Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-/ -
BỘ NỘI VỤ / HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu thực sự của
cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Trần Hậu
Thành Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn
này trung thực và chưa từng được công bố dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
Học viên
Cao Hợp Thanh
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, tôi xin được bày tỏ sự cảm ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn khoa học TS Trần Hậu Thành đã tận tình hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến khoa học trong thời gian tác giả thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám đốc Học viện Hành chính Quốc gia, Khoa Sau đại học, Khoa Nhà nước – Pháp luật cùng toàn thể các thầy, cô giáo đã nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn
Tôi xin gửi lời cảm ơn Bộ Tư lệnh thủ đô Hà Nội, Ban chỉ huy quân sự các quận (huyện) trên địa bàn thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới tất cả thầy cô giáo, cơ quan, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp luôn là nguồn động viên quý báu cho tôi hoàn thành luận văn
Tác giả luận văn
Cao Hợp Thanh
Trang 4MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT DÂN QUÂN TỰ VỆ 8
1.1 Khái quát chung pháp luật về dân quân tự vệ 8
1.1.1 Khái niệm, vai trò và nhiệm vụ của dân quân tự vệ 8
1.1.2 Nội dung pháp luật dân quân tự vệ 12
1.2 Khái niệm, hình thức và nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ 21
1.2.1 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ 21
1.2.2 Các hình thức tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ 22
1.2.3 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ 23
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ 26
Tiểu kết chương 1 34
Chương 2 THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT DÂN QUÂN TỰ VỆ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 35
2.1 Khái quát về tình hình dân quân tự vệ thủ đô Hà Nội 35
2.1.1 Tình hình lực lượng dân quân tự vệ thủ đô Hà Nội 35
2.1.2 Đặc thù của lực lượng dân quân tự vệ tại Thành phố Hà Nội 41
2.2 Tình hình tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ trên địa bàn thành phố Hà Nội 42
2.3.1 Tình hình tuyên truyền, phổ biến pháp luật về dân quân tự vệ trên địa bàn thành phố Hà Nội 42
2.2.2 Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ làm công tác phổ biến pháp luật về dân quân tự vệ 51
Trang 52.2.3 Tình hình tổ chức thực hiện các nội dung về pháp luật dân quân tự
vệ trên địa bàn Hà Nội 55
2.3 Đánh giá tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ trên địa bàn Hà Nội 58
2.3.1 Kết quả đạt được 58
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 59
Tiểu kết chương 2 65
Chương 3 QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP ĐẢM BẢOB TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ DÂN QUÂN TỰ VỆ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI 66
3.1 Quan điểm bảo đảm tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ 66
3.1.1 Quán triệt các nguyên tắc xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ 66
3.1.2 Xác định rõ trách nhiệm trong tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ 68
3.1.3 Chú trọng kiểm tra, giám sát việc tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ 72
3.2 Giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện pháp luật về Dân quân tự vệ 74
3.2.1 Những giải pháp định hướng việc tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ 74
3.2.2 Giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội 76
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 6GDQPAN: Giáo dục quốc phòng, an ninh
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Dân quân tự vệ là một lực lượng chiến lược trong chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân, làm nòng cốt cho toàn dân đánh giặc bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ địa phương
Đánh giá về vai trò Dân quân tự vệ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói
"Dân quân tự vệ và du kích là lực lượng của toàn dân tộc, là lực lượng vô địch, là bức tường sắt của Tổ quốc Vô luận kẻ thù nào dù hung bạo đến đâu
hễ đụng vào lực lượng đó, bức tường đó thì địch nào cũng phải tan rã”
Trong tình hình hiện nay, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện hai nhiệm vụ xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN Chúng ta phải đối phó với chiến lược "diễn biến hoà bình”, BLLĐ và sẵn sàng đánh thắng chiến tranh xâm lược của kẻ thù Do đó, lực lượng dân quân tự vệ là một trong những công cụ để bảo vệ độc lập chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ đất nước, bảo
vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng và tài sản của Nhà nước và nhân dân tại địa phương, cơ sở
Hà Nội là thủ đô của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Với vị trí chiến lược, tầm quan trọng đặc biệt của Thủ đô Hà Nội đối với cả nước, Theo đó, BTL Thủ đô Hà Nội là đơn vị trực thuộc Bộ Quốc phòng, đặt dưới
sự quản lý, chỉ huy của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, chức năng tham mưu cho Đảng bộ, chính quyền thành phố Hà Nội thực hiện nhiệm vụ quốc phòng toàn dân và công tác quân sự địa phương; giúp Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội thực hiện quản lý nhà nước về lĩnh vực quân sự, quốc phòng trên địa bàn; tổ chức thực hiện việc xây dựng, quản
lý, chỉ huy các đơn vị thường trực và lực lượng dự bị động viên, dân quân, tự
vệ (DQTV) thuộc quyền
Trang 8Tuy nhiên, công tác dân quân tự vệ tại thủ đô Hà Nội vẫn còn những hạn chế, bất cập cả về nhận thức, tổ chức thực hiện Trách nhiệm xây dựng, quản lý nhà nước về dân quân tự vệ của địa phương, cơ quan, tổ chức còn hạn chế Công tác đăng ký, quản lý dân quân tự vệ chưa chặt chẽ, gặp nhiều khó khăn Việc tổ chức xây dựng lực lượng dân quân tự vệ còn nhiều bất cập Chất lượng huấn luyện dân quân tự vệ có địa phương chưa bảo đảm Khả năng huy động, phối hợp của lực lượng dân quân tự vệ với các lực lượng khác trong tuần tra, canh gác, bảo vệ mục tiêu, xử trí các tình huống phức tạp ở địa phương còn chậm, hiệu quả chưa cao, v.v
Sở dĩ có tình hình trên, trước hết là do tính pháp lý của các quy định hiện hành về tổ chức lực lượng tự vệ chưa cao; giữa các luật chưa đồng bộ, thống nhất, dẫn đến việc tổ chức còn lúng túng cả về phương pháp và biện pháp tiến hành
Từ việc nghiên cứu, tổ chức thực hiện xây dựng lực lượng dân quân tự
vệ những năm qua, đặt ra vấn đề cần thiết phải nghiên cứu đề tài “Tổ chức
thực hiện luật dân quân tự vệ - Từ thực tiễn thành phố Hà Nội”
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong những năm gần đây, việc thực hiện luật dân quân tự vệ đã được các cấp quản lý từ Trung ương đến địa phương quan tâm, hiện đã có những bài báo, đề án viết về thực hiện luật dân quân tự vệ như sau:
- Bài báo: “Thực hiện Luật Dân quân tự vệ ở Vĩnh Phúc”, tác giả Đại tá Nguyễn Xuân Thuyết, Chỉ huy trưởng BCHQS Tỉnh, đăng trên tạp chí quốc phòng toàn dân, bài báo đã viết Luật Dân quân tự vệ được Quốc hội khoá XII thông qua tại Kỳ họp thứ 6, có hiệu lực thi hành từ ngày 01-7-2010 Đây là sự phát triển về tư duy quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc của Đảng ta; tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò chiến lược của lực lượng này đối với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thời kỳ mới Để sớm đưa Luật vào cuộc sống, tỉnh Vĩnh Phúc đã tích
