1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)

115 265 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

MÃ SỐ: 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN BÁ CHIẾN

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là luận văn do chính tôi nghiên cứu và thực hiện; các kết quả phân tích trong luận văn là hoàn toàn trung thực, không được sao chép của bất kỳ công trình nào trước đây, các số liệu của luận văn được lấy từ nguồn chính thống, trung thực và chưa được công bố Nếu không đúng như nêu trên, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ và Nhà trường

NGƯỜI CAM ĐOAN

Nguyễn Hoàng Thắng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên, tôi gửi lời cảm ơn đến tập thể các giáo sư, các nhà khoa

học, các thầy giáo, cô giáo của Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình

truyền đạt kiến thức chỉ bảo tôi trên con đường học tập và nghiên cứu khoa

học

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Nguyễn Bá Chiến đã dành

nhiều tâm huyết, trí tuệ của mình, giúp định hướng khoa học và luôn động

viên khích lệ tôi hoàn thành luận văn một cách tốt nhất

Xin cám ơn bạn bè, đồng nghiệp, của Học viện Hành chính Quốc gia, UBND

quận Đống Đa đã giúp tôi tìm kiếm tài liệu, cung cấp thông tin có liên quan

đến đề tài, cũng như góp ý kiến để luận văn của tôi được tốt hơn

Hà Nội, tháng 6 năm 2017

Tác giả luận văn

NGUYỄN HOÀNG THẮNG

Trang 5

Chương 1: LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI

1 Nội dung pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi

đất

22

1.5 Hình thức về thực hiện pháp luật về bồi thường thu hồi đất

1.6 Một số điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật khi Nhà nước thu

hồi đất

29

Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI

THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT BẰNG THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA

BÀN QUẬN ĐỐNG ĐA, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

48

2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội tác động đến việc

thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất

trên địa quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội

48

2.2 Thực trạng thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt

bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội

57 Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC

HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI THƯỜNG GIẢI PHÓNG MẶT

BẰNG THU HỒI ĐẤT TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN ĐỐNG ĐA,

THÀNH PHỐ HÀ NỘI

76

3.1 Phương hướng thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng

mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, TP Hà Nội

76

3.2 Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng

mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội

thời gian tới

81

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Đất đai đã được khẳng định là một tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực, nguồn vốn vô cùng to lớn của đất nước, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh và quốc phòng Ngay từ thuở sơ khai của xã hội loài người, con người đã biết sử dụng đất theo các mục đích khác nhau để phục vụ cho sự sinh tồn và phát triển của mình Theo thời gian và sự lao động đã làm cho nhận thức của con người càng được hoàn thiện, nâng cao cùng với nhu cầu sử dụng đất ngày càng tăng để phục vụ cho đời sống, cho sản xuất, cho sự phát triển kinh tế - xã hội và công tác quản lý việc sử dụng đất đã được xây dựng một cách có khoa học, theo hệ thống thống nhất từ tổng thể đến chi tiết và theo quy định chung của pháp luật Nhà nước

Sử dụng đất đai vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, để thực hiện mục tiêu phát triển đất nước, đặc biệt là các dự án phát triển đô thị, dự án sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế là một tất yếu khách quan trong quá trình phát triển công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước Để có mặt bằng xây dựng các dự án, Nhà nước phải thu hồi đất của nhân dân và thực hiện việc bồi thường hỗ trợ tái định cư cho các hộ dân có đất bị thu hồi

Trong thời gian gần đây, vấn đề thực hiện cơ chế Nhà nước thu hồi đất của người đang sử dụng đất để giao đất cho các nhà đầu tư vẫn đang gây nhiều bức xúc trong thực tế triển khai, nhất là những bức xúc của người bị thu hồi đất về thực hiện bồi thường Mặc dù các quy định của pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất đã từng bước được hoàn thiện, ngày càng rõ

Trang 8

ràng, cụ thể về nguyên tắc, điều kiện, đơn giá thực hiện bồi thường, hỗ trợ về đất đai và tài sản khi Nhà nước thu hồi đất

Tuy nhiên đất đai và công tác bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất đang là vấn đề hết sức nhạy cảm và phức tạp do đó thực tế thực hiện pháp luật về bồi thường, giải phóng mặt bằng thu hồi đất vẫn còn nhiều vướng mắc

và tồn tại gây nhiều bức xúc trong nhân dân

Quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội là một quận trung tâm với nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế, hiện đang có những chính sách để thu hút đầu

tư trong và ngoài nước Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì nền kinh tế - xã hội đang từng ngày phát triển Trên địa bàn toàn quận có rất nhiều dự án đã và đang được đầu tư, nhưng công tác bồi thường giải phóng mặt bằng và thu hồi đất đang gặp rất nhiều khó khăn do nhiều nguyên nhân Nguyên nhân chủ yếu do đất ở và nhà cửa cũng như vật kiến trúc là tài sản rất lớn đối với người dân nơi đây làm ảnh hưởng nhiều đến sản

xuất và đời sống của nhân dân.Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài : “Thực hiện

pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội” để nghiên cứu luận văn là cấp thiết cả về lý

luận và thực tiễn

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Pháp luật bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất là đề tài thu hút

sự quan tâm nghiên cứu, thời gian qua đã có rất nhiều công trình khoa học về vấn đề này được công bố, như :

- Luận văn thạc sĩ luật học về "Pháp luật về bồi thường, giải phóng

mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất", của Hoàng Thị Nga, năm 2009

- Cuốn sách " Hâ ̣u giải phóng mặt bằng ở Hà Nội - Vấn đề và giải pha ́ p" của PGS.TS Nguyễn Chí Mỳ và TS Hoàng Xuân Nghĩa (đồng chủ

biên), Nhà xuất bản Chính tri ̣ quốc gia, năm 2009

Trang 9

- Bài viết "Giải bài toán lợi ích kinh tế giữa ba chủ thể: Nhà nước,

người có đất bị thu hồi và chủ đầu tư khi bị thu hồi đất", của ThS Đặng Đức

Long - Tạp chí Tài nguyên và Môi trường, số 5, 2009

- Luận văn thạc sĩ luật học "Pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu

hồi đất qua thực tiễn áp dụng tại địa bàn quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội",

của Nguyễn Thị Yến, năm 2010

- Bài viết " Chính sách đền bù khi thu hồi đất của một số nước trong

khu vư ̣c và Viê ̣t Nam", của ThS Nguyễn Thi ̣ Dung, Ta ̣p chí Cô ̣ng sản, số

2010

- Bài viết " Chính sách hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất", của TS Trần

Quang Huy, Tạp chí Luâ ̣t ho ̣c, số 10, 2010

- Luận văn tốt nghiệp “Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường,

hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất tại một số dự án trên địa bàn quận Cầu Giấy, Thành phố Hà Nội”, của Nguyễn Thị Nhi - Đại học Tài

nguyên môi trường, năm 2014

- Luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật về bồi thường giải phóng mặt

băng khi Nhà nước thu hồi đất qua thực tiễn thi hành tại địa bàn quận Đống

Đa, Thành phố Hà Nội”, Nguyễn Thế Hùng, năm 2015

Các công trình nghiên cứu trên đây đã giải quyết một số vấn đề lý luận

và thực tiễn cơ bản liên quan đến pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất ở nước ta Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chưa đi sâu đánh giá việc thực hiện pháp luật mà chỉ mới dừng lại những quy định của luật theo như quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫn khác

Bên cạnh đó cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện công tác thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu

hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội Vì vậy, nghiên cứu đề

Trang 10

tài luận văn này là đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra và không trùng lặp với các

công trình, đề tài nghiên cứu đã từng công bố

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu luận văn

- Đề xuất các giải pháp các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa nói riêng và địa bàn thành phố Hà Nội nói chung

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Làm rõ vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất

- Khảo sát, đánh giá thực trạng về thực hiện pháp luật bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội; tìm ra những hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế

- Đề xuất các giải pháp các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nội dung của Luật đất đai năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

