1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)

119 305 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,38 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG

MÃ SỐ: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VÕ KIM SƠN

HÀ NỘI – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với tập thể giảng viên

và cán bộ, công chức Học viện Hành chính Quốc gia đã tận tình giảng dạy, tạo điều kiện cho tác giả trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Võ Kim Sơn đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo tác giả trong quá trình thực hiện luận văn

Tác giả cũng chân thành cám ơn Bộ Nội vụ Lào và một số anh, chị, em đồng nghiệp đã giúp đỡ, hỗ trợ, cung cấp thông tin cho tác giả hoàn thành luận văn này

Với khả năng nhất định và thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp./

Hà Nội, tháng năm 2017

NGƯỜI VIẾT LUẬN VĂN

HANGPHONXAVAN CHANTHALA

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu độc lập của bản thân tôi, các số liệu và tư liệu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực, có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm về công trình nghiên cứu của mình

Hà Nội, tháng năm 2017

NGƯỜI VIẾT LUẬN VĂN

HANGPHONXAVAN CHANTHALA

Trang 5

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ 7

Mở đầu 8

1 Tính cấp thiết của đề tài 8

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 10

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 15

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 16

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 16

6 Những đóng góp mới của đề tài 18

7 Cấu trúc của luận văn 19

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh 20

1.1 Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ và chính quyền địa phương 20

1.1.1 Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ 20

1.1.2 Chính quyền địa phương 23

1.2 Vùng đô thị và chính quyền đô thị 26

1.2.1 Khái niệm, đặc trưng và phân loại đô thị 26

1.2.2 Chính quyền đô thị 35

1.3 Chính quyền thành phố và thành phố thuộc tỉnh 39

1.3.1 Chính quyền thành phố 39

1.3.2.Thành phố trực thuộc tỉnh 41

Trang 6

1.4 Kinh nghiệm tổ chức bộ máy chính quyền đô thị tại một số nước

trên thế giới 46

1.4.1 Chính quyền đô thị Trung quốc 46

1.4.2 Chính quyền thành phố Ottawa, Canada 51

1.4.3 Một số nhận xét 56

1.4.4 Những kinh nghiệm cho việc xây dựng chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở CHDCND Lào 57

Tiểu kết chương 1 60

Chương 2: Thực trạng tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào 61

2.1 Khái quát đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội và quá trình phát triển đô thị của nước CHDCND Lào 61

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên 61

2.1.2 Đặc điểm kinh tế, xã hội 61

2.1.3 Sự hình thành và phát triển đô thị của Lào 63

2.2 Mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thủ phủ của các tỉnh ở nước CHDCND Lào 68

2.2.1 Tổng quan chung về chính quyền địa phương thủ phủ của tỉnh 68

2.2.2 Chính quyền thủ phủ của tỉnh theo văn bản pháp luật mới 69

Tiểu kết chương 2 85

Chương 3: Phương hướng và đề xuất mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào 87

3.1 Phương hướng tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào 87

3.1.1 Phương hướng chung của Đảng và Nhà nước CHDCND Lào 87

Trang 7

3.1.2 Phương hướng cụ thể của Bộ Nội vụ Lào 95

3.2 Đề xuất mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào 97

3.2.1 Hội đồng thành phố 98

3.2.2 Cơ quan hành chính thành phố 99

3.2.3 Thiết lập mối quan hệ hợp lý giữa Hội đồng thành phố và Chủ tịch thành phố 101

3.2.4 Bộ máy chuyên môn của Chủ tịch thành phố 102

3.3 Một số điều kiện và các bước triển khai để đảm bảo cho mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh đi vào hoạt động 103

3.3.1 Một số điều kiện đảm bảo cho mô hình đi vào hoạt động 103

3.3.2 Các bước triển khai mô hình 105

Tiểu kết chương 3 109

KẾT LUẬN 111

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113

Trang 9

DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ

Trang

Bảng 1.1 Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ một số nước 20

Bảng 1.2 Dạng tổ chức chính quyền thành phố của 30 thành phố lớn ở Mỹ 44

Bảng 2.1 Danh sách thủ phủ của các tỉnh ở nước CHDCND Lào 67

Bảng 2.2 Tiêu chí thành lập thủ phủ của tỉnh ở nước CHDCND Lào 70

Sơ đồ 1.1 Mô hình Hội đồng mạnh - Thị trưởng yếu 24

Sơ đồ 1.2 Mô hình Hội đồng yếu - Thị trưởng mạnh 24

Sơ đồ 1.3 Mô hình Hội đồng - Thị trưởng - Nhà quản lí chuyên nghiệp 25

Sơ đồ 1.4 Mô hình Hội đồng - Ủy ban 26

Sơ đồ 3.1 Đề xuất mô hình tổ chức chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào 98

Sơ đồ 3.2 Đề xuất bộ máy chuyên môn của Chủ tịch thành phố trực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào 103

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xây dựng, đổi mới và hoàn thiện tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước đã trở thành yêu cầu cấp thiết từ thực tiễn quản lý, đặc biệt trong quá trình đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế ở rất nhiều quốc gia đang phát triển, trong đó có nước CHDCND Lào

Việc đổi mới, cải cách bộ máy nhà nước không chỉ thực hiện ở các cơ quan nhà nước Trung ương, mà còn phải đổi mới đồng bộ đối với các chính quyền địa phương các cấp, bảo đảm tính thống nhất, thông suốt, hiệu lực, hiệu quả của hệ thống hành chính nhà nước từ Trung ương đến cơ sở Chính quyền địa phương cần được tổ chức hợp lý, thống nhất, trên cơ sở xác định rõ vị trí, thẩm quyền và trách nhiệm của chính quyền địa phương trong hệ thống cơ quan nhà nước, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tăng cường phân cấp cho chính quyền địa phương; thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương các cấp trong phạm vi được phân cấp Theo đó, để tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, cần phải xây dựng và hoàn thiện chính quyền đô thị nói chung và chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh nói riêng, xuất phát từ những đặc trưng và đặc thù quản lý khác biệt giữa chính quyền đô thị với chính quyền nông thôn

Luật Hành chính địa phương 2015 của Lào mới được ban hành, trong

đó, có nhiều sửa đổi liên quan đến việc thành lập và hoạt động của chính quyền đô thị thành phố nói chung, thành phố trực thuộc tỉnh nói riêng Tuy

nhiên, đó mới chỉ là khung pháp lý Trên thực tế, hiện nay, các địa phương của Lào đều mới đang ở giai đoạn bước đầu chuẩn bị hồ sơ cho việc thành lập đô thị thành phố trực thuộc tỉnh Điều đó đồng nghĩa với việc ở Lào hiện nay, bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh mới chỉ đang trong quá trình nghiên cứu và xây dựng, chưa được thành lập chính thức Đây chính là điểm mới, thể hiện tính cấp thiết và sự sáng tạo, không trùng lặp của

đề tài luận văn

Trang 11

Trải qua 30 năm đổi mới và phát triển, quá trình đô thị hóa ở nước CHDCND Lào đã và đang diễn ra một cách mạnh mẽ với sự gia tăng không ngừng về quy mô và số lượng đô thị, đặc biệt là đô thị quy mô tỉnh, dẫn đến

có nhiều khác biệt về hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng giữa đô thị và nông thôn Tuy nhiên, theo quy định của pháp luật hiện hành,

mô hình tổ chức chính quyền địa phương của nước CHDCND Lào hiện nay

về cơ bản giống nhau, đều tổ chức ba cấp chính quyền và vẫn dựa trên cách thức quản lý của chính quyền nông thôn là chủ yếu

Hiện nay, chính quyền quản lý đô thị của Lào được tổ chức các cấp hành chính và thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn như chính quyền nông thôn cùng cấp, đồng thời có thêm một số nhiệm vụ, quyền hạn quản lý trên địa bàn