Trang 9cực, chủ động triển khai thực hiện, được Bộ Quốc phòng và Quân khu 2 đánh giá là đơn vị đi đầu trong tổ chức thực hiện Luật kịp thời, đạt chất lượng, hiệu
vệ Thể hiện sự quan tâm, chăm lo của cấp uỷ, chính quyền, các cấp, các ngành và nhân dân đối với lực lượng dân quân tự vệ Là cơ sở thực tiễn để nghiên cứu, đề nghị với Đảng, Nhà nước điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung những vấn đề vướng mắc, bất cập nảy sinh trong quá trình thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ
- Bài báo “Phát triển Dân quân tự vệ Việt Nam – Kết quả và bài học
kinh nghiệm” trên báo quân đội nhân dân của Trung tướng Nguyễn Duy
Nguyên - Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ (Bộ Tổng tham mưu), bài báo đã
tổng kết DQTV có vị trí chiến lược quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xây dựng DQTV vững mạnh, rộng khắp để luôn có sự phát triển là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, của các cấp, các ngành, các tổ chức đoàn thể xã hội Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, trực tiếp là của các cấp ủy Đảng, chính quyền cơ sở, để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của DQTV, phải nắm vững sự nghiệp đổi mới của đất nước để điều chỉnh, bổ sung hệ thống văn bản pháp luật về DQTV, nghị định của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn thi hành luật, các chỉ thị, mệnh lệnh, các quy định cụ thể của cấp trên, đồng thời phải căn cứ vào thực tiễn của mỗi địa
Trang 10phương, cơ sở, cơ quan, tổ chức, đơn vị để tổ chức, xây dựng DQTV vững mạnh, thực sự là lực lượng nòng cốt trong đấu tranh chống “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ” của các thế lực thù địch ở cơ sở; sẵn sàng chiến đấu
và chiến đấu thắng lợi, bảo vệ vững chắc địa phương cơ sở, cơ quan, tổ chức, góp phần bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa
- “Thống nhất, đồng bộ trong triển khai các văn bản pháp luật về dân
quân, tự vệ”, tác giả Nguyễn Duy Nguyên – Cục trưởng Cục Dân quân tự vệ
trên báo Quân đội nhân dân, ngày 31/8/2016, bài báo đã viết những năm qua, Đảng và Nhà nước ta thường xuyên quan tâm và có chủ trương, giải pháp xây dựng dân quân tự vệ (DQTV), giáo dục quốc phòng và an ninh (GDQPAN); từng bước bổ sung, xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về DQTV, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, bảo vệ vững chắc Tổ quốc
Tuy nhiên, luật dân quân tự vệ năm 2009 đã được ban hành thực hiện
từ 2010 nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể việc tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ tại một địa phương nhất định
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu, khảo sát, phân tích,
đánh giá kỹ lưỡng thực trạng tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ từ thực tiễn thành phố Hà Nội, qua các quan điểm của Đảng và Nhà nước đề ra các giải pháp nhằm đảm bảo việc tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ đáp ứng yêu cầu bảo vệ và xây dựng tổ quốc
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được những mục đích trên, đề tài đi
vào giải quyết các nhiệm vụ sau:
Một là: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về dân quân tự vệ và quản
lý nhà nước về dân quân tự vệ
Trang 11Hai là: Đánh giá việc tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ
trên địa bàn thành phố Hà Nội thời gian qua
Ba là: Đề xuất quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức thực
hiện luật dân quân tự vệ trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện luật dân quân tự vệ Đồng thời, đánh giá kết quả tổ chức thực hiện luật dân quân
tự vệ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Đối tượng khảo sát chủ yếu là lực lượng dân quân tự vệ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Nghiên cứu trên phạm vi thành phố Hà Nội
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
5.1 Phương pháp luận
-và hội nhập
Trang 125.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp sau
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Phương pháp sử dụng tài liệu, các bản báo cáo của các tác giả đã nghiên cứu, đã đánh giá Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng từ việc chọn đối tượng, thu thập những thông tin cần thiết đến việc phân tích thông tin và dữ liệu thu thập được Đề tài có
sử dụng một số tài liệu như sách, báo, tài liệu tuyên truyền, tạp chí mạng, các trang web có liên quan đến lĩnh vực dân quân tự vệ
- Ngoài ra đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu, thu thập số liệu,
xử lý số liệu, phương pháp quy nạp làm căn cứ phân tích thực trạng quản lý nhà nước về dân quân tự vệ ở Hà Nội từ khi có đường lối xây dựng lực lượng dân quân tự vệ và các vấn đề mang tính thời sự đang được toàn xã hội quan tâm Trên cơ sở đó nhằm chỉ rõ những vấn đề tồn tại đặt ra đối với quản lý nhà nước về dân quân tự vệ trong bảo vệ và xây dựng đất nước thời kỳ hội nhập quốc tế
6 Những đóng góp về khoa học của đề tài
6.1 Về lý luận
Nghiên cứu góp phần làm rõ một số vấn đề lý luận về Luật Dân quân tự
vệ và việc thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ trong bảo vệ và xây dựng đất nước thời kỳ hội nhập quốc tế
Trang 13- Với những kết quả nghiên cứu đã đạt được trên đây, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu thực tiễn về tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ ở nước ta
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo; luận văn gồm 03 chương, 8 tiết
Chương 1: Cơ sở pháp lý của tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Chương 3: Quan điểm, giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện Luật Dân
quân tự vệ trên địa bàn thành phố Hà Nội
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ PHÁP LÝ CỦA TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT DÂN QUÂN TỰ VỆ 1.1 Khái quát chung pháp luật về dân quân tự vệ
1.1.1 Khái niệm, vai trò và nhiệm vụ của dân quân tự vệ
- Khái niệm
Theo Luật Dân quân tự vệ năm 2010: Dân quân tự vệ là lực lượng vũ trang quần chúng không thoát ly sản xuất, công tác; là thành phần của lực lượng vũ trang nhân dân; là lực lượng bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tài sản của Nhà nước, làm nòng cốt cùng toàn dân đánh giặc ở địa phương, cơ sở khi có chiến tranh Lực lượng này được tổ chức ở xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) gọi là dân quân; được tổ chức ở cơ quan của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, tổ chức kinh tế (gọi chung là cơ quan,
tổ chức) gọi là tự vệ
Nội dung xây dựng dân quân tự vệ
- Phương châm xây dựng: Xây dựng dân quân tự vệ theo hướng “vững
mạnh, rộng khắp, coi trọng chất lượng là chính”
+ Vững mạnh : Được thể hiện là chất lượng phải toàn diện cả về chính trị
tư tưởng, tổ chức, trình độ chính trị, quân sự và chuyên môn nghiệp vụ, biên chế trang bị hợp lí, thống nhất, có kỷ luật nghiêm, cơ động nhanh sẵn sàng chiến đấu tốt Mỗi tổ chức dân quân tự vệ phải luôn vững vàng
+ Rộng khắp: Lực lượng dân quân tự vệ được xây dựng ở hầu hết các
làng, bản, xóm, ấp xã, phường, các tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, ở đâu có
tổ chức Đảng, chính quyền và có dân, đều phải tổ chức dân quân tự vệ, kể cả các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Trường hợp các doanh nghiệp ngoài quốc doanh không đủ điều kiện (không có tổ chức Đảng) tổ chức dân quân tự
