Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Từ thực tiễn huyện Thanh Oai thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRẦN THỊ DIỆU OANH
HÀ NỘI - 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Vũ Thu Hương
Trang 4MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 2
3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC 8
1.1 Khái niệm, đặc điểm, chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 8
1.1.1 Khái niệm pháp luật về công chức và tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 8
1.1.2 Đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 15
1.1.3 Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 16
1.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 16
1.2.1 Tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật về công chức 16
1.2.2 Bảo đảm công chức thực thi đúng các quyền và nghĩa vụ đối với công chức 18
1.2.3 Bảo đảm hoạt động quản lý công chức 20
1.2.4 Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 23
1.3 Các yếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 24 1.3.1 Yếu tố pháp luật 24
1.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội 25
1.3.3 Yếu tố năng lực của công chức 26
Trang 51.3.4 Truyền thống, văn hóa, phong tục, tập quán 28
Tiểu kết chương 1 29
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT 30
VỀ CÔNG CHỨC Ở HUYỆN THANH OAI, HÀ NỘI 30
2.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở huyện Thanh Oai, Hà Nội 30
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 30
2.1.2 Tình hình công chức ở huyện Thanh Oai 31
2.2 Tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở huyện Thanh Oai, Hà Nội 34
2.2.1 Tình hình phổ biến pháp luật về công chức ở huyện Thanh Oai, Hà Nội 34
2.2.2 Tình hình tổ chức thực hiện các nội dung pháp luật về công chức ở huyện Thanh Oai, Hà Nội 37
2.3 Nhận xét chung về tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở huyện Thanh Oai, Hà Nội 50
2.3.1 Ưu điểm 50
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 53
Tiểu kết chương 2 58
Chương 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC TỪ THỰC TIỄN HUYỆN THANH OAI, HÀ NỘI 60
3.1 Quan điểm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 60 3.1.1 Bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính 60
3.1.2 Bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức phải khách quan, công khai, minh bạch, kịp thời 62
Trang 63.1.3 Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức phải căn cứ vào điều
kiện kinh tế - xã hội của mỗi địa phương 62
3.2 Giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức -Từ thực tiễn huyện Thanh Oai, Hà Nội 63
3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về công chức 63
3.2.2 Đổi mới nhận thức tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 74
3.2.3 Nâng cao chất lượng trong triển khai nội dung, hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật về công chức 78
3.2.4 Tăng cường kiểm tra, tổng kết rút kinh nghiệm trong tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 80
3.2.5 Củng cố, kiện toàn và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong tổ chức thực hiện pháp luật về công chức 81
Tiểu kết Chương 3 82
KẾT LUẬN 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Số liệu công chức huyện Thanh Oai từ năm 2013 đến 2016 33 Bảng 2.2: Số liệu tuyển dụng công chức của huyện Thanh Oai từ 2013 - 2016
39 Bảng 2.3: Số liệu khen thưởng công chức của huyện Thanh Oai từ năm 2013
- 2016 48
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Để hệ thống chính trị ở các cấp hoạt động có hiệu quả, yếu tố quan trọng và quyết định là phải có đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị, có trình độ chuyên môn đáp ứng được tốt yêu cầu thực thi công vụ Cán
bộ, công chức là những người trực tiếp đưa đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với người dân và là người trực tiếp tổ chức để nhân dân thực hiện Trong đội ngũ cán bộ, công chức có vai trò rất quan trọng Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.Công chức có trách nhiệm tham mưu giúp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công Vì vậy, chất lượng của đội ngũ công chức ảnh hưởng quyết định đến hiệu quả tổ chức thực hiện pháp luật của chính quyền
Xuất phát từ vai trò quan trọng của chính quyền các cấp và đội ngũ công chức , Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến việc ban hành pháp luật
để điều chỉnh đối với công chức Pháp luật về công chức đã được hình thành
và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển của Nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1945 đến nay Qua các giai đoạn lịch sử, pháp luật về công chức đã đạt được những thành tựu nhất định góp phần vào việc thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của cách mạng, xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân vững mạnh Đã có nhiều văn bản qui phạm pháp luật được ban hành tạo hành lang pháp lý cho việc tuyển dụng, quản lý và sử dụng đội ngũ công chức các cấp Tuy nhiên, thực tiễn những năm qua và yêu cầu của tình hình nhiệm vụ mới cho thấy pháp luật về công chức hiện hành đã bộc lộ những hạn chế nhất định như: qui định tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, tiền lương và phụ cấp, thôi việc, nghỉ hưu đối với các đối tượng này vẫn còn bất cập, chưa khuyến khích và chưa động viên được đội ngũ công chức ở cơ sở;
Trang 10chất lượng công chức và hiệu quả hoạt động chưa cao.Mặt khác, xuất phát từ yêu cầu của nền kinh tế thị trường, của quá trình hội nhập kinh tế cũng như chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân
và vì dân, công cuộc cải cách nền hành chính quốc gia đòi hỏi phải đổi mới sự điều chỉnh pháp luật đối với công chức cấp Trong bối cảnh như vậy, việc
nghiên cứu đề tài “Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức - từ thực tiễn
huyện Thanh Oai, Hà Nội” nhằm nâng cao chất lượng của đội ngũ công
chức cơ sở vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có tính thực tiễn cấp thiết
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là vấn đề được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu.Tuy nhiên, trực tiếp nghiên cứu về Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức- từ thực tiễn huyện Thanh Oai vẫn còn là một khoảng trống trong nghiên cứu Có thể kể một số công trình nghiên cứu có những liên quan nhất định đến nội dung của đề tài như sau:
- Sách chuyên khảo về "Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước" do PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS.Trần Xuân Sầm (đồng chủ biên), nghiên cứu những vấn đề lý luận và phương pháp luận nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đất nước; thực trạng đội ngũ cán bộ và công tác cán bộ hiện nay; quan điểm và phương hướng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước
- Đề tài khoa học cấp nhà nước KX.04.09 (2002-2004) về "Xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân" do Bộ Nội vụ chủ trì, đã phân tích tính tất yếu khách quan của việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; thực trạng đội ngũ và thể chế quản lý cán bộ, công chức; phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Trang 11- Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2001 nghiên cứu về "Đổi mới chính sách đối với cán bộ chính quyền cơ sở đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính" của