đô thị Thực trạng như vậy chưa đủ để quản lý có hiệu lực, hiệu quả các hoạt động trên địa bàn, dẫn đến nhiều vấn đề cấp thiết của đô thị như quy hoạch, kiến trúc, xây dựng hạ tầng đô thị, xử lý ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, trật tự an toàn xã hội…chưa được giải quyết kịp thời và cũng chưa phù hợp với nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ trong

đó đô thị do kết cấu hạ tầng thống nhất đòi hỏi phải quản lý theo ngành là chủ yếu, khác với nông thôn quản lý theo lãnh thổ là chủ yếu

Thực trạng tổ chức chính quyền đô thị nói chung, xây dựng chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh nói trên đặt ra yêu cầu cần phải làm rõ

sự khác biệt giữa đô thị và nông thôn, giữa đô thị thành phố trực thuộc tỉnh với đô thị các cấp khác; từ đó xác định rõ mô hình tổ chức, chức năng, nhiệm

vụ, thẩm quyền, cơ chế hoạt động phù hợp đối với chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh - nơi đang đặt ra yêu cầu và đòi hỏi hết sức cấp bách về một mô hình tổ chức chính quyền phù hợp với vị trí, vai trò, quy mô đô thị ở nước CHDCND Lào hiện nay

Với những kiến giải nêu trên, tác giả lựa chọn ý tưởng nghiên cứu về

“Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, luận văn

Trang 12

đánh giá thực trạng để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới, hoàn thiện và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động quản lý của bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào trong bối cảnh thời kỳ đổi mới

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, vấn đề đổi mới tổ chức chính quyền đô thị luôn dành được sự quan tâm của nhiều nhà khoa học, những người làm công tác nghiên cứu lý luận ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Cho đến nay, đã

có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, các luận án, luận văn, các bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các đề tài đã được nghiệm thu về vấn đề tổ chức bộ máy chính quyền đô thị nói chung và đô thị thành phố trực thuộc tỉnh nói riêng

Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài “Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào” cho thấy các nhà khoa học, nhà nghiên cứu trong nước và

nước ngoài tiếp cận vấn đề theo nhiều nội dung với những cấp độ khác nhau

2.1 Các nghiên cứu nước ngoài

Tác giả đã tìm hiểu vấn đề tổ chức bộ máy chính quyền đô thị trong các công trình khoa học của các học giả nước ngoài, mà cụ thể ở đây là các công trình, nghiên cứu khoa học của Việt Nam Đây được coi như nền tảng tổng quan cơ bản và quan trọng để tác giả có cơ sở so sánh cũng như nghiên cứu hoạt động tổ chức bộ máy chính quyền đô thị ở nước CHDCND Lào Những nghiên cứu cơ bản bao gồm:

Đề tài “Đổi mới tổ chức chính quyền địa phương ở đô thị” do PGS.TS

Bùi Xuân Đức chủ nhiệm đề tài Đây là đề tài cấp viện của Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộc Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia Trong công trình này, các nhà Luật học đã nghiên cứu lý luận, thực trạng

và giải pháp đổi mới chính quyền địa phương ở đô thị, chính quyền thành phố

Trang 13

trực thuộc Trung ương, chính quyền thị xã, thành phố thuộc tỉnh Đây là nền tảng cơ bản để tác giả có cơ sở đối chiếu, so sánh quá trình hình thành, phát triển và đặc điểm tổ chức và quản lý giữa chính quyền đô thị của Việt Nam và Lào

Về sách chuyên khảo có các công trình đáng chú ý như: “Những vấn đề

lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay” do

PGS.TS Lê Minh Thông và PGS.TS Nguyễn Như Phát đồng chủ biên Công trình này đã thể hiện những nội dung nghiên cứu lý luận và thực tiễn về chính quyền địa phương ở nước ta hiện nay; kinh nghiệm lịch sử trong xây dựng và phát triển chính quyền địa phương ở Việt Nam hiện nay; kinh nghiệm lịch sử trong xây dựng và phát triển chính quyền địa phương, đặc biệt là đổi mới mô hình tổ chức chính quyền đô thị Đây là công trình nghiên cứu sâu sắc về chính quyền địa phương, trong đó có đề cập đến việc xây dựng mô hình chính quyền đô thị, tuy nhiên mới dừng lại ở những định hướng cơ bản

Cuốn sách “Chính quyền địa phương trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân” do PGS.TS Lê Minh Thông Đây là

công trình có giá trị khoa học cao, đã được biên soạn bởi các nhà khoa học có

uy tín lớn như PGS.TS Lê Minh Thông, PGS.TS Nguyễn Như Phát, PGS.TS Bùi Xuân Đức, PGS TS Vũ Thư Công trình thể hiện nội dung nghiên cứu lý luận, thực trạng và đưa ra giải pháp đổi mới tổ chức chính quyền địa phương gắn với việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam; đặc biệt trong đó nội dung về xây dựng chính quyền đô thị rất có giá trị trong định hướng thiết

kế mô hình chính quyền đô thị của tác giả trong luận văn này

Cuốn sách “Một số vấn đề về xây dựng chính quyền đô thị từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” của PGS.TS Phan Xuân Biên Đây là tập hợp các bài tham luận tại Hội thảo khoa học với nội dung: “Xây dựng chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh – một yêu cầu cấp thiết của cuộc sống” do Viện

Nghiên cứu xã hội, Viện kinh tế, Sở Nội vụ Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức năm 2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh Cuốn sách gồm 6 phần với hàng trăm bài tham luận Đây là công trình tập hợp những nội dung nghiên cứu công

Trang 14

phu, hoàn chỉnh, có giá trị cao về tổ chức chính quyền đô thị hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh Đáng chú ý là các bài tham luận: Xây dựng chính quyền đô thị Thành phố Hồ Chí Minh - một yêu cầu cấp thiết từ cuộc sống của TS Trương Thị Hiền; Khái niệm về chính quyền đô thị của Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Tư; Dân chủ trực tiếp – bổ sung hoàn thiện cho dân chủ xã hội chủ nghĩa của PGS.TS Nguyễn Minh Hòa…

Viện Nghiên cứu khoa học tổ chức nhà nước của Bộ Nội vụ có “Báo cáo tổng hợp kết quả điều tra thực trạng tổ chức và hoạt động của chính quyền đô thị ở Việt Nam hiện nay” Đây là tài liệu có giá trị khoa học và thực

tiễn cao, đánh giá thực trạng chính quyền đô thị ở Việt Nam hiện nay

Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công về “Đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền đô thị ở Việt Nam hiện nay” của Vũ Thị Lan, Học viện Hành

chính quốc gia năm 2014, trên cơ sở tổng hợp lý luận về tổ chức chính quyền

đô thị, phân tích thực trạng tổ chức bộ máy chính quyền đô thị ở Việt Nam, đánh giá kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế này, từ đó đề xuất mô hình tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở Việt Nam hiện nay

Tương tự như vậy, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công của tác

giả Văn Đức Mạnh về “Tổ chức chính quyền đô thị ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước”, Học viện Hành chính quốc gia năm

2015, cũng đã đưa ra hệ thống giải pháp trên cơ sở phân tích lý luận và thực trạng hoạt động tổ chức chính quyền đô thị các cấp ở Việt Nam, hướng đến yêu cầu cải cách hành chính nhà nước trong thời kỳ hội nhập

Ngoài ra, trên các tạp chí nghiên cứu như: Tạp chí cộng sản, Nghiên cứu lập pháp, Nhà nước và Pháp luật, Quản lý nhà nước, Tổ chức nhà nước đã đăng nhiều bài viết của các nhà khoa học, nhà quản lý về tổ chức chính quyền

đô thị Những vấn đề lý luận, thực tiễn, phương hướng, giải pháp đổi mới mô hình quyền đô thị, chính quyền nông thôn được nghiên cứu khá phong phú và

đa dạng

Trang 15

2.2 Các nghiên cứu trong nước

Về phía các công trình khoa học liên quan đến lĩnh vực tổ chức chính

quyền đô thị của nước CHDCND Lào, có đề tài “Hoàn thiện bộ máy quản lý

đô thị CHDCND Lào” - Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công năm 2003,