Trang 15vệ nếu có yêu cầu thì giám đốc doanh nghiệp đề nghị và được Bộ chỉ huy quân sự tỉnh (thành phố trực thuộc trung ương) đồng ý thì công dân được tham gia dân quân tự vệ ở địa phương (nơi cư trú) Giám đốc doanh nghiệp phải bảo đảm thời gian và tạo điều kiện cho công nhân tham gia dân quân tự
vệ hoạt động
+ Coi trọng chất lượng là chính: Chỉ tuyển chọn đưa vào đội ngũ
những công dân có lí lịch rõ ràng, có hộ khẩu thường trú tại địa phương, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, chấp hành đúng các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước, các quy định ở địa phương, có sức khoẻ phù hợp
- Tổ chức, biên chế, trang bị của lực lượng dân quân tự vệ:
Tổ chức, biên chế, vũ khí, trang bị của lực lượng dân quân tự vệ phải phù hợp với tính chất, yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng - an ninh thời bình, thời chiến, đặc điểm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và điều kiện cụ thể của từng
bộ, ngành, địa phương và cơ sở
+ Về tổ chức:
Dân quân tự vệ được tổ chức thành 2 lực lượng: lực lượng nòng cốt (lực
lượng chiến đấu) và lực lượng rộng rãi (lực lượng phục vụ chiến đấu)
Lực lượng DQTV nòng cốt : Bao gồm dân quân tự vệ bộ binh, binh
chủng và dân quân tự vệ biển (đối với vùng biển), được tổ chức thành lực lượng cơ động và lực lượng tại chỗ Đối với xã (phường) thuộc địa bàn trọng điểm về quốc phòng an ninh, biên giới ven biển, hải đảo có yêu cầu chiến đấu cao thì được xem xét tổ chức lực lượng dân quân thường trực
Nhiệm vụ của lực lượng cơ động là chiến đấu, tiêu hao, tiêu diệt, chi viện cho lực lượng chiến đấu tại chỗ, khi cần thiết có thể cơ động chiến đấu trên địa bàn địa phương khác Nhiệm vụ của lực lượng chiến đấu tại chỗ là
Trang 16chiến đấu, sẵn sàng chiến đấu trên địa bàn địa phương theo kế hoạch, phương
án, khi cần có thể tăng cường cho lực lượng chiến đấu cơ động
Lực lượng dân quân tự vệ rộng rãi: Gồm cán bộ, chiến sĩ dân quân tự
vệ nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ dân quân tự vệ và công dân trong độ tuổi quy định (nam từ đủ 18 đến hết 45 nữ từ đủ 18 đến hết 40 tuổi)
Nhiệm vụ phục vụ chiến đấu, vận chuyển tiếp tế, khắc phục hậu quả chiến đấu, bảo vệ và sơ tán nhân dân
Về quy mô: Tổ chức từ cấp tổ, tiểu đội, trung đội, đại đội, tiểu đoàn (cấp
đại đội ở xã, phường lớn; cấp cấp tiểu đoàn ở các doanh nghiệp nhà nước do quân khu trở lên quy định)
+ Biên chế : Biên chế dân quân tự vệ được thống nhất trong toàn quốc
Số lượng cán bộ cán bộ chiến sĩ từng đơn vị do Bộ Quốc phòng quy định
+ Về cơ cấu và chức năng của cán bộ quân sự cơ sở, phân đội:
Cơ cấu biên chế ban chỉ huy quân sự được tổ chức ở xã, phường, thị trấn, các doanh nghiệp của địa phương và các ngành của nhà nước gồm 3 người: chỉ huy trưởng, chính trị viên và phó chỉ huy trưởng Ban chỉ huy quân sự cơ
sở chịu trách nhiệm làm tham mưu giúp cấp uỷ, chính quyền cấp mình tổ chức triển khai công tác hoạt động dân quân tự vệ Cấp xã, phường, thị trấn chỉ huy trưởng là thành viên uỷ ban nhân dân, là đảng viên, thường nằm trong
cơ cấu cấp uỷ địa phương Các cơ sở khác, chỉ huy trưởng có thể kiêm nhiệm hoặc không kiêm nhiệm Bí thư đảng uỷ, Bí thư chi bộ các cơ sở kiêm chính trị viên chịu trách nhiệm về công tác đảng, công tác chính trị trong dân quân
tự vệ Phó chỉ huy trưởng ở xã phường là cán bộ chuyên trách, các phó chỉ huy cơ sở còn lại là chuyên trách hoặc kiêm nhiệm Xã đội trưởng, chính trị viên xã đội, xã đội phó và tương đương do chủ tịch uỷ ban nhân dân cấp huyện bổ nhiệm theo đề nghị của uỷ ban nhân dân cấp xã sau khi đã thống nhất với huyện đội trưởng Thôn đội trưởng, trung đội trưởng, tiểu đội trưởng
Trang 17và khẩu đội trưởng dân quân tự vệ do Huyện đội trưởng bổ nhiệm theo đề
nghị của của xã đội trưởng Cơ cấu cán bộ tiểu đoàn, đại đội, gồm chỉ huy
trưởng, chính trị viên, phó chỉ huy trưởng Cấp trung đội, tiểu đội và tương đương có một cấp trưởng, một cấp phó
+ Về vũ khí, trang bị của dân quân tự vệ:
Vũ khí, trang bị cho dân quân tự vệ từ các nguồn do Bộ Quốc phòng cấp, các địa phương tự chế tạo hoặc thu được của địch Song, dù từ nguồn nào, vũ khí trang bị đó cũng đều là tài sản của nhà nước giao cho dân quân tự vệ quản
lí Do vậy, phải được đăng kí, quản lí, bảo quản chặt chẽ ; sử dụng đúng mục đích và đúng quy định của pháp luật
- Giáo dục chính trị, huấn luyện quân sự đối với dân quân tự vệ
+ Giáo dục chính trị: Giáo dục chính trị cho lực lượng dân quân tự vệ là
một nội dung quan trọng hàng đầu, nhằm làm cho dân quân tự vệ nâng cao nhận thức về chính trị, lập trường tư tưởng vững vàng, đạo đức cách mạng trong sáng Trên cơ sở đó phát huy tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng hoàn thành nhiệm vụ, bảo vệ quê hương, làng xóm, địa phương, đơn vị mình
Nội dung giáo dục cần tập trung không ngừng tăng cường bản chất cách mạng và ý thức giác ngộ giai cấp cho cán bộ, chiến sĩ dân quân tự vệ, trên cơ
sở đó, thường xuyên nâng cao cảnh giác cách mạng, nhận rõ bản chất, âm mưu thủ đoạn của kẻ thù Giáo dục truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa ; mục tiêu lí tưởng của Đảng; con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà đảng và nhân dân ta lựa chọn; quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhiệm vụ củng cố quốc phòng - an ninh, chống “Diễn biến hoà bình” bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch : công tác quốc phòng địa phương, xây dựng lực lượng nhân dân Một số nội dung cơ bản về Hiến pháp, pháp luật, Pháp lệnh về dân quân tự vệ, nội dung phương pháp tiến hành vận động quần chúng,
Trang 18+ Huấn luyện quân sự: Hằng năm, lực lượng dân quân tự vệ được huấn
luyện theo nội dung, chương trình do Bộ Quốc phòng quy định, nội dung huấn luyện phải phù hợp và sát với cơ sở do chỉ huy quân sự địa phương các cấp xác định cụ thể Huấn luyện toàn diện cả chiến thuật, kĩ thuật, cả bộ binh
và các binh chủng, chuyên môn kĩ thuật, Thời gian huấn luyện theo quy định của pháp lệnh
1.1.2 Nội dung pháp luật dân quân tự vệ
Luật DQTV được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
(Khóa XII) thông qua tại kỳ họp thứ 6 ngày 23/11/2009 và được Chủ tịch nước ký Lệnh số 20/2009/L-CTN ngày 04/12/2009 công bố Luật DQTV Luật DQTV gồm 9 chương, 66 điều Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2010 Luật Dân quân tự vệ quy định nhiều nội dung quan trọng như: Nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; tổ chức, nhiệm vụ, hoạt động của dân quân tự vệ; chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ và trách nhiệm quản lý nhà nước về dân quân tự vệ
Trong quản lý Nhà nước về DQTV, Luật xác định rõ trách nhiệm của UBND các cấp và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, cụ thể là:
UBND các cấp có trách nhiệm trình HĐND cùng cấp phê chuẩn, quyết định quy hoạch, kế hoạch, đề án tổ chức, hoạt động, chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ và dự toán thu, chi ngân sách bảo đảm cho dân quân tự vệ; chỉ đạo và tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về dân quân tự vệ ở địa phương; ban hành văn bản chỉ đạo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ theo thẩm quyền; chỉ đạo việc tổ chức, đào tạo, huấn luyện, hoạt động của dân quân tự vệ; thi hành các biện pháp huy động, sử dụng dân quân tự vệ thực hiện nhiệm vụ; chỉ đạo việc quản lý và kiểm tra vận chuyển, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ của dân quân tự vệ; bảo đảm hậu cần, tài chính, thực hiện chế độ, chính sách cho dân quân tự vệ theo quy định của pháp luật; tổ chức thực hiện
