Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã Từ thực tiễn huyện Hoài Đức thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ……… /………… … /…
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ ……… /………… … /…
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng và kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi./
Tác giả luận văn
Phí Văn Thuận
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm chân thành và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới:
Hội đồng Khoa học thuộc Học viện Hành chính
Các Thầy giáo, Cô giáo đã trang bị những kiến thức quý báu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Học viện Hành chính;
PGS.TS Vũ Đức Đán người thầy trực tiếp hướng dẫn khoa học, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành Luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Tác giả luận văn
hí Văn Thuận
Trang 5MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 7
1.1 Khái quát chung về chính quyền cấp xã và Hội đồng nhân dân cấp xã 7
1.1.1 Những vấn đề chung về chính quyền cấp xã 7
1.1.2 Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân cấp xã 12
1.1.3 Tổ chức của hội đồng nhân dân cấp xã 16
1.2 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã 19
1.2.1 Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân 19
1.2.2 Đối tượng giám sát 21
1.2.3 Nội dung giám sát 22
1.2.4 Hình thức giám sát 24
1.2.5 Chủ thể giám sát 32
1.3 Các yếu tố tác động đến hoạt động giám sát của HĐND cấp xã 32
1.3.1 Các quy định của pháp luật về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã 32
1.3.2 Tổ chức bộ máy, hoạt động của Thường trực và các Ban HĐND cấp xã 33
1.3.3 Năng lực, bản lĩnh và trách nhiệm thực hiện chức năng giám sát của đại biểu HĐND cấp xã 34
1.3.4 Chương trình, kế hoạch, phương thức giám sát của HĐND cấp xã 35
1.3.5 Sự hợp tác của đối tượng chịu sự giám sát của HĐND cấp xã 36
1.3.6 Điều kiện vật chất, chi phí cho hoạt động giám sát của HĐND cấp xã 36
Tiểu kết chương 1 38
Trang 6Chương 2 39
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ - TỪ THỰC TIỄN HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 39
2.1 Vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế xã hội tác động đến hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 39
2.1.1 Vị trí địa lý 39
2.1.2 Đặc điểm kinh tế-xã hội 40
2.2 Phân tích thực trạng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 42
2.2.1 Tổ chức của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức 42
2.2.2 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội (nhiệm kỳ 2011-2016) 46
2.3 Đánh giá chung hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội 62
2.3.1 Ưu điểm 62
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 64
Tiểu kết chương 2 68
Chương 3 69
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 69
3.1 Quan điểm đẩy mạnh hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã 69
3.1.1 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã phải mang lại hiệu quả thực tế69 3.1.2 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã phải đưa ra được những kết luận xác đáng bảo đảm cho việc tuân thủ nghiêm chỉnh của các đối tượng chịu sự giám sát 69
3.1.3 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã phải bảo đảm đưa ra các kiến nghị hoàn thiện cơ chế chính sách 70
Trang 73.1.4 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã phải bảo đảm lợi ích chung của đất nước 713.1.5 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã phải đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của Đảng, Mặt trận Tổ quốc, các cơ quan nhà nước khác và của toàn xã hội 713.2 Giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã 723.2.1 Giải pháp chung nhằm đẩy mạnh hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân
xã 733.2.2 Giải pháp đẩy mạnh hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân xã ở huyện Hoài Đức 81Tiểu kết chương 3 91
KẾT LUẬN 92
Trang 8DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Cơ cấu, số lượng đại biểu HĐND cấp xã ở huyện Hoài Đức đầu nhiệm kỳ 2011 – 2016 và hiện nay ……….44 Bảng 2.2: Độ tuổi đại biểu HĐND cấp xã ở huyện Hoài Đức nhiệm kỳ 2011-
2016 ……… 44 Bảng 2.3: Trình độ chuyên môn, lý luận chính trị của đại biểu HĐND huyện Hoài Đức nhiệm kỳ 2011 – 2016 ……….45 Bảng 2.4: Lĩnh vực công tác của đại biểu HĐND huyện Hoài Đức nhiệm kỳ
2011 – 2016 ……… 45
Trang 10DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Báo cáo xem xét tại kỳ họp……… 47
Sơ đồ 2.2: Đối tượng chất vấn của HĐND xã………50
Sơ đồ 2.3: Các chức vụ do HĐND bầu ……… 52
Trang 11nghĩa Việt Nam năm 2013: “HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa
phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương
và cơ quan nhà nước cấp trên” [35, tr.49]
Chính quyền cấp xã (cấp cơ sở), là cấp chính quyền địa phương thấp nhất trong hệ thống phân cấp từ TW đến địa phươngở Việt Nam nhưng có vai trò quan trọng trong cơ cấu chính quyền địa phương, là nơi Nhân dân thực hiện quyền dân chủ, đồng thời là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước HĐND cấp xã là cơ quan quyền lực nhà nước ở cơ sở có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo quyền của Nhân dân, phát huy dân chủ, đảm bảo hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước Do vậy, hoạt động của HĐND cấp xã nói chung và hoạt động giám sát của HĐND cấp xã nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc đảm bảo cho hoạt động của bộ máy Nhà nước được thực hiện chất lượng, hiệu quả
Trong những năm qua, hoạt động giám sát của HĐND cấp xã có nhiều chuyển biến tích cực Hàng năm đã xây dựng chương trình kế hoạch giám sát;
tổ chức các đoàn giám sát khi cần thiết, trong thực hiện giám sát có những hình thức phối hợp với các cấp, các ngành v.v Do đó, đã đưa lại nhiều kết quả khả quan, bước đầu góp phần khắc phục tính hình thức trong hoạt động của HĐND cấp xã nói chung và hoạt động giám sát nói riêng
Tuy nhiên trong thực tiễn, hoạt động giám sát của HĐND cấp xã còn nhiều hạn chế Chẳng hạn như việc xây dựng chương trình, cách thức tổ chức
Trang 122
giám sát chưa thật sự khoa học; một số vụ việc tiêu cực của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương chưa được phát hiện kịp thời; các kết luận sau khi giám sát thường chung chung, thiếu kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện kết luận
