Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
XÂY DỰNG Ở ĐÔ THỊ – TỪ THỰC TIỄN
QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
HÀ NỘI - NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
…………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THỊ THÙY LINH
XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC
XÂY DỰNG Ở ĐÔ THỊ – TỪ THỰC TIỄN
QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sỹ ngành Luật Hiến pháp và Luật
Hành chính: “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị
- từ thực tiễn Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Vũ Trọng Hách
Các tài liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực, nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được công bố trong bất kỳ một luận văn nào trước đây
Nguyễn Thị Thùy Linh
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành Luận văn Thạc sỹ này, em xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy, cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình chỉ dạy, giúp đỡ em trong quá trình học tập và nghiên cứu tại Học viện
Đặc biệt, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới giảng viên PGS.TS Vũ Trọng Hách đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn này
Đồng thời, em cũng xin gửi lời cảm ơn tới cán bộ, công chức đang công tác tại UBND quận Cầu Giấy đã tạo điều kiện cho em được nghiên cứu, khảo sát thực tế và thu tập tài liệu để thực hiện luận văn này
Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn
bè đã quan tâm, hỗ trợ, và động viên em trong suốt quá trình hoàn thiện Luận văn Thạc sỹ
Mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng và nỗ lực trong việc nghiên cứu, tìm hiểu tài liệu nhưng cũng không thể tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy, cô giáo để Luận văn của
em được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ
Nguyễn Thị Thùy Linh
Trang 6MỤC LỤC
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7 Kết cấu của luận văn 6
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG Ở ĐÔ THỊ 7
1.1 Những khái niệm cơ bản 7
1.1.1 Khái niệm về xây dựng 7
1.1.2 Khái niệm về đô thị 8
1.1.3 Khái niệm vi phạm hành chính 10
1.1.4 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính 13
1.1.5 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị 15
1.2 Cơ sở pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị 16
1.2.1 Hành vi vi phạm trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị bị xử phạt 16
1.2.2 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị 18
1.2.3 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị 20
1.2.4 Trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị 24
1.3 Những yếu tố bảo đảm cho xử phạt vi phạm hành chính 26
1.3.1 Yếu tố chính trị 26
1.3.2 Yếu tố pháp lý 27
1.3.3 Đội ngũ công chức trong thực thi công vụ 28
1.3.4 Yếu tố kinh tế 29
Trang 7Tiểu kết chương 1 32 CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN CẦU GIẤY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 33 2.1 Khái quát chung 33 2.1.1 Điều kiện kinh tế - xã hội 33 2.1.2 Thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội 35 2.2 Thực trạng công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn quận Cầu Giấy, Hà Nội 41 2.2.1 Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị 41 2.2.2 Đội ngũ cán bộ công chức thực thi nhiệm vụ 45 2.2.3 Công tác kiểm tra, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng
ở đô thị trên địa bàn quận Cầu Giấy 49 2.2.4 Đánh giá chung 59 Tiểu kết chương 2 67 CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM XỬ PHẠT
VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG Ở ĐÔ THỊ 68 3.1 Phương hướng bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở quận Cầu giấy, Hà Nội 68 3.2 Giải pháp hoàn thiện hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị 71 3.2.1 Nhóm giải pháp chung 71 3.2.1.1 Hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật về đất đai, quy hoạch, cấp phép xây dựng, xử lý vi phạm hành chính, tạo cơ sở cho việc xác định vi phạm và xử lý nghiêm minh 71
Trang 83.2.1.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về quản lý
đô thị nói chung và xử phạt vi phạm trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị nói
riêng 77
3.2.1.3 Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành, thanh tra, kiểm tra xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị 78
3.2.1.4 Nâng cao trình độ chuyên môn, phẩm chất đạo đức cho công chức, ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác xử lý vi phạm trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị 80
3.2.2 Nhóm giải pháp cụ thể 82
Tiểu kết chương 3 85
KẾT LUẬN 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng2.1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế quận Cầu Giấy giai đoạn 2011-2016 33Bảng 2.2: Biến động diện tích đất của Quận Cầu Giấy giai đoạn năm 2005-2016 37Bảng 2.3: Thống kê số vụ vi phạm trật tự xây dựng giai đoạn 2011-2016 38Bảng 2.4: Chất lƣợng đội ngũ cán bộ, công chức tại Phòng Quản lý đô thị 45Bảng 2.5: Kết quả cấp phép xây dựng giai đoạn năm 2011-2016 49Bảng 2.6: Kết quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng (2011 -2016) 56Bảng 2.7: Tổng số tiền phạt thu đƣợc từ năm 2011 – 2016 58
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Trong xu thế phát triển của xã hội, quá trình đô thị hóa mạnh mẽ ngày càng khẳng định đô thị luôn có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.Thời gian qua, nhờ chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước, trật tự xây dựng đô thị của nước ta đã có nhiều thay đổi trên mọi phương diện của đời sống kinh tế, xã hội Các đô thị phát triển mạnh về cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội hình thành nên các khu đô thị mới, các khu công nghiệp cùng với
sự phát triển của các dịch vụ phong phú, đa dạng đáp ứng nhu cầu của đời sống nhân dân các khu đô thị
Quản lý đô thị nói chung và xử phạt vi phạm trật tự xây dựng đô thị nói riêng là lĩnh vực vô cùng quan trọng, nhạy cảm, có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đối với đời sống kinh tế, xã hội Thực tế cho thấy, công tác này ở nước ta, tuy từng bước đã đi vào nề nếp, nhưng vẫn còn rất nhiều những hạn chế, bất cập, gây bức xúc trong xã hội
Thủ đô Hà Nội - trung tâm chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế của cả nước Trong xu thế phát triển chung của đất nước, trong những năm gần đây công tác xây dựng, phát triển và quản lý đô thị của Thủ đô Hà Nội diễn ra rất mạnh mẽ, diện mạo đô thị đã thay đổi rõ nét và có sự phát triển vượt bậc
Quận Cầu Giấy nằm ở cửa ngõ phía Tây của Thành phố, là một trong những khu vực phát triển chính của Thành phố Hà Nội Trong quận có Sông
Tô Lịch chạy dọc theo chiều dài phía Đông của quận, có các đường vành đai