Học viện Hành chính Quốc gia của tác giả Athiphon Bunnaphôn Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu chia thành ba chương:

- Chương 1 bao gồm những vấn đề khái quát chung về đô thị và bộ máy quản lý đô thị, tạo cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc hoàn thiện bộ máy quản lý đô thị của nước CHDCND Lào, trong đó, phân tích đặc điểm của các

mô hình tổ chức bộ máy hành chính đô thị ở một số nước trên thế giới, cung cấp kinh nghiệm để ứng dụng vào việc xây dựng bộ máy quản lý đô thị của Lào

- Chương 2 phân tích thực trạng bộ máy quản lý đô thị của nước CHDCND Lào, trong đó, tác giả khái quát sự hình thành và phát triển đô thị của Lào; tìm hiểu thực trạng bộ máy hành chính và hoạt động quản lý đô thị ở thành phố Viêng chăn và một số thành phố khác; phân tích thuận lợi và khó khăn đặt ra đối với thực trạng tổ chức nói trên

- Chương 3 đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện bộ máy quản lý đô thị của nước CHDCND Lào trên cơ sở lý luận và thực trạng ở Chương 1 Tác giả đưa ra hệ thống các giải pháp lớn, trong đó, nhấn mạnh đến giải pháp phân loại, phân cấp đô thị và hoàn thiện bộ máy, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng

Tuy nhiên, đề tài này mới chỉ dừng lại ở việc phân tích lý thuyết và thực tiễn trong việc hoàn thiện bộ máy quản lý đô thị nói chung của nước CHDCND Lào, chứ chưa nghiên cứu sâu về tổ chức bộ máy của chính quyền

đô thị thành phố trực thuộc tỉnh

Bên cạnh đó còn có đề tài “Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp tỉnh nước CHDCND Lào”, luận văn thạc sĩ quản lý hành

Trang 16

chính công, Học viện Hành chính quốc gia, Thành phố Hồ Chí Minh, năm

2007, của tác giả Bouaphanh Xayasongkham

Trong đề tài này, tác giả nghiên cứu những nhận thức lý luận cơ bản về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp tỉnh ở nước CHDCND Lào, từ đó làm cơ sở nghiên cứu và đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động này trên thực tế, cụ thể:

- Chương 1 bao gồm khái niệm, vị trí, vai trò, những căn cứ pháp lý và các yêu cầu về đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp tỉnh của nước CHDCND Lào Bên cạnh đó, tác giả cũng khái quát hóa quá trình phát triển của bôk máy chính quyền cấp tỉnh của Lào từ năm 1975 đến thời điểm nghiên cứu

- Chương 2, tác giả nghiên cứu, đưa ra những số liệu về thực trạng về

tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp tỉnh của Lào, đánh giá ưu điểm, hạn chế của hoạt động này trên thực tế và xác định những vấn đề đặt ra

- Chương 3 đề cập đến phương hướng và đề xuất một số giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp tỉnh của nước CHDCND Lào Trong đó, tác giả chú trọng đến giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật, cải cách thủ tục hành chính và tăng cường công tác đào tạo cho đội ngũ cán bộ, công chức trong bộ máy chính quyền cấp tỉnh nước CHDCND Lào

Tuy nhiên, có thể thấy đề tài luận văn của tác giả Bouaphanh Xayasongkham mới chỉ đề cập đến tổ chức và hoạt động của chính quyền cấp tỉnh nói chung, không đi vào nghiên cứu và phân tích tổ chức chính quyền đô thị và chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh

Tình hình nghiên cứu trên đây cho thấy, các công trình khoa học, đề tài nghiên cứu, luận văn, sách báo đều đã tiếp cận ở nhiều nội dung cụ thể khác nhau để giải quyết tốt mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đặt ra Trong chừng mực nhất định, các nghiên cứu này đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về tổ chức bộ máy chính quyền đô thị Nhìn

Trang 17

chung, các đề tài, công trình nêu trên đã phân tích khá toàn diện cơ sở lý luận

và thực tiễn cũng như bước đầu đề xuất các quan điểm, phương hướng, giải pháp đổi mới tổ chức và hoạt động chính quyền đô thị nói chung và chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh nói riêng Tuy nhiên liên quan đến vấn

đề này đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau cả về phương diện nhận thức cũng như tổ chức thực hiện Nhiều phương án cải cách, đổi mới mô hình tổ chức và hoạt động chính quyền đô thị vẫn rất được quan tâm của các nhà khoa học, nhà lãnh đạo, nhà quản lý cũng như người dân

Tuy nhiên, cho đến nay, có thể khẳng định chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách toàn diện, chuyên biệt và có hệ thống về tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh của nước CHDCND Lào Luận văn là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này dưới góc

độ khoa học quản lý công Với kết quả nghiên cứu của luận văn, hi vọng sẽ khắc phục được tình trạng nên trên, lấp đầy khoảng trống nghiên cứu về lĩnh vực này

Kế thừa và hệ thống hóa kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà quản lý, luận văn này tập trung phân tích cơ sở lý luận, đánh giá khái quát thực tiễn tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào, từ đó đề xuất một số phương hướng, giải pháp chủ yếu để tiếp tục xây dựng, đổi mới và hoàn thiện chính quyền đô thị ở Lào hiện nay, góp phần đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đưa ra một số đề xuất tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở CHDCND Lào trong giai đoạn hiện nay

Trang 18

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nói trên, luận văn có những nhiệm vụ

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh của nước CHDCND Lào

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về thời gian: Đề tài tiến hành nghiên cứu những mô hình

chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh của Lào trong khoảng thời gian

từ năm 2003 đến nay trong phạm vi cả nước

- Phạm vi về không gian: 17 tỉnh của nước CHDCND Lào

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

- Quan điểm duy vật biện chứng

Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh được đặt trong mối quan hệ với các cấp chính quyền của Chính phủ Lào, so sánh sự tương quan và khác biệt với mô hình chính quyền đô thị của Việt Nam Bên

Trang 19

cạnh đó, khi nghiên cứu, đưa ra những đề xuất giải pháp trong mối quan hệ tương tác, phù hợp với các nguồn lực (nhân lực và vật lực) hiện có, để thấy được sự phù hợp và mức độ sẵn sàng của Chính phủ CHDCND Lào trong quá trình hoàn thiện, đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền đô thị nói chung và đô thị thành phố trực thuộc tỉnh nói riêng

- Quan điểm duy vật lịch sử

Tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh được nhận thức trong tiến trình hình thành và phát triển của nó, trong tiến trình phát triển của đất nước CHDCND Lào, để thấy được sự phát triển và trưởng thành qua các thời kỳ Qua đó, có thể thấy được nhưng vấn đề phát sinh trong thời

kỳ mới để tìm ra biện pháp khắc phục nhằm hoàn thiện và đổi mới mô hình này trong tương lai

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phân tích tài liệu sẵn có (Desk review)

Đây là phương pháp nghiên cứu cơ bản, nhằm cung cấp cơ sở lý luận cần thiết để tiến hành nghiên cứu Các nguồn tài liệu được chia thành ba nhóm cơ bản:

+ Các văn bản pháp lý liên quan đến vấn đề nghiên cứu (Văn bản quy phạm pháp luật, các chiến lược, chương trình…)

+ Các công trình khoa học đã được công bố trên thế giới, Việt Nam và Lào + Các báo cáo, số liệu thống kê liên quan đến vấn đề nghiên cứu của các cơ quan, tổ chức, cá nhân

- Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp, đánh giá các lý luận về tổ chức chính quyền đô thị nói chung và chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh nói riêng

Trang 20

- Phương pháp thống kê, so sánh được sử dụng trong thống kê số liệu thực tế để phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề nghiên cứu