đó nên vẫn còn hiện tượng sau giám sát đâu lại vào đấy; kỹ năng giám sát của các đại biểu HĐND cấp xã còn nhiều hạn chế v.v Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND cấp xã hiện nay còn thấp Để khắc phục tình trạng trên, yêu cầu đặt ra hiện nay là phải đổi mới hoạt động của HĐND cấp xã, nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND cấp xã vừa phù hợp với công cuộc đổi mới đất nước, đáp ứng yêu cầu của Nhân dân là nhu cầu, đòi hỏi khách quan của sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ mới
Hoài Đức là huyện ngoại thành thuộc tỉnh Hà Tây cũ, chính thức sáp nhập vào Thủ đô Hà Nội kể từ 01/8/2008 Với vị trí cửa ngõ phía Tây và là vùng mở rộng của đô thị trung tâm Hà Nội trong tương lai, từ những năm
2000 trở lại đây kinh tế - xã hội của huyện chuyển dịch mạnh mẽ từ nông nghiệp sang phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ; quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, phần lớn đất nông nghiệp đã được quy hoạch, thu hồi, nhiều khu đô thị lớn được đầu tư xây dựng… đã đặt ra nhiều vấn đề thực tiễn quản lý mới phức tạp hơn, khó khăn hơn như chăm lo đời sống, giải quyết tạo việc làm cho người dân sau thu hồi đất nông nghiệp, sự dịch chuyển dân số cơ học, chuyển dịch cơ cấu dân cư, lao động việc làm trong quá trình
đô thị hóa… nên đây thực sự là một trong những khó khăn rất lớn cho chính quyền địa phương nói chung và hoạt động giám sát của HĐND cấp xã nói riêng
Do vậy, nghiên cứu, đánh giá về hoạt động giám sát của HĐND cấp xã trên địa bàn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội theo pháp luật hiện hành được đặt ra nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND nói chung và hoạt động giám sát của HĐND cấp xã nói riêng với mục tiêu
Trang 133
xây dựng HĐND thực sự là cơ quan đại diện, cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, là cơ quan dân cử xứng đáng với niềm tin của Nhân dân
Từ những lý do trên tác giả lựa chọn đề tài: “Hoạt động Giám sát của
Hội đồng nhân dân cấp xã - Từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội” làm luận văn tốt nghiệp Cao học chuyên ngành Luật hiến pháp và Luật
hành chính
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề nghiên cứu về chất lượng, tổ chức và hoạt động của HĐND cấp
xã, hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân nói chung và Hội đồng nhân dân cấp xã nói riêng đã được nhiều đề tài tiếp cận, nghiên cứu, cụ thể như:
- Nguyễn Khắc Bộ (2001), Công tác giám sát tại kỳ họp Hội đồng nhân
dân - Những vấn đề đặt ra nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của Hội đồng nhân dân, Kỷ yếu nâng cao năng lực và hiệu quả giám sát của
Hội đồng nhân dân, Văn phòng Quốc hội
- TS Phạm Ngọc Kỳ, Quyền giám sát của Hội đồng nhân dân và kỹ năng giám sát cơ bản, , (2001), Nxb Tư pháp, Hà Nội;
- Đinh Ngọc Quang, Về đổi mới tổ chức và hoạt động của HĐND các cấp nhiệm kỳ 2004 - 2009, Tạp chí Nhà nước số 2/2005
- Nguyễn Thị Nữ - Tổ chức và hoạt động của HĐND cấp xã- qua thực
tiễn ở tỉnh Thừa Thiên Huế Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Khoa
học xã hội và nhân văn, năm bảo vệ 2012
- Lê Thị Bình Tuyết - Hoạt động giám sát của HĐND cấp huyện - Từ
thực tiến tỉnh Thanh Hóa Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học
Quốc gia Hà Nội, năm bảo vệ 2014
Các công trình trên đã tiếp cận tổ chức và hoạt động giám sát của HĐND
ở nhiều góc độ, nhiều khía cạnh với những luận giải, đánh giá khoa học có ý nghĩa lý luận và thực tiễn như: Tổ chức hoạt động, chủ thể giám sát, đối
Trang 144
tượng giám sát, hình thức giám sát, … Tuy nhiên, cho đến nay vẫn tồn tại một khoảng trống trong nghiên cứu về hoạt động giám sát của HĐND cấp xã trên địa bàn cụ thể ở thành phố Hà Nội để tổng kết, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, qua đó đưa ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động giám sát của HĐND cấp xã
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động giám sát của HĐND cấp xã ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội Qua đó tác giả luận văn đưa ra những quan điểm và giải pháp đẩy mạnh hoạt động giám sát của HĐND cấp xã, nhằm đảm bảo HĐND là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương
- Đưa ra những quan điểm và giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động giám sát của HĐND cấp xã đáp ứng với yêu cầu đổi mới ở huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu hoạt động giám sát của HĐND cấp xã từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trang 155 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Có rất nhiều phương pháp nghiên cứu, ở đây tác giả chủ yếu dùng các phương pháp phân tích những tài liệu sẵn có; phương pháp thu thập và xử lý thông tin; phương pháp thống kê, phân tích và xử lý số liệu; phương pháp so sánh, đánh giá; phương pháp quan sát để nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Về mặt lý luận
Thông qua việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của
HĐND cấp xã từ thực tiễn huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội, tác giả đưa ra được những giải pháp đẩy mạnh hoạt động giám sát của HĐND cấp xã, từ đó góp phần luận chứng về mặt lý luận cho việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động hoạt động của HĐND nói chung và HĐND cấp xã nói riêng trong giai đoạn hiện nay
6.2 Về mặt thực tiễn
Trang 166
Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu
và ứng dụng trong tổ chức hoạt động giám sát của Hội động nhân dân cấp xã
ở huyện Hoài Đức, Thành phố Hà Nội
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 8 tiết
Trang 177
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA
HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN CẤP XÃ 1.1 Khái quát chung về Chính quyền cấp xã và Hội đồng nhân dân cấp xã
1.1.1 Những vấn đề chung về chính quyền cấp xã
1.1.1.1 Khái niệm chính quyền cấp xã
Trong lịch sử nước ta, về mặt tổ chức chính quyền, xã luôn được xác định là đơn vị hành chính cấp cơ sở, sát với dân cư Tuy nhiên, quy mô xã, cách thức tổ chức chính quyền cấp xã thì khác nhau theo từng giai đoạn lịch