Trang 19quyết định mở rộng lực lượng dân quân tự vệ của cấp có thẩm quyền; phối hợp với thanh tra quốc phòng thanh tra việc thực hiện pháp luật về dân quân
tự vệ; kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về dân quân tự vệ; tổ chức sơ kết, tổng kết và thực hiện việc thi đua, khen thưởng về công tác dân quân tự vệ
Đối với người đứng đầu cơ quan, tổ chức, có trách nhiệm:Tổ chức thực hiện sự chỉ đạo của cấp có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về dân quân tự vệ; chỉ đạo xây dựng và thực hiện kế hoạch tổ chức, huấn luyện, hoạt động của đơn vị tự vệ nòng cốt thuộc quyền theo sự chỉ đạo, hướng dẫn của
cơ quan quân sự địa phương; bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho việc thực hiện nhiệm vụ tổ chức, huấn luyện, hoạt động của tự vệ nòng cốt thuộc cơ quan, tổ chức; tổ chức thực hiện quyết định mở rộng lực lượng dân quân tự vệ của cấp có thẩm quyền; phối hợp với thanh tra quốc phòng thanh tra việc thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ; kiểm tra, sơ kết, tổng kết
và thực hiện việc thi đua, khen thưởng về công tác dân quân tự vệ thuộc cơ quan, tổ chức; phối hợp với cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương trong việc
tổ chức, huấn luyện, hoạt động và bảo đảm chế độ, chính sách cho dân quân
tự vệ
Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, trong đó có lực lượng DQTV
là một nội dung quan trọng trong đường lối quân sự của Đảng Quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm túc Luật DQTV và các văn bản hướng dẫn thi hành (đến thời điểm hiện nay, Chính phủ đã ban hành 2 Nghị định, Bộ quốc phòng và các Bộ liên quan đã ban hành hơn 20 Thông tư, Quyết định hướng dẫn thực hiện) sẽ góp phần tăng cường hiệu lực quản lý của chính quyền, bảo đảm an ninh chính trị, an toàn xã hội ở địa phương, cơ sở
Thành phần của DQTV: gồm DQTV nòng cốt và DQTV rộng rãi
- DQTV nòng cốt: là lực lượng gồm những công dân trong độ tuổi thực
Trang 20hiện nghĩa vụ tham gia DQTV, được tuyển chọn vào phục vụ có thời hạn trong các đơn vị DQTV Bao gồm:
+ DQTV cơ động: là lực lượng được tổ chức thành các đơn vị sẵn sàng
cơ động làm nhiệm vụ trên các địa bàn khi có lệnh của cấp có thầm quyền;
+ DQTV tại chỗ: là lực lượng được tổ chức và hoạt động ở thôn, ấp, bản, buôn, phum, sóc, khóm, tổ dân phố (sau đây gọi chung là thôn) và ở cơ quan, tổ chức làm nhiệm vụ tại chỗ, sẵn sàng tăng cường cho DQTV cơ động;
+ DQTV biển: là lực lượng được tổ chức ở cấp xã ven biển, xã đảo và
cơ quan, tổ chức có phương tiện hoạt động trên biển để làm nhiệm vụ trên các vùng biển Việt Nam;
+ DQTV phòng không, pháo binh, công binh, trinh sát, thông tin, phòng hóa, y tế: là lực lượng thuộc DQTV nòng cốt đảm nhệm công tác chuyên môn, chuyên ngành theo quy định
- DQTV rộng rãi: là lực lượng gồm những công dân trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV đã được đăng ký, quản lý để sẵn sàng mở rộng lực lượng và huy động khi có lệnh của cấp có thẩm quyền
Ngày 28/3 hàng năm là ngày truyền thống của lực lượng DQTV
a/ Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của dân quân tự vệ
Tổ chức và hoạt động của DQTV theo 3 nguyên tắc cơ bản sau:
- DQTV đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự quản lý điều hành của Chính phủ mà trực tiếp là sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương các cấp; sự chỉ huy thống nhất của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và sự chỉ huy trực tiếp của chỉ huy trưởng cơ quan quân sự địa phương
- Tổ chức và hoạt động của DQTV phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; dựa vào dân, phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân và hệ thống chính trị để thực hiện nhiệm vụ
Trang 21- Tổ chức, biên chế của DQTV phải căn cứ vào yêu cầu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, gắn với địa bàn và nhiệm vụ của đơn vị sản xuất, công tác, bảo đảm thuận tiện cho chỉ đạo, quản lý, chỉ huy và phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của từng địa phương
b/ Nhiệm vụ của dân quân tự vệ
Dân quân tự vệ có các nhiệm vụ:
- Sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu và phục vụ chiến đấu để bảo vệ địa phương, cơ sở; phối hợp với các đơn vị Bộ đội Biên phòng, Hải quân, Cảnh sát biển và lực lượng khác bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới quốc gia và chủ quyền, quyền chủ quyền trên các vùng biển Việt Nam
- Phối hợp với các đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và lực lượng khác trên địa bàn tham gia xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ; giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ Đảng, chính quyền, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, của Nhà nước
- Thực hiện nhiệm vụ phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh, tìm kiếm, cứu nạn, bảo vệ và phòng, chống cháy rừng, bảo vệ môi trường và nhiệm vụ phòng thủ dân sự khác
- Tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng, an ninh; tham gia xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện, xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương, cơ sở
- Học tập chính trị, pháp luật, huấn luyện quân sự và diễn tập
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật
c/ Độ tuổi, thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trong thời bình Tiêu chuẩn và tuyển chọn vào DQTV nòng cốt
Độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trong thời bình là: công dân nam từ đủ 18 tuổi đến hết 45 tuổi, công dân nữ từ đủ 18 tuổi đến hết 40
Trang 22tuổi có nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; nếu tình nguyện tham gia dân quân
tự vệ thì có thể đến 50 tuổi đối với nam và đến 45 tuổi đối với nữ
Thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV trong thời bình là:
- Thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV nòng cốt là 4 năm
- Căn cứ tình hình thực tế, tính chất nhiệm vụ và yêu cầu công tác, thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV nòng cốt có thể được kéo dài đối với dân quân không quá 2 năm, đối với tự vệ và chỉ huy đơn vị DQTV có thể kéo dài hơn nhưng không quá độ tuổi quy định của Luật DQTV
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định kéo dài thời hạn thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV nòng cốt theo quy định của Luật DQTV
- Công dân hoàn thành nghĩa vụ tham gia DQTV nòng cốt được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, người đứng đầu cơ quan, tổ chức cấp Giấy chứng nhận hoàn thành nghĩa vụ tham gia DQTV nòng cốt
- Công dân đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia DQTV nòng cốt, nhưng còn trong độ tuổi quy định của Luật DQTV thì chuyển sang DQTV rộng rãi hoặc được đăng ký vào quân nhân dự bị theo quy định của pháp luật
Tiêu chuẩn vào DQTV nòng cốt là:
- Lý lịch rõ ràng;
- Chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
- Đủ sức khỏe thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV
Tuyển chọn vào DQTV nòng cốt phải:
- Bảo đảm công khai, dân chủ, công bằng;
- Hàng năm BCH quân sự huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh chỉ đạo và hướng dẫn BCH quân sự cấp xã, BCH quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ
sở hoặc đơn vị tự vệ nơi không có BCH quân sự lập kế hoạch và thực hiện