6 Những đóng góp mới của đề tài

6.1 Đóng góp về mặt lý luận

Xuất phát từ nhận định sự thiếu hụt cơ sở lý luận về tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở CHDCND Lào, tác giả mong muốn đề tài nghiên cứu này sẽ cung cấp cho những người học, nhà quản lý và các nhà nghiên cứu một hệ thống lý luận tương đối đầy đủ về lĩnh vực này

Hệ thống kiến thức này sẽ là một trong những yếu tố nền tảng cho những nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực tổ chức bộ máy chính quyền đô thị của CHDCND Lào sau này

Bên cạnh đó, lý luận về tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh cũng là nguồn bổ sung quan trọng cho các lĩnh vực nghiên cứu liên quan

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Ngoài yếu tố lý luận, đề tài còn mang lại ý nghĩa thực tiễn Các giải pháp đưa ra mang tính khả thi để các cơ quan có thẩm quyền có thể vận dụng trong việc đổi mới, tổ chức hợp lý chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào hiện nay Luận văn sẽ là một nguồn tài liệu tham khảo cho những nhà quản lý trong quá trình lãnh đạo thực hiện Nghiên cứu này có thể là nguồn tài liệu giảng dạy, tham khảo bổ ích cho các nhà hoạch địch chính sách, nhà làm luật, nhà quản lý HCNN, nhà nghiên cứu chuyên sâu, các giảng viên, học viên

Là một đề tài tương đối mới tại Lào, nghiên cứu này hướng đến mục tiêu hệ thống hóa cơ sở lý luận và nghiên cứu thực tiễn về tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh, nâng cao hiệu quả hoạt động của nền công vụ Lào nói chung Đề tài mang tính ứng dụng cao, bởi ngoài hệ thống cơ sở lý thuyết tương đối toàn diện, nghiên cứu này còn hướng đến

Trang 21

thực trạng với những con số cụ thể, xác thực, điều tra nghiên cứu một cách toàn diện để từ đó đề xuất mô hình chính quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh mang tính khả thi và hiệu quả ở nước CHDCND Lào

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành ba chương, bao gồm:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về tổ chức bộ máy chính quyền

đô thị thành phố trực thuộc tỉnh

Chương 2: Thực trạng tổ chức bộ máy chính quyền đô thị thành phố

thực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào

Chương 3: Phương hướng và đề xuất mô hình tổ chức bộ máy chính

quyền đô thị thành phố trực thuộc tỉnh ở nước CHDCND Lào

Trang 22

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN ĐÔ THỊ THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TỈNH

1.1 Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ và chính quyền địa phương

1.1.1 Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ

1.1.1.1 Tổng quan chung về phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ

Lãnh thổ quốc gia của các nước đều được phân chia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ nhằm để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước từng vùng lãnh thổ đó

Không có nguyên tắc chung về phân chia lãnh thổ quốc gia thành các đơn vị hành chính lãnh thổ như thế nào để thống nhất chung Tuy nhiên, theo thống kê chung, lãnh thổ quốc gia có thể chia thành nhiều cấp độ khác nhau

và đánh số từ 1 đến 4 Và mỗi một cấp (cấp 1 đến cấp 4) có thề có những tên gọi khác nhau tùy theo từng quốc gia

Bảng 1.1 mô tả cách phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ của một số nước và tên gọi của từng đơn vị

Bảng 1.1 Phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ một số nước

và 10 vùng lãnh thổ

562 đơn vị hành chính gắn với chính quyền địa phương

huyện (4

daerah)

daerah-Mỗi huyện chia thành xã

(38 mukim )

Làng (kampung)

Không có chính quyền địa phương tương ứng

phum)

Trang 23

Thành phố thủ đôPhnom Penh)

Quận (khan) Sngd, xã

(sangkat)

Cũng có tài liệu ghi thêm khu phố (krom) Indonesia Chia thành 34

tỉnh với 5 khu đặc biệt cấp tỉnh (34

provinsi pincluding 5

daerah istimewa

including Jakarta)

Buôn, làng

(desa, kelurahan, kampung)

Malaysia Chia thành 13

bang và ba vùng lãnh thổ liên bang

Tỉnh hoặc huyện (139

daerah)

Xã (1000+

mukim)

Làng, buôn (8000+

kampung)

Ba vùng lãnh thổ đặc biệt (3

Wilayah Persekutuan:

Kuala Lumpur

tự quản (7

taing detha gyi (regions)

7 pyi-neh

(states)

67 kayaing 330

townships there are

330 townships in Myanmar.[1]

[towns] [wards] [villages]

Philippines Chia thành

vùng

Tỉnh (81

lalawigan 38 malayang lungsod

1 malayang bayan )

Huyện (84

bahaging lungsod;151

1

karaniwang bayan

Phường (89 Divisions/W

Trang 24

đồng phát triển cộng đồng(5 Districts)

9 khwaeng)

Buôn, làng (chumchon

or muban)

(Nguồn: https://vi.wikipedia.org)

Đơn vị hành chính lãnh thổ cấp 1 có những tên gọi khác nhau, thường

có thể gọi chung là tỉnh trong hệ thống các nước ASEAN Trong khi Nhật Bản và Trung quốc có tên gọi khác (prefecture)

Bên dưới vùng lãnh thổ cấp 1 là các vùng lãnh thổ cấp 2 [1] Tên gọi của đơn vị hành chính lãnh thổ cấp 2 cũng rất khác nhau Có thể tam gọi chung là huyện

Một số nước có thể có cách phân chia thành các vùng lãnh thổ khác nhau Trong đó quan trọng nhất là phân chia để thành lập một chủ thể quản lý toàn diện các vấn đề của vùng lãnh thổ Từng cấp đơn vị hành chính lãnh thổ

có sự phân định giữa đơn vị hành chính lãnh thổ mang tính nông thôn và đơn vị hành chính lãnh thổ mang tính đô thị

1.1.1.2 Các loại đơn vị hành chính lãnh thổ trực thuộc tỉnh

Bên dưới tỉnh như đã chỉ ra ở Bảng 1.1, có nhiều tên gọi khác nhau cho đơn vị hành chính lãnh thổ Tùy từng quốc gia có những tên gọi khác nhau

Ở Việt Nam tên gọi các đơn vị hành chính lãnh thổ cấp dưới tỉnh bao gồm:

- Thành phố thuộc tỉnh;

- Thị xã;

- Huyện;

- Quận

Trang 25

Các nước trên thế giới cũng có tên gọi tương tự Và có thể sử dụng chung cụm từ “district” như là huyện, nhưng có thể sử dụng cụm từ

“municipality” như là cụm dân cư

1.1.2 Chính quyền địa phương

1.1.2.1 Tổng quan về chính quyền địa phương

Mỗi một đơn vị hành chính lãnh thổ đều gắn liền với một chủ thể quản

lý các vấn đề thuộc lãnh thổ đó Cách thức tổ chức chính quyền địa phương để quản lý các vấn đề của vùng lãnh thổ đó có thể theo những mô hình khác nhau

Hiện nay, có thể có nhiều cách thức tổ chức chính quyền địa phương đơn vị hành chính lãnh thổ Và mỗi một quốc gia có thể chọn cho mình một dạng riêng

Hai chủ thể đáng được chú ý của chính quyền địa phương là:

- Hội đồng địa phương (Hội đồng) do nhân dân địa phương bầu ra để thay mặt nhân dân địa phương quản lý nhà nước các vấn đề thuộc địa bàn lãnh thổ;

- Cơ quan chấp hành của Hội đồng địa phương nhằm triển khai tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng

1.1.2.2 Một số dạng tổ chức chính quyền địa phương phổ biến

Với hai nhóm yếu tố đó có thể tạo ra một số dạng tổ chức chính quyền địa phương

- Mô hình “Hội đồng mạnh, Thị trưởng yếu”: Theo mô hình này, Hội

đồng không chỉ có thẩm quyền ra nghị quyết để quyết định các vấn đề của địa phương, mà còn có thẩm quyền trong việc tổ chức triển khai các hoạt động thông qua các cơ quan chuyên môn