sử Hiện tại, quy mô xã về cơ bản được xác định theo những quy định ban hành từ sau cách mạng tháng Tám: xã có một diện tích nhất định, dưới xã là các làng, thôn
Trong hệ thống hành chính nước ta, cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền bốn cấp hoàn chỉnh: Trung ương, tỉnh, huyện, xã, là đơn vị hành chính cơ sở, là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của Nhân dân
Cấp xã là nơi trực tiếp thực hiện nhiệm vụ cụ thể quản lý hành chính nhà nước trên tất cả các lĩnh vực chính trị, an ninh, quốc phòng, kinh tế, văn hóa,
xã hội ở cơ sở, đảm bảo các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống, nâng cao mọi mặt đời sống của Nhân dân Sự trong sạch vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cấp
xã đóng vai trò rất quan trọng trong toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước và
cung cấp dịch vụ công phục vụ Nhân dân; Là cầu nối giữa hệ thống chính
quyền cấp trên với Nhân dân, hàng ngày tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh tâm tư nguyện vọng của Nhân dân
Trang 188
Tổ chức chính quyền cấp xã bao gồm HĐND và UBND, có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức và vận động Nhân dân thực hiện đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, huy động mọi khả năng phát triển
kinh tế-xã hội, (KT-XH) tổ chức cuộc sống của cộng đồng dân cư
Từ những phân tích trên đây, có thể nêu khái quát khái niệm chính quyền
cấp xã như sau: Cấp xã là cấp thấp nhất trong hệ thống chính quyền 4 cấp ở
Việt Nam, thực hiện quyền lực nhà nước ở địa phương, có chức năng thay mặt Nhân dân địa phương, căn cứ vào nguyện vọng của Nhân dân địa phương, quyết định và tổ chức thực hiện những vấn đề có liên quan đến phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng và đời sống của Nhân dân địa phương, theo Hiến pháp, pháp luật và các mệnh lệnh, quyết định của cấp
trên
1.1.1.2 Vị trí, vai trò của chính quyền xã trong bộ máy nhà nước
Theo Điều 110, Hiến pháp năm 2013 và Điều 2, Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định Các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gồm:
“- Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh);
- Huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp huyện);
- Xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã);
- Đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt” [39, tr.5-6]
Chính quyền xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính bốn cấp của
bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, là nền tảng của HTCT Là cơ sở thực tiễn để hình thành cũng như thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Điều 30 Luật Tổ
chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định “Chính quyền địa phương ở
Trang 19Một là, hệ thống chính quyền cơ sở là hệ thống quyền lực có địa bàn
rộng lớn nhất, có quan hệ trực tiếp nhất với cơ sở, Nhân dân Là cầu nối giữa nhà nước với nhân dân Chính quyền cấp xã là người tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống dân cư ở địa phương đưa các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước đi vào đời sống người dân thông qua hoạt động của chính quyền cấp xã
Hai là, tất cả các quy định, chỉ thị, hướng dẫn của cơ quan Nhà nước cấp
trên có được triển khai thực hiện ở nông thôn hay không, hiệu quả đến dân đều phải thông qua chính quyền cấp xã
Ba là, nhân dân gắn bó, tin tưởng vào Đảng, Nhà nước như thế nào cũng
thông qua hoạt động quản lý của chính quyền và quyền lực của cán bộ chính quyền cơ sở với dân trong việc giải quyết những nhu cầu dân sinh, dân chủ, dân quyền
Bốn là, sức mạnh hiệu lực, hiệu quả quản lý của chính quyền cơ sở là ở
nơi dân, là việc quy tụ được lòng dân, phát huy tình đoàn kết, truyền thống làng xã, tinh thần làm chủ của Nhân dân
Năm là, HTCT cơ sở có phát huy được vai trò lãnh đạo, tổ chức đoàn kết
toàn dân thực hiện được những mục tiêu xây dựng địa phương có KT-XH, văn hoá phát triển hay không, điều đó tuỳ thuộc rất nhiều vào trình độ, phẩm chất, năng lực, quản lý điều hành của đội ngũ cán bộ chính quyền cơ sở
1.1.1.3 Cơ cấu, tổ chức của chính quyền cấp xã
Chính quyền xã là cấp cuối cùng trong hệ thống hành chính bốn cấp của
bộ máy Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, theo Điều 30 Luật
Trang 2010
Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định “Chính quyền địa
phương ở xã là cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân xã và
Ủy ban nhân dân xã” [39, tr.41]
Điều 113 Hiến pháp 2013 và Khoản 1 Điều 6 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “HĐND gồm các đại biểu HĐND do cử tri ở địa phương bầu ra, là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho
ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên” [39, tr.10]
HĐND vừa là cơ quan quyền lực ở địa phương vừa là một bộ phận cấu thành không thể tách rời với quyền lực Nhà nước Qua HĐND sự thống nhất giữa quyền lực Nhà nước và quyền lực của Nhân dân được biểu hiện rõ nhất, với tư cách là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân ở địa phương HĐND vừa chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương vừa chịu trách nhiệm trước chính quyền cấp trên về mọi mặt KT -
XH, an ninh quốc phòng ổn định và nâng cao đời sống của Nhân dân Trong
tổ chức và hoạt động của mình vai trò của HĐND còn được biểu hiện với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, HĐND được Nhân dân giao quyền quyết định các vấn đề quan trọng để có thể phát huy được tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển KT-XH, từ ý chí của Nhân dân địa phương mà đề ra những quy định pháp lý, yêu cầu mang tính nền tảng, bắt buộc nhằm quản lý dân cư trên toàn địa phương Ngoài ra việc giám sát của HĐND đối với UBND xã và các cơ quan tổ chức Nhà nước, tổ chức kinh tế xã hội tại địa phương cũng có một vai trò quan trọng trong việc phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước
Đối với UBND, vị trí pháp lý và vai trò được quy định tại Điều 114 Hiến pháp 2013 và Khoản 1 Điều 8 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015:
“UBND do HĐND cùng cấp bầu, là cơ quan chấp hành của HĐND, cơ quan
Trang 2111
hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương, HĐND cùng cấp và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên” [39, tr 12] UBND xã có hai tư cách vừa là cơ quan chấp hành của HĐND cùng cấp vừa là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp cơ sở
Với tư cách là cơ quan chấp hành của HDND, UBND xã có vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực đời sống xã hội ở địa phương bằng pháp luật, theo pháp luật Tổ chức và chỉ đạo việc thi hành chủ trương và Nghị quyết của HĐND xã biến ý chí, nguyện vọng của Nhân dân làng xã thành những hoạt động cụ thể có hiệu quả Còn với tư cách là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, UBND
xã có vai trò quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực đời sống KT-XH
ở địa phương mình đồng thời cũng là cơ quan quản lý việc chấp hành, điều hành các quyết định, chỉ thị của UBND huyện cũng như các chủ trương, đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước
Như vậy chính quyền cấp xã là bộ phận quan trọng trong bộ máy nhà nước, là trung tâm, là lực lượng nòng cốt của HTCT ở địa phương
1.1.1.4 Chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã
- Tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương; quyết định các vấn đề của của địa phương do luật định; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên
- Quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về kinh tế-xã hội (KT-XH), không ngừng cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước
- Chịu trách nhiệm chấp hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp nhằm bảo đảm thực hiện chủ trương, biện pháp phát triển KT-
XH và thực hiện các chính sách khác trên địa bàn
Trang 221.1.2.1 Vị trí, vai trò của Hội đồng nhân dân cấp xã
HĐND xã là cơ quan quyền lực Nhà nước ở cấp xã, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân trong xã, do Nhân dân xã bầu
ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân xã và cơ quan nhà nước cấp trên
HĐND xã quyết định những chủ trương, biện pháp quan trọng để phát triển tiềm năng của xã, xây dựng và phát triển địa phương về KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống, vật chất và tinh thần của Nhân dân xã, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với huyện
HĐND xã thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của UBND cấp xã; giám sát việc thực các hiện nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân ở cấp mình
HĐND xã là đại diện tiêu biểu nhất cho tiếng nói của các tầng lớp nhân dân trong xã, được lựa chọn từ các đại biểu ưu tú của các tầng lớp nhân dân, các dân tộc, tôn giáo, nông dân, trí thức, v.v HĐND xã đại diện cho trí tuệ, tinh thần và sức mạnh tập thể của nhân dân địa phương trong xã HĐND là tổ chức chính quyền gần gũi nhân dân nhất, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng, thuận lợi, khó khăn và yêu cầu của nhân dân, do đó đưa ra những quyết sách đúng đắn, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, góp phần quan trọng để đạt được những thành tựu về KT-XH, quốc phòng - an ninh ở địa phương 1.1.2.2 Chức năng của Hội đồng nhân dân xã
Chức năng của HĐND cấp xã là những phương diện hoạt động chủ yếu của HĐND nhằm thực hiện vai trò và nhiệm vụ là cơ quan quyền lực nhà
Trang 2313
nước ở xã, quyết định những vấn đề quan trọng của địa phương; đại diện cho
ý chí nguyện vọng của Nhân dân Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
và nay là Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định những chức năng cơ bản của HĐND các cấp (trong đó có cấp xã) bao gồm:
- Quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương:
Chức năng quyết định những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền của HĐND cấp xã Trong đó xác định cụ thể nội dung về chủ trương, biện pháp quan trọng để phát huy tiềm năng của địa phương, xây dựng và phát triển địa phương về KT-XH, củng cố quốc phòng, an ninh, không ngừng cải thiện đời sống vất chất và tinh thần của Nhân dân địa phương, làm tròn nghĩa vụ của địa phương đối với cả nước
Xác định cụ thể những nội dung quan trọng thuộc thẩm quyền quyết định của HĐND về kế hoạch phát triển KT-XH; an ninh quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội; phát triển văn hoá, giáo dục, y tế, thể dục, thể thao, đời sống, xã hội; phát triển khoa học, công nghệ, tài nguyên, môi trường; về thực hiện chính sách dân tộc và chính sách tôn giáo; về việc thi hành pháp luật; về xây dựng chính quyền địa phương và quản lý địa giới hành chính
Như vậy nội dung thực hiện chức năng quyết định của HĐND rất rộng, toàn diện bao gồm mọi mặt của đời sống KT-XH, văn hoá, khoa học, quốc phòng, an ninh Điều này một lần nữa xác định rõ hơn vị trí, vai trò và tầm quan trọng của HĐND cấp xã trong chính quyền địa phương với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Mặt khác đây cũng là căn cứ pháp lý tạo ra môi trường thuận lợi để chính quyền địa phương khai thác hết tiềm năng, nội lực sẵn có ở địa phương, nhằm nâng cao đời sống vật chất tinh thần của Nhân dân địa phương
Căn cứ quy định của Hiến pháp và pháp luật, HĐND thực hiện chức năng này trên từng lĩnh vực HĐND nghe UBND trình bày định hướng phát
Trang 2414
triển, biện pháp tổ chức thực hiện, xem chủ trương, chính sách đó có phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, với tình hình KT-XH và có bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhân dân địa phương hay không, trên cơ sở đó HĐND quyết định ban hành hay không ban hành Để đảm bảo các quyết định của HĐND hợp hiến, hợp pháp, mỗi đại biểu HĐND và HĐND cần nắm bắt, am hiểu tình hình KT-XH và chính sách pháp luật của nhà nước, tránh tình trạng hiện nay quyết định của HĐND là bản sao của của UBND
- Giám sát:
HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của Thường trực HĐND, UBND cùng cấp; giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND; giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân và của công dân ở địa
phương