Trang 11

- Những lý luận thực hiện pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

- Những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các quy định của thành phố Hà Nội, quận Đống Đa về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất

- Thực trạng thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

- Các kết quả nghiên cứu khoa học về bồi thường, GPMB khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt Nam đã công bố trong và ngoài nước thời gian qua,…

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến hết năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận văn

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm, đường lối của Đảng, Nhà nước về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất cũng như thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể sau:

- Phương pháp phân tích và tổng kết: Hệ thống các văn bản hướng dẫn, các tài liệu tham khảo, giáo trình, sách, công trình nghiên cứu, bài viết đã được công bố liên quan bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất Thực tiễn thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn Thủ Đô nói chung và trên địa bàn quận Đống Đa nói riêng, kết quả

Trang 12

đã đạt được, hạn chế thiếu sót và nguyên nhân, những yếu tố tác động và phân tích đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu công tác này

- Phương pháp thống kê về cán bộ thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa và kết quả thực hiện công tác này

- Phương pháp chuyên gia qua gặp gỡ, trao đổi với các nhà khoa học, cán bộ thực tiễn công tác trong thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất

6 Những đóng góp mới của luận văn

- Làm phong phú lý luận về thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất

- Đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội

- Đề xuất các giải pháp các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội trong thời gian tới

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc làm 3 chương

- Chương 1 Lý luận thực hiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất

- Chương 2 Thực trạng thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội

- Chương 3 Giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất trên địa bàn quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội

Trang 13

Chương 1

LÝ LUẬN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ BỒI KHI NHÀ NƯỚC

THU HỒI ĐẤT

1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm về bồi thường thu hồi đất

Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: "Bồi thường: đền bù những tổn

hại đã gây ra" [12, tr 30]

Trong lĩnh vực pháp luật, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi một chủ thể có hành vi gây thiệt hại cho chủ thể khác trong xã hội Trách nhiệm này được nhiều ngành luật đề cập như trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong lĩnh vực pháp luật dân sự; trách nhiệm bồi thường oan, sai do hành vi của các cơ quan tố tụng gây ra trong lĩnh vực pháp luật hình sự; trách nhiệm vật chất do hành vi của người lao động gây ra trong lĩnh vực pháp luật lao động

Trong lĩnh vực pháp luật đất đai, thuật ngữ bồi thường (hay đền bù) thiệt hại để thực hiện GPMB ở Việt Nam được đặt ra từ rất sớm Nghị định

số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng Chính phủ (nay là Chính phủ)

"Quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất", tại Chương II đề cập đến việc "Bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng"; Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng Chính phủ về "Quy định một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lưu niên, các hoa mầu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố" cũng đề cập đến vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Tuy nhiên, Luật đất đai năm 1993 và các văn bản hướng dẫn thi hành được ban hành lại sử dụng thuật ngữ đền bù Chỉ đến khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 2001 ra đời, thuật ngữ bồi thường mới được sử dụng trở lại và tiếp

Trang 14

tục xuất hiện trong Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2013 và các nghị định hướng dẫn thi hành ra đời kế thừa thuật ngữ bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất Vậy hiểu như thế nào là bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất? Theo quan niệm của Luật đất đai năm 2013: "Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất" (Khoản 12 Điều 3) Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất mang một số đặc trưng cơ bản sau đây:

- Vấn đề bồi thường chỉ đặt ra khi Nhà nước thu hồi đất của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế -

xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng;

- Việc bồi thường cho người sử dụng đất không do lỗi của Nhà nước gây ra mà xuất phát từ nhu cầu chung của xã hội, của cộng đồng;

- Việc bồi thường về đất thực hiện không căn cứ vào giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường (trao đổi ngang giá) mà dựa vào giá đất

cụ thể do Nhà nước xác định tại thời điểm thu hồi đất;

Để hiểu rõ hơn bản chất của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất, chúng ta hãy phân biệt nó với các loại bồi thường trong một số lĩnh vực pháp luật khác

1.1.2 Khái nhiệm về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất

Công việc bồi thường giải phóng mặt bằng thường là những việc nặng

nề nhất của các dự án đầu tư Trong nhiều trường hợp do không chuẩn bị tốt việc táiđịnh cư, không xác định giá cả bồi thường hợp lý, không kiên quyết thực hiện cưỡng chế giải phóng mặt bằng đã làm nhiều công trình bị ách tắc

Từ đó nhiều người đã ngộ nhận rằng việc bồi thường giải tỏa là trở lực của các dự án phát triển Quan niệm không đúng này dễ dẫn đến các giải pháp sai lầm khi thực hiện giải phóng mặt bằng để cải tạo và phát triển đô thị

Trang 15

Nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa Đây cũng

là quá trình phát triển đô thị hóa và phát triển toàn diện đất nước Toàn bộ quá trình này có 4 tiến trình song hành:

Một là tiến trình di dân từ nông thôn về đô thị và vùng kinh tế mới Hiện nay mức độ đô thị hóa của nước ta mới đạt 25% Khi việc công nghiệp hóa thành công (vào khoảng năm 2020), mức độ đô thị hóa có thể đạt tới 40 – 45%, lúc ấy dân sống trong các đô thị sẽ tăng lên đến khoảng 40 triệu người Đây là quá trình tái định cư vào đô thị theo nhu cầu phát triển đất nước Ngoài di dân vào đô thị,việc khai hoang mở các nông trại, các lâm trường cũng là một khâu quan trọng trong việc tái bố trí dân cư nhằm mục đích khai thác tốt hơn tài nguyên và bảo vệ môi trường sinh thái

Hai là tiến trình tái bố trí mục đích sử dụng đất theo quy hoạch Việc quy hoạch cải tạo và phát triển các đô thị để phục vụ quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa là một công việc tất yếu

Tiến trình này ở đô thị có 2 nội dung: cải tạo chỉnh trang đô thị cũ và quy hoạch phát triển các khu đô thị mới Khi thực hiện các quy hoạch này không tránh khỏi việc di dời tái định cư

Ba là tiến trình nâng cao năng suất lao động, đồng thời với nó là nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế vì năng suất lao động công nghiệp cao hơn năng suất lao động nông nghiệp giản đơn Quá trình công nghiệp hóa đòi hỏi đào tạo và đào tạo lại lao động Việc tái định cư phải đảm bảo việc này để phục vụ công nghiệp hóa đất nước

Bốn là tiến trình cải thiện đời sống nhân dân Nâng cao mọi mặt đời sống của nhân dân là mục tiêu cơ bản của phát triển Phương châm chỉ đạo cơ bản của công tác bồi thường tái định cư là đảm bảo cuộc sống của người dân bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ

Mỗi người dân sẽ được hưởng lợi từ 2 nguồn: từ sự bồi thường táiđịnh

Trang 16

cư trực tiếp khi thực hiện dự án và từ sự phát triển chung của đô thị do dự án mang lại Đời sống của người dân không ngừng nâng cao là biểu hiện của phát triển

Dựa trên những khái niệm đã nêu và những phân tích ở trên chúng ta có

thể thấy: Bồi thường giải phóng mặt bằng là quá trình các cơ quan nhà nước

tiến hành quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người sử dụng đất vi phạm pháp luật

về đất đai và Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất nhằm tạo lập quỹ đất "sạch" để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1.1.3 Khái niệm thực hiện pháp luật về bồi thường thu hồi đất

Trong bồi thường giải phóng mặt bằng và thu hồi đất thì việc thực hiện đúng các quy định của pháp luật và một đòi hỏi hết sức quan trọng và nó xuất phát từ một số lý do sau:

Thứ nhất, xét về bản chất, pháp luật mang giá trị công bằng Điều này

thể hiện, trước pháp luật không có bất kỳ một tổ chức, cá nhân nào có được

ưu đãi, đặc quyền hơn so với các chủ thể khác trong xã hội Mọi tổ chức, cá nhân đều được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ pháp lý khi tham gia quan

hệ pháp luật Quyền và nghĩa vụ của chủ thể quan hệ pháp luật được ghi nhận bởi các quy định của pháp luật và được đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều được phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh nhằm bảo đảm sự thượng tôn của pháp luật Trên cơ sở đó, trật tự xã hội được duy trì và bảo đảm Chính vì vậy, mọi người trong xã hội đều lấy pháp luật làm tấm gương để soi chiếu, so sánh và

tự điều chỉnh hành vi xử sự của mình Hơn nữa, pháp luật còn là sự phản ánh

ý nguyện, tâm tư, nguyện vọng của các thành viên trong xã hội Cho dù pháp

Trang 17

luật là sản phẩm do con người làm ra nên khó tránh khỏi sự ảnh hưởng của ý chí chủ quan của nhà làm luật hoặc phản ánh ý chí của giai cấp cầm quyền song pháp luật phải phản ánh được những yêu cầu khách quan của xã hội Có nghĩa là pháp luật muốn đi vào cuộc sống và muốn được người dân tự giác tuân thủ chấp hành thì nó phải phản ánh ý nguyện của đại đa số quần chúng nhân dân trong xã hội Mặt khác, giá trị xã hội của pháp luật còn thể hiện ở chỗ pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội của Nhà nước mà nó còn

có vai trò kiến tạo, điều tiết các quan hệ xã hội nói chung và quan hệ đất đai nói riêng Thông qua pháp luật, các chủ thể tham gia quan hệ đất đai dung hòa, "thỏa hiệp" các mâu thuẫn về lợi ích nhằm bảo đảm việc sử dụng đất của mình không làm phương hại, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích chính đáng của người sử dụng đất có liên quan

Thứ hai, thông qua cơ chế điều chỉnh của pháp luật giúp Nhà nước giải

quyết hài hòa mối quan hệ về lợi ích giữa các bên liên quan: Lợi ích của Nhà nước, của cộng đồng; lợi ích của người bị thu hồi đất; lợi ích của doanh nghiệp, chủ đầu tư Bởi lẽ, pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ cho các chủ thể tham gia quan hệ đất đai Điều này có nghĩa là không có bất kỳ chủ thể nào chỉ có quyền mà không phải thực hiện nghĩa vụ và ngược lại khi tham gia quan hệ đất đai Trong trường hợp một chủ thể khi sử dụng đất thực hiện các quyền do pháp luật quy định mà gây phương hại đến lợi ích chính đáng của chủ thể sử dụng đất khác thì họ phải có nghĩa vụ khắc phục hoặc bồi thường do hành vi của mình gây ra Thông qua đó, các lợi ích khác nhau, thậm chí đối lập nhau của các chủ thể được dung hòa trong khuôn khổ quy định của pháp luật

Thứ ba, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là lĩnh vực khó khăn,

phức tạp và nhạy cảm; bởi nó trực tiếp động chạm đến lợi ích thiết thực của các bên liên quan mà trước hết là người sử dụng đất Đối với một nước nông nghiệp có khoảng 70% dân số là nông dân như nước ta thì mỗi một sự động

Trang 18

chạm đến lợi ích của người nông dân sẽ gây ra những hậu quả khôn lường Đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng có một vai trò hết sức quan trọng; nó không chỉ là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của nền sản xuất nông nghiệp mà còn là điều kiện vật chất tạo việc làm, đem lại thu nhập đảm bảo cuộc sống cho khoảng 56 triệu người sống ở khu vực nông thôn Hơn nữa, việc có đất hay mất đất nông nghiệp của người nông dân còn tiềm ẩn nguy cơ đối với sự ổn định chính trị, trật tự xã hội Vì vậy, trong thu hồi đất nông nghiệp, điều trước tiên mà Nhà nước phải giải quyết đó là bảo đảm quyền lợi hợp pháp cho người nông dân thông qua bồi thường Tuy nhiên, bồi thường như thế nào, bồi thường ra sao để không gây ra những xung đột

xã hội, được tạo ra bởi sự mâu thuẫn về lợi ích giữa Nhà nước với người bị thu hồi đất nông nghiệp hoặc không gây ra những áp lực vượt quá khả năng tài chính của Nhà nước, của xã hội Lời giải cho những câu hỏi này nằm ở nội dung các quy định của pháp luật; bởi lẽ, pháp luật suy cho cùng là một khế ước thể hiện sự thỏa hiệp về quyền lợi giữa các giai tầng trong xã hội Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong xã hội Khi tham gia các quan hệ xã hội, con người phải tuân thủ quyền và nghĩa vụ do pháp luật quy định nhằm đảm bảo hài hòa các lợi ích khác nhau trong xã hội Thông qua việc tuân thủ các quy định của pháp luật, người bị thu hồi đất tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình, nhằm nhận được sự bảo hộ đối với lợi ích hợp pháp của mình, không gây phương hại cho Nhà nước, cho xã hội Ngược lại, thông qua việc tuân thủ pháp luật trong việc bồi thường cho người bị thu hồi đất, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tự điều chỉnh hành vi ứng xử của mình để không làm thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất Có như vậy mới không tạo ra những xung đột, mâu thuẫn về lợi ích giữa các bên trong bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp cận vấn đề đất đai trong quá trình phát triển đất nước

Trang 19

Thứ tư, pháp luật quy định cụ thể các trường hợp thu hồi đất, mục

đích thu hồi đất, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thu hồi và phương thức giải quyết hậu quả do việc thu hồi đất gây ra Thông qua việc tuân thủ các quy định này các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, cân nhắc đưa ra hành vi ứng xử của mình cho phù hợp, nhằm bảo đảm hạn chế đến mức thấp nhất việc thu hồi đất, cũng như việc thu hồi đất sử dụng vào các mục đích chung phải đem lại hiệu quả cho toàn xã hội (trong đó có người bị thu hồi đất), chống lại việc thu hồi đất vì lợi ích nhóm hoặc không đem lại lợi ích chung cho xã hội Có như vậy mới tạo được sự đồng thuận của người dân đối với quyết định thu hồi đất Ở một khía cạnh khác, thông qua các quy định cụ thể và tường minh của pháp luật, người dân và dư luận xã hội theo dõi, giám sát các hành vi ứng xử của công chức nhà nước, của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực thi pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để lên án, đấu tranh với các hiện tượng nhũng nhiễu, tham nhũng, tiêu cực hoặc các hành vi vi phạm pháp luật… nhằm đảm bảo duy trì

kỷ cương, kỷ luật nhà nước và tăng cường pháp chế

Từ những phân tích trên chúng ta có thể thấy: Thực hiện pháp luật về

bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là quá trình các cơ quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ chủ trương, chính sách và căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành tiến hành thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước giao quyền sử dụng đất và Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích thu hồi nhằm phục vụ phát triển xã hội và đáp ứng lợi ích của nhân dân

1.1.4 Phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi thường trong một số lĩnh vực pháp luật khác

- Phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự

Trang 20

Nghiên cứu về bản chất của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự có thể thấy giữa hai loại trách nhiệm bồi thường này có sự khác nhau ở một số khía cạnh cơ bản sau đây:

Một là, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là trách nhiệm của Nhà

nước Ở đây Nhà nước vừa là một tổ chức chính trị, quyền lực vừa là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với đất đai Trong khi đó, chủ thể của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng

có phạm vi rộng hơn, bao gồm bất cứ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào có hành vi gây thiệt hại cho người khác

Hai là, chủ thể được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là người sử

dụng đất hợp pháp bị thu hồi đất Tức là người sử dụng đất được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) hay GCNQSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (gọi chung là GCNQSDĐ) hoặc có một trong các loại giấy tờ về QSDĐ theo quy định tại Điều 100 của Luật đất đai năm 2013 mà có đất đang sử dụng bị Nhà nước thu hồi Trong khi đó, chủ thể được bồi thường trong chế định bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là bất cứ tổ chức, hộ gia đình, cá nhân nào có thiệt hại do hành vi vi phạm ngoài hợp đồng của chủ thể bồi thường gây ra