2, vành đai 2,5, vành đai 3; các đường trục chính đô thị như đường Cầu Giấy, đường Xuân Thuỷ, đường Hồ Tùng Mậu, đường Trần Duy Hưng, đường Hoàng Quốc Việt và các đường chính đô thị Quận có tốc độ đô thị hoá nhanh, công tác xây dựng phát triển tích cực theo hướng văn minh, hiện đại,
Trang 11diện mạo đô thị của quận có bước thay đổi lớn, đường phố ngày càng khang trang, sạch đẹp
Tuy nhiên, công tác quản lý đô thị nói chung và xử phạt vi phạm trật tự xây dựng ở đô thị nói riêng của Quận Cầu Giấy còn nhiều tồn đọng, hạn chế Công tác quản lý xây dựng theo quy hoạch, tình hình vi phạm trật tự xây dựng
đô thị diễn biến phức tạp, còn hiện tượng công trình xây dựng sai phép, trái phép, không phép; vi phạm các quy định về chất lượng công trình, an toàn lao động, vệ sinh môi trường Kỷ cương và việc tuân thủ pháp luật về xây dựng
đô thị của một bộ phận dân cư, ý thức trách nhiệm với cộng đồng còn hạn chế Việc xử phạt vi phạm của các cấp chính quyền, cơ quan chức năng nhiều trường hợp chưa nghiêm, thiếu dứt điểm, còn biểu hiện né tránh, đùn đẩy, gây bức xúc cho người dân Vì vậy, tôi cho rằng, việc nghiên cứu vấn đề xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị - từ thực tiễn quận Cầu Giấy trong giai đoạn hiện nay có ý nghĩa sâu sắc về mặt lý luận và thực tiễn Hiện nay, có nhiều đề tài nghiên cứu quản lý nhà nước về trật tự xây dựng; quản lý nhà nước về quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung và quận Cầu Giấy nói riêng… Tuy nhiên, việc nghiên cứu vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị trên địa bàn quận Cầu Giấy thì chưa có đề tài nào đề cập tới
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả lựa chọn vấn đề: “Xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị - từ thực tiễn Quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội” làm đề tài Luận văn tốt nghiệp chương trình sau
đại học chuyên ngành Luật Hiến pháp và Luật Hành Chính tại Học viện Hành Chính Quốc gia
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Hiện nay, các công trình khoa học liên quan đến đề tài luận văn được tác giả nghiên cứu gồm:
Trang 12- Nguyễn Kim Hoàng (2009), Quản lý nhà nước về xây dựng nhà ở đô
thị trên địa bàn thành phố Cần Thơ, Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành chính
công, Học viện Hành chính Quốc gia
Luận văn đã nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về trật tự xây dựng nhà ở đô thị, thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nhà ở đô thị ở thành phố Cần Thơ, đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm cho hoạt động quản
lý nhà nước về trật tự xây dựng trên địa bàn TP Cần Thơ
- Đặng Thanh Sơn (2010), Cơ chế bảo đảm thi hành Luật xử lý vi phạm
hành chính, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội
Đề tài đã đề cập một cách toàn diện về hệ thống cơ chế bảo đảm cho việc thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính Từ đó, đề tài làm nền tảng, xác định các yếu tố đảm bảo cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực xây dựng ở đô thị
- Nguyễn Ngọc Vân (2013), Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
xây dựng ở quận Tây Hồ, Thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sĩ Quản lý hành
chính công, Học viện Hành chính Quốc gia
Luận văn đã nghiên cứu một cách hệ thống cơ sở lý luận về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở quận Tây Hồ; phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động này tại quận Tây Hồ và đề ra những giải pháp hữu hiệu;
là cơ sở để tác giả có những so sánh, vận dụng, đề ra các giải pháp nhằm đảm bảo công tác xử phạt vi phạm hành chính tại quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội
- Nguyễn Thanh Hải (2014), Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực
trật tự đô thị từ thực tiễn quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc
sĩ Luật Hành Chính, Học viện Khoa học xã hội
Luận văn Thạc sĩ Luật Hành Chính đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và pháp lý về xử lý vi phạm hành chính nói chung và xử phạt vi phạm
Trang 13hành chính trong lĩnh vực trật tự đô thị nói riêng từ thực tiễn quận Hà Đông;
có những đánh giá về kết quả đạt được cũng như hạn chế của hoạt động này;
từ đó đưa ra phương hướng và các giải pháp trong thời gian tới
Trên đây là một số công trình nghiên cứu quản lý nhà nước về trật tự xây dựng, xử phạt vi phạm hành chính và các vấn đề liên quan Các công trình có giá trị khoa học cao, là nguồn tài liệu tham khảo hữu hiệu cho đề tài luận văn Tuy nhiên, công trình nghiên cứu về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị không có nhiều và đặc biệt trên địa bàn quận Cầu Giấy thì chưa có công trình nào
Do vậy, luận văn “ Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây
dựng ở đô thị - Từ thực tiễn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội” sẽ kế thừa
một phần cơ sở lý luận của các nghiên cứu trên, đồng thời sẽ phản ánh thực trạng vi phạm trong lĩnh vực xây dựng tại quận Cầu Giấy, là căn cứ khoa học cho việc hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính, nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ cả về phương diện lý luận
và thực tiễn vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị; đánh giá thực trạng hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị trong điều kiện hiện nay, chỉ ra những bất cập của hoạt động này, nguyên nhân của nó để trên cơ sở đó, đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Đề hoàn thành mục tiêu đã đặt ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
Trang 14Một là, nghiên cứu hệ thống cơ sở lý luận, cơ sở pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở
đô thị
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình vi phạm hành chính và hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong thời gian qua Từ đó rút ra được những ưu điểm và hạn chế của công tác này
Ba là, đề xuất một số giải pháp góp phần làm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị tại quận Cầu Giấy trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị từ thực tiễn quận Cầu Giấy, thành phố
Hà Nội
- Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: nghiên cứu trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố
Hà Nội
Về mặt thời gian: thời gian nghiên cứu từ năm 2011 – 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận:
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật lịch sử
và duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lenin; tư tưởng Hồ Chí Minh và các chủ trương, quan điểm, đường lối của Đảng về vi phạm pháp luật và xử lý
vi phạm pháp luật
Trang 15- Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài ra, để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, hệ thống hóa,…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần hệ