Chức năng giám sát của HĐND luôn gắn liền chức năng quyết định những vấn đề cơ bản về KT-XH và vai trò của HĐND ở địa phương Thực hiện tốt chức năng giám sát không những cho phép HĐND kiểm tra đánh giá hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức, cá nhân ở địa phương trong việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật, nghị quyết của HĐND mà còn giúp HĐND phát hiện và sửa đổi, bổ sung những nội dung không phù hợp của nghị quyết HĐND Kết quả giám sát của HĐND cấp xã là căn cứ để HĐND cấp huyện thực hiện quyền bãi miễn, bãi nhiệm các chức danh theo quy định của pháp luật (chủ tịch, phó chủ tịch HĐND; chủ tịch, các phó chủ tịch và các thành viên UBND); là căn cứ để HĐND cấp xã bãi bỏ những quyết định trái pháp luật của UBND cùng cấp;
Để thực hiện các chức năng quan trọng, HĐND tập trung vào các hướng: Quyết định dưới hình thức Nghị quyết về các vấn đề quan trọng của địa
Trang 2515
phương và các biện pháp tổ chức thực hiện Nghị quyết đó; Giám sát việc thực hiện các Nghị quyết
Những hướng hoạt động trên đây thường được gọi là những chức năng
cơ bản của HĐND Trong các chức năng trên, chức năng quyết định làm nổi bật vị trí HĐND là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương Vì vậy, chức năng cơ bản của HĐND là thay mặt Nhân dân địa phương quyết định những vấn đề có liên quan đến đời sống của Nhân dân địa phương
Chức năng của HĐND từng cấp thể hiện qua nhiệm vụ, quyền hạn, thẩm quyền của HĐND được quy định tại Luật tổ chức HĐND và UBND năm
2003 và hiện nay là Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015
1.1.2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã
Điều 33, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 đã quy định HĐND cấp xã có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
"Ban hành nghị quyết về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân xã
Quyết định biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh, phòng, chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật khác, phòng, chống quan liêu, tham nhũng trong phạm vi được phân quyền; biện pháp bảo vệ tài sản của cơ quan, tổ chức, bảo hộ tính mạng, tự do, danh dự, nhân phẩm, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân trên địa bàn xã
Bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, Phó Chủ tịch HĐND, Trưởng ban, Phó Trưởng ban của HĐND xã; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch UBND, Phó Chủ tịch UBND là các Ủy viên UBND xã
Quyết định dự toán thu ngân sách nhà nước trên địa bàn; dự toán thu, chi ngân sách xã; điều chỉnh dự toán ngân sách xã trong trường hợp cần thiết; phê chuẩn quyết toán ngân sách xã Quyết định chủ trương đầu tư chương trình,
dự án của xã trong phạm vi được phân quyền
Trang 2616
Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND xã; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND cùng cấp, Ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp
Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND xã bầu theo quy định
Bãi nhiệm đại biểu HĐND xã và chấp nhận việc đại biểu HĐND xã xin thôi làm nhiệm vụ đại biểu
Bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản trái pháp luật của UBND, Chủ tịch UBND xã." [39, tr.43]
1.1.3 Tổ chức của hội đồng nhân dân cấp xã
1.1.3.1 Thường trực Hội đồng nhân dân
Thường trực HĐND là cơ quan thường trực của HĐND, thực hiện những nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương
và các quy định, khác của pháp luật có liên quan; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND
Thành viên của Thường trực HĐND không thể đồng thời là thành viên của UBND cùng cấp
Nhiệm kỳ của Thường trực HĐND, theo nhiệm kỳ của HĐND cùng cấp Khi HĐND hết nhiệm kỳ, Thường trực HĐND tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi HĐND khóa mới bầu ra Thường trực HĐND khóa mới
Thường trực HĐND xã gồm Chủ tịch HĐND, một Phó Chủ tịch HĐND Phó Chủ tịch HĐND xã là đại biểu HĐND hoạt động chuyên trách
1.1.3.2 Đại biểu Hội đồng nhân dân
Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình
Trang 27Đại biểu HĐND phải đáp ứng các tiêu chuẩn:
Thứ nhất: Trung thành với Tổ quốc, Nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
Thứ hai: Có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác
Thứ ba: Có trình độ văn hóa, chuyên môn, đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu; có điều kiện tham gia các hoạt động của HĐND
Thứ tư: Liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, được Nhân dân tín nhiệm
Theo quy định tại Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và Luật Bầu cử Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015 thì tổng số đại biểu HĐND xã được thực hiện theo nguyên tắc sau đây:
Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có từ một nghìn dân trở xuống được bầu mười lăm đại biểu;
Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên một nghìn dân đến hai nghìn dân được bầu hai mươi đại biểu;
Trang 2818
Xã miền núi, vùng cao và hải đảo có trên hai nghìn dân đến ba nghìn dân được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên ba nghìn dân thì cứ thêm một nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu;
Xã không thuộc miền núi, vùng cao và hải đảo có từ bốn nghìn dân trở xuống được bầu hai mươi lăm đại biểu; có trên bốn nghìn dân thì cứ thêm hai nghìn dân được bầu thêm một đại biểu, nhưng tổng số không quá ba mươi lăm đại biểu
Nhiệm kỳ mới khoá HĐND các cấp là năm năm, kể kỳ họp thứ nhất của HĐND khoá đó đến kỳ họp của HĐND khoá sau Nhiệm kỳ của thường trực HĐND, UBND, các ban của HĐND theo nhiệm kỳ của HĐND Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND ở mỗi đơn vị hành chính không giữ chức vụ đó quá hai nhiệm kỳ liên tục
1.1.3.3 Các ban của Hội đồng nhân dân xã
Đây là điểm mới về cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã theo quy định của Luật Tổ chức Chính quyền địa phương 2015 hiện nay Ban của HĐND là cơ quan của HĐND, có nhiệm vụ thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án trước khi trình HĐND, giám sát, kiến nghị về những vấn đề thuộc lĩnh vực Ban phụ trách; chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước HĐND
HĐND xã thành lập Ban pháp chế, Ban KT-XH Ban của HĐND xã gồm
có Trưởng ban, một Phó Trưởng ban và các Ủy viên Số lượng Ủy viên của các Ban của HĐND xã do HĐND xã quyết định Trưởng ban, Phó Trưởng ban và các Ủy viên của các Ban của HĐND xã hoạt động kiêm nhiệm