Sơ đồ 1.1 mô tả loại hình này

Trang 26

-

- Mô hình “Hội đồng yếu - Thị trưởng mạnh”: Chính quyền địa phương

các cấp tổ chức theo mô hình này thì mọi quyền liên quan đến việc triển khai thực hiện quyền nhân sự, quyền tổ chức bộ máy đều do người đứng đầu - Thị trưởng quyết định Hội đồng chỉ là cơ quan nghị quyết, ít có quyền về các vấn

đề trên

Mô hình tổ chức Hội đồng yếu - Thị trưởng mạnh mô tả ở Sơ đồ 1.2

Hai mô hình trên, Thị trưởng và Hội đồng đều do cử tri địa phương bầu Vấn đề khác nhau chỉ ở phân chia quyền lực liên quan đến nhân sự, bộ máy… trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên địa ban địa phương

- Mô hình “Hội đồng - Nhà quản lí chuyên nghiệp - Thị trưởng danh dự”

Trong mô hình này, Hội đồng vẫn do cử tri bầu và một thị trưởng/chủ tịch/người đứng đầu hoặc do Hội đồng bầu hoặc do cử tri bầu Nhưng vị trí

Trang 27

chủ tịch, người đứng đầu mang tính đại diện lễ tân, ngoại giao, ít có quyền liên quan đến quản lý

Hội đồng sẽ tuyển dụng một nhà quản lý mang tính chuyên nghiệp để triển khai tổ chức thực hiện và được trao quyền để triển khai tổ chức thực hiện, bao gồm cả quyền về nhân sự, tổ chức bộ máy

Cách tổ chức này mô tả ở Sơ đồ 1.3

Nếu Thị trưởng do Hội đồng bầu, ít được trao quyền;chủ yếu thực hiện chức năng chính trị chung và chức năng đại diện danh dự trong các nghi lễ, không có các thẩm quyền hành chính quan trọng và quyền phủ quyết đối với các quyết định của Hội đồng

Hội đồng sẽ tuyển dụng các nhà hành chính chuyên nghiệp theo một thời hạn nhất định để thực hiện các chính sách do Hội đồng đề ra Nhà quản lí được trao để triển khai hoạt động quản lý

- Mô hình điều hành hoạt động quản lí thông qua ủy ban do Hội đồng bầu

Hội đồng do nhân dân bầu ra sẽ bầu một tập thể gồm nhiều người, thường gọi chung là ủy ban chấp hành - cơ quan chấp hành Cơ quan chấp hành hoạt động theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo cơ chế đa số

Tuy nhiên, Ủy ban thông thường có chủ tịch, các phó chủ tịch và các

ủy viên UBND Cơ chế tập thể làm cho tất cả thành viên ủy ban có quyền hạn

Trang 28

giống nhau đối với các quyết định của ủy ban Nhưng đồng thời, chính Hội đồng bầu ra một người làm chủ tịch Và trao cho người này những quyền hạn riêng, không phải thông qua cơ chế tập thể Ủy ban Và như vậy, các quyết định quản lý sẽ có hai dạng: dạng của Ủy ban (tập thể) và dạng của Chủ tịch

Ủy ban (cá nhân)

Thực tế ở những nước theo mô hình này, chưa phân định rõ hai loại quyết định trên nên tạo ra những xung đột nhất định trong quyết định chấp hành của Ủy ban đối với các quyết định của Hội đồng

Mô hình này mô tả ở Sơ đồ 1.4

Ngoài các mô hình trên, một số nước cụm từ chính quyền địa phương không gắn với hội đồng do cử trí địa phương bầu ra, chỉ đơn thuần cơ quan quản lý các vấn đề của địa phương do luật định và cách thức tổ chức do cơ quan quản lý nhà nước về tổ chức và nhân sự quyết định

1.2 Vùng đô thị và chính quyền đô thị

1.2.1 Khái niệm, đặc trưng và phân loại đô thị

1.2.1.1 Khái niệm đô thị

Đô thị là cụm từ dùng để chỉ một khu vực, một vùng lãnh thổ mang những tính chất, đặc điểm khác nhau về dân cư đô thị, mật độ dân số, tính chất lao động của dân cư hay về kết cấu hạ tầng kỹ thuật, vai trò, sự phát triển

Trang 29

kinh tế - xã hội của một khu vực, vùng lãnh thổ Mỗi quốc gia khác nhau có những quy định, cách hiểu khác nhau về đô thị nhưng thông thường các đô thị phải thể hiện được vị trí, vai trò, chức năng trên các lĩnh vực chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học, xã hội ; vai trò đối với sự phát triển của từng vùng hay trên phạm vi cả nước hoặc do đặc điểm lịch sử, vị trí địa lý của bản thân đô thị để lại Tuy nhiên, dù tiếp cận theo góc độ nào thì khái niệm đô

thị cũng thống nhất với nhau ở một tiêu chí “đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân hoạt động không phải là nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị”

Các đô thị trên thế giới đã có một quá trình hình thành và phát triển lâu dài Các nhà đô thị học đã phân chia lịch sử phát triển đô thị thành bốn giai đoạn: cổ đại (từ năm 4.000 trước công nguyên đến năm 500 sau công nguyên); trung đại (từ năm 500 đến năm 1.500 sau công nguyên); cận đại (từ năm 1.500 đến năm 1.800) và giai đoạn thứ tư từ năm 1.800 đến nay

Nhìn chung, các đô thị ngày nay đều mang đầy đủ giá trị về kinh tế, chính trị, hành chính, văn hóa, thể thao và du lịch Tuy nhiên, với giá trị nào,

đô thị cũng được hình thành và phát triển từ nhu cầu giao lưu của con người, của xã hội, từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống, quản lý nhà nước Do đó, những nơi có điều kiện thuận lợi về giao thông, lợi thế về chính trị, văn hóa,

xã hội là những nơi thuận tiện cho việc phát triển đô thị

Đô thị so với nông thôn là hai môi trường sống, hai loại hình định cư có những đặc điểm khác nhau về tính chất, quy mô, chức năng, nhiệm vụ, mức

độ phát triển kinh tế - xã hội, cơ sở hạ tầng, mật độ dân số, nhu cầu sử dụng, cách thức tổ chức quy hoạch, xây dựng, khai thác, vận hành các quá trình xã hội và nhất là hệ thống các cơ sở hạ tầng trong đô thị

So với nông thôn, nhìn chung các đô thị có quy mô và mật độ dân số lớn hơn, có mức độ phát triển kinh tế - xã hội, có cơ sở hạ tầng cao hơn, môi trường sống được tổ chức khoa học hơn, văn minh và hiện đại hơn và người

Trang 30

dân đô thị được cung cấp các dịch vụ công ở mức độ đồng bộ hơn, đa dạng hơn và chất lượng hơn

Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một miền lãnh thổ, của một tỉnh, của một huyện hoặc của một vùng trong tỉnh, trong huyện

Về mặt nhà nước - pháp luật, không thể sử dụng hoàn toàn các khái niệm về đô thị được hiểu theo nghĩa thông thường mà cần phải ghi rõ nội dung dung đầy đủ của nó trên phương diện pháp lý cũng như thực tiễn Vì vậy, pháp luật của các nước cũng như CHDCND Lào đều đưa ra những tiêu chí, tiêu chuẩn để phân biệt đô thị với nông thôn Những tiêu chí cơ bản để phân biệt đô thị và nông thôn là:

- Là trung tâm chính trị - hành chính, trung tâm kinh tế hoặc trung tâm văn hóa, giáo dục, khoa học, kỹ thuật - công nghệ, thể thao của cả nước hoặc một vùng lãnh thổ

- Là nơi tập trung trung dân cư đông đúc hơn so với nông thôn Mỗi quốc gia khác nhau có các quy định khác nhau về quy mô dân số đô thị nhưng đều đảm bảo tính chất là một điểm dân cư tập trung cao và chỉ tính trong nội thị

- Dân cư hoạt động trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao và thường không nhỏ hơn 60%