Bộ Nội vụ; Dự án năm 2004 về "Điều tra thực trạng và đề xuất phương hướng, giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ Hội đồng nhân dân các cấp và cán bộchuyên trách cơ sở" do Bộ Nội vụ chủ trì, đã đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ Hội đồng nhân dân (HĐND) và cán bộ, công chức cơ sở, chỉ ra những nguyên nhân và từ đó đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng, năng lực công tác của cán bộ HĐND và cán bộ, công chức cơ sở Sách chuyên khảo về
"Hệ thống chính trị cơ sở ở nông thôn nước ta hiện nay" do GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ biên), nghiên cứu hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn từ quan điểm lý luận đến lịch sử và thực tiễn; đánh giá thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền cơ sở và chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở ở nông thôn; đưa ra một số phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục kiện toàn chính quyền và đội ngũ cán bộ ở cơ sở nước ta hiện nay Tác giả Lê Tư Duyến với bài "Bầu trực tiếp Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn - thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân" đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 4, 2005; TS Vũ Đức Đán với bài "Vấn
đề đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở" đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 5, 2002; TS.Nguyễn Hữu Đức với bài "Từ đặc điểm, tính chất đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở để xây dựng chế độ, chính sách phù hợp" đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 8, 2003; ThS Vũ Hữu Kháng với bài "Phân định thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân và tập thể Ủy ban nhân dân" đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, số 3, 2003; TS.Lê Chi Mai với bài "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chính quyền cơ sở - vấn đề và giải pháp" đăng trên Tạp chí Cộng sản, số 20, 2002; Tác giả Hữu Phan với bài
"Xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với các chức danh cán bộ, công chức cấp xã" đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 10, 2003 (tổng thuật Hội nghị tọa đàm); TS Thang Văn Phúc với bài "Những định hướng đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhà nước theo yêu cầu cải cách hành chính tổng thể (2001- 2010)" đăng trên Tạp chí Tổ chức nhà nước, số 9, 2003
Trang 12- Sách chuyên khảo về "Công vụ, công chức nhà nước" của GS.TS Phạm Hồng Thái đã đưa ra quan niệm về pháp luật công vụ, công chức; phân tích và đánh giá về nội dung của pháp luật công vụ, công chức ở nước ta hiện nay
- Luận án về "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về công chức ở nước ta" của Nguyễn Văn Tâm (1997), đã phân tích những vấn đề lý luận và thực trạng pháp luật về công chức nhà nước; sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật về công chức nhà nước; đề xuất phương hướng và giải pháp tiếp tục đổi mới và hoàn thiện pháp luật về công chức ở nước ta
- Mạc Minh Sản (2003), Hoàn thiện pháp luật về cán bộ chính quyền cấp cơ sở theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Hà Nội
- Lê Thị Lý (2003), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức xã trước yêu cầu đổi mới, Luận văn thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia, Hà Nội
- TS Nguyễn Minh Phương (2003), “Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức
cơ sở đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới”, Tạp chí Lý luận chính trị, (số 7)
- Nguyễn Hữu Đức (2003), “Từ đặc điểm, tính chất đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở để xây dựng chế độ, chính sách phù hợp”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, (số 8)
- Nguyễn Hữu Lộc (2003), “Tăng cường cán bộ cơ sở”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, (số 8)
- Hữu Phan (2003), “Xây dựng tiêu chuẩn cụ thể đối với các chức danh cán bộ, công chức cấp xã”, Tạp chí Tổ chức nhà nước, (số 10)
- Dương Hương Sơn (2004), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Trần Tấn Tài (2004), Đào tạo nguồn cán bộ quản lý hành chính nhà nước cấp xã trên địa bàn thành phố Cần Thơ – thực trạng và giải pháp, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Trang 13- Hiền Lương (2004),“Chính sách của Đảng và Chính phủ nhằm nâng cao chất lượng cán bộ xã vùng cao”, Tạp chí Lý luận chính trị, (số 5)
- Lê Đình Vĩ (2005), Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã miền núi đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Bắc Giang hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Nguyễn Thị Thanh (2006), Hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã ở nước ta hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật
- Châu Nam Trung (2009), Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Cà Mau hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- Nguyễn Thanh Tuyền (2009), Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã trên địa bàn tỉnh Điện Biên hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
- PGS.TS Bùi Đức Kháng chủ nhiệm (2010), Đổi mới phương thức và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ - công chức nhà nước đáp ứng yêu cầu hội nhập, Đề tài khoa học cấp bộ, TP Hồ Chí Minh
- Hồ Đức Việt, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương (2010), “Đổi mới công tác tổ chức, cán bộ đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước”, Tạp chí Lý luận chính trị, (số 2)
- Nguyễn Thị Phương Thảo (2010), Chất lượng cán bộ, công chức cấp xã
Trang 14của tỉnh Tuyên Quang, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
Những công trình nghiên cứu trên đã có những đóng góp về mặt lý luận
và thực tiễn đối với đề tài.Tuy nhiên, chúng tôi thấy rằng đến nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về tổ chức thực hiện pháp luật công chức gắn với địa
phương cụ thể là huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội Do đó đề tài: “Tổ chức
thực hiện pháp luật công chức - từ thực tiễn huyện Thanh Oai, thành phố Hà Nội” là một đề tài không trùng lặp, mang tính lý luận và thực tiễn cao, đòi hỏi
cần được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ hơn
3 Đối tƣợng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu:Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức
Phạm vi nghiên cứu:Luân văn tập trung nghiên cứu tình hình tổ chức thực
hiện pháp luật đối với công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước (Ủy ban nhân dân huyện và Ủy ban nhân dân xã) tại huyện Thanh Oai, Hà Nội.Thời gian nghiên cứu từ năm 2013 đến năm 2016
4 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Phân tích những vấn đề lý luận tổ chức thực hiện pháp luật về công chức.Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về công chức tại huyện Thanh Oai, Hà Nội.Luận văn đề xuất những quan điểm, giải pháp nhằm bảo đảm
tổ chức thực hiện pháp luật về công chức từ thực tiễn tại huyện Thanh Oai, Hà Nội
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:
- Phân tích những vấn đề lý luận về công chức và tổ chức thực hiện pháp luật về công chức bao gồm khái niệm, đặc điểm, nội dung, nguyên tắc và các yếu
tố bảo đảm tổ chức thực hiện;
- Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về công chức tại huyện Thanh Oai, Hà Nội, tìm ra các ưu điểm và hạn chế khi tổ chức thực hiện pháp luật về công chức tại huyện Thanh Oai, Hà Nội
Trang 15- Đề xuất một số quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức tại huyện Thanh Oai, Hà Nội trong thời gian tới
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận văn được tiến hành trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về nhà nước và pháp luật