Nhiệm kỳ của các Ban của HĐND theo nhiệm kỳ của HĐND cùng cấp Khi HĐND hết nhiệm kỳ, các Ban của HĐND tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi HĐND khóa mới bầu ra các Ban của HĐND khóa mới
Trang 2919
1.2 Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân cấp xã
1.2.1 Khái niệm giám sát của Hội đồng nhân dân
Để nhận thức đúng bản chất, nội dung cũng như hình thức động giám sát của HĐND, trước hết cần làm rõ khái niệm giám sát
Trong các công trình nghiên cứu một số tài liệu, thuật ngữ "giám sát" được hiểu theo nhiều cách, từ nhiều góc độ khác nhau:
- Có quan niệm cho rằng, giám sát là: sự theo dõi, xem xét, làm đúng hoặc sai những điều đã quy định [41, tr.305]
- Quan niệm khác coi giám sát là việc theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không; là chức quan thời xưa trông nom, coi sóc một loại công việc nhất định [44, tr.389]
- Có ý kiến chỉ coi giám sát là một nhóm hoặc một tổ chức để theo dõi
một việc nào đấy [43, tr.230]
Theo khoản 1, Điều 2 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội
đồng nhân dân năm 2015 Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét,
đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền
xử lý
Như vậy, tuy cách diễn đạt và biểu hiện ý nghĩa của từ "giám sát" có khác nhau, nhưng các quan niệm trên đều đề cập đến nội dung cơ bản: giám sát là việc theo dõi, xem xét và kiểm tra một chủ thể nào đó về một việc làm
đã thực hiện đúng hoặc thực hiện chưa đúng những điều đã quy định để từ đó
có biện pháp điều chỉnh hoặc xử lý đối với việc làm sai, nhằm đạt được những mục đích hiệu quả xác định từ trước, bảo đảm cho các quyết định thực hiện đúng và đầy đủ
Với quan niệm trên, giám sát có những đặc trưng sau:
Trang 3020
- Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được câu hỏi ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những nhận định, đánh giá về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặc không đúng với những điều đã quy định, quyết định
- Giám sát bao giờ cũng cần 2 giai đoạn: giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và giai đoạn đánh giá, đưa ra kết luận Trong đó, giai đoạn thứ nhất
là cơ sở để thực hiện giai đoạn thứ hai Nếu giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá, kết luận sẽ đúng đắn, chính xác và cuộc giám sát
sẽ có hiệu quả và ngược lại [27, tr.63]
- Giám sát cũng luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải trả lời được câu hỏi giám sát ai? giám sát việc gì? Đặc điểm cơ bản này cho chúng ta phân biệt giữa giám sát và kiểm tra Bởi nói tới kiểm tra thì chủ thể hoạt động kiểm tra và đối tượng chịu sự tác động này có thể đồng nhất là một Đó là trường hợp chủ thể tự kiểm tra hoạt động của mình, tức là tự xem xét đánh giá tình trạng tốt xấu của công việc đang làm để từ đó uốn nắn, sửa chữa Nhưng trong hoạt động giám sát thì không thể có tình trạng tự chủ thể hoạt động quan sát chính hành vi của mình mà phải là hoạt động theo dõi, thẩm tra và xem xét của một chủ thể khác, từ đó đưa ra kết luận và xử lý Cũng có ý kiến cho rằng, trong cơ chế giám sát có cả việc tự giám sát tức là sự tự theo dõi, xem xét và kiểm tra chính mình có thực hiện đúng những điều đã quy định không [5, tr.87] Với quan niệm như vậy e rằng không đúng, không phù hợp với bản chất của từ giám sát, bởi bên cạnh khái niệm giám sát còn có khái niệm kiểm tra
- Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động giám sát Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát
Trang 3121
- Giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì: nếu như thiếu những quy định này thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu chí để đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu giám sát
- Giám sát là hoạt động có tính mục đích Trước hết, mục đích của giám sát là đưa ra được những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu giám sát, từ đó có các biện pháp xử lý đối với những việc làm sai trái nhằm bảo đảm cho những quy định của pháp luật được thực hiện đúng và có hiệu quả Như vậy, mục đích chung của giám sát nhà nước cũng như giám sát xã hội là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của các cơ quan tổ chức, cá nhân có chức vụ quyền hạn trong BMNN, trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật về nghĩa vụ, chức năng và thẩm quyền của họ
Tóm lại, thuật ngữ "giám sát" nếu hiểu theo nghĩa chung thì phạm vi áp dụng của nó rất rộng, muốn có một khái niệm cụ thể thì hoạt động giám sát bao giờ cũng gắn với một chủ thể xác định chẳng hạn như giám sát của Quốc hội, giám sát của HĐND, giám sát của nhân dân
1.2.2 Đối tượng giám sát
- Thường trực HĐND, UBND cùng cấp, Ban của HĐND
- Chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND các thành viên khác của UBND, cơ quan chuyên môn thuộc UBND
- Các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương
Như vậy, theo pháp luật hiện hành, đối tượng giám sát của HĐND cấp
xã rất phong phú và đa dạng, bao gồm tất cả các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở địa phương
Tuy nhiên cần lưu ý, trong luật hiện hành không phân cấp giám sát giữa HĐND các cấp, điều đó không có nghĩa HĐND mỗi cấp thực hiện thẩm
Trang 32Nhưng với các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác ở địa phương thì hoạt động giám sát của HĐND chủ yếu ở việc xem xét tính pháp chế của các bản
án đã được giải quyết và sự phối hợp của Toà án, Viện kiểm sát với địa phương trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị của địa phương Kết quả giám sát của HĐND đối với Toà án chỉ có thể là đề nghị Nếu có hậu quả pháp lý nào đó đối với Toà án chỉ là hậu quả gián tiếp không xuất phát từ thẩm quyền của HĐND
1.2.3 Nội dung giám sát
Để có cơ sở pháp lý cho HĐND xã thực hiện tốt chức năng giám sát, trước hết phải xác định rõ nội dung giám sát của cơ quan này Theo các quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015; Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015, nội dung giám sát của HĐND xã gồm:
- Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của thường trực Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân
Đối với các cơ quan Nhà nước này, giám sát của HĐND được thực hiện thông qua việc: Tại các kỳ họp HĐND, Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban hội đồng nhân dân, UBND phải báo cáo công tác trước HĐND HĐND giám sát hoạt động của các cơ quan này thông qua việc xem xét các báo cáo công tác tại kỳ họp Thông qua việc xem xét, thảo luận các báo cáo công tác,