- Là nơi tập trung hệ thống các cơ sở vật chất, kỹ thuật hạ tầng quan trọng, như: Trạm viễn thông, sân bay, nhà ga, cảng biển và hạ tầng xã hội, như: Nhà ở, khu công nghiệp, bệnh viện, trường học, viện nghiên cứu

- Lối sống đô thị là lối sống hợp cư, luôn biến động và hầu như không

có sự liên kết về huyết thống, tập quán, truyền thống luôn tôn trọng những chuẩn mực có tính pháp lý hơn là những quy tắc có tính cộng đồng

Trang 31

1.2.1.2 Những đặc trưng cơ bản của đô thị

Đô thị là các trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của vùng và của cả nước, có vai trò chủ đạo trong phát triển kinh tế, xã hội Tại các đô thị thường tập trung đông dân cư, có mật độ dân số cao, tập trung nhiều các ngành công nghiệp và dịch vụ, sản xuất ra phần lớn của cải cho xã hội, đồng thời cũng là nơi tiêu xài phần lớn của cải xã hội Điều này tạo ra sự phồn thịnh, điều kiện phát triển cho các đô thị Bên cạnh đó, bản thân đô thị luôn tiềm ẩn: Tội phạm, các tệ nạn xã hội, hỏa hoạn, dịch bệnh, ô nhiễm môi trường Đồng thời, luôn đặt ra các thách thức về kinh tế và cung cấp dịch vụ cho đô thị; cung cấp dịch vụ công cộng, nước sạch, thoát nước, đất đai, nhà ở, việc làm, giao thông đi lại

Đô thị phát triển gắn liền với sản xuất hàng hóa, gắn liền với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của quốc gia, tạo ra việc làm mới, thu hút nhiều lao động từ khu vực nông thôn, gắn với quá trình chuyên môn hóa sản xuất, đào tạo lao động có trình độ cao Đô thị càng lớn, hiệu quả đầu tư cho hạ tầng

kỹ thuật càng cao, khả năng tạo ra các giá trị mới về trí tuệ và công nghệ càng nhiều

Đô thị là nơi tập trung tài nguyên, các nguồn lực và nhân lực tạo ra phần lớn sản phẩm cho xã hội, là trung tâm giao lưu thông tin, trí thức, là nơi

có sự phát triển vượt bậc, động lực phát triển cho quốc gia hoặc vùng lãnh thổ Hơn thế nữa, các đô thị phải là nơi con người được sống, lao động và tận hưởng hạnh phúc trong sự phát triển ổn định, bền vững Do đó, các đô thị ngày nay không chỉ là các tác phẩm nghệ thuật của các kiến trúc sư mà còn là tác phẩm của các nhà quản lý, các nhà kinh tế, các nhà nghiên cứu đô thị hay nói cách khác, nó được sự quan tâm của tất cả mọi người Phát triển đô thị không phải là việc làm đơn lẻ của một nhóm người, một tổ chức mà phải

là của cả cộng đồng xã hội với vai trò định hướng, điều hành, quản lý của nhà nước Yêu cầu phát triển đô thị đặt ra và đòi hỏi chúng ta phải có những nội dung quản lý phù hợp với từng ngành, lĩnh vực, đặc điểm khác nhau ở đô thị

Trang 32

Theo đó cách thức quản lý, tổ chức bộ máy quản lý, thẩm quyền quản lý của các cơ quan nhà nước ở đô thị không thể giống nhau và càng không thể giống với các cơ quan quản lý nhà nước ở các đơn vị không phải là đô thị

Các đô thị hình thành và phát triển gắn liền với sự phát triển kinh tế -

xã hội Sự phát triển của đô thị chịu ảnh hưởng của các quy luật kinh tế khách quan, do đó thường hiếm khi phát triển theo ý chí chủ quan của các nhà quản

lý, các nhà chính trị Do đó, việc xây dựng và thực hiện các chính sách quản

lý đô thị phải phù hợp với các quy luật vận động của nền kinh tế - các dòng chảy của thị trường Các chính sách quản lý đô thị phải đáp ứng sự vận động liên tục, thường xuyên của đô thị theo các mục tiêu phù hợp với các quy luật của nền kinh tế để thị trường luôn luôn phát triển

Cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh hoặc đã được quy hoạch, hoàn chỉnh từng phần, mật độ các công trình cao là những đặc trưng cơ bản của đô thị Cơ sở

hạ tầng, mật độ dân số cao và quy mô dân số là những yếu tố tạo ra những lợi thế, hiệu quả kinh tế về tính tập trung của đô thị Thông thường các công trình xây dựng, nhà ở, trụ sở, trường học, bệnh viện, trung tâm giao lưu thương mại, nơi sản xuất, công viên, bảo tàng được tập trung tại các đô thị Tùy từng quy mô và chức năng từng đô thị, các đô thị có những dáng vẻ riêng của mình, thể hiện nền văn minh, định hướng, trình độ phát triển của địa phương, vùng lãnh thổ hoặc của cả nước

Cơ cấu lao động, sự phân công lao động theo hướng chuyên môn hóa cao là tiền đề cơ bản của việc nâng cao năng suất lao động, là cơ sở đời sống kinh tế - xã hội đô thị

Các đô thị thường chiếm một vị trí quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của vùng, lãnh thổ, quốc gia Thu nhập

từ khu vực đô thị luôn lớn hơn các vùng khác và chiếm đại đa số trong thu nhập quốc dân ở mỗi quốc gia, trong khi tỷ lệ dân số ở đô thị thấp hơn các vùng khác Vì vậy quản lý đô thị đang trở thành một vấn đề rất quan trọng đối

Trang 33

với các cấp chính quyền, cũng như các tổ chức xã hội có liên quan với mong muốn sao cho các đô thị được ổn định và phát triển không ngừng

Đô thị có những nhu cầu và đặc điểm khác so với khu vực nông thôn Trước hết, đô thị là nơi tập trung dân cư đông đúc, xã hội đô thị luôn xuất hiện những nhu cầu ăn, ở, đi lại, làm việc, học tập, điều trị, chăm sóc sức khỏe, vui chơi, giải trí Các nhu cầu này ngày càng đòi hỏi cao hơn và có các nhu cầu mới thường xuyên phát sinh

Đô thị là nơi tập trung các hoạt động kinh tế chủ yếu về thương mại, dịch vụ, công nghiệp hoặc thuần túy là một trung tâm chính trị - hành chính; văn hóa, trung tâm nghiên cứu Bên cạnh đó, trình độ chuyên môn hóa trên các lĩnh vực của đô thị cao hơn so với nông thôn

1.2.1.3 Phân loại đô thị

Để có cơ sở quy hoạch, xây dựng và quản lý các đô thị, cần phải phân loại đô thị Tùy thuộc vào điều kiện dân cư, vị trí địa lý, kinh tế, văn hóa, xã hội mà mỗi quốc gia có những cách thức phân loại đô thị khác nhau nhau và tùy theo những yếu tố mang tính đặc trưng Tuy nhiên, nhiều nước không quan tâm đến phân loại đô thị mà chỉ quan tâm đến tư cách chính quyền địa phương hay tư cách thành phố trao cho vùng lãnh thổ đó thuộc đơn vị hành chính cấp nào để có tướng ứng cấp chính quyền

Việt Nam, Trung Quốc có cách phân loại đô thị theo quan điểm của mức độ đô thị hóa

Theo pháp luật hiện hành, Việt Nam chia đô thị thành 6 loại:

Đô thị loại đặc biệt

1 Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: a) Vị trí, chức năng, vai trò là Thủ đô hoặc trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, quốc tế về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc tế,

có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước;

Trang 34

b) Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

2 Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 5.000.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 3.000.000 người trở lên

3 Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 3.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 12.000 người/km2 trở lên

4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 70% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 90% trở lên

5 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

Đô thị loại I

1 Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: a) Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp cấp quốc gia, cấp vùng hoặc cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y

tế, khoa học và công nghệ, đầu mối giao thông, giao lưu trong nước và quốc

tế, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng liên tỉnh hoặc cả nước;

b) Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

2 Quy mô dân số:

a) Đô thị là thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 1.000.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 500.000 người trở lên;

b) Đô thị là thành phố thuộc tỉnh hoặc thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương: quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 500.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 200.000 người trở lên

3 Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 2.000 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 10.000 người/km2 trở lên

Trang 35

4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 65% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 85% trở lên

5 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

Đô thị loại II

1 Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: a) Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp vùng, cấp tỉnh về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một tỉnh hoặc một vùng liên tỉnh;

b) Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

2 Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 200.000 người trở lên; khu vực nội thành đạt từ 100.000 người trở lên

3 Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.800 người/km2 trở lên; khu vực nội thành tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 8.000 người/km2 trở lên

4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 65% trở lên; khu vực nội thành đạt từ 80% trở lên

5 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

Đô thị loại III

1 Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: a) Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ cấp tỉnh, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, vùng liên tỉnh;

Trang 36

b) Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

2 Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 100.000 người trở lên; khu vực nội thành, nội thị đạt từ 50.000 người trở lên

3 Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.400 người/km2 trở lên; khu vực nội thành, nội thị tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 7.000 người/km2 trở lên

4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 60% trở lên; khu vực nội thành, nội thị đạt từ 75% trở lên

5 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

Đô thị loại IV

1 Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: a) Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành cấp tỉnh, cấp huyện về kinh tế, tài chính, văn hóa, giáo dục, đào tạo, du lịch, y tế, khoa học và công nghệ, trung tâm hành chính cấp huyện, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, huyện hoặc vùng liên huyện;

b) Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

2 Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 50.000 người trở lên; khu vực nội thị (nếu có) đạt từ 20.000 người trở lên

3 Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.200 người/km2 trở lên; khu vực nội thị (nếu có) tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 6.000 người/km2 trở lên

4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên; khu vực nội thị (nếu có) đạt từ 70% trở lên

Trang 37

5 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

Đô thị loại V

1 Vị trí, chức năng, vai trò, cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội: a) Vị trí, chức năng, vai trò là trung tâm hành chính hoặc trung tâm tổng hợp cấp huyện hoặc trung tâm chuyên ngành cấp huyện về kinh tế, văn hóa, giáo dục, đào tạo, đầu mối giao thông, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện hoặc cụm liên xã;

b) Cơ cấu và trình độ phát triển kinh tế - xã hội đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này

2 Quy mô dân số toàn đô thị đạt từ 4.000 người trở lên

3 Mật độ dân số toàn đô thị đạt từ 1.000 người/km2 trở lên; mật độ dân

số tính trên diện tích đất xây dựng đô thị đạt từ 5.000 người/km2 trở lên

4 Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp toàn đô thị đạt từ 55% trở lên

5 Trình độ phát triển cơ sở hạ tầng và kiến trúc, cảnh quan đô thị đạt các tiêu chuẩn quy định tại Phụ lục 1 ban hành kèm theo Nghị quyết này [28]

Tuy nhiên, cách phân loại này chỉ mang tính “mức độ đô thị hóa” Và

có thể có nhiều khu vực thỏa mãn các tiêu chí trên của đô thị hóa

1.2.2 Chính quyền đô thị

1.2.2.1 Tổng quan về chính quyền đô thị

Chính quyền đô thị thường gắn với những vùng lãnh thổ theo cách thức phân chia đơn vị hành chính lãnh thổ như nêu trên Có thể là chính quyền đô thị cho cả một vùng lãnh thổ cấp 1 Một số cụm từ hay sử dụng là chính quyền thành phố trực thuộc trung ương Tuy nhiên, vùng lãnh thổ được gọi là

đô thị này tương đương với vùng lãnh thổ cấp tỉnh, nhưng mức độ đô thị hóa

có thể rộng nhưng chưa sâu

Trang 38

Mỗi một quốc gia có những vùng lãnh thổ như vậy, và đa số có vùng lãnh thổ gắn với thành phố cốt lõi là thủ đô để tạo nên vùng lãnh thổ đô thị trực thuộc trung ương Việt Nam có 5 vùng lãnh thổ đô thị trực thuộc trung ương; Trung quốc có 4 vùng lãnh thổ đô thị trực thuộc trung ương; Hàn quốc

có 8 vùng lãnh thổ theo mô hình này Trong khi Nhật Bản vùng Tokyo được coi là vùng lãnh thổ cấp tỉnh Lào có Vùng thủ đô Viêng-chăn

Cách tổ chức của chính quyền các vùng lãnh thổ cấp 1 mang tính đô thị không khác nhau nhiều giữa các quốc gia và cũng theo các dạng đã nêu trên

Sự khác nhau chủ yếu nằm ở cách phân chia tiếp theo thành các đơn vị hành chính lãnh thổ nhỏ hơn (cấp 2 hay cấp 3) Ví dụ, 8 vùng đô thị của Hàn quốc tương đương cấp tỉnh cũng được phân chia gần giống như tỉnh Khu vực

đô thị Seoul, thành phố trực thuộc trung ương, tuy là cơ quan tự quản, nhưng cũng được chia ra 25 đơn vị nhỏ hơn cấp 2 và cũng được trao quyền tự quản

từ chính quyền thành phố cấp 1 Và từng đơn vị hành chính cấp 2 này cho thể chia nhỏ tiếp theo

Vùng đơn vị hành chính lãnh thổ cấp 2 nẳm bên dưới cấp lãnh thổ cấp

1 Đơn vị hành chính lãnh thổ này được xếp loại khu đô thị và cũng có thể có nhiều tên khác nhau tùy thuộc vào quốc gia

Chính quyền địa phương của vùng đô thị này gắn với cấp hành chính

và có thể gọi chính quyền địa phương bên dưới hay của chính quyền địa phương cấp 1

Tổ chức bộ máy của chính quyền địa phương vùng lãnh thổ loại này cũng tuân thủ theo các dạng đã nêu trên

1.2.2.2 Đặc trưng của chính quyền đô thị

Về cơ bản chính quyền đô thị có các đặc trưng sau:

Thứ nhất: Chính quyền đô thị trực tiếp tác động đến các đối tượng

Đô thị là trung tâm chính trị - hành chính, kinh tế, văn hóa, khoa học -

Trang 39

tế, hạ tầng quan trọng như trung tâm tài chính, thương mại, dịch vụ, hệ thống giao thông liên lạc, điện, nước, công trình xây dựng, khu vui chơi, giải trí phát triển với tốc độ nhanh

Chính quyền đô thị là chủ thể triển khai thực thi các chính sách, pháp luật của nhà nước nhằm đảm bảo sự ổn định mọi mặt đời sống xã hội thông qua việc sử dụng hệ thống các công cụ, phương tiện quản lý vĩ mô phù hợp

Do đó chính quyền đô thị để thực hiện tốt chức năng của mình, chính quyền

đô thị có tư cách pháp nhân công quyền, có thực quyền lực trên cả ba phương diện là quyền lập qui, quyền điều hành và quyền cưỡng chế để quản lý có hiệu lực toàn diện các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, môi trường trên địa bàn đô thị

Thứ hai: Chính quyền đô thị là nơi trực tiếp phân phối, cung cấp các dịch vụ công cộng

Các dịch vụ công như: Cấp thoát nước, cây xanh, chiếu sáng, môi trường, giao thông đô thị nhằm phục vụ nhu cầu đời sống kinh tế - xã hội chung trên địa bàn Do đặc điểm sinh sống của dân cư đô thị, nhu cầu cung cấp những dịch vụ trên mang tính tập trung cao và được liên thông trên cả địa bàn Để đảm nhận cung cấp một khối lượng lớn các dịch vụ trên địa bàn thường các đơn vị tư nhân không đủ khả năng, mà phải do chính quyền đứng

ra thực hiện

Tuy nhiên, theo xu hướng phát triển của các đô thị, nhu cầu dịch vụ công cộng ngày càng gia tăng đang gây nên những áp lực đối với chính quyền Trước nhu cầu cấp bách về cung cấp dịch vụ công cho người dân đô thị, chính quyền cần thúc đẩy quá trình xã hội hóa dịch vụ công mới đáp ứng kịp thời, đầy đủ cả về số lượng và chất lượng các dịch vụ cho người dân đô thị