Trang 23tuyển chọn công dân đủ tiêu chuẩn vào DQTV nòng cốt phù hợp với tình hình địa bàn, dân cư, điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu nhiệm vụ quốc phòng,
an ninh ở địa phương, cơ sở
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức quyết định danh sách DQTV nòng cốt
d/ Những chế độ, chính sách chung đối với dân quân tự vệ
DQTV được hưởng chế độ, chính sách trong trường hợp:
- Khi được huy động làm nhiệm vụ;
- Thực hiện quyết định điều động của cấp có thẩm quyền
Chế độ, chính sách đối với DQTV được quy định như sau:
- Đối với dân quân (trừ dân quân biển và dân quân thường trực)
được hưởng:
+ Trợ cấp ngày công lao động theo mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định, nhưng không thấp hơn hệ số 0,08 mức lương tối thiểu chung; nếu làm nhiệm vụ từ 22 giờ đến 06 giờ hoặc ở nơi có yếu tố nguy hiểm, độc hại thì được hưởng chế độ theo quy định của Bộ luật Lao động
+ Khi làm nhiệm vụ cách xa nơi cư trú, không có điều kiện đi, về hàng ngày thì được bố trí nơi nghỉ, hỗ trợ phương tiện, chi phí đi lại hoặc thanh toán tiền tàu, xe một lần đi, về; được hỗ trợ tiền ăn theo mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định
- Tự vệ (trừ tự vệ biển) được trả nguyên lương, các khoản phúc lợi, phụ
cấp đi đường và tiền tàu, xe theo chế độ hiện hành
- Cấp quyết định điều động DQTV làm nhiệm vụ thì bảo đảm chế độ,
chính sách quy định của Luật DQTV
- Dân quân nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia DQTV, nếu tiếp
tục được kéo dài thời hạn tham gia thực hiện nghĩa vụ thì ngoài chế độ theo
Trang 24quy định chung, khi được huy động làm nhiệm vụ được hưởng trợ cấp ngày công lao động tăng thêm Mức trợ cấp tăng thêm, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định nhưng không thấp hơn hệ
số 0,04 mức lương tối thiểu chung
e/ Chế độ, chính sách đối với DQTV biển, DQTV thường trực được quy định như sau
Chế độ, chính sách đối với DQTV biển được quy định:
DQTV biển khi huấn luyện, làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự, tìm
kiếm cứu nạn trên biển được hưởng các chế độ, chính sách sau đây:
- Dân quân được trợ cấp ngày công lao động, mức trợ cấp không thấp hơn hệ số 0,12 mức lương tối thiểu chung; được hỗ trợ tiền ăn như chiến sỹ hải quân trên tàu cấp một neo đậu tai căn cứ;
- Tự vệ được trả nguyên lương, các khoản phúc lợi, phụ cấp tiền tàu, xe theo chế độ hiện hành
DQTV biển trong thời gian làm nhiệm vụ tham gia bảo vệ chủ quyền trên
các vùng biển, đảo được hưởng các chế độ, chính sách do Chính phủ quy định
Chế độ, chính sách đối với DQTV thường trực được quy định:
- DQTV thường trực được trợ cấp ngày công lao động không thấp hơn
hệ số 0,08 mức lương tối thiểu chung, được bố trí nơi ăn nghỉ
- Dân quân nòng cốt đã hoàn thành nghĩa vụ tham gia DQTV, trong đó
ít nhất 12 tháng làm nhiệm vụ dân quân thường trực thì được miễn thực hiện nghĩa vụ quân sự tại ngũ và được hỗ trợ như sau:
+ 01 tháng lương tối thiểu chung đối với trường hợp có từ đủ 12 tháng đến dưới 18 tháng;
+ 02 tháng lương tối thiểu chung đối với trường hợp có từ đủ 18 tháng đến dưới 24 tháng;
+ 03 tháng lương tối thiểu chung đối với trường hợp có từ đủ 24
Trang 25tháng trở lên
g/ Chế độ, chính sách đối với DQTV bị ốm, bị tai nạn, bị chết, bị thương,
hy sinh
Chế độ, chính sách đối với DQTV bị ốm, bị tai nạn, bị chết, bị thương,
hy sinh được quy định:
- Cán bộ, chiến sỹ DQTV bị ốm, bị tai nạn, bị thương trong khi thực hiện nhiệm vụ theo quy định của Luật Dân quân tự vệ, nếu chưa tham gia bảo hiểm y tế thì được thanh toán tiền khám bệnh, chữa bệnh Trường hợp làm nhiệm vụ quy định tại khoản 4, 5, 6 - Điều 8 - Luật Dân quân tự vệ, nếu bị tai nạn làm giảm khả năng lao động theo kết luận của Hội đồng giám định y khoa thì được xét trợ cấp tùy theo mức độ suy giảm khả năng lao động; nếu bị chết thì được hưởng chế độ tiền tuất, tiền mai táng phí
- Cán bộ, chiến sỹ DQTV làm nhiệm vụ quy định tại khoản 1, 2, 3 - Điều
8 - Luật Dân quân tự vệ và thực hiện quyết định điều động của cấp có thẩm quyền theo quy định của Luật DQTV, nếu bị thương thì được xét hưởng chính sách như thương binh; nếu hy sinh được xét công nhận là liệt sỹ theo quy định của pháp luật
- Chính phủ quy định điều kiện, thủ tục, hồ sơ, kinh phí và cơ quan chịu trách nhiệm bảo đảm chế độ, chính sách cho cán bộ, chiến sỹ DQTV
h/ Khen thưởng đối với DQTV được quy định như sau
Luật DQTV quy định:
- Cán bộ, chiến sỹ DQTV có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ; cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích trong tổ chức và hoạt động của DQTV thì được khen thưởng theo quy định của pháp luật vewè thi đua, khen thưởng
- Cơ quan quân sự cáccâp, Ban CHQS cấp xã, Ban CHQS cơ quan, tổ chức ở cơ sở, Ban CHQS bộ, ngành trung ương chủ trì, phối hợp với cơ quan thi, khen thưởng cùng cấp tổ chức thực hiện công tác thi đua, khen thưởng trong
Trang 26DQTV dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền địa phương hoặc người đứng đầu cơ quan, tổ chức và sự chỉ đạo, quản lý của cơ quan quân
sự cấp trên
- Tổ chức phong trào thi đua quyết thắng trong DQTV gắn với phong trào thi đua của địa phương, cơ quan, tổ chức
- Bộ trưởng Bộ Quốc phòng chủ trì phối hợp với Bộ trưởng Bộ Nội
vụ hướng dẫn công tác thi đua, khen thưởng trong DQTV theo quy định của pháp luật
k/ Xử lý DQTV vi phạm được quy định như sau
Các quy định về xử lý DQTV vi phạm như sau:
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi chống đối, cản trở việc tổ chức, hoạt động của DQTV, vi phạm các quy định khác của pháp luật về DQTV thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự
- Cán bộ, chiến sĩ DQTV khi làm nhiệm vụ vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ lật, xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
- DQTV nòng cốt tạm thời không được thực hiện nghĩa vụ tham gia DQTV khi bị khởi tố, tạm giữ, tạm giam; nếu bị phạt tù thì đương nhiên
bị tước danh hiệu DQTV nòng cốt kể từ ngày bản án của tòa có hiệu lực pháp luật
l/ Các hình thức kỷ luật đối với DQTV
Hình thức xử lý kỷ luật đối với DQTV như sau:
- Đối với chiến sĩ DQTV, khi làm nhiệm vụ nếu vi phạm quy định của Luật DQTV hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan thì áp dụng một trong các hình thức kỷ luật sau:
Trang 27+ Khiển trách;
+ Cảnh cáo;
+ Tước danh hiệu DQTV nòng cốt
- Đối với cán bộ DQTV, khi làm nhiệm vụ nếu vi phạm quy định của Luật DQTV hoặc quy định khác của pháp luật có liên quan thì áp dụng một trong các hình thức kỷ luật sau:
+ Khiển trách;
+ Cảnh cáo;
1.2 Khái niệm, hình thức và nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ
1.2.1 Khái niệm tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ
Chúng ta đều biết nhà nước đặt ra pháp luật là để điều chỉnh các quan hệ
xã hội theo chiều hướng mà nó mong muốn Theo đó, việc thực hiện pháp luật
là hoạt động không thể thiếu kể từ khi pháp luật xuất hiện Thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ trước hết là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, thể hiện bằng hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật Đây là giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật Tuy nhiên, thực hiện pháp luật về dân quân
tự vệ do nhiều chủ thể khác nhau thì sẽ tiến hành với nhiều cách thức khác nhau, vì thế, bằng cách quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý cho các chủ thể
Trang 28tham gia vào một quan hệ xã hội nhất định, nhà nước có thể tác động lên các quan hệ xã hội, điều chỉnh chúng theo chiều hướng nhà nước mong muốn Do