Trang 3323
HĐND nắm bắt thông tin một cách đầy đủ, toàn diện về hoạt động của các cơ quan này Từ đó đánh giá chính xác, khách quan kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan Nhà nước theo quy định của Pháp luật và Nghị
quyết của HĐND
Khi xem xét các báo cáo công tác, HĐND phải tập trung làm sáng tỏ tính chính xác và thực tiễn của các báo cáo công tác nhằm xác định đúng thực trạng của tình hình được nêu ra, vấn đề cần tập trung giải quyết, kết quả đạt được cùng những khó khăn, yếu kém Đây là một phương thức giám sát quan trọng giúp HĐND nhận thông tin chính thức từ phía cơ quan đó
Chất vấn tại kỳ họp là một hình thức chất vấn trực tiếp, có hiệu quả cao HĐND xem xét việc trả lời chất vấn của Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân, các thành viên khác của UBND, chuyên môn thuộc UBND Thông qua chất vấn, HĐND xem xét trách nhiệm cá nhân của những người được chất vấn
- Giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của Hội đồng nhân dân
Nghị quyết của HĐND ban hành nhằm triển khai thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của cấp uỷ, phản ánh ý chí, nguyện vọng của nhân dân Nghị quyết của HĐND có vai trò rất quan trọng trong việc định hướng phát triển kinh tế-xã hội ở địa phương Do
đó giám sát việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND là một nội dung không thể thiếu trong hoạt động giám sát của HĐND các cấp nhằm tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Nghị quyết, đảm bảo cho Nghị quyết thực sự đi vào cuộc sống
Trong quá trình giám sát, nếu phát hiện có những văn bản của UBND cùng cấp có dấu hiệu trái với văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và Nghị quyết của HĐND thì HĐND xem xét, quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn
bộ văn bản đó
Trang 3424
- Giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật của cơ quan, tổ chức,
cá nhân chịu sự giám sát
Đây là quá trình HĐND xem xét việc áp dụng pháp luật trong tổ chức và hoạt động thực tiễn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc quyền giám sát
Vì vậy phạm vi giám sát của HĐND trong lĩnh vực này rất rộng Trên thực tế pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của HĐND có đi vào cuộc sống, trở thành hiện thực hay không không chỉ thông qua hoạt động ban hành các văn bản hướng dẫn, thi hành bảo đảm đúng đắn, phù hợp, kịp thời mà còn phụ thuộc vào quá trình tổ chức thực hiện có hợp hiến, hợp pháp hay không? Có hiệu quả hay không? Do vậy giám sát việc tuân theo pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang và công dân ở địa phương là một nội dung giám sát của HĐND, nhằm phát hiện kịp thời những
vi phạm pháp luật trong hoạt động thực tiễn của các đối tượng này để từ đó nhanh chóng có biện pháp ngăn chặn, đảm bảo cho pháp luật được thực thi nghiêm chỉnh và thống nhất
Như vậy, nội dung giám sát của HĐND cấp xã được thực hiện trên cơ sở nhiệm vụ, quyền hạn được phân cấp theo quy định, bao quát hoạt động quản
lý nhà nước tại địa phương trên các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng, xây dựng, củng cố chính quyền, thực hiện pháp luật, bảo đảm phát huy quyền làm chủ nhân dân ở địa phương
Trang 3525
“1 Xem xét báo cáo công tác của Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự cùng cấp và các báo cáo khác theo quy định tại Điều 59 của Luật này
2 Xem xét việc trả lời chất vấn của những người bị chất vấn quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 5 của Luật này
3 Xem xét quyết định của Ủy ban nhân dân cùng cấp, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp
Đây là một hình thức giám sát trực tiếp rất quan trọng của HĐND cấp
xã HĐND xem xét thảo luận báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, cùng cấp tại kỳ họp cuối năm Tại kỳ họp giữa năm, các cơ quan này gửi báo cáo công tác đến các đại biểu HĐND, khi cần thiết HĐND có thể xem xét thảo luận Việc xem xét, thảo luận các báo cáo hàng năm hoặc 6 tháng tại các kỳ họp cuối năm hay giữa năm được tiến hành theo một trình tự chặt chẽ
do luật định Trong đó có thẩm tra, phản biện, thảo luận, tranh luận của đại biểu HĐND đối với các đối tượng thuộc quyền giám sát của HĐND xã Theo quyết định của Chủ tịch HĐND hoặc của người điều khiển phiên họp, báo cáo của các đối tượng giám sát được chuyển cho các ban của HĐND thẩm tra, nghiên cứu trước Trên cơ sở ý kiến tham gia, thảo luận báo cáo của các thành viên, các ban phải chuẩn bị báo cáo thuyết trình thẩm tra trước HĐND
Trang 3626
Việc HĐND xem xét, thảo luận các báo cáo được diễn ra theo một trình
tự nhất định: người đứng đầu các cơ quan bị giám sát trình bày báo cáo; Trưởng ban HĐND trình bày báo cáo thẩm tra; HĐND thảo luận; người đứng đầu cơ quan bị giám sát trình bày báo cáo và có thể trình bày thêm những vấn
đề có liên quan mà HĐND quan tâm; HĐND ra nghị quyết về công tác của cơ quan đã báo cáo khi xét thấy cần thiết
Việc xem xét báo cáo buộc chủ thể bị giám sát phải báo cáo về công tác của mình là một hình thức giám sát quan trọng Trên cơ sở đó, HĐND có thể kiểm soát tình hình thực thi Hiến pháp, pháp luật và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên cũng như nghị quyết của hội đồng trong thực tiễn đời sống
xã hội; tăng cường trách nhiệm cá nhân của những người đứng đầu UBND và các ban ngành về công tác của họ trước HĐND
Thứ hai, chất vấn, nghe trả lời chất vấn
Tại khoản 2, Điều 115 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các thành viên khác của Uỷ ban nhân dân, Chánh án Toà án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Thủ trưởng cơ quan thuộc Uỷ ban nhân dân Người bị chất vấn phải trả lời trước Hội đồng nhân dân Đại biểu Hội đồng nhân dân có quyền kiến nghị với các cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị ở địa phương Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị này có trách nhiệm tiếp đại biểu, xem xét, giải quyết kiến nghị của đại biểu”