thống và hoàn thiện cơ sở lý luận về xử phạt vi phạm hành chính nói chung và trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị nói riêng
- Ý nghĩa thực tiễn, luận văn góp phần đánh giá thực trạng hoạt động xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2011 – 2016 Đặc biệt, kết quả nghiên cứu của luận văn là tìm ra những tồn tại, hạn chế trong công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị hiện nay Trên cơ sở đó đề xuất một giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị tại quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
- Luận văn còn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập trong các cơ sở đào tạo
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị
Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng trên địa bàn quận Cầu Giấy, thành phố Hà Nội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị
Trang 16CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC XÂY DỰNG Ở ĐÔ THỊ
1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về xây dựng
Xây dựng là một quy trình thiết kế và thi công nên các cơ sở hạ tầng hoặc công trình, nhà ở Hoạt động xây dựng khác với hoạt động sản xuất ở chỗ sản xuất tạo một lượng lớn sản phẩm với những chi tiết giống nhau, còn xây dựng nhắm tới những sản phẩm tại những địa điểm dành cho từng đối tượng khách hàng riêng biệt Tại những nước phát triển, ngành công nghiệp xây dựng đóng góp từ 6-9% tổng sản phẩm nội địa Hoạt động xây dựng bắt đầu bằng việc lên kế hoạch, thiết kế, lập dự toán và thi công tới khi dự án hoàn tất và sẵn sàng đưa vào sử dụng [12, tr.8-10]
Mặc dù hoạt động này thường được xem là riêng lẻ, song trong thực tế,
đó là sự kết hợp của rất nhiều nhân tố Đầu tiên, một nhà quản lý dự án chịu trách nhiệm quản lý công việc chung, sau đó những nhà thầu, kỹ sư tư vấn thiết kế, kỹ sư thi công, kiến trúc sư, tư vấn giám sát chịu trách nhiệm điều hành, thực hiện và giám sát hoạt động của dự án Một dự án thành công đòi hỏi một kế hoạch xây dựng hiệu quả, bao gồm việc thiết kế và thi công đảm bảo phù hợp với địa điểm xây dựng và đúng với ngân sách đề ra trong dự toán; tổ chức thi công hợp lý, thuận tiện cho việc chuyên chở, lưu trữ vật liệu xây dựng; đảm bảo các tiêu chuẩn về môi trường, an toàn lao động; giảm thiểu những ảnh hưởng tới cộng đồng [12], [47]
Hoạt động xây dựng bao gồm lập quy hoạch xây dựng, lập dự án đầu tư xây dựng công trình, khảo sát xây dựng, thiết kế xây dựng công trình, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng công trình, quản lý dự
Trang 17án đầu tư xây dựng công trình, lựa chọn nhà thầu trong hoạt động xây dựng
và các hoạt động khác có liên quan đến xây dựng công trình [31], [32]
1.1.2 Khái niệm về đô thị
Xã hội ngày càng văn minh và hiện đại thì nhu cầu về cuộc sống của con người càng đa dạng Dưới tác động của phân công lao động xã hội, một bộ phận người lao động đã tách ra khỏi sản xuất nông nghiệp để chuyên làm nghề thủ công buôn bán, dịch vụ Những người này cùng gia đình họ hình thành nên các điểm dân cư sống tập trung trên một địa bàn hẹp Họ lao động và sinh hoạt theo những hình thức khác so với sinh hoạt truyền thống ở nông thôn Đây chính là mầm mống đầu tiên của những đô thị và lối sống đô thị hiện nay
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về đô thị:
- Theo quan niệm quốc tế:
Đô thị là một khu định cư được hình thành bởi quá trình tập trung dân
cư từ nông thôn ra thành thị và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sang phi nông nghiệp [11, tr.7]
- Theo Luật Quy hoạch đô thị năm 2015
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu
hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh
tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội
thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.[32, tr.2-3]
- Theo Giáo trình quản lý nhà nước về đô thị (2005)
Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao chủ yếu là lao động phi nông nghiệp; họ sống và làm việc theo phong cách văn minh, hiện đại hơn, khoa học và có hiệu quả kinh tế, văn hóa cao [13, tr.6]
Như vậy, từ những quan niêm trên, để phù hợp với cách tiếp cận của
luận văn, cần nghiên cứu đô thị theo định nghĩa: “ Đô thị là điểm tập trung
Trang 18dân cư với mật độ cao chủ yếu là lao động phi nông nghiệp; có cơ sở hạ tầng thích hợp; là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của một nước, một vùng lãnh thổ, một tỉnh, một huyện hoặc một vùng trong tỉnh, huyện” Với cách tiếp cận này, có một số điểm cần
lưu ý như sau:
- Đô thị là nơi có mật độ dân số cao hơn rất nhiều khu vực nông thôn Tùy theo quy mô lãnh thổ, theo quốc gia mà dân số trong một đô thị có thể từ hàng nghìn người đến hàng triệu người Ở nước ta, quy mô dân số nội thị của một đô thị thường không nhỏ hơn 4000 người, riêng miền núi không nhỏ hơn
2000 người
Do tập trung dân số với mật độ cao trên một diện tích đất đai hẹp, nên vấn đề bố trí không gian cho các loại hoạt động khác nhau, vấn đề bảo vệ môi trường và vấn đề xây dựng cơ sở hạ tầng trong đô thị luôn là các vấn đề thường trực của cơ quan quản lý đô thị
- Đô thị có thể là trung tâm tổng hợp, hoặc trung tâm chuyên ngành, nhưng bao giờ đô thị cũng là động lực phát triển kinh tế, xã hội, khoa học, kỹ thuật và văn hoá của vùng lớn bao quanh nó Một đô thị có thể là trung tâm tổng hợp của một vùng, một tỉnh, cũng có thể là trung tâm chuyên ngành của một vùng liên tỉnh hoặc toàn quốc Việc xác định một đô thị là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành phải căn cứ vào vị trí của đô thị đó trong một vùng lãnh thổ nhất định
- Lãnh thổ đô thị bao gồm: Nội thành hoặc nội thị (gọi chung là nội thị)
và ngoại ô
- Dân cư trong đô thị chủ yếu sinh sống bằng nghề phi nông nghiệp Nhìn chung, tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trong nội thị của một đô thị thường không thấp hơn 60%
Trang 19- Cơ sở hạ tầng đô thị, bao gồm hạ tầng kỹ thuật (giao thông, thông tin liên lạc, cấp điện, cấp nước, cấp năng lượng, thoát nước, xử lý rác thải, vệ sinh môi trường) và hạ tầng xã hội (nhà ở, các công trình thương mại, dịch vụ công cộng, y tế, văn hóa, giáo dục đào tạo, thể dục thể thao, công viên cây xanh và các công trình phục vụ lợi ích công cộng khác) quy định trình độ phát triển của đô thị
1.1.3 Khái niệm vi phạm hành chính
Để thực hiện chức năng quản lý xã hội, nhà nước đã ban hành hệ thống các quy tắc xử xử buộc mọi công dân phải thực hiện Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng vi phạm các quy tắc này vẫn thường xuyên diễn ra và chúng được gọi chung là vi phạm pháp luật
Vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật chia ra các loại sau: vi phạm hình sự, vi phạm dân sự, vi phạm hành chính, vi phạm
kỷ luật [14, tr.110-113]
Như vậy, vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật, cá nhân hoặc tổ chức thực hiện những hành vi đi ngược lại với ý chí nhà nước được quy định trong pháp luật Tuy mức độ nguy hiểm cho xã hội của nó thấp hơn
so với tội phạm hình sự, nhưng vi phạm hành chính là những hành vi gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước, của tập thể, cá nhân cũng như lợi ích chung của toàn thể cộng đồng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng phạm tội nảy sinh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nếu như không được ngăn chặn và xử lý kịp thời
Ở một số nước trên thế giới, vi phạm hành chính thường được hiểu chung là các hành vi vi phạm pháp luật mà không phải là tội phạm, bị xử phạt
Trang 20bằng các chế tài hành chính Ví dụ Pháp lệnh của Hội đồng bang Milaca,
Minnesota, định nghĩa VPHC là “hành vi vi phạm quy định của Pháp lệnh
này và phải chịu các hình thức xử phạt hành chính theo quy định…” Luật về
xử phạt hành chính của Cộng hòa nhân dân Trung hoa năm 1996 (Điều 3)
định nghĩa vi phạm hành chính là “hành vi vi phạm trật tự hành chính của
công dân và pháp nhân hoặc các tổ chức khác, bị áp dụng các hình thức phạt hành chính được quy định bởi pháp luật theo quy định của Luật này và các hình thức xử phạt này được giao cho các cơ quan hành chính áp dụng theo thủ tục do Luật này quy định” Trong khi đó, theo quy định của Bộ luật xử
phạt vi phạm hành chính của Cộng hòa liên bang Nga thì vi phạm hành chính
đƣợc định nghĩa là “hành động (không hành động) của thể nhân hoặc pháp
nhân, trái pháp luật, có lỗi và bị Bộ luật này hoặc các luật của Cộng hòa liên bang Nga quy định phải chịu trách nhiệm hành chính”
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm “vi phạm hành chính” lần đầu tiên đƣợc định nghĩa một cách chính thức tại Pháp lệnh Xử phạt vi phạm hành
chính ngày 30/11/1989, Điều 1 của Pháp lệnh này quy định “vi phạm hành
chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” Định nghĩa này sau đó
đã đƣợc áp dụng rộng rãi trong thực tiễn thi hành pháp luật và đƣa vào các giáo trình giảng dạy về pháp luật Theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 và sau đó là Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 thì khái niệm vi phạm hành chính không đƣợc định nghĩa riêng biệt nữa mà đƣợc đƣa
“lẩn” vào trong khái niệm “xử lý vi phạm hành chính”, nếu trích dẫn từ định nghĩa về “xử lý vi phạm hành chính” đƣợc quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật
phạm hành chính quy định “Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng đối
Trang 21với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính” thì vi phạm hành chính được hiểu là : hành vi cố ý hoặc vô
ý của cá nhân, tổ chức, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính Về ngôn ngữ thể hiện, có thể thấy có đôi chút khác nhau giữa định nghĩa về vi phạm hành chính được quy định trong các Pháp lệnh về xử phạt/xử lý vi phạm hành chính 1989, 1995 và 2002, tuy nhiên về bản chất hành vi vi phạm hành chính thì các định nghĩa trong các văn bản pháp luật này, về cơ bản, không có gì khác nhau [46, tr.3-10]
Trong Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 đưa ra khái niệm: “Vi
phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính”.[29, tr.3]
Định nghĩa trên đã đưa ra các dấu hiệu cơ bản của một vi phạm hành chính:
Thứ nhất, vi phạm hành chính là hành vi trái pháp luật, vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước; tác hại (tính nguy hiểm) do hành
vi gây ra ở mức độ thấp, chưa hoặc không cấu thành tội phạm hình sự và hành
vi đó được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Đây chính là dấu hiệu “pháp định” của vi phạm
Thứ hai, hành vi đó phải là một hành vi khách quan đã được thực hiện (hành động hoặc không hành động), phải là một việc thực, chứ không phải chỉ tồn tại trong ý thức hoặc mới chỉ là dự định, đây có thể coi là dấu hiệu “vật chất” (material) của vi phạm
Trang 22Thứ ba, hành vi đó do một cá nhân hoặc pháp nhân (tổ chức) thực hiện, đây là dấu hiệu xác định”chủ thể” của vi phạm
Thứ tư, hành vi đó là một hành vi có lỗi, tức là người vi phạm nhận thức được vi phạm của mình, hình thức lỗi có thể là cố ý, nếu người vi phạm nhận thức được tính chất trái pháp luật trong hành vi của mình, thấy trước hậu quả của vi phạm và mong muốn hậu quả đó xảy ra hoặc ý thức được hậu quả
và để mặc cho hậu quả xảy ra; hình thức lỗi là vô ý trong trường hợp người vi phạm thấy trước được hậu quả của hành vi nhưng chủ quan cho rằng mình có thể ngăn chặn được hậu quả hoặc không thấy trước hậu quả sẽ xảy ra dù phải thấy trước và có thể thấy trước được hậu quả của vi phạm Đây có thể coi là dấu hiệu “tinh thần” của vi phạm
1.1.4 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính
Như đã phân tích ở trên, vi phạm hành chính cũng như mọi vi pham pháp luật khác đều là hành vi trái pháp luật , gây nguy hại cho xã hội và xâm hại đến quy định quản lý nhà nước trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Bởi vậy, xử phạt vi phạm hành chính là một nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước, góp phần xử lý sai phạm, lập lại trật tự xã hội Ta có thể
hiểu “xử phạt vi phạm hành chính”: “là việc người có thẩm quyền xử phạt áp
dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính” [47, tr.15]
Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính phản ánh những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật
Việc tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đòi hỏi phải đúng trình tự, thủ tục
đã được pháp luật quy định Kết quả xử phạt vi phạm hành chính phải thể hiện bằng quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực pháp luật
Trang 23Thứ hai, xử phạt vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi có vi phạm
hành chính xảy ra “Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi
có vi phạm hành chính do pháp luật quy định” [29, tr.4] Như vậy, để thực hiện hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trước hết đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền xử phạt phải xem xét đã có vi pham hành chính xảy ra hay chưa
Thứ ba, xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động cưỡng chế nhà nước do
các chủ thể có thẩm quyền tiến hành và được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước Mối quan hệ trong xử phạt vi phạm hành chính là mối quan hệ pháp luật giữa một bên là Nhà nước – một bên là cá nhân tổ chức vi phạm hành chính
Thứ tư, mục đích của xử phạt vi phạm hành chính là nhằm truy cứu trách
nhiệm hành chính đối với một hành vi vi phạm cụ thể nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm và quan trọng hơn là răn đe, giáo dục, lập lại trật tự xã hội
Trang 24Trục xuất có thể được quy định là hình thức xử phạt bổ sung hoặc hình thức
xử phạt chính
1.1.5 Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị
Từ khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính” trên, ta có thể rút ra khái niệm “xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị” như sau:
“Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị là hoạt động
của cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị theo quy định của pháp luật về
xử phạt vi phạm hành chính” [47, tr.16]
Bên cạnh những đặc điểm chung của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị mang những đặc điểm riêng như sau:
Thứ nhất, hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng
ở đô thị xuất phát từ những công trình vi phạm được thi công xây dựng thuộc địa bàn dân cư hoặc ở một khu đất có vị trí rõ ràng Mỗi địa bàn dân cứ đều mang những đặc điểm về: địa hình, mật độ dân cư, trình độ dân trí, văn hóa,… khác nhau nên quá trình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này cần phải gắn liền với thực tế đặc điểm tình hình của địa bàn dân cư đó
Thứ hai, cũng chính từ đặc thù trên, hoạt động xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị chủ yếu được thực hiện trên cơ sở kiểm tra, kiểm soát phát hiện hành vi vi phạm Tuy nhiên, do tính chất phức tạp của hoạt động xây dựng, đồng thời, nơi diễn ra hoạt động xây dựng là các khu đất có chủ sở hữu, có không gian riêng nên những hành vi vi phạm thường khó bị phát hiện Vì vậy mà nhất thiết phải trải qua thủ tục kiểm tra, thẩm định để xác định vi phạm
Trang 25Thứ ba, việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị
liên quan trực tiếp đến quyền lợi của chủ thể vi phạm Do đó, vấn đề xử phạt
vi phạm trong lĩnh vực này luôn gắn liên với việc đảm bảo an ninh trật tự, đảm bảo đời sống sinh hoạt của người dân,… Bởi vậy, quá trình xử lý vi phạm hành chính cần phải được lập kế hoạch chi tiết, tỉ mỉ, cần có sự tham gia phối hợp của các cơ quan chức năng có liên quan cũng như cần đảm bảo
về nguồn kinh phí thực hiện Đặc biệt là đối với những trường hợp phải xử lý cưỡng chế dỡ bỏ công trình vi phạm trật tự xây dựng
1.2 Cơ sở pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị
1.2.1 Hành vi vi phạm trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị bị xử phạt
1.2.1.1 Nhóm các hành vi vi phạm đối với chủ đầu tư xây dựng
Chủ đầu tư xây dựng công trình là người sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình Chủ đầu tư
có thể là tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc nước ngoài [5, tr.3-5]
Những hành vi gồm có:
- Hành vi vi phạm về khảo sát xây dựng;
- Hành vi vi phạm về lưu trữ, điều chỉnh quy hoạch xây dựng;
- Hành vi vi phạm về lập dự án đầu tư xây dựng công trình;
- Hành vi vi phạm về thiết kế, dự toán xây dựng công trình;
- Hành vi vi phạm về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình;
- Hành vi vi phạm về đầu tư phát triển đô thị;
- Hành vi vi phạm về khởi công xây dựng công trình;
- Hành vi vi phạm về tổ chức thi công xây dựng;
- Hành vi vi phạm về giải phóng mặt bằng xây dựng công trình;
- Hành vi vi phạm về giám sát thi công xây dựng công trình;
- Hành vi vi phạm về quản lý chất lượng công trình;
Trang 26- Hành vi vi phạm về bảo hành, bảo trì công trình xây dựng;
- Hành vi vi phạm về nghiệm thu, thanh toán khối lượng hoàn thành và quyết toán công trình xây dựng đối với công trình sử dụng vốn nhà nước;
- Hành vi vi phạm về đấu thầu và lựa chọn nhà thầu xây dựng theo Luật xây dựng;
- Hành vi vi phạm về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình của nhà thầu tư vấn quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình
1.2.1.2 Nhóm các hành vi vi phạm đối với nhà thầu
- Hành vi vi phạm về điều kiện hoạt động xây dựng, năng lực hành nghề xây dựng;
- Hành vi vi phạm về nội dung hồ sơ dự thầu;
- Hành vi vi phạm về quy chuẩn kỹ thuật quốc gia, tiêu chuẩn được áp dụng, sử dụng số liệu, tài liệu trong hoạt động xây dựng;
- Hành vi vi phạm về khảo sát xây dựng;
- Hành vi vi phạm về công tác lập quy hoạch xây dựng;
- Hành vi vi phạm về lập thiết kế, dự toán xây dựng công trình;
- Hành vi vi phạm về thi công xây dựng;
- Hành vi vi phạm về an toàn trong thi công xây dựng công trình;
- Hành vi vi phạm về quản lý chất lượng công trình xây dựng;
- Hành vi vi phạm về giám sát thi công xây dựng công trình;
- Hành vi vi phạm về nghiệm thu, thanh toán khối lượng công trình xây dựng;
- Hành vi vi phạm của nhà thầu nước ngoài tham gia hoạt động xây dựng tại Việt Nam
1.2.1.3 Nhóm các hành vi vi phạm đối với tổ chức, cá nhân khác
- Hành vi vi phạm về quy định ngừng cung cấp điện, cung cấp nước đối với công trình vi phạm trật tự xây dựng;
Trang 27- Hành vi vi phạm về thẩm tra, kiểm định, thí nghiệm, đào tạo trong hoạt động xây dựng
1.2.2 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị
Nghị định số 121/2013/NĐ-CP quy định có hai hình thức xử phạt chính là: cảnh cáo và phạt tiền; các hình thức phạt bổ sung như: tước quyền
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 24 tháng; tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để thực hiện vi phạm hành chính Ngoài ra, Nghị định này cũng quy định các biện pháp khắc phục hậu quả có thể áp dụng một hoặc nhiều lần như: buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu; buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn; buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính; buộc phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình xây dựng vi phạm và biện pháp khác [10, tr.50-60]
1.2.2.1 Hình thức phạt chính
- Cảnh cáo: là hình thức xử phạt áp dụng đối với các nhà cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối với với các hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện Mục đích của việc áp dụng hình thức xử phạt này không nhằm gây thiệt hại về mặt vật chất mà chỉ nhằm ngăn chặn kịp thời, xử lý tại chỗ cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính, từ đó giáo dục ý thức chấp hành pháp luật về xây dựng ở đô thị đối với người có hành vi vi phạm
- Phạt tiền: là hình thức xử phạt có tính chất nghiêm khắc, bởi lẽ hình thức xử phạt này gây thiệt hại về vật chất với người bị xử phạt Đây là hình thức xử phạt được áp dụng phổ biến nhất để xử phạt hầu hết các hành vi vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở
Trang 28đô thị nói riêng Trên thực tế, hình thức xử phạt này có tác dụng rất lớn trong việc phòng chống, chống vi phạm hành chính cũng như răn đe, giáo dục ý thức chấp hành pháp luật trong xã hội
Khi áp dụng hình thức phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành
vi vi phạm hành chính là mức trung bình trong khung tiền phạt quy định đối với hành vi đó, nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức tiền phạt có thể giảm xuống thấp hơn mức trung bình nhưng không giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt Nếu vi phạm có tình tiết tăng nặng thì mức tiền phạt có thể tăng lên cao hơn mức trung bình nhưng không vượt quá mức tối đa của khung tiền phạt [29, tr.78-80]