Ba là, nguyên tắc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng áp dụng trong

pháp luật dân sự là nguyên tắc tự nguyện thỏa thuận giữa người có trách nhiệm bồi thường và người được bồi thường Chỉ khi nào các bên không tự thỏa thuận được với nhau thì mới yêu cầu các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền can thiệp giải quyết Trong khi đó, nguyên tắc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất lại có nét khác biệt Việc bồi thường được thực hiện khi người bị thu hồi đất thỏa mãn đầy đủ các điều kiện về bồi thường do pháp luật quy định

Trang 21

Bốn là, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất chỉ đặt ra khi Nhà

nước ban hành một quyết định hành chính về thu hồi đất làm chấm dứt QSDĐ của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân đối với một diện tích đất xác định Hậu quả thiệt hại do việc thu hồi đất của Nhà nước gây ra chỉ có ý nghĩa trong việc xác định mức độ bồi thường Hơn nữa, việc Nhà nước thu hồi đất xuất phát từ nhu cầu khách quan của xã hội Vì vậy, trong nhiều trường hợp việc Nhà nước bồi thường cho người bị thu hồi đất chưa hẳn là do lỗi của mình gây ra mà ở đây Nhà nước thực hiện nghĩa vụ bồi thường của xã hội đối với người sử dụng đất Để thực hiện trách nhiệm xã hội, Nhà nước không chỉ bồi thường về đất, thiệt hại về tài sản trên đất mà còn thực hiện việc hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ di chuyển chỗ ở; giải quyết vấn đề tái định cư; đào tạo chuyển đổi nghề, bố trí việc làm mới cho người bị thu hồi đất

Trong khi đó, việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng được đặt ra khi người có trách nhiệm bồi thường có hành vi gây thiệt hại cho người khác Việc bồi thường trong trường hợp này được thực hiện dựa trên yếu tố lỗi và thiệt hại thực tế xảy ra Hơn nữa, người có trách nhiệm bồi thường chỉ chịu trách nhiệm cá nhân đối với người bị thiệt hại Điều này có nghĩa là họ chỉ có trách nhiệm bồi thường toàn bộ thiệt hại do lỗi của mình gây ra mà thôi

Năm là, bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng chỉ thuần túy mang tính

chất dân sự giữa cá nhân hoặc tổ chức với nhau Trong khi đó, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất lại hàm chứa cả tính chất hành chính và tính chất dân sự: Tính chất hành chính của bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thể hiện ở việc

cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra một quyết định hành chính làm chấm dứt QSDĐ của người sử dụng đối với một diện tích đất nhất định Tính chất dân sự của loại bồi thường này thể hiện các thiệt hại thực tế của người sử dụng đất về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi được Nhà nước bồi thường toàn bộ

- Phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi thường

Trang 22

oan sai trong pháp luật hình sự

Nghiên cứu, tìm hiểu về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với bồi thường oan sai trong pháp luật hình sự cho thấy giữa chúng cũng có những sự khác nhau cơ bản như sau:

Một là, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phát sinh do một hành vi

hành chính là quyết định thu hồi đất của cơ quan hành chính gây ra Trong khi đó, bồi thường oan sai trong pháp luật hình sự lại phát sinh từ một hành

vi của cơ quan, tố tụng như hành vi truy tố, xét xử oan sai gây ra

Hai là, trong nhiều trường hợp, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

chưa chắc đã phải do lỗi của Nhà nước gây ra mà xuất phát từ nhu cầu khách quan của xã hội Trong khi đó, bồi thường oan sai trong pháp luật hình sự lại

do lỗi hoặc hành vi vi phạm (hành vi vi phạm có thể xuất phát từ năng lực, trình độ yếu kém; do thái độ chủ quan, cẩu thả ) của cơ quan tố tụng gây nên

Ba là, bồi thường oan sai trong pháp luật hình sự được thực hiện dựa trên

nguyên tắc:

Thiệt hại được bồi thường bao gồm thiệt hại về tinh thần và thiệt hại về vật chất (Khoản 3, Điều 3, Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/03/2003 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội)

Việc bồi thường thiệt hại được tiến hành trên cơ sở thương lượng giữa đại diện cơ quan có trách nhiệm bồi thường thiệt hại với người bị oan, sai; thân nhân hoặc đại diện hợp pháp của họ

Trong khi đó, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện dựa trên nguyên tắc người bị thu hồi đất phải thỏa mãn các điều kiện về bồi thường do pháp luật quy định Hơn nữa, phạm vi của trách nhiệm bồi thường này không xem xét đến yếu tố thiệt hại về tinh thần của người sử dụng đất

Bốn là, chế định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất không chỉ xem

xét trách nhiệm của Nhà nước trong việc bồi thường thiệt hại do hành vi thu

Trang 23

hồi đất của mình gây ra mà còn giải quyết các vấn đề mang tính xã hội như vấn đề hỗ trợ đời sống gặp khó khăn, đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp và bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất Trong khi đó, bồi thường oan sai trong pháp luật hình sự chỉ xem xét bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần do hành vi của chủ thể có trách nhiệm bồi thường gây ra cho người bị oan sai

- Phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với trách nhiệm vật chất trong pháp luật lao động

Nghiên cứu về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với trách nhiệm vật chất trong pháp luật lao động cho thấy giữa hai loại trách nhiệm này có những điểm khác nhau chủ yếu sau đây:

Một là, trách nhiệm vật chất được đặt ra khi người lao động có hành vi

vi phạm nội quy, kỷ luật lao động gây ra trong thời gian làm việc Trong khi

đó vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được đặt ra khi Nhà nước có hành vi thu hồi đất của người sử dụng đất; đồng thời Nhà nước là chủ thể có trách nhiệm bồi thường cho người sử dụng đất

Hai là, chế định trách nhiệm vật chất trong pháp luật lao động quy

định người lao động có hành vi vi phạm nội quy, kỷ luật lao động mà gây thiệt hại cho đơn vị sử dụng lao động thì chỉ phải bồi thường thiệt hại với mức tối đa không quá 3 tháng lương (trường hợp gia đình họ gặp hoàn cảnh khó khăn còn được xem xét miễn, giảm mức bồi thường) Trong khi đó, bồi thường do Nhà nước thu hồi đất thực hiện phải bồi thường toàn bộ thiệt hại thực tế về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi và bồi thường về đất cho người bị thu hồi đất

Ba là, chế định bồi thường về trách nhiệm vật chất trong pháp luật lao

động không đặt ra trách nhiệm cho người gây ra thiệt hại phải giải quyết các vấn đề mang tính xã hội do lỗi vi phạm của mình gây ra cho người bị thiệt

Trang 24

hại Trong khi đó, trách nhiệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất lại đặt ra trách nhiệm cho Nhà nước không chỉ bồi thường mà còn giải quyết những vấn đề mang tính xã hội phát sinh từ việc thu hồi đất cho người bị thu hồi đất

1.2 Ý nghĩa của việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

- Bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, công cộng

Thu hồi đất là biện pháp của Nhà nước nhằm chấm dứt quan hệ pháp luật về sử dụng đất giữa một bên là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân được giao đất, cho thuê đất và một bên là Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu về đất đai Thông qua việc thu hồi đất, Nhà nước có được một quỹ đất cần thiết đáp ứng nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đồng bộ; phát triển các cơ sở kinh tế, công nghiệp, các cơ sở sản xuất - kinh doanh, khu đô thị Qua đó, làm tăng tính hấp dẫn của môi trường đầu tư; kêu gọi sự đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đồng thời, ở một mức độ nhất định, việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất cũng góp phần gián tiếp vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng sản xuất công nghiệp, dịch vụ Khi diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, Nhà nước thực hiện các biện pháp hỗ trợ cho người nông dân bị mất đất sản xuất trong việc đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm mới Qua đó, góp phần rút bớt một lực lượng lao động ở nông thôn chuyển sang làm việc trong khu vực sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ

- Bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đấy bảo đảm giải quyết hài hòa lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người bị thu hồi đất và lợi ích của nhà đầu tư