- Luận văn được thực hiện dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử, trong đó sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể, như: phân tích tổng hợp, thống kê và so sánh, phương pháp lịch sử và logic…
6 Đóng góp của luận văn
- Góp phần bổ sung những vấn đề lý luận về công chức và tổ chức thực hiện pháp luật về công chức
- Làm rõ thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về công chức tại Thanh Oai, Hà Nội
- Nêu quan điểm và một số giải pháp có tính khả thi để bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức tại huyện Thanh Oai, Hà Nội.trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật của tổ chức thực hiện pháp
luật về công chức
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở huyện
Thanh Oai, Hà Nội
Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về
công chức - từ thực tiễn huyện Thanh Oai, Hà Nội
Trang 16Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT TỔ CHỨC THỰC
HIỆN PHÁP LUẬT VỀ CÔNG CHỨC 1.1 Khái niệm, đặc điểm, chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về công chức
1.1.1 Khái niệm pháp luật về công chức và tổ chức thực hiện pháp luật
về công chức
1.1.1.1 Khái niệm công chức và pháp luật về công chức
Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, cùng với Nghị định 95/1998/NĐ-CP ngày 17-11-1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đã kế thừa khái niệm công chức trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25-5-1991 và qui định cụ thể hơn bằng cách liệt kê những đối tượng là công chức nhà nước
Theo Điều 1 Nghị định 95/1998/NĐ-CP, công chức bao gồm những đối tượng được quy định tại khoản 3, khoản 5 của Điều 1 Pháp lệnh: Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, làm việc trong các cơ quan: Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; Cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện,… Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan,
hạ sĩ quan chuyên nghiệp.Như vậy Nghị định đã chỉ ra các dấu hiệu đặc trưng của công chức nhà nước: Là công dân Việt Nam; được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên…; được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn; được xếp vào ngạch hành chính, sự nghiệp; trong
Trang 17biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Qua các quy định của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và các văn bản có liên quan, bên cạnh những ưu điểm còn cho thấy sự bất hợp lý, chưa phân định rõ cán bộ, công chức, viên chức Nội hàm của khái niệm cán bộ, công chức trong Pháp lệnh quá rộng nên không phân biệt được đặc thù của từng loại cán bộ, công chức Việc quản lý, sử dụng và đãi ngộ đối với cán bộ, công chức khu vực hành chính và khu vực sự nghiệp chưa có sự phân định về
cơ chế, chính sách phù hợp với đặc điểm, tính chất hoạt động của từng khu vực Mặt khác, chưa có nội dung quy định về cán bộ, công chức cấp xã Đây
là điều bất hợp lý trong quy định của pháp luật, làm cho hoạt động của chính quyền cấp xã lâu nay kém ổn định, hiệu lực và hiệu quả thấp
Để khắc phục dần những hạn chế của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm
1998, Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 2003 tại khoản 1 Điều 1 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh thêm các đối tượng công chức (mục g, h) gồm những người được bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ (cán bộ chuyên trách cấp xã) và những người được tuyển dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp
xã (công chức cấp xã), mặt khác có phân biệt rõ các đối tượng công chức ngạch hành chính và ngạch sự nghiệp
Trên cơ sở đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10-10-2003 về việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý cán bộ, công chức trong các cơ quan nhà nước.Theo Điều 2 của Nghị định, công chức là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước được quy định tại điểm b, điểm c, điểm e khoản 1 Điều 1 của Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi, bổ sung năm 2003, làm việc trong cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang,
tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Như vậy, Nghị định không chỉ điều chỉnh những vấn đề liên quan đến công chức nhà nước, mà còn liên quan đến công chức thuộc các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị- xã hội Điều này
Trang 18nếu xét từ góc độ chính trị - pháp lý thì hợp lý, bởi các công chức trong bộ máy giúp việc của các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội cũng cần chịu sự điều chỉnh của pháp luật, nhưng xét về mặt kỹ thuật ban hành văn bản thì lại
có mâu thuẫn cả về hình thức tên gọi và nội dung của Nghị định
Pháp lệnh Cán bộ, công chức, các Nghị định, Thông tư của Bộ Nội vụ đã tạo thành cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng đội ngũ cán bộ công chức và hoàn thiện công tác cán bộ công chức, góp phần to lớn vào thực hiện các nhiệm vụ cải cách hành chính, xây dựng nhà nước pháp quyền, xây dựng nền kinh tế thị trường đáp ứng yêu cầu đổi mới và mong muốn của nhân dân.Tuy nhiên trong các quy định của Pháp lệnh cũng như trong các Nghị định của Chính phủ còn những bất cập, hạn chế chưa đáp ứng được các yêu cầu đổi mới hoạt động công vụ theo tinh thần cải cách hành chính, hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật chưa quy định đầy đủ, toàn diện thống nhất các lĩnh vực hoạt động công vụ, như quản lý cán bộ công chức, nguyên tắc hoạt động công vụ, nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ cũng như hoạt động thanh tra công vụ chưa được quy định cụ thể; các quy định về phân loại, bố trí sử dụng, quy hoạch, đánh giá, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công chức không hợp lý, chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước
Để khắc phục các hạn chế nói trên, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường và mở cửa hội nhập quốc tế, ngày 13/11/2008, Quốc hội đã thông qua Luật Cán bộ, công chức, ngày 28/11/2008 Chủ tịch nước đã ký Sắc lệnh số 20/2008/SL - CTN công bố Luật Cán bộ, công chức.Việc ban hành Luật Cán bộ công chức là việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm chủ trương của Đảng và công tác cán bộ trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền, tạo cơ sở pháp lý đầy đủ
để xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức và nền công vụ theo tinh thần cải cách, hiện đại hóa nền hành chính
Trang 19Luật Cán bộ, công chức quy định rõ về cán bộ ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Bước phát triển mới của Luật Cán bộ, công chức là đã phận định rõ cán bộ với công chức Cụ thể cán bộ gắn với cơ chế bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ, công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh Cùng với Luật Viên chức năm 2010 xác định viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật.( Điều 2 Luật Viên chức năm 2010), lần đầu tiên pháp luật nước ta phân biệt cụ thể các đối tượng làm việc trong khu vực nhà nước thành các nhóm cán bộ, công chức, viên chức để xác định cơ chế quản lý phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Mặc dù hiện nay quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có khác nhau Có nơi hiểu công chức theo nghĩa rất rộng như ở Pháp là bao gồm tất cả những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nước, tất cả những người tham gia dịch vụ công Hay hẹp hơn như tại Anh, nơi công chức là những người thay mặt nhà nước giải quyết công việc công, nhất là ở tại Trung ương, nên phạm vi công chức thu hẹp hơn rất nhiều
Qua lịch sử phát triển Việt Nam, TS Chu Văn Thành đưa ra khái niệm
công chức là: “Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ
thường xuyên, làm việc trong một cơ quan nhà nước, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước [19]
Luật Cán bộ, công chức năm 2008, tại Khoản 2, Điều 4 quy định:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ
Trang 20quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật” Tại Khoản 3,Điều
4 quy định “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ
một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[17]
Theo GS.TS Phạm Hồng Thái và PGS.TS Đinh Văn Mậu, hệ thống
pháp luật là “Tổng thể các quy phạm pháp luật được quy định một cách khách
quan bởi các điều kiện kinh tế-xã hội, được phân chia thành các bộ phận cấu thành khác nhau (các ngành luật, phân ngành luật, chế định pháp luật), phù hợp với đặc điểm, tính chất của các quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh, nhưng các bộ phận khác nhau ấy có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ và thống nhất với nhau” [18]
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn tiếp cận quan niệm pháp luật là các quy phạm pháp luật Như vậy, pháp luật chỉ gắn với hệ thống văn bản quy
phạm pháp luật về công chức.Từ đó, có thể hiểu pháp luật về công chức là
các quy tắc xử sự do Nhà nước ban hành để điều chỉnh hoạt động công vụ của những người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế
và hưởng lương từ ngân sách nhà nước và những người đứng đầu trong đơn
vị Hành chnhs sự nghiệp công lập
Với khái niệm như vậy, nội hàm của pháp luật về công chức bao
Trang 21gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật quy định công chức do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Như vậy pháp luật về công chức
sẽ được quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật có thứ bậc khác nhau do nhiều chủ thể ban hành Bên cạnh việc quy định trong các văn bản như Hiến pháp, Luật Cán bộ, công chức 2008 và các nghị định, thông tư, quyết định về công chức, pháp luật về công chức còn chịu sự điều chỉnh của nhiều ngành luật khác như Luật Lao động điều chỉnh về tiền lương, thời gian làm việc, Luật Hình sự quy định về xử lý hình sự khi công chức vi phạm pháp luật hình sự, Luật Dân sự… Ngoài ra còn rất nhiều văn bản dưới luật khác có tính chất chuyên ngành điều chỉnh bởi lẽ đội ngũ công chức vừa chịu sự quản lý của Ủy ban nhân dânvề công tác tổ chức, biên chế vừa chịu sự hướng dẫn nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên
- Pháp luật về công chức là lĩnh vực pháp luật liên ngành, được qui định trong nhiều văn bản qui phạm pháp luật do nhiều chủ thể ban hành trong đó chủ yếu là các quy phạm thuộc ngành Luật hành chính
Pháp luật về công chức được qui định trong các văn bản như: Luật Cán
bộ, công chức năm 2008 và các Nghị định của Chính phủ, Thông tư, Quyết định, Thông tư liên tịch của các Bộ hướng dẫn thi hành và Quyết định của UBND tỉnh Bên cạnh đó công chức còn chịu sự điều chỉnh của các ngành luật khác như Lao động, dân sự, hình sự… Ngoài ra theo lĩnh vựcchuyên môn, công chức còn chịu sự điều chỉnh của những Luật chuyên ngành như công chức Địa chính - xây dựng - đô thị - môi trường chịu sự điều chỉnh của Luật Đất đai, Luật Bảo vệ môi trường, Luật xây dựng…, công chức Tài chính
- kế toán chịu sự điều chỉnh của Luật Ngân sách, Luật Kế toán Đặc điểm này của pháp luật về công chức đòi hỏi khi xây dựng, hoàn thiện pháp luật về công chức cần phải phân định rành mạch thẩm quyền, phạm vi của từng chủ thể khi ban hành các văn bản qui phạm pháp luật, đồng thời phải tránh mâu
Trang 22thuẫn, đảm bảo tính thống nhất
- Nội dung pháp luật về công chức rất đa dạng từ tuyển dụng, khen thưởng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, kỷ luật, đánh giá…
1.1.1.2 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức
Để pháp luật về công chức đi được vào cuộc sống bằng những hành vi hợp pháp của các chủ thể sử dụng pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải tổ chức đưa pháp luật vào thực thi trong hoạt động công vụ nhằm bảo đảm tính pháp quyền, tuân thủ pháp luật của các công chức trong mọi hoạt động của mình
Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định pháp luật liên quan tới trách nhiệm công vụ của công chức đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi hợp pháp của công chức và các cá nhân, tổ chức có liên quan
Việc tổ chức thực hiện pháp luật về công chức có vai trò quan trọng vì công chức làm việc ở Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính có vị trí đặc biệt trong các cấp chính quyền Hiệu quả và sức mạnh của Nhà nước do chính quyền trung ương quyết định và cách thức tổ chức, thực thi quyền lực nhà nước ở cơ sở Trong đó, cấp cơ sở là cấp gần dân nhất, là cấp chủ yếu thực thi pháp luật Các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước muốn đi vào cuộc sống phải thông qua hoạt động của chính quyền cấp xã, cụ thể là hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức nói chung và công chức xã nói riêng
Công chức cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn
Bên cạnh đó, thực hiện pháp luật công chức được biểu hiện trên hai
Trang 23phương diện chủ yếu: không thực hiện hành vi trái pháp luật công chức và thực hiện hành vi hợp pháp, tuân thủ pháp luật công chức, pháp luật công chức trở thành những hành vi thực tế, hợp pháp của các chủ thể sử dụng pháp luật đòi hỏi trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật công chức phải có nội dung, hình thức, phương pháp phù hợp.Từ những phân tích ở trên, chúng ta
có thể hiểu Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động sắp xếp,
định hướng một cách có tổ chức, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch và thường xuyên, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện làm cho pháp luật về công chức được triển khai trong thực tiễn
1.1.2 Đặc điểm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức
Từ khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức nêu trên, có thể nhận thấy một số đặc điểm cơ bản của tổ chức thực hiện pháp luật về công chức như sau:
Thứ nhất, tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động sắp
xếp, có định hướng nhằm đưa pháp luật công chức vào cơ quan nhà nước.Suy cho cùng, tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động nhằm đưa pháp luật công chức vào cơ quan nhà nước, trở thành ý thức và thói quen xử sự trong cơ quan nhà nước.Hoạt động đó được thực hiện một cách có chủ định, có tổ chức, có định hướng và có kế hoạch cụ thể Qua hoạt động đó, mục đích của chủ thể tác động nhằm hình thành ở các đối tượng được tác đông những tri thức, thói quen xử sự phù hợp với quy định của pháp luật về công chức, là cho mọi đối tượng tự giác tuân thủ pháp luật, có ý thức pháp luật cao
Thứ hai, tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động được
thực hiện bởi các chủ thể nhất định
Thứ ba, tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là một chuỗi các hoạt
động từ phổ biến, giáo dục pháp luật cán bộ, công chức, ban hành văn bản pháp luật, tổ chức bộ máy nhằm triển khai pháp luật cán bộ, công chức, bảo
Trang 24đảm các điều kiện cơ sở vật chất để thực thi pháp luật cán bộ, công chức và kiểm tra, đánh giá, tổng kết công tác thi hành pháp luật cán bộ, công chức trong thực tế
Có thể nói, tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là sự tác động một cách thường xuyên, lâu dài chứ không phải chỉ là sự tác động nhất thời, một lần của chủ thể tới đối tượng được được tổ chức thực hiện pháp luật Đó là một quá trình đưa pháp luật về công chức vào cơ quan nhà nước gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước
1.1.3 Chủ thể tổ chức thực hiện pháp luật về công chức
Tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động có sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền tác động tới các đối tượng là công chức nhà nước nhằm đạt được mục đích của cơ quan nhà nước Do vậy, có thể nói,
tổ chức thực hiện pháp luật về công chức là hoạt động có định hướng, có chủ
định của các cơ quan nhà nước
Bộ Nội vụ là cơ quan được Chính phủ giao giúp Chính phủ thực hiện quản lý thống nhất trong cả nước về công tác tổ chức.Các nội dung quản lý nhà nước về công chức còn được phân cấp cho các bộ và cơ quan ngang bộ,
cơ quan khác thuộc Chính phù, UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện, UBND cấp xã và cơ quan đơn vị sử dụng công chức Công chức làm việc trong nhiều
cơ quan, tổ chức khác nhau theo quy định của pháp luật vì vậy tổ chức thực hiện pháp luật công chức sẽ do các cơ quan, tổ chức này triển khai thực hiện
1.2 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về công chức
1.2.1 Tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật về công chức
Tổ chức phổ biến, tuyên truyền pháp luật công chức là một trong những nội dung quan trọng của công tác tổ chức thực hiện pháp luật công chức, nhằm giúp công chức không tiến hành những hoạt động mà pháp luật công chức cấm Đồng thời, việc tuyên truyền giúp công chức nhà nước nhận thức được những hành vi phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh mà quy
Trang 25phạm pháp luật về công chức cụ thể quy định về các nghĩa vụ pháp lý theo luật công chức
Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật công chức có thể thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau như: tuyên truyền miệng; thông qua các cuộc thi tìm hiểu; thông qua tờ rơi; thông qua hệ thống thông tin đại chúng…
Tuyên truyền miệng về pháp luật là một hình thức tuyên truyền khá phổ biến mà người nói trực tiếp nói với người nghe về lĩnh vực pháp luật trong đó chủ yếu là các văn bản pháp luật đó nhằm nâng cao nhận thức về pháp luật, niềm tin vào pháp luật và ý thức pháp luật cho người nghe và kích thích người nghe hành động theo các chuẩn mực pháp luật.Tuyên truyền miệng về pháp luật có nhiều ưu thế thể hiện ở tính linh hoạt, có thể tiến hành ở bất cứ nơi nào, trong bất kỳ điều kiện, hoàn cảnh nào và số lượng người nghe; người nói
có điều kiện thuận lợi để giải thích, phân tích, làm sang tỏ nội dung cần tuyên truyền, hai bên có thể hỏi đáp trực tiếp để đáp ứng yêu cầu của nhau Trong công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật từ trước đến nay, hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua tuyên truyền miệng được sử dụng phổ biến, rộng rãi và có mối quan hệ chặt chẽ với các hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật khác
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật công chức còn có thể thực hiện thông qua việc biên soạn, phát hành tài liệu pháp luật Tài liệu phổ biến, giáo dục pháp luật gồm nhiều loại như đề cương tuyên truyền, văn bản pháp luật, sách hướng dẫn, giải thích pháp luật, sách pháp luật bỏ túi, sách hỏi đáp pháp luật,
tờ rơi, tờ gấp, bản tin, tranh áp phích, lịch… Trong tuyên truyền miệng, trong các hoạt động giảng dạy và học tập pháp luật công chức tại các trường đào tạo nâng cao nghiệp vụ cho cán bộ, công chức… đều sử dụng tài liệu pháp luật để thực hiện tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật Hiệu quả của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật chịu sự tác động nhất định của chất lượng các tài
Trang 26liệu pháp luật, vì vậy, việc biên soạn, phát hành các tài liệu này cũng được chú trọng cả hình thức và nội dung
Ngoài ra, để pháp luật công chức trở nên gần gũi và trở thành nhận thức trong hoạt động quản lý nhà nước, việc tuyên truyền phổ biến pháp luật còn
có thể thực hiện thông qua tổ chức cuộc thi tìm hiểu pháp luật; thông qua hoạt động thực thi pháp luật; thông qua việc thực hiện ký cam kết không vi phạm pháp luật…
1.2.2 Bảo đảm công chức thực thi đúng các quyền và nghĩa vụ đối với công chức
Về nghĩa vụ, Điều 8 Luật CBCC quy định nghĩa vụ của công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân bao gồm: trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự
Tổ quốc và lợi ích quốc gia; tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Trong thi hành công vụ, căn cứ Điều 9 của Luật, người công chức phải thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao; có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người
có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý
và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên; người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật
Trang 27giao quyền tương xứng với nhiệm vụ; được bảo đảm trang thiết bị và các điều kiện làm việc khác theo quy định của pháp luật; được cung cấp thông tin liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn được giao; được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; được pháp luật bảo vệ khi thi hành công vụ
- Quyền được hưởng lương và các chế độ liên quan đến tiền lương (Điều 12): được Nhà nước bảo đảm tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước Công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề có môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật; được hưởng tiền làm thêm giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của pháp luật
- Quyền được nghỉ ngơi (Điều 13): công chức được nghỉ hàng năm, nghỉ lễ, nghỉ để giải quyết việc riêng theo quy định của pháp luật về lao động Trường hợp do yêu cầu nhiệm vụ, cán bộ, công chức không sử dụng hoặc sử dụng không hết số ngày nghỉ hàng năm thì ngoài tiền lương còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng tiền lương cho những ngày không nghỉ
- Các quyền khác của công chức (Điều 14): công chức được bảo đảm quyền học tập, nghiên cứu khoa học, tham gia các hoạt động kinh tế, xã hội; được hưởng chính sách ưu đãi về nhà ở, phương tiện đi lại, chế độ bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật; nếu bị thương hoặc hy sinh trong khi thi hành công vụ thì được xem xét hưởng chế độ, chính sách như thương binh hoặc được xem xét để công nhận là liệt sĩ và các quyền khác theo quy định của pháp luật
Về nghĩa vụ, việc thực hiện pháp luật công chức phải đảm bảo mỗi công chức phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công chức được luật định gồm:
Trang 28- Nghĩa vụ thực hiện các chuẩn mực về đạo đức công vụ như đạo đức công chức, văn hóa giao tiếp trong công sở, văn hóa giao tiếp với nhân dân bao gồm: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư trong hoạt động công vụ (Điều 15); văn hóa giao tiếp ở công sở (Điều 16); văn hóa giao tiếp với nhân dân (Điều 17)
- Nghĩa vụ không được làm những việc mà pháp luật không cho phép gồm những việc không được làm liên quan đến đạo đức công vụ (Điều 18); những việc không được làm liên quan đến bí mật nhà nước (Điều 19) và những việc không được làm khác liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định của pháp luật và của
cơ quan có thẩm quyền
1.2.3 Bảo đảm hoạt động quản lý công chức
Căn cứ Điều 5 Luật CBCC, việc tổ chức quản lý công chức phải đảm
bảo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước; kết
hợp giữa tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế; thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, chế độ trách nhiệm cá nhân và phân công, phân cấp rõ ràng; việc sử dụng, đánh giá, phân loại cán bộ, công chức phải dựa trên phẩm chất chính trị, đạo đức và năng lực thi hành công vụ; thực hiện bình đẳng giới.Nội dung của hoạt động quản lý công chức gồm: tuyển dụng; phân công công tác; sử dụng, đánh giá, phân loại công chức