đó, pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi hay xử sự của con người mà không thể điều chỉnh suy nghĩ hay tư tưởng của họ, bởi vì, không ai có thể “đọc” được hay dự đoán được chính xác ý nghĩ của người khác khi nó đang tồn tại trong đầu họ, tức là khi nó chưa được thể hiện ra bên ngoài thành những hành vi hay xử sự cụ thể để mà điều chỉnh Vì lý do này mà chỉ có thể căn cứ vào hành vi xác định hay xử sự thực tế của một chủ thể nào đó rồi đối chiếu với các quy định cụ thể của pháp luật mà ta có thể xác định được là họ có thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ hay không hay không
Khái niệm: tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy định của pháp luật về dân quân
tự vệ đi vào thực tiễn cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật
1.2.2 Các hình thức tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ
- Tuân theo (tuân thủ) pháp luật về dân quân tự vệ : Là hình thức thực hiện pháp luật về dân quan tự vệ trong đó các chủ thể kiềm chế, giữ mình để không thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm Ví dụ: chủ thể chốn không tham gia lực lượng dân quân tự vệ ở cơ quan tổ chức khi có yêu cầu Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật cấm đoán trong thực tế và là hình thức thực hiện pháp luật bằng không hành động
- Thi hành (chấp hành) pháp luật về dân quân tự vệ: Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó các chủ thể thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình bằng hành động tích cực Ví dụ, Thanh niên trong độ tuổi thực hiện nghĩa vụ tham gia lực lượng tự vệ cơ quan hàng năm Đây là hình thức thực hiện các quy phạm pháp luật bắt buộc trong thực tế và là hình thức thực hiện pháp luật bằng hành động
Trang 29- Sử dụng (vận dụng) pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật trong
đó các chủ thể thực hiện quyền chủ thể của mình, tức là thực hiện những hành
vi mà pháp luật cho phép Đây là hình thức thực hiện các quy phạm cho phép,
vì vậy, chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền của mình,
- Áp dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật trong đó nhà nước (thông qua các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền) tổ chức cho các chủ thể khác thực hiện các quy định của pháp luật Như vậy, áp dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật có sự can thiệp của nhà nước hay là hình thức thực hiện pháp luật của các cơ quan, tổ chức và nhân viên nhà nước Trong bốn hình thức thực hiện pháp luật chỉ có hình thức này là luôn luôn có
sự hiện diện của nhà nước thông qua các chủ thể có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
1.2.3 Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ
Nội dung tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ được quy định ở Nghị định số 03/2016/NĐ-CP ngày 05 tháng 01 năm 2016 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Dân quân tự vệ
Nghị định gồm 27 điều, quy định chi tiết, biện pháp thi hành một số điều của Luật Dân quân tự vệ về: Tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp; số lượng Chỉ huy phó Ban chỉ huy quân sự cấp xã; nhiệm vụ, quyền hạn, cơ chế phối hợp hoạt động của Ban chỉ huy quân sự Bộ, ngành Trung ương; con dấu của Ban chỉ huy quân sự xã, phường, thị trấn, Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, Ban chỉ huy quân sự Bộ, ngành Trung ương; nguồn kinh phí; cấp xã trọng điểm về quốc phòng, an ninh; điều kiện thành lập Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở; phân cấp quản lý Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, đơn vị dân quân tự vệ; chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ; hỗ trợ phương tiện, kinh phí đi lại cho dân quân tự
vệ khi thực hiện nhiệm vụ
Trang 30Nghị định áp dụng đối với công dân Việt Nam, cơ quan của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp của Việt Nam; cá nhân, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cư trú và hoạt động tại Việt Nam liên quan đến dân quân tự vệ
Nghị định quy định cụ thể về quyết định công dân thực hiện nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; quyết định công dân hoàn thành nghĩa vụ tham gia dân quân tự vệ; giấy phép sử dụng vũ khí, công cụ hỗ trợ của dân quân tự vệ; điều kiện tổ chức tự vệ trong doanh nghiệp; trình tự, thủ tục thành lập đơn vị
tự vệ trong doanh nghiệp; thẩm quyền thành lập, giải thể đơn vị tự vệ trong doanh nghiệp; điều kiện thành lập Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở; xã, phường, thị trấn trọng điểm về quốc phòng, an ninh; số lượng Chỉ huy phó Ban chỉ huy quân sự cấp xã; nhiệm vụ, quyền hạn của Ban chỉ huy quân
sự Bộ, ngành Trung ương; cơ chế hoạt động của Ban chỉ huy quân sự Bộ, ngành Trung ương; phân cấp quản lý Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở
cơ sở, đơn vị dân quân tự vệ; con dấu của Ban chỉ huy quân sự; trang phục, sao mũ, phù hiệu của dân quân tự vệ; tiêu chuẩn, định mức trang thiết bị nơi làm việc của Ban chỉ huy quân sự cấp xã; phụ cấp trách nhiệm quản lý, chỉ huy đơn vị; chế độ phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền ăn, công tác phí, trợ cấp của Chỉ huy phó Ban chỉ huy quân sự cấp xã; phụ cấp của Thôn đội trưởng; hỗ trợ phương tiện, chi phí đi lại cho dân quân tự vệ; chế độ phụ cấp thâm niên, phụ cấp đặc thù quốc phòng, quân sự; chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ làm nhiệm vụ tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo; chế độ, chính sách đối với dân quân chưa tham gia bảo hiểm
y tế, bảo hiểm xã hội khi thực hiện nhiệm vụ bị ốm, bị chết; chế độ, chính sách đối với dân quân chưa tham gia bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội khi thực hiện nhiệm vụ bị tai nạn, bị chết; chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ bị
Trang 31chết, hy sinh, bị thương; chế độ báo, tạp chí; nguồn kinh phí chi cho dân quân
tự vệ; hiệu lực và trách nhiệm thi hành
Theo Nghị định, mức phụ cấp trách nhiệm quản lý, chỉ huy đơn vị dân quân tự vệ được tính và chi trả theo tháng, bằng mức lương cơ sở nhân với hệ
số quy định cụ thể: Tiểu đội trưởng, Khẩu đội trưởng: 0,10; Trung đội trưởng, Thôn đội trưởng: 0,12; Đại đội phó, Chính trị viên phó đại đội, Hải đội phó, Chính trị viên phó hải đội: 0,15; Đại đội trưởng, Chính trị viên đại đội, Hải đội trưởng, Chính trị viên hải đội, Trung đội trưởng dân quân cơ động: 0,20; Tiểu đoàn phó, Chính trị viên phó tiểu đoàn, Hải đoàn phó, Chính trị viên phó hải đoàn: 0,21; Tiểu đoàn trưởng, Chính trị viên tiểu đoàn, Hải đoàn trưởng, Chính trị viên hải đoàn, Chỉ huy phó, chính trị viên phó Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Chỉ huy phó, Chính trị viên phó Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức
ở cơ sở: 0,22; Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Ban chỉ huy quân sự cấp xã, Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Ban chỉ huy quân sự cơ quan, tổ chức ở cơ sở, Chỉ huy phó, Chính trị viên phó Ban chỉ huy quân sự Bộ, ngành Trung ương: 0,24; Chỉ huy trưởng, Chính trị viên Ban chỉ huy quân sự Bộ, ngành Trung ương: 0,25
Thời gian được hưởng phụ cấp trách nhiệm tính từ ngày có quyết định bổ nhiệm và thực hiện cho đến khi có quyết định thôi giữ chức vụ đó; trường hợp giữ chức vụ từ 15 ngày trở lên trong tháng thì được hưởng phụ cấp cả tháng, giữ chức vụ dưới 15 ngày trong tháng thì được hưởng 50% phụ cấp trách nhiệm của tháng đó
Nghị định cũng quy định chế độ phụ cấp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tiền ăn, công tác phí, trợ cấp của Chỉ huy phó Ban chỉ huy quân sự cấp xã; phụ cấp của Thôn đội trưởng; hỗ trợ phương tiện, chi phí đi lại cho dân quân
tự vệ; chế độ phụ cấp thâm niên; chế độ phụ cấp đặc thù quốc phòng, quân sự;
Trang 32chế độ, chính sách đối với dân quân tự vệ làm nhiệm vụ tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo
Nghị định nêu rõ, dân quân tự vệ trong thời gian làm nhiệm vụ tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền biển, đảo của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quyết định điều động của cấp có thẩm quyền được hưởng các chế độ, chính sách
Cụ thể, đối với dân quân được trợ cấp ngày công lao động, mức trợ cấp bằng hệ số 0,25 mức lương cơ sở; được hưởng tiêu chuẩn tiền ăn mỗi người mỗi ngày bằng 0,1 mức lương cơ sở Đối với thuyền trưởng, máy trưởng được trợ cấp thêm một khoản phụ cấp trách nhiệm mỗi người mỗi ngày bằng 0,08 mức lương cơ sở
Đối với tự vệ được trả nguyên lương, các khoản phụ cấp hiện hưởng, phúc lợi theo chế độ hiện hành và được hưởng thêm 50% lương ngạch bậc tính theo ngày thực tế huy động; được hưởng tiêu chuẩn tiền ăn mỗi người mỗi ngày bằng 0,1 mức lương cơ sở; nếu mức thực tế thấp hơn quy định trên thì được áp dụng chính sách như đối với dân quân
Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định cán bộ chiến sĩ dân quân tự vệ nếu bị chết, hy sinh, bị thương trong khi làm nhiệm vụ được xem xét, xác nhận là liệt sĩ, thương binh, người hưởng chính sách như thương binh theo quy định tại Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ
Qua thực tiễn tình hình thực hiện pháp luật dân quân tự vệ ở nước ta cho thấy hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ ở nước ta hiện nay phụ thuộc vào rất nhiều nhân tố, trong đó, chủ yếu là trình độ kiến thức, hiểu biết pháp luật của các chủ thể pháp luật; công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật (đối với đại bộ phận nhân dân, vai trò quan trọng
Trang 33nhất thuộc về các phương tiện truyền thông); vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong hoạt động thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ
Thứ nhất, ý thức pháp luật về dân quân tự vệ
“Ý thức pháp luật là toàn bộ các học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật, trình độ hiểu biết pháp luật, thái độ, sự đánh giá về pháp luật của các gia cấp, các tầng lớp xã hội, về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi ứng xử của con người, trong tổ chức và hoạt động của các tổ chức và hoạt động của các thiết chế xã hội”
Ý thức pháp luật thể hiện ở trình độ nhận thức, hiểu biết về pháp luật, tình cảm, thái độ của con người đối với pháp luật, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội dưới môi trường điều chỉnh của pháp luật Qua đó, có thể thấy rằng ý thức pháp luật là
cơ sở, nền tảng, định hướng và điều tiết hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể; đồng thời là tiền đề để hình thành thói quen “sống và làm việc theo pháp luật” trong xã hội
Trong tiến trình phát triển hàng ngàn năm của lịch sử loài người, ta thấy các tầng lớp xã hội sẽ không thể thực hiện pháp luật một cách nghiêm túc, đúng đắn nếu thiếu kiến thức, hiểu biết pháp luật Tính chất đúng hay sai, mức độ sâu sắc hay hời hợt trong suy nghĩ, tình cảm đối với các vấn đề pháp luật cũng phụ thuộc vào trình độ tri thức, hiểu biết pháp luật của công chúng Nếu đa số người dân có một trình độ hiểu biết nhất định về pháp luật thì họ sẽ tích cưc tham gia các sự kiện pháp lý đang diễn ra dựa trên các chuẩn mực pháp luật từ đó sẽ thực hiện pháp luật đúng đắn, hợp lý Khi các tầng lớp nhân dân có một trình độ hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật ở một mức độ nhất định thì đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, các ngành, nhất là cán bộ, công
Trang 34chức làm công tác thực thi, bảo vệ pháp luật, buộc cũng phải nâng cao trình
độ hiểu biết pháp luật của chính mình, tức là họ cần có ý thức pháp luật ở một trình độ cao hơn Bên cạnh những mặt tích cực của hoạt động thực hiện pháp luật, vẫn còn tồn tại những hạn chế nhất định Đó là vấn đề người dân thiếu kiến thức, hiểu biết về pháp luật dẫn đến việc thực hiện pháp luật một cách thụ động Thực tế chỉ ra rằng, khi người dân thiếu kiến thức, hiểu biết pháp luật và ý thức chấp hành kém thì dễ dẫn đến các hành vi sai lệch, phạm pháp, phạm tội Điều đó có ảnh hưởng tiêu cực tới ý thức pháp luật và việc thực hiện pháp luật của những người khác, vì họ rất dễ bị phản ứng dây chuyền theo cơ chế lây lan tâm lý Do đó, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho các tầng lớp nhân dân, trang bị cho người dân những kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật là một việc rất cần thiết và cấp bách
Trong công cuộc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiện nay, mọi công dân trong xã hội đều phải sống và làm việc theo pháp luật Đặc biệt là đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, nếu thiếu ý thức pháp luật ở trình
độ cao thì không thể hoàn thành tốt nhiệm vụ thực hiện và áp dụng pháp luật của mình trong quá trình giải quyết các công việc liên quan đến lợi ích của người dân Sống và làm việc theo pháp luật là nghĩa vụ, là trách nhiệm của mỗi công dân Bên cạnh việc nâng cao trình độ tri thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công chức các cấp, các ngành, chúng ta cũng cần quan tâm đúng mức tới công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho các tầng lớp nhân dân, trang
bị cho người dân những kiến thức, hiểu biết nhất định về pháp luật Từ đó tạo thành thói quen “sống và làm việc theo pháp luật” trong hành vi của các chủ thể pháp luật và hoạt động thực hiện pháp luật sẽ đạt được hiệu quả
Thứ hai, vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng đối với công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về dân quân tự vệ cho các tầng lớp nhân dân
Trang 35Để nâng cao ý thức pháp luật cho các đối tượng, chủ thể khác nhau, trước hết cần phải đẩy mạnh công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho họ bằng nhiều hình thức khác nhau Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật là sự tác động chủ động, tích cực của chủ thể giáo dục lên đối tượng giáo dục nhằm mục đích cung cấp, trang bị kiến thức pháp luật, hình thành tình cảm, thái độ tích cực đối với pháp luật, tạo lập thói quen tuân thủ, chấp hành và sử dụng pháp luật cho các đối tượng xã hội
Điều đó được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 61/2007/NQ- CP ngày 07/12/2007 của Chính phủ về việc tiếp tục thực hiện chỉ thị số 32- CT/TW của Ban bí thư Trung ương Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân “Sử dụng, khai thác và vận dung linh hoạt các hình thức, phương pháp phổ biến, giáo dục pháp luật đảm bảo tính phù hợp giữa phổ biến, giáo dục pháp luật với tư vấn pháp luật, trợ giúp, hòa giải cơ sở, giải quyết tranh chấp” Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng công tác phổ biến, tuyên truyền và giáo dục pháp luật “Triển khai mạnh mẽ công tác tuyên truyền và giáo dục pháp luật, huy động các lực lượng đoàn thể, chính trị, xã hội, nghề nghiệp, các phương tiện thông tin đại chúng tham gia các đợt vận động thiết lập trật tự, kỷ cương và các hoạt động thường xuyên, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật trong các cơ quan nhà nước và xã hội” Cùng với các phương tiện thông tin đại chúng có thể đưa đến cho đông đảo công chúng các thông tin, kiến thức pháp luật một cách nhanh chóng nhất, cập nhật nhất, rộng rãi nhất và phù hợp nhất với nhiều đối tượng xã hội
Ở nước ta hiện nay, đã có đủ các loại hình là báo in, báo nói, báo hình và báo điện tử ( trên mạng internet) Với thống kê của các nhà nghiên cứu thì các phương tiện thông tin đại chúng đã và đang phát triển rộng khắp trên cả nước:
553 cơ quan báo chí, hàng trăm đài phát thanh, truyền hình ph Với lực lượng
Trang 36hùng hát triển nhanh chóng, tăng trưởng viễn thông Internet thuộc loại cao trên thế giới với tốc độ bình quân là 32,5%/năm Với sự lớn mạnh đó, trước hết các phương tiện thông tin đại chúng cần làm tốt vai trò cung cấp thông tin đầy đủ và đa dạng hơn về các sự việc, sự kiện, hiện tượng pháp lí xảy ra trong đời sống pháp luật ở các địa phương cũng như trên cả nước; cung cấp những tri thức pháp luật cần thiết cho các tầng lớp nhân dân; tuyên truyền cho các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; biểu dương những tấm gương “người tốt, việc tốt” trong công tác triển khai thực hiện pháp luật và áp dụng pháp luật; phê phán và lên án những hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật
Các phương tiện thông tin đại chúng cần dành thời lượng nhiều hơn cho việc đăng tải những thông tin về các văn bản, chính sách pháp luật mới của Nhà nước và của chính quyền các cấp một cách đầy đủ và chi tiết Cần mở thêm các chuyên mục mới về phổ biến, giáo dục pháp luật với thời lượng dài hơn, thông tin đa dạng, phong phú hơn và hình thức thể hiện hấp dẫn hơn Các báo nói và báo hình cần chú ý đến khung giờ phát song các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sao cho phù hợp với các nhóm đối tượng xã hội khác nhau Các phương tiện thông tin đại chúng cũng cần dành một thời lượng thích đáng cho việc đăng tải, phát sóng các thông tin về đời sống pháp luật đã được kiểm chứng chính thức và mang tính xây dựng Đặc biệt, khi có các sự việc, sự kiện, hiện tượng pháp luật diễn ra có tầm quan trọng liên quan đến lợi ích của đất nước, của dân tộc, động chạm đến các giá trị, chuẩn mực, pháp luật cơ bản như: Đường lối đối nội, đối ngoại, sửa đổi Hiến pháp, xây dựng và ban hành các bộ luật cơ bản, các vụ án đặc biệt nghiêm trọng xảy ra, các hành vi tiêu cực,…Khi đó, định hướng thông tin của báo chí chính là phải kịp thời đưa ra đường lối, quan điểm chính thống của Đảng và Nhà nước, ý kiến kết luận chính thức của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Trang 37Các phương tiện thông tin đại chúng cung cấp thông tin phải đi liền với việc tuân thủ nguyên tắc tính chân thật, phản ánh đúng bản chất của vấn đề: khen ngợi biểu dương mà không tô hồng; lên án, phê phán nhưng không bôi nhọ Khi phản ánh các sự việc, sự kiện, hiện tượng pháp luật diễn ra trong xã hội, các phương tiện thông tin đại chúng cần tránh hai khuynh hướng: Đó là, phản ánh thiếu chọn lọc, thiếu sự cân nhắc, đưa tin tùy tiện, dễ dãi, chưa được kiểm chứng dẫn đến làm phức tạp hóa những vấn đề vốn đã phức tạp; Hoặc là khuynh hướng bưng bít, cắt xén làm khô khan thông tin về đời sống pháp luật, dẫn đến làm mất lòng tin của nhân dân
Thứ ba, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong hoạt động thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ
Hoạt động thực hiện pháp luật là hoạt động của các cá nhân, các tổ chức
và của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức xã hội được nhà nước ủy quyền Do đó, để nâng cao hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật, ngoài các biện pháp áp dụng đối với các tầng lớp nhân dân, còn rất cần thiết phải tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong hoạt động thực hiện pháp luật
Ở nước ta hiện nay, có thể thấy rằng đa số người dân có ý thức tự giác, tích cực và nghiêm chỉnh trong việc thực hiện pháp luật Tuy nhiên, những khuyết điểm, sai phạm xảy tra trong hoạt động thực hiện pháp luật vẫn còn tương đối phổ biến, đặc biệt là trong điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay Nghị quyết hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành trung ương khóa IX đã khái quát thực trạng này như sau: “ Tình trạng tham nhũng, quan liêu, mất đoàn kết nội bộ, vừa vi phạm quyền làm chủ của dân, vừa không giữ dung
kỷ cương, phép nước xảy ra ở nhiều nơi, có những nơi nghiêm trọng” Có tình trạng này là do nhiều lúc, nhiều nơi, các cơ quan chức năng của nhà nước còn xem nhẹ, buông lỏng vai trò, trách nhiệm quản lý trong lĩnh vực,
Trang 38ngành mà mình phụ trách, chưa phát huy hết vai trò, chức năng quản lý của mình Đây là một nguyên nhân cơ bản làm giảm sút hiệu quả hoạt động thực hiện pháp luật Vì vậy, các cơ quan chức năng cần tăng cường hơn nữa vai trò, trách nhiệm của mình:
- Quốc hội phải thường xuyên xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của thực tiễn đời sống xã hội, nhất
là các văn bản pháp luật hướng dẫn thực hiện pháp luật Đây là điều kiện tiên quyết đảm bảo cho pháp luật được thực hiện một cách nghiêm túc và hiệu quả
- Các cơ quan công an, tòa án, viện kiểm sát, thanh tra và các cơ quan khác có liên quan phải nghiêm chỉnh thực hiện các quy phạm pháp luật, giữ đúng vị trí, vai trò, chức năng và nhiệm vụ của mình, tích cực tham gia quản
lý nhà nước, quản lý xã hội bằng pháp luật và không ngừng tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa Phải tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật, đồng thời tạo các điều kiện cần thiết để người dân có thể tham gia giám sát hoạt động của các cơ quan nhà nước và thực hiện pháp luật một cách thuận lợi
- Các cơ quan chức năng cần phát hiện và xử lý nghiêm minh, kịp thời các hiện tượng tiêu cực, các hành vi sai lệch chuẩn mực pháp luật, vì “tình trạng suy thoái về tư tưởng, chính trị, đạo đức, lối sống, bệnh cơ hội, chủ nghĩa cá nhân và tệ nạn quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong một bộ phận cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng”, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân đối với pháp luật
- Bản thân mỗi cán bộ, công chức nhà nước phải luôn luôn gương mẫu trong việc thực hiện pháp luật; thường xuyên học tập, nâng cao trình độ hiểu biết về văn hóa, pháp luật; nâng cao trình độ học vấn, năng lực chuyên môn nghiệp vụ; không để bản thân lâm vào tình trạng quan liêu, né tránh trách
Trang 39nhiệm pháp lý của cá nhân, thói dựa dẫm, ỷ lại vào cấp trên; giải quyết công việc sai nguyên tắc, thái độ thờ ơ với công việc, tiêu xài lãng phí tiền cơ quan, không tuân thủ các quy định của cơ quan chủ quản, đặc biệt là sự tha hóa về đạo đức Phải có thái độ hòa nhã, tôn trọng trong quá trình hướng dẫn nhân dân thực hiện pháp luật
Trang 40hưởng đến tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ, qua việc xác định ý thức
pháp luật về dân quân tự vệ của mọi người dân trong thực hiện Luật Dân quân
tự vệ, vai trò của các phương tiện thông tin đại chúng đối với công tác phổ biến, tuyên truyền, giáo dục pháp luật về dân quân tự vệ cho các tầng lớp nhân dân và cuối cùng là trách nhiệm của các cơ quan chức năng trong hoạt động thực hiện pháp luật về dân quân tự vệ Qua việc nghiên cứu các nhân tố tác động để làm cơ sở lý luận để luận văn có thể nghiên cứu các giải pháp đảm bảo tổ chức thực hiện Luật Dân quân tự vệ trên địa bàn thành phố Hà Nội ở phần sau được tốt hơn