1.2.2.2 Các hình thức xử phạt bổ sung
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề:
Giấy phép, chứng chỉ hành nghề là những loại giấy tờ pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân, tổ chức nhằm cho phép hoặc công nhận cá nhân, tổ chức đó được quyền thực hiện một hoạt động nhất định Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động từ 06 tháng đến 24 tháng tùy thuộc vào tính chất, mức độ của vi phạm
- Tịch thu tang vật, phương tiện sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính:
Bản chất của hình thức xử phạt này là tước bỏ quyền sở hữu của cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm hành chính đối với vật, tiền hoặc phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính và chuyển thành
sở hữu Nhà nước Hình thức xử phạt này không áp dụng trong trường hợp tang vật, phương tiện thuộc quyền sở hữu, quản lý, sử dụng của người khác nhưng bị chủ thể vi phạm hành chính chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép Trong trường hợp tang vật, phương tiện đó phải được trả lại cho người chủ sở
Trang 29hữu hoặc người quản lý, người sử dụng hợp pháp vì họ không có trách nhiệm pháp lý gì đối với việc tang vật, phương tiện đó bị sử dụng vào mục đích vi phạm pháp luật Tang vật này chỉ bị sung vào công quỹ nếu như không xác định được người chủ sở hữu, quản lý, sử dụng hợp pháp hoặc những người này không đến nhận lại Trường hợp nếu như là văn hóa phẩm độc hại, hàng giả không có giá trị sử dụng, vật phẩm gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi, cây trồng thì bị tịch thu để tiêu hủy Việc thu tang vật, phương tiện được
sử dụng để vi phạm trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị chỉ đặt ra khi tang vật, phương tiện đó trực tiếp liên quan đến hành vi vi pham hành chính và hành vi
vi pham đó được quy định trong Nghị định 180/2007/NĐ-CP và Nghị định 121/2013/NĐ-CP của Chính Phủ
1.2.2.3 Các biện pháp khắc phục hậu quả
Ngoài các hình thức trách nhiệm hành chính mang tính chất xử phạt nói trên, pháp luật còn quy định những biện pháp trách nhiệm hành chính mang tính chất khôi phục những quyền, lợi ích hợp pháp bị vi phạm hành chính xâm hại Các biện pháp khắc phục hậu quả này gồm có:
- Buộc khôi phục lại tình trạng ban đầu;
- Buộc thực hiện các biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường, buộc cải chính thông tin sai sự thật hoặc gây nhầm lẫn;
- Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính;
- Buộc phá dỡ công trình xây dựng, bộ phận công trình xây dựng vi phạm;
- Biện pháp khác theo quy định của Chính phủ [29,tr.45-65]
1.2.3 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở
đô thị
Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị được quy định tại: Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012, Nghị định
Trang 30121/2013/NĐ-CP, Nghị định 64/2010/NĐ-CP về cấp giấy phép xây dựng, cụ thể [7], [10]
1.2.3.1 Thẩm quyền của Thanh tra viên xây dựng:
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 1.000.000 đồng;
- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật
1.2.3.2 Thẩm quyền xử phạt của Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành
a Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Sở Xây dựng có thẩm quyền xử phạt như sau:
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 100.000.000 đồng;
- Tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
b Trưởng đoàn thanh tra chuyên ngành của Thanh tra Bộ Xây dựng có thẩm quyền xử phạt như sau:
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 500.000.000 đồng đối với lĩnh vực xây dựng;
- Tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
1.2.3.3 Thẩm quyền xử phạt của Chánh thanh tra Sở Xây dựng
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 100.000.000 đồng;
- Tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
Trang 31- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
1.2.3.4 Thẩm quyền xử phạt của Chánh thanh tra Bộ Xây dựng
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền: Đến 1.000.000.000 đồng đối với lĩnh vực xây dựng;
- Tước quyền sử dụng giấy phép xây dựng, giấy chứng nhận, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
1.2.3.5 Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
Quyết định đình chỉ thi công xây dựng, quyết định cưỡng chế phá dỡ đối với công trình xây dựng vi phạm thuộc địa bàn mình quản lý trừ những công trình theo quy định của pháp luật
Tổ chức thực hiện cưỡng chế tất cả các công trình xây dựng vi phạm theo Quyết định cưỡng chế của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp Huyện và Chánh Thanh tra Sở Xây dựng
Xử lý cán bộ dưới quyền được phân công quản lý trật tự xây dựng đô thị để xảy ra vi phạm mà không xử lý kịp thời, dung túng bao che cho hành vi
vi phạm
Kiến nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện xử lý các trường hợp vi phạm trật tự xây dựng đô thị vượt thẩm quyền của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã, xử lý cán bộ làm công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị thuộc thẩm quyền quản lý của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 10.000.000 đồng;
- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
1.2.3.6 Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện
Quyết định cưỡng chế phá dỡ đối với công trình xây dựng vi phạm do
ủy ban nhân dân cấp Huyện cấp Giấy phép xây dựng hoặc Sở Xây dựng cấp
Trang 32Giấy phép xây dựng mà công trình xây dựng đó đã bị ủy ban nhân dân cấp xã quyết định đình chỉ thi công xây dựng
Chỉ đạo Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện cưỡng chế phá dỡ những công trình xây dựng vi phạm theo quyết định của Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp Huyện và của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng
Xử lý Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã và những cán bộ dưới quyền được phân công quản lý trật tự xây dựng đô thị để xảy ra vi phạm mà không
xử lý kịp thời hoặc dung túng, bao che cho hành vi vi phạm
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền đến 100.000.000 đồng;
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
1.2.3.7 Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Ban hành những quy định, quyết định nhằm ngăn chặn, khắc phục tình trạng vi phạm trật tự xây dựng đô thị trên địa bàn
Ban hành quyết định xử lý đối với Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp Huyện
và những cán bộ dưới quyền được phân công quản lý trật tự xây dựng đô thị để xảy ra vi phạm, không xử lý kịp thời, dung túng bao che cho hành vi vi phạm
- Cảnh cáo;
- Phạt tiền: Đến 1.000.000.000 đồng đối với lĩnh vực xây dựng;
- Tước quyền sử dụng Giấy phép xây dựng, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc đình chỉ hoạt động có thời hạn;
- Áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả
1.2.3.8 Thẩm quyền xử phạt của Chánh Thanh tra Sở Xây dựng:
Quyết định đình chỉ thi công xây dựng công trình, Quyết định cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị đối vối những công
Trang 33trình do Sở Xây dựng hoặc ủy ban nhân dân cấp Huyện cấp Giấy phép xây dựng trong trường hợp ủy ban nhân dân cấp Huyện buông lỏng quản lý, không ban hành quyết định kịp thời
Kiến nghị Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp Tỉnh xử lý Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp Huyện, các tổ chức, cá nhân được phân công quản lý trật tự xây dựng đô thị để xảy ra vi phạm [10, tr.10-15]
1.2.4 Trình tự, thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng ở đô thị
Trình tự xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng gồm các bước: Lập biên bản ngừng thi công xây dựng công trình, đình chỉ thi công xây dựng công trình, xử phạt hành chính vi phạm và cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm
1.2.4.1 Lập biên bản ngừng thi công xây dựng
Thanh tra viên xây dựng hoặc cán bộ quản lý xây dựng cấp xã có trách nhiệm phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật xây dựng trên địa bàn; lập biên bản vi phạm ngừng thi công xây dựng công trình và yêu cầu chủ đầu
tư thực hiện các nội dung được ghi trong biên bản
Biên bản ngừng thi công xây dựng phải ghi rõ nội dung vi phạm và biện pháp xử lý, đồng thời gửi ngay cho Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã để báo cáo
Trường hợp chủ đầu tư vắng mặt hoặc cố tình vắng mặt thì biên bản vẫn có giá trị thực hiện
1.2.4.2 Đình chỉ thi công xây dựng
Trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi lập biên bản ngừng thi công xây dựng
mà chủ đầu tư không ngừng thi công xây dựng để thực hiện các nội dung trong biên bản thì Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Quyết định đình chỉ thi công xây dựng công trình, buộc chủ đầu tư thực hiện các nội dung trong biên bản ngừng thi công xây dựng
Trang 34Trong thời hạn 24 giờ, kể từ thời điểm ban hành Quyết định đình chỉ thi công xây dựng công trình thì chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức lực lượng cấm các phương tiện vận chuyển vật tư, vật liệu, công nhân vào thi công xây dựng công trình vi phạm trật tự xây dựng đô thị Người có thẩm quyền ký kết hợp đồng dịch vụ cung cấp điện, nước và các dịch vụ liên quan ngừng cung cấp các dịch vụ đối với công trình xây dựng vi phạm
Trường hợp chủ đầu tư vắng mặt hoặc cố ý vắng mặt thì Quyết định đình chỉ thi công xây dựng vẫn có hiệu lực
1.2.4.3 Cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm
Ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ và
tổ chức phá dỡ sau thời hạn 03 ngày (kể cả ngày nghỉ) kể từ khi ban hành Quyết định đình chỉ thi công xây dựng đối với công trình xây dựng không phải lập phương án phá dỡ Sau 10 ngày (kể cả ngày nghỉ) kể từ khi ban hành Quyết định đình chỉ thi công xây dựng đối với công trình xây dựng phải lập phương án phá dỡ mà chủ đầu tư không tự thực hiện các nội dung ghi trong biên bản ngừng thi công xây dựng [5], [7], [10]
Chủ đầu tư phải chịu toàn bộ chi phí lập phương án phá dỡ và chi phí tổ chức cưỡng chế phá dỡ
Đối với công trình xây dựng vi phạm mà do ủy ban nhân dân cấp Huyện hoặc Sở Xây dựng cấp Giấy phép xây dựng, trong thời hạn 24 giờ, kể từ khi ủy ban nhân dân cấp xã ban hành Quyết định đình chỉ thi công xây dựng, ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhỉệm gửi hồ sơ lên Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp Huyện Trong thời hạn 03 ngày kể từ khi nhận được hồ sơ, Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp Huyện phải ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm tổ chức cưỡng chế phá dỡ
Trường hợp chủ đầu tư vắng mặt hoặc cố tình vắng mặt thì Quyết định cưỡng chế phá dỡ vẫn phải được tổ chức thực hiện
Trang 351.2.4.4 Cưỡng chế phá dỡ công trình vi phạm trong lĩnh vực xây dựng đô thị
Việc phá dỡ công trình phải có phương án nhằm bảo đảm an toàn trong quá trình phá dỡ Đối với những công trình xây dựng yêu cầu phải phê duyệt phương án phá dỡ thì phương án phá dỡ phải do chủ đầu tư tổ chức lập Trường hợp không đủ điều kiện lập phương án phá dỡ, chủ đầu tư phải thuê tổ chức tư vấn đủ điều kiện năng lực để lập Trường hợp bị cưỡng chế phá dỡ thì người có thẩm quyền ban hành Quyết định cưỡng chế phá dỡ chỉ định tổ chức tư vấn lập phương án phá dỡ, chủ đầu tư phải chịu mọi chi phí lập phương án phá
dỡ [47, tr.30]
Phương án phá dỡ phải thể hiện các biện pháp, quy trình phá dỡ, các trang thiết bị, máy móc phục vụ phá dỡ, biện pháp che chắn để đảm bảo an toàn về tính mạng và tài sản, an ninh trật tự, vệ sinh môi trường Trình tự, tiến độ, kinh phí phá dỡ phương án phá dỡ phải được cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp Huyện phê duyệt trừ trường hợp quy định tại Nghị định số 121/2013/NĐ-CP của Chính phủ
Tổ chức phá dỡ phải đủ điều kiện năng lực theo quy đinh của pháp luật Trường hợp không phải lập phương án phá dỡ thì việc phá dỡ phải đảm bảo an toàn về người, tài sản và vệ sinh môi trường
1.3 Những yếu tố bảo đảm cho xử phạt vi phạm hành chính
1.3.1 Yếu tố chính trị
Yếu tố chính trị là toàn bộ các yếu tố tạo nên đời sống chính trị của xã hội ở từng giai đoạn lịch sử nhất định, bao gồm môi trường chính trị, hệ thống các chuẩn mực chính trị, chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và quá trình tổ chức thực hiện chúng; các quan hệ chính trị và ý thức chính trị; hoạt động của hệ thống chính trị Yếu tố chính trị có ảnh hưởng mạnh mẽ tới hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật của các chủ thể pháp luật, trong đó có hoạt động xử phạt
vi phạm hành chính
Trang 36Môi trường chính trị - xã hội của đất nước ta trong những năm qua luôn ổn định, phát triển bền vững chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, vì nó củng cố ý thức và niềm tin chính trị của cán bộ, đảng viên,
và quần chúng nhân dân đối với sự lãnh đạo của đảng, gia tăng lập trường chính trị - tư tưởng của các cá nhân có thẩm quyền áp dụng pháp luật
Ở nước ta, sự vận hành của hệ thống pháp luật trên các phương diện xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng muốn xây dựng được bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, vận hành trên cơ sở các nguyên tăc, quy định của pháp luật thì vấn đề thực hiện pháp luật một cách nhất quán, nghiêm minh từ phía cán bộ, đảng viên và nhân dân luôn được đặt lên vị trí hàng đầu Muốn cho pháp luật được tôn trọng và thưc hiện nghiêm túc thì cán bộ đảng viên phải là những người đi trước, gương mẫu thực hiện và có “năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của đảng pháp luật của nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân” Chính vì vậy, đảng ta luôn quan tâm
và chỉ đạo sâu sát đối với các mặt hoạt động pháp luật nói chung, và đảm bảo cho hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
1.3.2 Yếu tố pháp lý
Yếu tố pháp lý là hệ thống quy phạm pháp luật chứa đựng nguyên lý tổ chức vận hành của toàn bộ cơ chế thực hiện pháp luật Hệ thống các quy phạm pháp luật này điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, trong đó có xử phạt vi phạm hành chính Yếu tố này có tính chất “là môi trường pháp lý” ràng buộc các chủ thể hoạt động trong khuôn khổ pháp luật
Hiến pháp 2013 có quy định: Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật
và không ngừng tăng cường pháp chế Như vậy, pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính là công cụ quan trọng để Nhà nước, xã hội đấu tranh phòng ngừa
Trang 37và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật tự, an toàn xã hội, bảo về lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước [30, tr.1-2]
Để thực hiện được mục đích đó, có nhiều yếu tố chi phối, nhưng yếu tố chất lượng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính là yếu tố quan trọng nhất, tạo cơ sở pháp lý cho toàn bộ quá trình xử phạt vi phạm hành chính Ví du như: có nhiều trường hợp công trình xây dựng trái phép, sai phép nhưng sau khi nộp tiền phạt thì vẫn được tồn tại, điều này làm giảm tính răn đe của quy định pháp luật, tạo điều kiện cho cá nhân, tổ chức tiếp thục thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật Như vậy, việc hoàn thiện pháp luật nói chung, và Luật Xử
lý vi phạm hành chính nói riêng có tác động to lớn trong việc đảm bảo cho xử phạt vi phạm hành chính
1.3.3 Đội ngũ công chức trong thực thi công vụ
Công vụ là một loại hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước, nói đến công vụ là
nghĩa quan trọng như vậy, bất kỳ nhà nước nào cũng phải xây dựng một nền công vụ hiệu lực, hiệu quả và nhấn mạnh đến vấn đề trách nhiệm công vụ
Đặc biệt, trong hoạt động xử phạt vi phạm hành chính nói chung, với tư cách là người đại diện của cơ quan hành chính nên khi bố trí, sử dụng cán bộ, công chức đòi hỏi cán bộ, công chức phải có phẩm chất và năng lực, có trình
độ văn hoá, vững vàng về chính trị, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ, gương
Trang 38mẫu về đạo đức, lối sống, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, trung thực, không cơ hội, có ý thức tổ chức kỷ luật, có tác phong dân chủ, khoa học, thái
độ lễ phép, tận tuỵ phục vụ nhân dân, phải thấm nhuần nền hành chính nước
ta là nền hành chính phục vụ, dân chủ, minh bạch, góp phần thúc đẩy kinh tế -
xã hội phát triển bền vững [11], [33]
Đối với cán bộ, công chức trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước cần thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cho Đảng, cho Chính phủ rõ, để đặt chính sách cho đúng” Do vậy, cán bộ công chức trong bộ máy hành chính nhà nước cần thường xuyên trau dồi phẩm chất đạo đức tốt, có lối sống giản dị, đoàn kết, khi giải quyết công việc với dân cần tôn trọng, lịch sự, tránh thái độ tự cao, tự đại Mỗi cán bộ công chức cần học tập, nâng cao trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của mình Cần gắn chế độ trách nhiệm nghiêm ngặt đối với cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, vì họ chính là chủ thể quản
lý hành chính nhà nước Đây cũng là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hơn nữa hiệu quả thực hiện hoạt động xử phạt vi phạm hành chính
1.3.4 Yếu tố kinh tế
Yếu tố kinh tế hiểu theo nghĩa rộng bao gồm tổng thể các điều kiện, hoàn cảnh về kinh tế xã hội, hệ thống chính sách kinh tế, chính sách xã hội và việc triển khai thực hiện, áp dụng chúng trong lĩnh vực xã hội Nền kinh tế xã hội phát triển năng động, bền vững sẽ tác đồng tích cực tới việc nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức pháp luật của tầng lớp xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thực hiện pháp luật, trong đó có hoạt động xử phạt vi phạm hành chính Ngược lại, nền kinh tế xã hội chậm phát triển, kém năng động và kém hiệu quả sẽ có thể ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động này của các chủ thể pháp luật Điều này được thể hiện rõ ở những mặt sau:
Trang 39Thứ nhất, điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng rất quan trọng đến lợi
ích và do đó, tác động đến tư tưởng, quan điểm, thái độ, niềm tin của các tầng lớp nhân dân đối với pháp luật Khi nền kinh tế - xã hội phát triển, đời sống vật chất của các tầng lớp dân cư được cải thiện, lợi ích kinh tế được đảm bảo thì nhân dân sẽ phấn khởi tin tưởng vào đường lối kinh tế, chính sách pháp luật, sự lãnh đạo của Đảng và hoạt động điều hành, quản lý của Nhà Nước Khi đó, niềm tin của các chủ thể đối với pháp luật được củng cố Hoạt động thực hiện pháp luật sẽ mang tính tích cực, thuận chiều, phù hợp với các giá trị, chuẩn mực pháp luật hiện hành Cụ thể hơn, chủ thể vi phạm hành chính sẽ tự giác thực hiện các biện pháp xử phạt hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Thứ hai, khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất, tinh thần được cải
thiện, các cán bộ, công chức nhà nước, các tầng lớp nhân dân có điều kiện mua sắm các phương tiện nghe, nhìn, có điều kiện thỏa mãn các nhu cầu thông tin pháp luật đa dạng và cập nhật Các chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật sẽ dễ dàng đến được với đông đảo cán bộ và nhân dân Điều đó giúp cho hoạt động thực hiên pháp luật của các chủ thể mang tính tích cực, tự giác Còn khi kinh tế chậm phát triển, thu nhập thấp, tình trạng thất nghiệp gia tăng, lợi ích kinh tế không được đảm bảo, đời sống của cán bộ công chức và nhân dân gặp khó khăn thì tư tưởng sẽ diễn biến phức tạp, cái xấu có cơ hội nảy sinh, tác động tiêu cực tới việc thực hiện pháp luật Đây chính là mảnh đất lý tưởng cho sự xuất hiện các loại hành vi đi ngược lại với giá trị, chuẩn mực pháp luật như tệ quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu, tham nhũng trong cán bộ, viên chức nhà nước Như vậy, khi có xảy ra vi phạm hành chính, vì một lợi ích nào đó mà có thể những hành vi sai phạm lại không bị xử lý nghiêm minh, trật tự xã hội không được bảo đảm và đặc biệt pháp luật mất đi giá trị vốn có của nó
Trang 40Xem xét ở một khía cạnh khác, ta có thể hiểu yếu tố kinh tế ở đây là chỉ những điều kiện vật chất khác như: phương tiện kỹ thuật, công cụ,… để đảm bảo cho việc thực hiện hoạt động xử phạt vi phạm hành chính Thực tế chứng minh rằng, có một hệ thống pháp luật toàn diện, đầy đủ, phù hợp với thực tiễn; một đội ngũ cán bộ công chức có đủ năng lực cũng như trách nhiệm là
vô cùng cần thiết, nhưng đôi khi trong quá trình thực hiện còn phải đòi hỏi một nguồn chi phí rất lớn về sức người và trang bị vật chất- kỹ thuật