- Về tuyển dụng, đây là một trong các nội dung có ảnh hưởng rất quan trọng đến chất lượng thực thi, thừa hành công vụ Việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm và chỉ tiêu biên chế căn cứ vào vị trí việc làm và tiêu chuẩn chức danh công chức (Điều 36); tất
cả công dân Việt Nam đủ điều kiện đều có cơ hội như nhau tham gia dự tuyển công chức, không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo Bên cạnh đó, về phương thức tuyển dụng, thực hiện tinh
Trang 29thần của Nghị quyết Trung ương 5 Khoá X của Đảng về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý bộ máy nhà nước, việc tuyển dụng người vào các vị trí việc làm tương ứng với ngạch chuyên viên hoặc tương đương trở xuống thì thực hiện tuyển dụng có thời hạn thông qua
ký hợp đồng làm việc.Việc tuyển dụng người vào các vị trí việc làm tương ứng với ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương trở lên thì thực hiện tuyển dụng lâu dài thông qua quyết định tuyển dụng.Luật CBCC cũng quy định nguyên tắc tuyển dụng công chức (Điều 38) phải đảm bảo bình đẳng, công khai, khách quan, cạnh tranh, đúng pháp luật.Tuyển chọn đúng người, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ và vị trí việc làm.Ưu tiên tuyển chọn người có tài năng, người có công với nước, người dân tộc thiểu số Người trúng tuyển vào công chức trước khi chính thức nhận nhiệm vụ phải qua thời gian thử việc theo quy định của pháp luật
- Về đào tạo, bồi dưỡng công chức, chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức được quy định tại Điều 47 Luật CBCC.Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có trách nhiệm xây dựng và công khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức; tạo điều kiện để công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng công chức do ngân sách nhà nước cấp và các nguồn thu khác theo quy định của pháp luật Theo đó, chế độ đào tạo, bồi dưỡng công chức bao gồm đào tạo tiền công vụ; đào tạo khi nâng ngạch và thay đổi chức danh nghề nghiệp cao hơn; đào tạo nhằm bổ nhiệm các chức danh lãnh đạo, quản lý; đào tạo để nâng cao trình độ phục vụ yêu cầu công việc Việc đào tạo, bồi dưỡng phải căn cứ vào kế hoạch, quy hoạch, tiêu chuẩn chức danh lãnh đạo, quản lý và tiêu chuẩn của từng vị trí công tác ứng với từng ngạch hoặc chức danh công chức
- Về điều động, bổ nhiệm, luân chuyển, biệt phái, miễn nhiệm, từ chức đối
Trang 30với cán bộ, công chức được quy định từ Điều 50 đến Điều 54 của Luật Cán bộ, công chức Việc sắp xếp công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ và phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức; nhu cầu, nhiệm vụ của cơ quan, tổ chức, đơn vị và tiêu chuẩn, điều kiện của chức vụ lãnh đạo, quản lý; yêu cầu nhiệm vụ, quy hoạch, kế hoạch sử dụng công chức, công chức lãnh đạo, quản lý được luân chuyển trong hệ thống các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội…
- Về đánh giá công chức, việc đánh giá công chức phải căn cứ vào các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, đạo đức công vụ và gắn với kết quả thực thi công vụ; đồng thời, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu trong việc đánh giá công chức Căn cứ vào kết quả đánh giá, công chức được xếp loại theo các mức độ: xuất sắc; tốt; trung bình; yếu Công chức có 2 năm liên tục
bị đánh giá ở mức độ yếu (không hoàn thành nhiệm vụ) thì áp dụng chế độ cho thôi việc Theo Điều 55 Luật CBCC, đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng,
bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức Đánh giá công chức thông qua các nội dung cụ thể như: việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; đánh giá phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tác phong và lề lối làm việc; đánh giá năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; tiến độ và kết quả thực hiện nhiệm vụ; tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ; thái độ phục vụ nhân dân
Ngoài những quy định trên, công chức lãnh đạo, quản lý còn được đánh giá theo các nội dung: kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao lãnh đạo, quản lý; năng lực lãnh đạo, quản lý; năng lực tập hợp, đoàn kết công chức Việc đánh giá công chức được thực hiện hàng năm, trước khi bổ nhiệm, quy hoạch, điều động, đào tạo, bồi dưỡng, khi kết thúc thời gian luân chuyển, biệt phái
Trang 311.2.4 Thanh tra, kiểm tra việc tổ chức thực hiện pháp luật về công chức
Tổ chức giám sát và đánh giá việc tổ chức thực hiện pháp luật công chức thông qua các hình thức thanh tra, kiểm tra là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao ý thức thực hiện pháp luật về công chức trong các cơ quan, đơn vị, tổ chức Giám sát và đánh giá chính là cơ chế hữu hiệu để điều chỉnh và
xử lý những sai sót có thể có nhằm đảm bảo đạt được các mục tiêu đề ra
Ở từng nội dung cụ thể của pháp luật công chức, giám sát và đánh giá
có rất nhiều ý nghĩa đối với việc nâng cao hiệu quả của việc tổ chức thực hiện pháp luật Đó là công cụ để kiểm soát việc thực hiện pháp luật và đặc biệt là
để hạn chế sự lạm quyền của các công chức, viên chức trong quá trình tổ chức thực thi các văn bản quy phạm pháp luật Giám sát và đánh giá cũng tạo ra áp lực để các cá nhân, tổ chức có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật phải thực hiện theo đúng bổn phận của mình, tránh trường hợp trễ nải trong việc thực hiện nhiệm vụ Và giám sát, đánh giá cũng là công cụ để thu thập phản hồi nhằm điều chỉnh bản thân các quy định của văn bản quy phạm pháp luật Thực tế cũng đã cho thấy có những bài học thành công trong việc tổ chức thực hiện pháp luật nhờ thực hiện việc giám sát một cách chặt chẽ công tác tổ chức thực hiện pháp luật
Ở góc độ vĩ mô, cơ chế giám sát việc tổ chức thực hiện pháp luật nói chung
và pháp luật công chức nói riêng gắn liền với việc cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các nhánh của quyền lực nhà nước Kiểm soát quyền lực nhà nước trong Nhà nước pháp quyền được hiểu là một hệ thống những cơ chế được thực hiện bởi Nhà nước và xã hội nhằm giữ cho việc thực thi quyền lực nhà nước đúng mục đích, hiệu quả.Kiểm soát quyền lực nhà nước bao gồm kiểm soát phạm vi hoạt động của cơ quan nhà nước; kiểm soát quá trình thông qua và sửa đổi Hiến pháp; kiểm soát tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước; kiểm soát những người thực thi quyền lực và có thể kiểm soát từ bên ngoài và bên trong nhà nước Kiểm soát từ bên ngoài nhà nước là kiểm soát từ nhân
Trang 32dân và xã hội, kiểm soát từ bên trong là kiểm soát do chính Nhà nước thực hiện Trong hệ thống đó, trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật ở tầm vĩ mô của các cơ quan nhà nước sẽ được xác định rõ ràng Và đây cũng chính là động lực chính trị cơ bản nhất để vận hành có hiệu quả hệ thống cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện pháp luật
Bên cạnh đó, công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật công chức là một nội dung quan trọng trong hoạt động thanh tra, kiểm tra Kết quả theo dõi, đôn đốc, kiểm tra sau thanh tra có ý nghĩa đặc biệt quan trọng quyết định hiệu lực của hoạt động thanh tra, xác định hoạt động thanh tra có đạt được kết quả đề ra hay không
Việc tổ chức thực hiện pháp luật công chức cũng như các lĩnh vực pháp
lý khác luôn đảm bảo hai giai đoạn: giai đoạn xây dựng cơ sở pháp lý về công chức để hình thành quan hệ pháp luật giữa công chức với đơn vị công tác và các chủ thể khác của xã hội, và giai đoạn mỗi công chức, cá nhân và tổ chức liên quan tham gia quan hệ pháp luật và thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo luật