Để cụ thể hóa Hiến pháp điểm đ, khoản 1, Điều 5 và Điều 60 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 đã quy định một cách chi tiết về trình tự, thủ tục chất vấn tại kỳ họp và giữa hai kỳ họp của đại biểu HĐND Cụ thể: - Đối với thẩm quyền của HĐND: “Đại biểu Hội đồng nhân dân chất vấn Chủ tịch Ủy ban nhân dân, thành viên khác của Ủy ban nhân dân, Chánh án Tòa án nhân dân, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân,
Trang 3727
Thủ trưởng cơ quan thuộc Ủy ban nhân dân cùng cấp; trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật; giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân ở địa phương”
- Đối với Chất vấn và xem xét trả lời chất vấn:
+ Đại biểu Hội đồng nhân dân nêu chất vấn, có thể cung cấp thông tin minh họa bằng hình ảnh, video, vật chứng cụ thể;
+ Người bị chất vấn phải trả lời trực tiếp, đầy đủ vào vấn đề mà đại biểu Hội đồng nhân dân đã chất vấn, không được ủy quyền cho người khác trả lời thay; xác định rõ trách nhiệm, biện pháp và thời hạn khắc phục hạn chế, bất cập (nếu có);
+ Trường hợp đại biểu Hội đồng nhân dân không đồng ý với nội dung trả lời chất vấn thì có quyền chất vấn lại để người bị chất vấn trả lời;
+ Những người khác có thể được mời tham dự phiên họp và trả lời chất vấn của đại biểu Hội đồng nhân dân về vấn đề thuộc trách nhiệm của mình
- Hội đồng nhân dân cho trả lời chất vấn bằng văn bản trong các trường hợp sau đây: Chất vấn không thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp; Vấn đề chất vấn cần được điều tra, xác minh; Chất vấn thuộc nhóm vấn đề chất vấn tại kỳ họp nhưng chưa được trả lời tại kỳ họp
Người bị chất vấn phải trực tiếp trả lời bằng văn bản Văn bản trả lời chất vấn được gửi đến đại biểu Hội đồng nhân dân đã chất vấn, Thường trực Hội đồng nhân dân trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày chất vấn
Để đảm bảo hiệu quả của hoạt động chất vấn cũng như ràng buộc trách nhiệm của đối tượng bị chất vấn, luật còn quy định khi đại biểu Hội đồng không hài lòng với câu trả lời của người nào đó thì có quyền yêu cầu HĐND thảo luận và xem xét trách nhiệm đối với người đó HĐND có thể ra nghị quyết về việc trả lời chất vấn và trách nhiệm của người bị chất vấn khi xét thấy cần thiết
Trang 3828
Thực chất hoạt động chất vấn là việc đại biểu HĐND đưa ra các câu hỏi chất vấn cho các đối tượng bị chất vấn, nội dung của câu hỏi này thường xoay quanh các vấn đề nóng bỏng mà nhân dân địa phương quan tâm thuộc lĩnh vực quản lý trực tiếp hoặc có liên quan đến đối tượng bị chất vấn
Thứ ba, xem xét quyết định của UBND cùng cấp
Theo Điều 61, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về xem xét quyết định của UBND cùng cấp của HĐND như sau:
Đây là hình thức HĐND giám sát tính hợp hiến, hợp pháp của các VBQPPL do các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, tại các kỳ họp HĐND cũng như giữa hai kỳ họp, Thường trực HĐND, các ban HĐND và từng đại biểu HĐND phải thường xuyên thực hiện việc giám sát các văn bản thuộc thẩm quyền của mình nhằm có những kiến nghị, đề xuất kịp thời
Các bước để HĐND xem xét tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản được quy định như sau:
Đại diện của Thường trực HĐND trình VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; HĐND thảo luận Trong quá trình thảo luận, người đứng đầu cơ quan đã ban hành VBQPPL có thể trình bày bổ sung những vấn đề liên quan Hệ quả của hoạt động này có thể dẫn đến hai khả năng: HĐND ra nghị quyết khi VBQPPL trên không trái với Hiến pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, hoặc quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản đó
Thứ tư, giám sát chuyên đề
Theo Điều 62, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về giám sát chuyên đề của HĐND như sau:
Trang 3929
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, khi xét thấy cần thiết phải xác minh, làm rõ, hoặc muốn biết một số thông tin cụ thể trong quá trình hoạt động của các đối tượng chịu giám sát thì HĐND thành lập Đoàn giám sát Hàng năm, căn cứ vào chương trình giám sát đề ra, HĐND ra nghị quyết thành lập đoàn giám sát theo đề nghị của Thường trực HĐND Nghị quyết của Hội đồng nhân dân về việc thành lập Đoàn giám sát phải xác định rõ đối tượng, phạm vi, nội dung, kế hoạch giám sát, thành phần Đoàn giám sát và cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát Trong quá trình làm việc với đối tượng bị giám sát, Đoàn giám sát có quyền yêu cầu các cơ quan
tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát báo cáo bằng văn bản, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát; đồng thời giải trình vấn đề mà đoàn giám sát quan tâm Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật
và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý, xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật
Thứ năm, Lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Hội đồng nhân dân bầu
Việc HĐND lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu là một công cụ giám sát mới của HĐND Đây là hình thức HĐND giám sát hoạt động của các cá nhân thuộc đối tượng
bị giám sát Có ý kiến cho rằng, bỏ phiếu tín nhiệm là hệ quả của giám sát, song thực chất đó là cơ sở để quy kết hệ quả, tức là tiền đề để đi đến việc áp dụng các biện pháp chế tài giám sát
Trang 40b) Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân, Ủy viên
Ủy ban nhân dân
2 Việc lấy phiếu tín nhiệm được thực hiện tại kỳ họp Hội đồng nhân dân theo trình tự sau đây:
a) Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân quyết định danh sách những người được lấy phiếu tín nhiệm;
b) Hội đồng nhân dân lấy phiếu tín nhiệm bằng cách bỏ phiếu kín;
c) Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân thông qua nghị quyết xác nhận kết quả lấy phiếu tín nhiệm
3 Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân đánh giá tín nhiệm thấp thì có thể xin từ chức
Người được lấy phiếu tín nhiệm có từ hai phần ba tổng số đại biểu Hội đồng nhân dân trở lên đánh giá tín nhiệm thấp thì Thường trực Hội đồng nhân dân trình Hội đồng nhân dân bỏ phiếu tín nhiệm
4 Ngoài quy định tại Điều này, thời hạn, thời điểm, trình tự lấy phiếu tín nhiệm đối với người được Hội đồng nhân dân bầu được thực hiện theo nghị quyết của Quốc hội” [38, tr.93]
Điều 64 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 quy định về HĐND bỏ phiếu tín nhiệm: