

từ tháng 8 đến tháng 12, dưới sự tác động của gió mùa Đông Bắc Lượng mưa có khi đạt cực đại đến hơn 150mm, nhưng trung bình phổ biến trong khoảng 20 – 30mm ở những tháng mưa nhiều nhất Đặc biệt vào thời điểm tháng 10 và 11, vùng đất này chịu sự tác động trực tiếp của bão từ Biển Đông di chuyển vào Vì vậy, trừ các tháng mưa nhiều thì vào những tháng còn lại trong năm, du lịch ở Đà Nẵng rất thích hợp Vào mùa mưa, nền nhiệt độ trong 2 tháng 8 và 9 vẫn xuất hiện nắng nóng nhưng không quá gay gắt Từ tháng 10 đến tháng 12, nhiệt độ trở nên khá dễ chịu, có những đợt không khí lạnh mạnh tràn xuống thì khu vực này nền nhiệt sẽ hạ xuống ở ngưỡng se lạnh, đôi khi nhiệt độ giảm xuống ngưỡng trời rét nhưng không kéo dài trong tháng 12 và tháng 1 Đà Nẵng có hệ thống núi non bao bọc thành phố, đặc biệt

là khu vực núi Bà Nà Do ảnh hưởng bởi độ cao nên nền nhiệt độ cũng như hệ thống khí hậu nên có sự khác biệt so với khu vực trung tâm thành phố Nền nhiệt độ trên các khu vực vùng núi thấp hơn và biến trình độ ẩm cũng điều hòa hơn so với ở dưới thấp, tạo cảm giác dễ chịu hơn

Trang 35

Như vậy, trong điều kiện bình thường, khí hậu ở Đà Nẵng được xem là một loại tài nguyên đối với sự phát triển du lịch

2.1.3 Điều kiện phát triển du lịch biển Đà Nẵng

Về biển và bờ biển, Đà Nẵng có bờ biển dài khoảng 30 km, có vịnh Đà Nẵng nằm chắn bởi sườn núi Hải Vân và Sơn Trà, mực nước sâu, thuận lợi cho việc xây dựng cảng lớn và một số cảng chuyên dùng khác, đồng thời Đà Nẵng cũng nằm trên các tuyến đường biển quốc tế nên rất thuận lợi cho việc giao thông đường thuỷ Mặc khác, vịnh Đà Nẵng còn là nơi trú đậu tránh bão của các tàu có công suất lớn

Vùng biển Đà Nẵng có ngư trường rộng trên 15.000 km2, có các động vật biển phong phú trên 266 giống loài, trong đó hải sản có giá trị kinh tế cao gồm 16 loài (11 loài tôm, 02 loại mực và 03 loại rong biển) với tổng trữ lượng là 1.136.000 tấn hải sản các loại (theo dự báo của Bộ Thuỷ sản) và được phân bố tập trung ở vùng nước

có độ sâu từ 50 - 200m (chiếm 48,1%), ở độ sâu 50m (chiếm 31%) và ở vùng nước sâu trên 200m (chiếm 20,6%) Hàng năm, khả năng khai thác hải sản các loại tại địa phương đạt trên 150.000 - 200.000 tấn

Đà Nẵng còn có một bờ biển dài với nhiều bãi tắm đẹp như Non Nước, Mỹ Khê, Thanh Khê, Nam Ô với nhiều cảnh quan thiên nhiên kỳ thú; ở khu vực quanh bán đảo Sơn Trà có những bãi san hô lớn, thuận lợi trong việc phát triển các loại hình kinh doanh, dịch vụ, du lịch biển Ngoài ra vùng biển Đà Nẵng đang được tiến hành thăm dò dầu khí, chất đốt,

Với đường bờ biển đẹp trải dài, lại nằm ở vị trí vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và là cửa ngõ ra Thái Bình Dương của các nước Myanmar, Thái Lan, Lào và Việt Nam Từ đó có thể thấy rằng Đà Nẵng có nhiều điều kiện thuận lợi để thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế

Đến với thành phố Đà Nẵng, điều gây ấn tượng với du khách là bầu không khí hết sức trong lành và mát mẻ, là điều mà không phải thành phố nào cũng có được Thành phố có dòng sông Hàn thơ mộng tạo nên một không gian yên bình, êm ả để du khách có thể dạo bộ hoặc ngồi tĩnh lặng ngắm dòng sông hiền hòa trôi Hằng đêm du

Trang 36

khách có thể ngồi trên du thuyền cùng gia đình tận hưởng cảm giác bồng bềnh và hơi mát của sóng nước Nơi đây còn nổi tiếng với những cây cầu xinh đẹp bắc qua sông Hàn như cầu Sông Hàn, cầu Thuận Phước, cầu Rồng,… Hàng năm cũng chính trên dòng sông Hàn là nơi tổ chức các sự kiện như Lễ hội pháo hoa quốc tế, đua thuyền,

Đà Nẵng còn có khu du lịch Bà Nà, được ban cho khí hậu ôn hoà quanh năm nên đây thực sự là một khu nghỉ dưỡng lý tưởng cho gia đình Núi Ngũ Hành Sơn hay núi Non Nước là một thắng cảnh nổi tiếng cũng nằm trên địa phận phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 8km về phía đông nam ngay trên tuyến đường Đà Nẵng - Hội An, với những ngọn núi đá vôi nằm rải rác trên diện tích khoảng 2 km2, gồm: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thổ Sơn, Thủy Sơn và Hỏa Sơn Mỗi ngọn núi có một vẻ đẹp riêng về hình dáng, vị trí, chất liệu đá, về hang động, chùa chiền bên trong,

Cách trung tâm thành phố Đà Nẵng khoảng 7 km còn có bán đảo Sơn Trà có diện tích gần 4400 ha, hiện đang được xây dựng thành một số khu du lịch với những bãi tắm thơ mộng, có nơi thích hợp với du lịch mạo hiểm hoặc du lịch lặn và vùng biển bao quanh Sơn Trà trong tương lai là một trong 15 khu bảo tồn biển quốc gia Ở bán đảo Sơn Trà, du khách có thể ngâm mình dưới làn nước mát trong xanh trên những bãi tắm tuyệt đẹp với nhiều quẩn thể san hô gần bờ Ngoài ra, ở đây du khách còn được thưởng thức nhiều món đặc sản như mì Quảng, bánh tráng cuốn thịt heo rất đặc trưng của vùng miền, cùng hải sản tươi ngon; tham gia các sự kiện du lịch lớn như cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, cuộc thi dù bay quốc tế,

2.1.4 Cơ hội và thách thức đặt ra đối với phát triển du lịch biển Đà Nẵng

2.1.4.1 Cơ hội

Đà Nẵng là một trong những địa điểm du lịch lớn của du lịch Việt Nam bên cạnh các địa điểm du lịch khác như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Hội An với những diễn biến về kinh tế - xã hội của thế giới nói chung cũng như trong nước nói riêng đã, đang và sẽ diễn ra đã tạo ra nhiều cơ hội cho hoạt động phát triển ngành du lịch nói chung cũng như du lịch biển nói riêng của thành phố Đà Nẵng trong thời

Trang 37

gian tới Không chỉ có những cơ hội phát triển dành cho ngành du lịch biển của nước

ta nói chung, ngành du lịch biển Đà Nẵng nói riêng trong thời gian còn có những cơ hội lớn khác để phát triển mà các địa phương khác không có được Cụ thể:

- Diễn biến kinh tế, chính trị, an ninh thế giới có tác động mạnh hơn khi quá trình hội nhập kinh tế thế giới của Việt Nam ngày càng sâu và toàn diện hơn với việc tham gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng như những cố gắng trong quá trình đàm phán, thỏa thuận để có thể tham gia Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng kinh tế (AEC) Trên xu hướng đó, quá trình toàn cầu hóa đã và đang diễn ra như một xu thế khách quan, lôi cuốn các nước, các vùng lãnh thổ khác trên thế giới thúc đẩy hợp tác với nước ta Quan hệ song phương,

đa phương của nước ta với Hoa Kỳ, Nhật Bản, các quốc gia châu Âu ngày càng được

mở rộng trong các hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường và những vấn đề chung hướng tới mục tiêu thiên niên kỷ… và ngày càng phát triển theo chiều hướng tích cực

Quan hệ ngoại giao tích cực của Việt Nam với thế giới đã mở ra cơ hội thu hút đầu tư vốn và cộng nghệ vào Việt Nam nói chung và đầu tư du lịch nói riêng Các nền kinh tế lớn, các tổ chức quốc tế đang tích cực hỗ trợ Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường, trong đó dòng đầu tư FDI và ODA cho phát triển du lịch ngày một tăng Đây là cơ hội rất lớn cho thành phố Đà Nẵng trong việc huy động các nguồn vốn, dự án đầu tư nhằm phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng của thành phố nói chung cũng như phục vụ du lịch biển nói riêng

Những điểm tích cực trong quan hệ ngoại giao của Việt Nam với thế giới cũng tạo ra cơ sở cho Việt Nam xem xét việc miễn Visa thị thực cho công dân các nước trên thế giới Điều này tạo cơ hội cho việc phát triển thị trường khách du lịch quốc tế cho du lịch Việt Nam nói chung, du lịch Đà Nẵng trong đó có du lịch biển Đà Nẵng nói riêng Cùng với đó, việc tham gia các tổ chức kinh tế - xã hội quốc tế tạo ra cơ hội cho việc tổ chức, đăng cai các sự kiện quan trọng như Hội nghị, Tọa đàm, diễn đàn… ở nước ta Với những lợi thế về địa lý, kinh tế- xã hội, an ninh của mình thì đây là cơ hội rất lớn cho Đà Nẵng trong việc phát triển loại hình du lịch MICE…

Trang 38

- Trong thời gian tới, Châu Á - Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng động và thu hút du lịch Cụ thể theo nhận định chung của Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), trong giai đoạn từ nay đến năm 2030 du lịch tiếp tục tăng trưởng trên phạm vi toàn cầu Cụ thể, số lượng khách du lịch quốc tế đã tăng trưởng từ 347 triệu lượt lên đến 1,2 tỷ lượt trong giai đoạn 1995-2015, dự báo đến năm 2030 đạt khoảng 1,8 tỷ lượt Về điểm đến du lịch, Đông Bắc Á sẽ thu hút nhiều khách du lịch quốc tế nhất với 293 triệu lượt, vượt qua khu vực Nam Âu/Địa Trung Hải (264 triệu lượt) và Tây Âu (222 triệu lượt, và xếp thứ 4 là Đông Nam Á với 187 triệu lượt

Với sự phát triển, nổi lên của ngành du lịch khu vực Châu Á – Thái Bình Dương cũng như xu hướng du lịch nhiều quốc gia trong một hành trình của khách du lịch, hay các tour du lịch liên quốc gia là cơ hội rất lớn cho du lịch Việt Nam nói chung cũng như du lịch Đà Nẵng trong đó có du lịch biển nói riêng trong việc thu hút nguồn khách du lịch quốc tế

- Xu hướng phát triển của nền kinh tế tri thức, khoa học công nghệ được ứng dụng ngày càng có hiệu quả và có sức lan tỏa vô cùng nhanh và rộng Các ứng dụng internet, mạng xã hội trong thời gian qua đã cho thấy những hiệu quả, tầm ảnh hưởng trong việc quảng bá xúc tiến du lịch nói chung của các quốc gia trên thế giới Với những kinh nghiệm, cách thức hiệu quả các nhà quản lý hoàn toàn có thể tạo ra những xu hướng du lịch đến các địa điểm du lịch nổi tiếng thông qua internet, mạng

xã hội Với các ứng dụng nêu trên việc quảng bá du lịch nói chung trở nên thuận tiện hơn bao giờ hết Đây là một trong những cơ hội cho việc phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng, cụ thể là cơ hội trong việc quảng bá, xúc tiến thị trường du lịch của thành phố đến với thị trường khách du lịch trong và ngoài nước

- Trong thời gian qua, bất chấp những biến động của thế giới, số lượng khách

du lịch trên thế giới vẫn tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ với việc du lịch quốc tế liên tục tăng trưởng; du lịch nội khối chiếm tỷ trọng lớn; du lịch khoảng cách xa có xu hướng tăng nhanh Điều này tiếp tục đưa du lịch trở thành một xu hướng phổ biến trên toàn cầu Du lịch trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ phát triển nhanh nhất và lớn nhất trên bình diện thế giới, góp phần vào sự phát triển và thịnh

Trang 39

vượng của các quốc gia Đặc biệt các nước đang phát triển, vùng sâu, vùng xa coi phát triển du lịch là công cụ xoá đói, giảm nghèo và tăng trưởng kinh tế

Trong thời gian tới, ngành du lịch được dự báo sẽ tiếp tục duy trì được vị trí, vai trò của mình Số lượng khách du lịch sẽ tiếp tục tăng mạnh cả về du lịch nội địa cũng nhu du lịch quốc tế Đây là cơ hội to lớn về xu thế thời đại mà Việt Nam nói chung cũng như du lịch Đà Nẵng trong đó có ngành du lịch biển có thể tận dụng để phát triển

- Việt Nam về vị trí địa lý gần với thị trường khổng lồ Trung Quốc và các nước Đông bắc Á (Nhật Bản, Hàn Quốc) với trên 1,5 tỷ người tiêu dùng du lịch có thu nhập cao và đang tăng mạnh Cơ hội thu hút một phần thị trường khách du lịch đến

từ các quốc gia này mở ra cho Du lịch Việt Nam một chân trời rộng lớn Đây cũng là

cơ hội rất lớn cho phát triển du lịch biển của thành phố Đà Nẵng

- Thành phố Đà Nẵng có vị trí địa lý gần với các địa điểm du lịch nổi tiếng khác của nước ta là Cung đình Huế, phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn… Cùng với xu hướng du lịch trải nghiệm, cộng đồng… cũng như sự phát triển mạnh của các địa điểm du lịch này trong thời gian vừa qua tạo ra cơ hội rất lớn cho du lịch của thành phố Đà Nẵng nói chung cũng như du lịch biển nói riêng trong việc khai thác, lôi kéo lượng khách du lịch đến thăm quan, du lịch tại địa điểm trên đến với mình

2.1.4.2 Thách thức

- Du lịch Việt Nam nói chung cũng như du lịch Đà Nẵng trong đó có du lịch biển của thành phố Đà Nẵng nói riêng trong thời gian tới sẽ chịu tác động mạnh mẽ của những bất ổn chính trị, xung đột, khủng bố, dịch bệnh, thiên tai, khủng khoảng kinh tế, tài chính tại ở các nước đối tác, các thị trường truyền thống Khi là thành viên của WTO những tác động tiêu cực này sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn, khó lường hơn trong khi năng lực thích ứng và ứng phó với những biến động trên thị trường của Việt Nam nói chung cũng như của thành phố Đà Nẵng còn hạn chế Tranh chấp, bất đồng khu vực, đặc biệt vấn đề gắn với biển đông tiềm ẩn những bất ổn, những tác động mạnh, trực tiếp và đột ngột đến hoạt động du lịch của nước ta cũng như du lịch

Trang 40

biển của thành phố Đà Nẵng Đây là thách thức lớn đối với du lịch nước ta cũng như

du lịch biển của thành phố Đà Nẵng Ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường khách du lịch khách quốc tế của nước ta

- Trong thời gian tới sức ép cạnh tranh trong lĩnh vực du lịch quốc tế ngày càng gay gắt, đặc biệt đối với Du lịch Việt Nam là ngành còn non trẻ và còn nhiều điểm yếu Với sự nổi lên, phát triển mạnh mẽ của các điểm đến trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Philiphines, Cămphuchia khiến cho sự cạnh tranh giữa các quốc gia trong khu vực đang trở lên quyết liệt hơn với quy mô và tính chất mới do có yếu tố công nghệ mới và toàn cầu hóa Sự cạnh tranh này cả về dòng vốn đầu tư và thu hút khách, cả về chất lượng và hiệu quả kinh doanh và xây dựng hình ảnh, thương hiệu quốc gia, địa phương Những yếu tố nêu trên trực tiếp ảnh hưởng đến sự phát triển của du lịch nước ta cũng như ngành du lịch biển của thành phố Đà Nẵng

- Hiện nay các địa điểm du lịch biển của nước ta như Nha Trang, Vịnh Hạ Long, Sầm Sơn,… đều đang có những chính sách phát triển du lịch biển, thu hút khách du lịch với nhiều hoạt động du lịch nội bật, cải thiện chất lượng môi trường biển, đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch… Sự phát triển mạnh mẽ của một số địa điểm du lịch biển trong thời gian tới cũng là một trong những thách thức danh cho du lịch biển của thành phố Đà Nẵng trong việc thu hút khách du lịch quốc tế và đặc biệt

là thị trường khách du lịch nội địa

- Biến đổi khí hậu đang có tác động mạnh mẽ hơn so với dự báo Du lịch biển của thành phố Đà Nẵng với đặc điểm, thế mạnh tập trung vào biển đảo sẽ đứng trước thách thức vô cùng lớn và khó lường trước ảnh hưởng của triều cường, mực nước biển dâng, thiên tai, bão Ngoài ra, ô nhiễm môi trường biển đang ngày càng nghiêm trọng, khó kiểm soát trở thành mối đe dọa đối với điểm đến du lịch nếu chậm có giải pháp kiểm soát thích đáng Những hậu quả của thảm họa ô nhiễm môi trường biển miền trung diễn ra gần đây(Fomosa) hiện nay vẫn chưa được khắc phục hoàn toàn, việc khắc phục những hậu quả này để cải thiện chất lượng môi trường biển là thách thức rất lớn cho các tỉnh miền Trung trong đó có thành phố Đà Nẵng

Ngày đăng: 18/12/2017, 23:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w