1.3 Các yếu tố bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về công chức
1.3.1 Yếu tố pháp luật
Đây là yếu tố đầu tiên tác động rất lớn đến tổ chức thực hiện pháp luật
về công chức, bởi các quy định của pháp luật về công chức là cơ sở pháp lý cho quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về công chức, để các cơ quan nhà nước và công chức tuân thủ trong quá trình thực thi công vụ
Pháp luật về công chức là phương tiện quan trọng trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước.Để bộ máy đó hoạt động có hiệu quả đòi hỏi phải xác định đúng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan, đơn vị mình; phải xác lập được mộtcách đúng đắn và hợp lý mối quan hệ giữa chúng, phải có những phương pháp và hình thức tổ chức và hoạt động phù
Trang 33hợp để tạo thành một cơ chế đồng bộ trong quá trình thiết lập và thực hiện quyền lực nhà nước.Những điều đó chỉ có thể thực hiện được khi dựa trên
cơ sở những nguyên tắc và quy định cụ thể của pháp luật.Thực tế Việt Nam những năm qua cho thấy khi chưa có một hệ thống pháp luật về công chức đầy đủ, đồng bộ, thống nhất và chính xác để làm cơ sở cho việc củng cố và hoàn thiện bộ máy nhà nước, thì dễ dẫn đến tình trạng trùng lặp, chồng chéo, thực hiện không đúng chức năng, thẩm quyền của các cấp chính quyền, bộ máy dễ sinh ra cồng kềnh và kém hiệu quả, không quản lý hiệu quả công chức, chưa tạo được cơ chế hữu hiệu tạo động lực cho công chức trong quá trình thực thi công vụ
Quản lý nhà nước là lĩnh vực có quy mô và phạm vi hoạt động rất rộng, bao gồm nhiều mối quan hệ cần điều chỉnh, trong đó có quan hệ quản lý nhân sự
- một trong những vấn đề trọng yếu của nền hành chính quốc gia Pháp luật về công chức với hệ thống những văn bản quy phạm pháp luật có thứ bậc khác nhau
để điều chỉnh các quy định về: tiêu chuẩn; quyền và nghĩa vụ của công chức, tuyển dụng; điều động, tiếp nhận, trình tự và thủ tục đánh giá; thôi việc và thủ tục nghỉ hưu; xử lý kỷ luật; các chế độ chính sách đối với công chức
1.3.2 Yếu tố kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước có ảnh hưởng rất lớn tới việc hoàn thiện pháp luật nói chung và pháp luật công chức nói riêng Mức độ hoàn thiện tổ chức thực hiện pháp luật về công chức phản chiếu tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Trong bất kỳ một xã hội, một quốc gia nào, thể chế quản lý công chức cấp cũng phải phản ánh trình độ phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước Kinh tế - xã hội càng phát triển, sẽ thúc đẩy công chức phát triển và ngược lại Pháp luật công chức suy cho cùng chính là hệ thống văn bản pháp luật quản lý công chức.Đứng trên lập trường chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, trong mối quan hệ giữa kinh tế và pháp luật thì điều kiện kinh tế, các quan hệ kinh tế quyết định trực tiếp đến sự
Trang 34ra đời của pháp luật, đồng thời quyết định toàn bộ nội dung, hình thức, cơ cấu
và sự phát triển của nó Các Mác đã viết: "Trong thời đại nào cũng thế, chính
là vua chúa phải phục tùng những điều kiện kinh tế, chứ không bao giờ vua chúa ra lệnh cho những điều kiện kinh tế được Chẳng qua chế độ pháp luật
về chính trị, cũng như về dân sự chỉ là cái việc nói lên, ghi chép lại quyền lực của những quan hệ kinh tế"
Trong tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay, có thể nói, đất nước càng đổi mới thì nhận thức về những tác động của nền kinh tế thị trường ngày càng thâm nhập sâu sắc và rõ rệt vào đời sống xã hội nước ta Trong bối cảnh mở cửa và thực hiện nền kinh tế thị trường thì đòi hỏi một bộ máy Nhà nước năng động, hoạt động có hiệu quả là cấp bách và chính đáng của mọi người và mọi
tổ chức kinh tế - xã hội.Nhưng sự vận hành có hiệu quả của bộ máy Nhà nước trên thực tế lại phụ thuộc vào những con người cụ thể, mọi công việc được giải quyết nhanh hay chậm do chính những quyết định của đội ngũ công chức
từ cấp Trung ương cho đến cấp cơ sở, thấp nhất là cán bộ, công chức cấp xã.Bởi vậy, hoàn thiện pháp luật về công chức là hết sức cần thiết, nhằm tạo
ra một hệ thống pháp luật từ đào tạo, bồi dưỡng, tuyển chọn, bổ nhiệm, quản
lý cho đến chế độ, chính sách một cách đồng bộ, thống nhất, ổn định, làm cơ
sở cho việc xây dựng và phát triển đội ngũ công chức chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh, góp phần nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền địa phương trong thời kỳ mới
1.3.3 Yếu tố năng lực của công chức
Năng lực của cán bộ, công chức nói chung luôn gắn với mục đích tổng thể, với chiến lược phát triển của tổ chức và phải gắn với lĩnh vực, điều kiện
cụ thể Năng lực liên quan chặt chẽ đến quá trình làm việc, phương pháp làm việc hiệu quả và khoa học công nghệ Yêu cầu năng lực sẽ thay đổi khi tình hình công việc và nhiệm vụ thay đổi Vì vậy, năng lực làm việc của cán bộ, công chức hay còn gọi là năng lực thực thi trong hoạt động quản lý hành
Trang 35chính nhà nước của cán bộ, công chức là khả năng của cán bộ, công chức để
hoàn thành nhiệm vụ được giao trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định
Trong hoạt động quản lý nhà nước, năng lực của công chức chính là khả năng của công chức thực hiện có kết quả hoạt động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước với đối tượng quản lý phù hợp với trật tự hành chính quy định và xác định theo ý chí của nhà quản lý một cách hiệu quả
Năng lực thực thi công vụ là thuật ngữ chỉ khả năng về thể chất và trí tuệ của mỗi công chức trong việc sử dụng các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, trình độ, thái độ hành vi để hoàn thành công việc được giao, xử lý tình huống
và để thực hiện nhiệm vụ trong mục tiêu xác định Năng lực thực thi công vụ không chỉ bao gồm các yếu tố như trình độ, kiến thức, kỹ năng, thái độ và hành vi ứng xử mà còn bao hàm cả khả năng kết hợp hài hòa các yếu tố đó
trong những điều kiện hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao nhất
Con người luôn được xem là trung tâm của mọi vấn đề, là nguồn lực quan trọng nhất trong tất cả các nguồn lực Bởi lẽ chính con người sẽ quyết định sự tồn tại của tất cả Trong quá trình tổ chức thực hiện chúng ta phải luôn hướng đến yếu tố này, bởi lẽ không thể nào áp đặt những gì ta nghĩ để buộc người khác phải thực hiện mà tất cả những yếu tố đó phải hướng đến công chức Sự áp đặt cứng nhắc là điều tối kỵ trong một xã hội, trong một tổ chức, đặc biệt là đối với nước ta, một nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Pháp luật về công chức được ban hành
và điều chỉnh như thế nào phải xuất phát từ đặc điểm về trình độ năng lực, nhận thức của đội ngũ công chức Nếu cao hoặc thấp hơn đều không phù hợp Mặt khác con người ở đây được hiệu là tổ chức và cá nhân có trách nhiệm chính trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật quản lý công chức Mức độ tổ chức thực hiện pháp luật về công chức yêu cầu của thực tiễn phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các cơ quan, cá nhân tham gia vào hoạt động tổ chức
Trang 361.3.4 Truyền thống, văn hóa, phong tục, tập quán
Văn hóa truyền thống dân tộc, nơi mà các tổ chức đang tồn tại và hoạt động có ảnh hưởng quan trọng đối với văn hóa của tổ chức đó Lối suy nghĩ của người Việt Nam phần lớn chịu ảnh hưởng của phương thức sản xuất nông nghiệp, nét văn hóa cộng đồng, vùng miền, văn hóa làng đã tạo nên ý thức cộng đồng cao, trọng tập thể Tuy nhiên nó làm cho vai trò của tập thể được
đề cao, cái tôi cá nhân ít được chú trọng, hay cá nhân thường bị chi phối bởi những chuẩn mực của cộng đồng nên thông thường không dám làm điều gì trái ngược với chính kiến của đám đông, vai trò cá nhân không được đề cao, nhân viên luôn chờ đợi ý kiến chỉ đạo của cấp trên tạo nên tình trạng trì trệ, ỷ lại vào tập thể, thiếu chủ động, thiếu ý thức trách nhiệm trong công việc.Một hiện tượng phổ biến hiện nay là hoạt động công vụ của công chức ít quan tâm đến chất lượng, hiệu quả thực thi, đặc biệt họ sử dụng nguồn lực của tổ chức một cách tùy tiện, họ coi tài sản tập thể như “của chùa”, thói quen chi tiêu bừa bãi, lãng phí theo kiểu “cha chung không ai khóc” là tình trạng thường gặp
Bên cạnh, việc né tránh mâu thuẫn, đấu tranh và ngần ngại trước những thay đổi cũng là một đặc tính của văn hóa hành chính Việt Nam xuất phát từ
sự tế nhị, kín đáo, tâm lý ngại va chạm, “dĩ hòa vi quý” Chính kiểu văn hóa
tế nhị, kín đáo này góp phần tạo cơ sở cho một số kỹ thuật hành chính như bỏ phiếu kín tín nhiệm Điều này có thể làm cho các nhà quản lý khó khăn hơn trong việc thu nhận được những thông tin phản hồi thực chất về các vấn đề trong tổ chức
Như vậy cho chúng ta thấy rằng việc lập lại một trật tự vốn đã được hình thành từ xưa, đã ăn sâu vào trong tiềm thức của mỗi người là việc không
dễ, chính vì lý do đó mà ta cải cách hành chính, nhằm tái thiết và đưa những
“thói quen” đó vào trong một khuôn khổ mà ta đã định ra.Ảnh hưởng của yếu
tố truyền thống, nét văn hóa của dân tộc vốn đã được hình thành từ ngàn xưa
là việc làm khó nhưng chúng ta vẫn phải làm để làm cho nền hành chính
Trang 37chúng ta ngày càng hoạt động hiệu lực và hiệu quả, phù hợp với xu thế phát triển chung của thế giới ngày nay
Tiểu kết chương 1
Luận văn đã tập trung làm rõ những vấn đề lý luận chung nhất của pháp luật về công chức, tổ chức thực hiện pháp luật công chức như: đưa ra quan niệm, đặc điểm pháp luật về công chức; khái niệm, đặc điểm nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về công chức và những yếu tố bảo đảm quá trình trình tổ chức thực hiện pháp luật về công chức Đây là những nội dung để chương 2, tác giả tiến hành phân tích thực trạng và đánh giá quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về công chức từ thực tiễn huyện Thanh Oai, Hà Nội
Trang 38Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ CÔNG CHỨC Ở HUYỆN THANH OAI, HÀ NỘI
2.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về công chức ở huyện Thanh Oai, Hà Nội
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Từ ngày 1 tháng 8 năm 2008, toàn bộ tỉnh Hà Tây được sáp nhập vào
Hà Nội theo Nghị quyết của Kỳ họp thứ 3 Quốc hội khóa XII ngày 29 tháng 5 năm 2008 và huyện Thanh Oai thuộc thành phố Hà Nội.Thanh Oai là huyện đồng bằng thuần nông, nằm ở cửa ngõ phía Tây Nam thành phố Hà Nội Phía Bắc và phía Tây Bắc giáp quận Hà Đông; phía Tây giáp huyện Chương Mỹ; phía Tây Nam giáp huyện Ứng Hòa; phía Đông Nam giáp huyện Phú Xuyên; phía Đông giáp huyện Thường Tín và phía Đông Bắc giáp huyện Thanh Trì Diện tích tự nhiên của huyện là 132,2 km2 Dân số là 184.400 người, với mật
độ 1.396 người/km2.Thanh Oai là một vùng quê với rất nhiều làng nghề như nón lá làng Chuông, tương Cự Đà, giò chả Ước lễ, gạo Bồ nông Thanh Văn, quạt nan, mây tre, giang đan làng Vác, xã Cao Viên, làng Bình Đà xã Bình Minh ngày xưa rất nổi tiếng với nghề làm pháo, nghề cơ khí ở làng Rùa xã Thanh Thùy Gần chục năm trở lại, các khu công nghiệp mở ra thu hút nhiều lao động địa phương
Do vị trí chỉ cách trung tâm Hà Nội không xa nên Thanh Oai sẽ tiếp tục phát triển Hiện nay thành phố Hà Nội đang triển khai xây dựng nhiều dự án trên địa bàn huyện: trục đường phát triển phía nam với các khu đô thị như Mỹ Hưng, Thanh Hà A, Thanh Hà B ; dự án đường vành đai 4, cụm công nghiệp Cao Viên - Bình Đà
Điều kiện tự nhiên của huyện Thanh Oai có nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội.Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo, lãnh đạo của
Trang 39Tỉnh ủy, HĐND, UBND thành phố Hà Nội và sự vào cuộc của Huyện ủy, UBND huyện Thanh Oai đã góp phần thúc đẩy kinh tế của huyện liên tục phát triển, đời sống nhân dân tiếp tục được nâng lên, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần; an sinh xã hội được bảo đảm, các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao… có nhiều tiến bộ
Công tác thanh tra, kiểm tra, phòng chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm chống lãng phí, phòng chống TNXH, công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo được tăng cường và đạt hiệu quả Công tác cải cách hành chính tiếp tục được đẩy mạnh, nhất là cải cách thủ tục hành chính gắn liền với thực hiện cơ chế “Một cửa” đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp
Tình hình an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện được bảo đảm và giữ vững, tạo môi trường ổn định cho phát triển kinh tế của huyện
Huyện Thanh Oai là huyện đồng bằng có vị trí địa lý quan trọng nên có rất nhiều yếu tố tác động, ảnh hưởng tới hoạt động của các cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp trực thuộc như:
- Huyện có mật độ dân số cao, các hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng phong phú nên ảnh hưởng nhiều tới tình hình an ninh, chính trị và các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội
- Địa bàn huyện rộng, có nhiều đơn vị hành chính cấp xã nên cũng ảnh hưởng tới công tác quản lý nhà nước trên các lĩnh vực
- Cơ sở hạ tầng giao thông, mạng lưới giao thông trên địa bàn huyện đa dạng, giáp danh với các thành phố, thị xã nên việc giữ gìn an ninh trật tự có lúc, có nơi còn gặp nhiều khó khăn
2.1.2 Tình hình công chức ở huyện Thanh Oai
Bộ máy tham mưu, giúp việc cho UBND huyện hiện nay gồm 12 cơ quan chuyên môn, 06 đơn vị sự nghiệp trực thuộc Biên chế được UBND tỉnh giao là 141 người (Trong đó: 82 công chức; 51 viên chức; 06 lao động
Trang 40hợp đồng theo Nghị định 68/2000/NĐ-CP; 02 hợp đồng 5 năm do ngân sách tỉnh chi trả)
Hiện nay phòng tư pháp huyện Thanh Oai có Trưởng phòng, 02 Phó Trưởng Phòng, và 03 chuyên viên
Phòng nội vụ huyện Thanh Oai có Trưởng phòng, 02 Phó Trưởng Phòng, và 03 chuyên viên
Huyện Thanh Oai có 1 thị trấn và 20 xã bao gồm: xã Cự khê, xã Bích Hòa, xã Cao viên, xã Thanh Cao, xã Bình Minh, Xã Nghĩa Hưng, Xã Tam Hưng, xã Thanh Thùy, xã Thanh Mai, Xã Thanh Văn, xã Kim An, thị trấn Kim Bài, xã Kim Thư, xã Đỗ Động, xã Phương Trung, xã Dân Hòa, xã Cao Dương, xã Hồng Dương, xã Xuân Dương, xã Liên Châu, Tổng số công chức cấp xã, phường, thị trấn ở huyện Thanh Oai là 489 công chức, công chức nam chiếm khoảng 55%, nữ chiếm khoảng 30%; độ tuổi trung bình 30 tuổi, trình độ Đại học khoảng 40%, còn lại có trình độ cao đẳng hoặc trung cấp
Huyện Thanh Oai có 12 cơ quan chuyên môn và 21 đơn vị hành chính (20 xã, 01 thị trấn) Với sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, UBND huyện và Đảng ủy, UBND các xã, thị trấn, từ đó đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, huyện đã có sự chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng, góp phần thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị ở địa phương
Năm 2013 công chức của 12 cơ quan chuyên môn của huyện Thanh Oai là 100 người và công chức của 21 đơn vị hành chính (20 xã, 01 thị trấn) của huyện Thanh Oai là 418 người Trình độ chuyên môn: Chưa qua đào tạo: 30; Sơ cấp: 40; Trung cấp: 210; Cao đẳng: 145; Đại học: 93,
Đến năm 2014 tổngcông chức của huyện Thanh Oai là 556 người, trong
đó công chức của 12 cơ quan chuyên môn là 103 người, của 21 đơn vị hành chính (20 xã, 01 thị trấn) là 453 người
Đến năm 2015 tổng công chức của huyện Thanh Oai là 583 người,