Vì lợi ích chung, lợi ích của cả cộng đồng, Nhà nước thực hiện thu hồi

Trang 25

đất của người sử dụng đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng Điều này sẽ gây ra thiệt hại

và ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của những người bị thu hồi đất Nếu không thực hiện tốt việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người bị thu hồi đất sẽ dẫn đến tình trạng là trong khi các công trình phúc lợi công cộng được xây dựng trên những diện tích đất bị thu hồi mang lại lợi ích cho số đông dân chúng trong xã hội thì ở thái cực ngược lại người bị thu hồi đất lại rơi vào tình trạng khó khăn về sản xuất và đời sống do bị mất đất sản xuất hoặc bị mất nhà

ở Do đó, vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải giải quyết hài hòa các mối quan hệ về lợi ích của người bị thu hồi đất với lợi ích của Nhà nước, của xã hội để vừa bảo đảm nhu cầu sử dụng đất phục vụ cho nhu cầu quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, bồi hoàn cho họ những thành quả lao động, kết quả đầu tư bị thiệt hại do việc thu hồi đất gây ra

Ở một khía cạnh khác, nếu việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện không có hiệu quả hoặc không công khai, minh bạch, dân chủ và đúng pháp luật khiến người bị thu hồi đất không đồng thuận dẫn đến việc chậm bàn giao đất để thực hiện dự án; phát sinh tranh chấp, khiếu kiện kéo dài v.v Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của nhà đầu tư do chậm tiến độ triển khai dự án và làm lỡ cơ hội kinh doanh gây trở ngại đến tốc độ

và chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể coi trọng phát triển kinh tế, dành nhiều ưu đãi, thuận lợi cho doanh nghiệp, các nhà đầu tư mà coi nhẹ, không quan tâm đúng mức đến vấn đề bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất mà phải giải quyết hài hòa giữa lợi ích của doanh nghiệp, chủ đầu tư với lợi ích của người bị thu hồi đất Có như vậy thì việc phát triển mới mang tính bền vững vừa đảm bảo phát triển kinh tế vừa chú trọng giải quyết các vấn đề an sinh xã hội

Trang 26

- Bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất góp phần vào việc duy trì

ổn định tình hình chính trị, kinh tế và trật tự xã hội

Cho dù thu hồi đất để sử dụng vào bất kỳ mục đích gì thì đây cũng là hành vi "động chạm" trực tiếp đến quyền và lợi ích của người sử dụng đất Chính vì vậy, thu hồi đất luôn luôn là vấn đề nhạy cảm, tiềm ẩn nhiều nguy

cơ mâu thuẫn, tranh chấp về lợi ích giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và người được hưởng lợi từ việc thu hồi đất Thực tế giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện từ việc thực hiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất cho thấy nếu không giải quyết tốt việc bồi thường tổn thất, hỗ trợ, tái định cư cho người bị thu hồi đất nhằm giúp họ vượt qua khó khăn nhanh chóng ổn định đời sống và sản xuất thì sẽ phát sinh nhiều tranh chấp, khiếu kiện kéo dài, vượt cấp với số đông người dân tham gia Đây là nguyên nhân cơ bản làm phát sinh những "điểm nóng" gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội

và dễ bị kẻ xấu lợi dụng kích động, lôi kéo người dân không đồng thuận với quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về thu hồi đất để thực hiện các dự án đầu tư, các công trình hạ tầng công cộng phục vụ lợi ích của cộng đồng Do đó, thực hiện tốt bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng góp phần duy trì ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; tránh nguy cơ nảy sinh các xung đột xã hội

1.3 Nội dung thực hiên pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất 1.3.1 Cơ sở pháp lý

Các nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất được quy định cụ thể tại Điều 74, Điều 88 Luật Đất Đai 2013, hướng dẫn thực hiện tại Nghị định 47/2014/NĐ-CP

Nhằm đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị thu hồi đất, khắc phục bất cập và điều tiết hài hòa giữa lợi ích Nhà nước, người sử

Trang 27

dụng đất và nhà đầu tư, đồng thời giảm thiểu và hạn chế các khiếu kiện của công dân trong việc bồi thường, giải phóng mặt bằng khi bị thu hồi đất Luật Đất đai năm 2013 vừa tiếp tục kế thừa, luật hóa những quy định còn phù hợp

đã và đang đi vào cuộc sống của pháp luật đất đai năm 2003, nhưng đồng thời

đã sửa đổi, bổ sung một số quy định định mới nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của Luật Đất đai năm 2003 Về nguyên tắc khi thực hiện thu hồi đất: Luật khẳng định mô ̣t cách rõ ràng nguyên tắc công khai, minh ba ̣ch và dân chủ trong công tác thu hồi đất thông qua các quy đi ̣nh về các trường hợp Nhà nước thu hồi đất; quy định trình tự, thủ tu ̣c thu hồi đất; bồi thường, hỗ trợ, tái

đi ̣nh cư khi Nhà nước thu hồi đất; Để đảm bảo nguyên tắc dân chủ, công khai, Luật này đã quy đi ̣nh theo hướng tăng cường hơn sự tham gia trực tiếp của nhân dân trong việc đo đa ̣c, kiểm đếm đất đai, tài sản gắn liền với đất và xây

dựng phương án bồi thường, hỗ trợ và tái đi ̣nh cư; trách nhiê ̣m đối thoa ̣i và giải trình của cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi người dân chưa có ý kiến đồng thuâ ̣n

1.3 2 Nguyên tắc bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất

* Nguyên tắc bồi thường

Các chế định bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trong Luật Đất đai năm 2013 được quy định tại 2 điều (Điều 41, 42 và 43) và trên thực tế không thể thể chế, truyền tải hết các quy định mang tính nguyên tắc để thực hiện thống nhất khi xử lý những vấn đề phức tạp phát sinh trong thực tiễn thu hồi đất, bồi thường về đất, hỗ trợ và tái định cư tại các địa phương, các bộ, ngành Khắc phục hạn chế này, Luật Đất đai năm 2013 đã tách nguyên tắc bồi thường về đất và nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất thành 02 điều riêng

Trang 28

biệt (Điều 74 và Điều 88) Trong đó quy định cụ thể các nguyên tắc bồi

thường về đất và các nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất khi Nhà nước thu hồi đất để các bộ, ngành, địa phương và người thu hồi đất căn cứ vào đó thống nhất thực hiện Nội dung cụ thể nguyên tắc bồi

thường như sau:

“Điều 74 Nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

1 Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có đủ điều kiện được bồi thường quy định tại Điều 75 của Luật này thì được bồi thường

2 Việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất

3 Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật”

Nguyên tắc trên thể hiện khi nhà nước lấy đi phần lợi ích của người dân mà người dân có đầy đủ điều kiện được bồi thường thì Nhà nước có trách nhiệm phải bồi thường thiệt hại Quy định trên phù hợp với nguyên tắc dân sự được quy định trong Bộ luật dân sự 2005 Khi Nhà nước lấy đất thì bồi thường bằng đất cùng loại, nếu không có đất cùng loại thì bồi thường bằng tiền với giá trị tương đương Cách tiếp cận này xuất phát từ quan niệm coi đất đai là tài sản có thể được trả thay bằng tiền bồi thường để mua được một thửa đất tương đương Quy định này cũng nhằm ngăn ngừa tình trạng người bị THĐ đòi hỏi giá bồi thường quá cao do giá trị của đất đai tăng lên từ việc chuyển mục đích SDĐ hoặc do sự đầu tư của Nhà nước mang lại

Trang 29

Việc bồi thường phải dân chủ khách quan, tức là phải đảm bảo khi người dân bị thu hồi đất mà có các đủ điều kiện nhận bồi thường, họ phải được bồi thường Đây là quyền liên quan tới lợi ích chính đáng mà không một

ai hay tổ chức cá nhân nào không cho họ thực hiện

“ Điều 88 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất

1 Khi Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất

bị thiệt hại về tài sản thì được bồi thường

2 Khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì được bồi thường thiệt hại”

Đây là môt điểm mới của luật đất đai 2013 khi đã bắt đầu xem xét bồi thường về đất không chỉ với tư cách là tài sản mà còn là tài nguyên và tư liệu sản xuất Trên thực tế, ngoài ý nghĩa là tài sản, đất đai còn là tài nguyên thiên nhiên, tư liệu sản xuất và nguồn sống của con người Vì đất là tư liệu sản xuất của người bị thu hồi đất nên nhà đầu tư ngoài việc bồi thường giá trị như một tài sản còn phải bồi thường về thu nhập, sinh kế cho người mất đất Nếu chỉ là khoản hỗ trợ trong một thời gian nhất định thì coi như đã phó mặc việc tìm sinh kế mới cho người mất đất Do đó, thay vì phó mặc gánh nặng hỗ trợ đào tạo nghề đối với người mất đất cho Nhà nước, nhà đầu tư cần phải được yêu cầu cùng bàn bạc với người mất đất về cơ hội tìm sinh kế mới cho họ; đồng thời, nhà đầu tư phải chi trả cho người mất đất một khoản tiền tương ứng với mức thu từ sử dụng đất trước đây cho tới khi người bị mất đất có nguồn thu nhập mới và theo nguyên tắc, càng để lâu, chi phí bồi thường càng lớn để bắt buộc nhà đầu tư không thể trì hoãn Theo nguyên tắc này, nhà đầu tư cần

Trang 30

nghiên cứu rất kỹ lưỡng đất đai trong bài toán đầu tư để chi phí ít nhất, chính quyền địa phương cũng khó đánh đổi mọi giá cho sự phát triển, như vậy chắc chắn sẽ giảm được tham nhũng từ đất đai và bảo vệ được nguồn lực đất đai

* Nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất:

a) Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ;

b) Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.”

Thứ nhất, quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường

Thứ hai, quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ mà nguồn thu nhập chính từ hoạt động kinh doanh dịch vụ khi Nhà nước thu hồi đất ở

mà phải di chuyển chổ ở

Thứ ba, một trong các hình thức hỗ trợ là hỗ trợ về chỗ ở, tái định cư Nhằm khắc phục tình trạng một số khu vực tái định cư chất lượng còn thấp, không đồng bộ về cơ sở hạ tầng, chưa đảm bảo tiêu chí có điều kiện phát triển bằng hoặc tố hơn nơi ở cũ Nhiều địa phương chưa lập khu tái định cư chung cho các dự án tại địa bàn nên nhiều dự án chưa có khu tái định cư đã thực hiện thu hồi đất ở, thậm chí có những dự án mà người có đất bị thu hồi phải đi thuê nhà để ở nhiều năm mà vẫn chưa được bồ trí vào khu tái định cư, Luật Đất đai năm 2013 đã quy định về lập và thực hiện dự án tái định cư, bố trí tái định cư cho người bị thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở

Trang 31

Tính dân chủ, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật

Ở cả trong nguyên tắc về bồi thường cũng như hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất đều đề cập tới tính bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai minh bạch, dân chủ, đúng pháp luật Đây là một đòi hỏi khách quan trong quá trình thực thi các quy định của pháp luật về bồi thường hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất, vừa là cơ chế để kiểm soát hoạt động này Bởi tất cả nội dung, phạm vi, giới hạn, trình tự, thủ tục…bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất đều do pháp luật quy định Việc thực hiện công khai minh bạch, dân chủ được thể hiện như sau:

- Quy định cụ thể những trường hợp Nhà nước THĐ do lỗi của người SDĐ gây ra hoặc những trường hợp THĐ vì lý do đương nhiên; Trên cơ sở đó, Nhà nước thực thi chính sách bồi thường, hỗ trợ, TĐC không giống nhau đối với các trường hợp THĐ: (i) trường hợp THĐ sử dụng vào mục đích quốc phòng,

an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và mục đích phát triển kinh tế thì người bị THĐ được Nhà nước bồi thường về đất và bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi Đối với trường hợp thu hồi đất ở (THĐƠ), người bị THĐ ngoài việc được Nhà nước bồi thường về đất và tài sản gắn liền với đất bị thu hồi còn được hưởng chính sách TĐC Trường hợp THĐ nông nghiệp của người trực tiếp sản xuất nông nghiệp mà không có đất để giao cho

họ tiếp tục sản xuất, người bị THĐ nông nghiệp ngoài việc được bồi thường

về đất và tài sản trên đất còn được Nhà nước hỗ trợ trong việc ổn định cuộc sống, đào tạo, chuyển đổi nghề nghiệp; (ii) trường hợp THĐ do lỗi của người SDĐ gây ra thì người bị THĐ không được bồi thường về đất mà chỉ được bồi thường thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi

- Quy định cụ thể thời hạn thông báo cho người bị THĐ biết về quyết định THĐ nhằm tạo điều kiện để họ chủ động trong việc thu hoạch mùa màng, thu

Trang 32

dọn đồ đạc, di chuyển chỗ ở để sớm bàn giao mặt bằng cho chủ đầu tư Quy định cụ thể các trường hợp Nhà nước THĐ để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế và trường hợp người sử dụng đất trong khu vực có đất thu hồi không phối hợp với tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng trong việc điều tra, khảo sát, đo đạc, kiểm đếm thì Ủy ban nhân dân cấp xã,

Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã nơi có đất thu hồi và tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng tổ chức vận động, thuyết phục để người sử dụng đất thực hiện

- Quy định cụ thể điều kiện được bồi thường khi Nhà nước THĐ tại Điều 75 Luật Đất Đai 2013 Điều này góp phần làm giảm những tranh chấp, khiếu kiện không cần thiết xung quanh việc bồi thường khi Nhà nước THĐ

- Pháp luật đất đai hiện hành quy định rõ ràng trách nhiệm của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong việc lập và thực hiện các dự án TĐC trước khi THĐ để bồi thường bằng nhà ở, đất ở cho

người bị THĐ ở mà phải di chuyển chỗ ở Khu TĐC được quy hoạch chung cho nhiều dự án trên cùng một địa bàn và phải có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ

1.3.3 Chủ thể thực hiện pháp luật về thu hồi đất

Khi tham gia quan hệ pháp luật về thu hồi đất chủ thể bao gồm: Cơ quan nhà nước; Tổ chức phát triển quỹ đất; Người có đất bị thu hồi;

Cơ quan nhà nước: tham gia vào quá trình thực hiện pháp luật về thu hồi

đất gồm UBND cấp tỉnh và UBND cấp huyện và UBND cấp xã

UBND cấp tỉnh thu hồi đất của các tổ chức UBND cấp huyện thu hồi đất của hộ gia đình và cá nhân UBND cấp xã thu hồi đất công ích của xã bị lấn chiếm, hoặc cho thuê đã hết thời hạn mà không giao lại

Trang 33

UBND cấp tỉnh căn cứ vào tình hình địa phương giao việc bồi thường,

hỗ trợ, tái định cư cho Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư huyện và tổ chức phát triển quỹ đất UBND cấp huyện và cấp xã tham gia trực tiếp vào Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư huyện Thành viên của Hội đồng này gồm: Chủ tịch là lãnh đạo UBND cấp huyện; Các thành viên là: đại diện cơ quan tài chính; đại diện cơ quan tài nguyên và môi trường; đại diện cơ quan

kế hoạch và đầu tư; chủ đầu tư; đại diện UBND cấp xã có đất bị thu hồi; đại diện của những hộ gia đình bị thu hồi đất từ 1 đến 2 người; một số thành viên khác do Chủ tịch Hội đồng quyết định cho phù hợp với thực tế địa phương Trách nhiệm của Hội đồng bồi thường, hỗ trợ và tái định cư: giúp UBND cùng cấp lập và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư; Chủ tịch Hội đồng chỉ đạo các thành viên Hội đồng lập, trình duyệt

và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; Chủ đầu tư có trách nhiệm giúp Chủ tịch Hội đồng lập phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và bảo đảm đầy đủ kinh phí để chi trả kịp thời tiền bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; đại diện những người bị thu hồi đất có trách nhiệm phản ánh nguyện vọng của người bị thu hồi đất, người phải di chuyển chỗ ở và vận động những người bị thu hồi đất thực hiện di chuyển giải phóng mặt bằng đúng tiến độ; các thành viên khác thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công và chỉ đạo của Chủ tịch Hội đồng phù hợp với trách nhiệm của ngành Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư chịu trách nhiệm về tính chính xác, hợp lý của

số liệu kiểm kê, tính pháp lý của đất đai, tài sản được bồi thường, hỗ trợ

Tổ chức phát triển quỹ đất: là đơn vị sự nghiệp có thu do UBND cấp tỉnh

quyết định thành lập ở cấp tỉnh, cấp huyện Tổ chức này có nhiệm vụ: tạo quỹ đất để đấu giá quyền sử dụng đất; quản lý quỹ đất đã được giải phóng mặt bằng; tổ chức thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật; chủ trì hoặc phối hợp với Hội đồng bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để giải

Trang 34

phóng mặt bằng và bồi thường; dịch vụ bồi thường, giải phóng mặt bằng; tổ chức phát triển các khu tái định cư; thực hiện các nhiệm vụ khác theo quyết định của UBND cấp tỉnh

Người có đất bị thu hồi: Là một chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về

thu hồi đất Khi tham gia phải thực hiện một số quyền và nghĩa vụ sau:

Quyền: Đăng ký đến nơi ở tái định cư bằng văn bản Được ưu tiên đăng

ký hộ khẩu cho bản thân, các thành viên khác trong gia đình về nơi ở mới và được ưu tiên chuyển trường cho các thành viên trong gia đình trong độ tuổi đi học Được từ chối vào khu tái định cư không đảm bảo các điều kiện như đã thông báo và niêm yết công khai Được cung cấp mẫu thiết kế nhà miễn phí Được quyền khiếu nại, tố cáo liên quan đến bồi thường, hỗ trợ, tái định cư Nghĩa vụ: Chấp hành nghiêm chỉnh quyết định thu hồi đất và giải phóng mặt bằng Thực hiện di chuyển vào khu tái định cư theo đúng thời gian quy định Xây dựng nhà, công trình đúng quy hoạch và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật Nộp tiền mua nhà ở hoặc tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật

1.3.4 Khách thể của thực hiện pháp luật thu hồi đất

Đối với Nhà nước, khách thể mà nhà nước hướng tới khi thu hồi đất là phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm cuộc sống tốt hơn cho người có đất bị thu hồi, đồng thời bảo đảm trật tự xây dựng theo một quy hoạch nhất định làm cho vùng đô thị cũng như vùng nông thôn của Việt nam văn minh hơn, thuận

lợi hơn, an toàn hơn Đối với người sử dụng đất, khách thể mà họ hướng tới là

từng thửa đất của họ bị thu hồi có được đền bù hoặc được tái định cư một cách công bằng và hợp lý

Đối với mỗi chủ đầu tư, một khi họ đã nhận đất để đầu tư thì họ luôn hướng tới mục tiêu “lợi nhuận tối đa, chi phí tối thiểu’ Như Mác đã từng viết

Trang 35

rằng, đối với nhà tư bản, nếu lợi nhuận lên tới 130% thì có “treo cổ” họ vẫn làm

Xét tới khách thể, ta đã thấy mục đích của các chủ thể là khác nhau, nhiều khi mâu thuẫn nhau, vì vậy Nhà nước cần điều tiết các mâu thuẫn này

1.4 Hình thức về thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất

1.4.1 Hình thức thực hiện pháp luật về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực

tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật

Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp

lý đã xác định những hình thức thực hiện pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất như sau:

- Tuân thủ pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất Tuân thủ pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật kiềm chế không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm Ở hình thức thực hiện này đòi hỏi chủ thể thực hiện nghĩa vụ một cách thụ động, thực hiện các quy phạm pháp luật dưới dạng không hành động

Ví dụ: Một công dân không thực hiện những hành vi tội phạm được qui định trong Luật đất đai, tức là công dân đó tuân thủ những qui định của luật này

- Thi hành pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất Thi hành pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất là hình thức thực hiện những qui định trao nghĩa vụ bắt buộc của pháp luật một cách tích cực trong đó các chủ thể thực hiện nghĩa vụ của mình bằng những hành động tích cực

Trang 36

Khác với tuân thủ pháp luật, trong hình thức thi hành pháp luật đòi hỏi chủ thể phải thực hiện nghĩa vụ pháp lý dưới dạng hành động tích cực

Ví dụ: Một người thấy người khác đang lâm vào tình trạng có thể nguy hiểm đến tính mạng và người đó cứu giúp, tức là người đó đã bằng hành động tích cự thi hàng qui định về nghĩa vụ công dân của pháp luật nói chung và của luật hình sự nói riêng

- Sử dụng pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất

Sử dụng pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể pháp luật thực hiện quyền chủ thể của mình (thực hiện những hành vi mà pháp luật cho phép) Chẳng hạn như thực hiện các quyền khởi kiện, khiếu nại trong khuôn khổ pháp luật quy định

Hình thức này khác với các hình thức trên ở chỗ chủ thể pháp luật có thể thực hiện hoặc không thực hiện quyền được pháp luật cho phép theo ý chí của mình chứ không bị bắt buộc phải thực hiện

- Áp dụng pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất

Áp dụng pháp luật về bồi thường giải phóng mặt bằng thu hồi đất là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc nhà chức trách tổ chức cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào những quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật cụ thể

Áp dụng pháp luật là hình thức luôn luôn đòi hỏi phải có sự tham gia của các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền

Hoạt động áp dụng pháp luật được tiến hành trong các trường hợp sau:

Trường hợp thứ nhất, khi những quan hệ pháp luật với những quyền

và nghĩa vụ cụ thể không mặc nhiên phát sinh nếu thiếu sự can thiệp của

Trang 37

nhà nước Ví dụ: phát hiện một hành vi vi phạm pháp luật về đất đai, các

cơ có thẩm quyền có quyền yêu cầu người vi phạm buộc phải trả về trạng thái ban đầu

Trường hợp thứ hai, khi xảy ra tranh chấp về quyền chủ thể và nghĩa

vụ pháp lý giữa các bên tham gia vào quan hệ pháp luật mà các bên đó không

tự giải quyết được Ví dụ: tranh chấp hoặc bồi thường thiệt hại ngoài quy định hoặc thỏa thuận

Trường hợp thứ ba, khi cần áp dụng các biện pháp cưỡng chế nhà nước

do các chế tài pháp luật quy định đối với những chủ thể có hành vi vi phạm

Trường hợp thứ tư, trong một số quan hệ pháp luật mà nhà nước thấy

cần thiết phải tham gia để kiểm tra, giám sát hoạt động của các bên tham gia quan hệ đó hoặc nhà nước xác nhận tồn tại hay không tồn tại một số vụ việc,

sự kiện thực tế Chẳng hạn toà án tuyên bố mất tích, tuyên bố chết đối với một người; tuyên bố không công nhận vợ chồng đối với nam nữ sống chung với nhau không có đăng ký kết hôn hoặc đăng ký kết hôn tại cơ quan không có thẩm quyền

Áp dụng pháp luật có các đặc điểm sau:

Áp dụng pháp luật mang tính tổ chức, quyền lực nhà nước, cụ thể, hoạt động này chỉ do những cơ quan nhà nước có thẩm quyền, người có thẩm quyền tiến hành

Áp dụng pháp luật là hoạt động được thực hiện theo thủ tục do pháp luật quy định chặt chẽ

Áp dụng pháp luật là hoạt động điều chỉnh cá biệt, cụ thể đối với các quan hệ xã hội

Áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo

1.4.2 Cơ chế thực hiện pháp luật về thu hồi đất

Trang 38

Trong lĩnh vực thu hồi đất hiện nay có 2 cơ chế thực hiện gồm :

- Cơ chế Nhà nước thu hồi đất áp dụng đối với các trường hợp sau:

Thứ nhất, Nhà nước thực hiện thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an

ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng (quy định tại điều 39 Luật Đất đai 2003) Cụ thể thu hồi đất trong các trường hợp: Sử dụng đất vì mục đích an ninh, quốc phòng; sử dụng đất để xây dựng trụ sở cơ quan, các công trình được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất; đất dùng để xây dựng trụ

sở của tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; sử dụng đất phát triển khu đô thị và khu dân cư nông thôn; sử dụng đất phát triển rừng phòng hộ, rừng đặc dụng; sử dụng đất vào nghĩa trang, nghĩa địa; sử dụng đất cho các cơ

sở tôn giáo;

Điều 40 khoản 1 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Nhà nước thực hiện

việc thu hồi đất để sử dụng vào mục đích phát triển kinh tế trong trường hợp đầu tư xây dựng khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế và các dự

án đầu tư lớn theo quy định của Chính phủ Việc thu hồi đất được thực hiện theo quy định tại Điều 39 của Luật này.”

Trường hợp thứ nhất, Nhà nước thực hiện cơ chế hành chính từ khi ra quyết định thu hồi và triển khai bồi thường, hỗ trợ, tái định cư theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Người sử dụng đất phải chấp hành quyết định thu hồi đất, được bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định của Nhà nước Trường hợp nào không tuân thủ quyết định thu hồi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế

Thứ hai, theo cơ chế tự thỏa thuận giữa nhà đầu tư và người sử dụng đất

áp dụng đối với các trường hợp sau đây:

Dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất,

Trang 39

nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân quy định tại khoản 2 Điều 40 Luật Đất đai năm 2003

Điều 40 khoản 2 quy định: “Đối với dự án sản xuất, kinh doanh phù hợp

với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt thì nhà đầu tư được nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất của các tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân mà không phải thực hiện thủ tục thu hồi đất.”

Tại Điều 40 Nghị định số 84/2007 của Chính phủ quy định: các dự án đầu tư thuộc trường hợp Nhà nước thu hồi đất nhưng nhà đầu tư đề nghị và UBND cấp tỉnh có văn bản chấp thuận cho thực hiện theo phương thức tự thỏa thuận với người sử dụng đất để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Theo quy định Luật Đất đai năm 2003 cơ chế thu hồi đất đã góp phần giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng đất và nhà đầu

tư Luật Đất đai năm 1993 chỉ theo cơ chế thu hồi đất bắt buộc Việc Luật Đất đai 2003 cho phép thực hiện cơ chế thỏa thuận để nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất đã thể hiện những ưu điểm sau đây: Khi đạt được sự đồng thuận giữa nhà đầu tư và người sử dụng đất thì cơ chế thực hiện thời gian ngăn hơn, tạo điều kiện cho nhà đầu tư chủ động quỹ đất thực hiện dự án, rút ngắn thời gian giải phóng mặt bằng, hạn chế khiếu kiện; tăng quyền lợi của người dân khi phải nhượng quyền cho dự án Trên cơ cở giải quyết tốt bài toán chia sẻ lợi ích, tạo ra sự ổn định để phát triển kinh tế - xã hội Khi thực hiện cơ chế này các nhà đầu tư và người đang

sử dụng đất có liên quan đất cơ quan công chứng và văn phòng đăng ký quyền

sử dụng đất làm giảm đáng kể chi phí, khắc phục được tình trạng quan liêu, hách dịch, cửa quyền của bộ máy cơ quan hành chính, loại bỏ được các nhà

Trang 40

đầu tư đưa ra dự án nhằm mục đích chiếm đất chờ giá tăng lên để chuyển nhượng

1.5 Một số điều kiện đảm bảo thực hiện pháp luật khi Nhà nước thu hồi đất

1.5.1 Điều kiện đảm bảo về chính trị, tư tưởng

Để đảm bảo thực hiện pháp luật về thu hồi đất có hiệu quả, yêu cầu trước hết là các đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật trong lĩnh vực này thông suốt về chính trị, tư tưởng Điều này đòi hỏi sự lãnh đạo của Đảng bằng những đường lối chủ trương chính sách đúng đắn, phản ánh đúng các yêu cầu thực tiễn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước nói chung và công tác thu hồi đất nói riêng Đặc biệt là các chủ trương của Đảng và Nhà nước đối với những người bị thu hồi đất Đó là cơ sở chính trị quan trọng cho các cơ quan nhà nước thể chế hoá thành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến thu hồi đất, tạo cơ sở pháp lý cho việc đưa những chủ trương, chính sách của Đảng vào cuộc sống

Đồng thời, Đảng còn quan tâm lãnh đạo xây dựng tổ chức bộ máy, đào tạo cán bộ chuyên sâu về công tác thu hồi đất; lãnh đạo tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng về công tác này để cho các đối tượng thuộc diện Nhà nước thu hồi đất hiểu rõ, đầy đủ hơn quan điểm của Đảng cũng như chính sách pháp luật của Nhà nước Từ đó, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước khi thực hiện pháp luật về thu hồi đất

1.5.2 Điều kiện đảm bảo về pháp lý

Chất lượng của hệ thống pháp luật liên quan đến thu hồi đất là một trong những điều kiện quan trọng cho việc thực hiện pháp luật về vấn đề này Hiện nay, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thu hồi đất bao gồm: Hiến pháp

Ngày đăng: 18/12/2017, 18:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Luật đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai, (số 193/BC-BTNMT ngày 06/09/2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Luật đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai, (số 193/BC-BTNMT ngày 06/09/2012)
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
1. Bộ Tài chính (2004), Hệ thống văn bản pháp luật mới về đất đai, nhà ở và thuế nhà đất, Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống văn bản pháp luật mới về đất đai, nhà ở và thuế nhà đất
Tác giả: Bộ Tài chính
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2004
2. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Báo cáo tình hình công tác quản lý đất đai (2003-2006), ngày 20/02/2007, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình công tác quản lý đất đai (2003-2006)
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2007
3. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2012), Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Luật đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai, (số 193/BC- BTNMT ngày 06/09/2012), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tổng kết tình hình thi hành Luật đất đai 2003 và định hướng sửa đổi Luật đất đai, (số 193/BC-BTNMT ngày 06/09/2012)
Tác giả: Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2012
4. Nguyễn Đình Bồng (2006), "Gắn kết quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô thị", vietnamnet.vn, ngày 20/9/2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gắn kết quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch xây dựng đô thị
Tác giả: Nguyễn Đình Bồng
Năm: 2006
5. Chính phủ (2003), Tờ trình Quốc hội về dự án Luật Đất đai sửa đổi, (số 398/CP-PC ngày 07/4/2003), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tờ trình Quốc hội về dự án Luật Đất đai sửa đổi, (số 398/CP-PC ngày 07/4/2003)
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2003
6. Chính phủ (2005), Báo cáo Quốc hội kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2003, (số 165/CP-NN ngày 21/11/2005), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Quốc hội kết quả kiểm tra thi hành Luật Đất đai năm 2003, (số 165/CP-NN ngày 21/11/2005
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2005
7. Chính phủ (2014), Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
8. Chính phủ (2014), Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 44/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về giá đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
9. Chính phủ (2014), Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ngày 15/5/2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Chính phủ
Năm: 2014
10. Nguyễn Vinh Diện (2006), Pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về bồi thường thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất
Tác giả: Nguyễn Vinh Diện
Năm: 2006
11. Đinh Sĩ Dũng (2003), "Bảo vệ quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quyền sử dụng đất của người sử dụng đất: Thực trạng và kiến nghị", Nhà nước và pháp luật, (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo vệ quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quyền sử dụng đất của người sử dụng đất: Thực trạng và kiến nghị
Tác giả: Đinh Sĩ Dũng
Năm: 2003
12. Đặng Đức Đạm (2004), "Luật Đất đai 2003 làm gì để phát huy nguồn lực đất đai", Nghiên cứu lập pháp, (6) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật Đất đai 2003 làm gì để phát huy nguồn lực đất đai
Tác giả: Đặng Đức Đạm
Năm: 2004
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb xự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb xự thật
Năm: 1987
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1991
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương khóa IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w