Thứ ba: Chất lượng dịch vụ công do chính quyền đô thị cung cấp thường được đảm bảo hơn ở nông thôn

Trang 40

Dân cư đô thị được tập trung từ nhiều vùng, miền khác nhau nên họ có cuộc sống khá độc lập với nhau, ít có quan hệ truyền thống chặt chẽ theo dòng tộc, cộng đồng tự quản như ở nông thôn, tôn trọng những chuẩn mực có tính pháp lý hơn là những qui tắc có tính cộng đồng Từ những đặc điểm sinh sống này mà nhu cầu về số lượng cũng như chất lượng các dịch vụ công cho người dân đô thị cũng đặt ra cao hơn so với nông thôn Ngoài ra, người dân ở đô thị cũng thường không tự cung tự cấp một số dịch vụ cho mình nên hầu hết các dịch vụ công ở đô thị đều do chính quyền cung cấp theo yêu cầu của người dân Việc chính quyền đô thị cung cấp đồng bộ các dịch vụ công vừa đảm bảo được nhu cầu về số lượng, chất lượng, vừa tiết kiệm chi phí hạ giá thành các sản phẩm dịch vụ

Thứ tư: Quản lý của chính quyền đô thị có sự đan xen với khu vực đang được đô thị hóa

Quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa làm cho nhiều đô thị hiện nay còn mang đường nét của nông thôn, nhất là về kết cấu hạ tầng, kiến trúc xây dựng, phương thức hoạt động kinh tế - xã hội, tập quán sinh hoạt và lối sống cũng do đặc thù này mà nhiều đô thị vẫn lưu giữ mô hình bộ máy chính quyền nông thôn Chính thực tế này đã làm cho hoạt động của chính quyền đô thị không có sự thay đổi theo yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn Do

đó, ở các đô thị cần phải thiết lập mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của chính quyền cho phù hợp với tính chất, đặc điểm và xu thế phát triển đô thị trong tương lai

Thứ năm: Quản lý của chính quyền đô thị yêu cầu đảm bảo tập trung, đồng bộ, có hiệu lực và hiệu quả cao

Muốn duy trì và phát triển đô thị theo định hướng thì hoạt động quản lý của chính quyền đô thị phải đảm bảo nguyên tắc tập trung, đồng bộ, có hiệu lực và hiệu quả, tránh tình trạng quản lý theo kiểu chia cắt theo chiều dọc và chiều ngang thành từng mảng nhỏ Chẳng hạn, quản lý nhà nước về giao thông vận tải, vệ sinh môi trường, cấp thoát nước, cây xanh, xây dựng nhà

Ngày đăng: 18/12/2017, 17:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Athiphon Bunnaphôn (2003), Hoàn thiện bộ máy quản lý đô thị CHDCND Lào, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện bộ máy quản lý đô thị CHDCND Lào
Tác giả: Athiphon Bunnaphôn
Năm: 2003
3. Báo cáo khoa học đề tài cấp bộ (2001), Thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước các nước ASEAN, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (Chủ nhiệm đề tài Trương Đắc Linh), mã số đề tài: B 98-20-04, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thể chế chính trị và tổ chức bộ máy nhà nước các nước ASEAN
Tác giả: Báo cáo khoa học đề tài cấp bộ
Năm: 2001
4. Phan Xuân Biên (2006), Một số vấn đề về xây dựng chính quyền đô thị từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh, NXB Tuổi trẻ, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về xây dựng chính quyền đô thị từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Phan Xuân Biên
Nhà XB: NXB Tuổi trẻ
Năm: 2006
5. Bouaphanh Xayasongkham (2007), Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp tỉnh nước CHDCND Lào, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền cấp tỉnh nước CHDCND Lào
Tác giả: Bouaphanh Xayasongkham
Năm: 2007
6. Cay-Xỏn-Phôm-Vi-Hẳn (1978), Xây dựng một nước Lào hoà bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa; NXB. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng một nước Lào hoà bình, độc lập và xã hội chủ nghĩa
Tác giả: Cay-Xỏn-Phôm-Vi-Hẳn
Nhà XB: NXB. Sự thật
Năm: 1978
7. Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 20 năm xây dựng và phát triển (1995); NXB. Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào 20 năm xây dựng và phát triển
Nhà XB: NXB. Khoa học xã hội
8. Nguyễn Đăng Dung (2001), Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương (Lịch sử và hiện tại), NXB. Đồng Nai Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền nhà nước ở địa phương (Lịch sử và hiện tại)
Tác giả: Nguyễn Đăng Dung
Nhà XB: NXB. Đồng Nai
Năm: 2001
9. Đại học Luật Tp. HCM (2004), Các tài liệu tham khảo về chính quyền địa phương, Khoa Luật hành chính, Tổ bộ môn Luật Hiến Pháp, Trường Đại học Luật TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tài liệu tham khảo về chính quyền địa phương
Tác giả: Đại học Luật Tp. HCM
Năm: 2004
10. Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình luật Hiến pháp Việt Nam, NXB. Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB. Công an nhân dân
Năm: 2003
11. Đại học Quốc gia Hà Nội (1999), Giáo trình luật Hiến pháp Việt Nam, NXB. Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Hiến pháp Việt Nam
Tác giả: Đại học Quốc gia Hà Nội
Nhà XB: NXB. Đại học Quốc gia
Năm: 1999
12. Bùi Xuân Đức (2005), Đổi mới tổ chức chính quyền địa phương ở đô thị, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộcTrung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức chính quyền địa phương ở đô thị
Tác giả: Bùi Xuân Đức
Năm: 2005
13. Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, Nguyễn Hữu Đức (1998), Cải cách hành chính địa phương: lý luận và thực tiễn; NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính địa phương: lý luận và thực tiễ
Tác giả: Tô Tử Hạ, Nguyễn Hữu Trị, Nguyễn Hữu Đức
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
14. Hệ thống công vụ một số nước ASEAN và Việt Nam; NXB. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống công vụ một số nước ASEAN và Việt Nam
Nhà XB: NXB. Chính trị quốc gia
15. Học viện hành chính quốc gia (2003), Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng về quản lý hành chính nhà nước
Tác giả: Học viện hành chính quốc gia
Năm: 2003
16. Học viện hành chính quốc gia (2002), Hành chính công, NXB. Đại học quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành chính công
Tác giả: Học viện hành chính quốc gia
Nhà XB: NXB. Đại học quốc gia
Năm: 2002
18. Vũ Thị Lan (2014), Đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền đô thị ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới tổ chức bộ máy chính quyền đô thị ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Lan
Năm: 2014
19. Văn Đức Mạnh (2015), Tổ chức chính quyền đô thị ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước, Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ chức chính quyền đô thị ở Việt Nam đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính nhà nước
Tác giả: Văn Đức Mạnh
Năm: 2015
20. Tài liệu Hội thảo khoa học (1995), Thực tiễn Việt - Lào về cải cách hành chính, Phần hệ thống cán bộ, công chức Lào trong thời kỳ đổi mới, Viêng-chăn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tiễn Việt - Lào về cải cách hành chính, Phần hệ thống cán bộ, công chức Lào trong thời kỳ đổi mới
Tác giả: Tài liệu Hội thảo khoa học
Năm: 1995
21. Thang Văn Phúc (2001), Cải cách hành chính nhà nước thực trạng, nguyên nhân và giải pháp; NXB. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cải cách hành chính nhà nước thực trạng, nguyên nhân và giải pháp
Tác giả: Thang Văn Phúc
Nhà XB: NXB. Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
22. Võ Kim Sơn (2006), Giáo trình quản lý và phát triển tổ chức hành chính nhà nước, Học viện Hành chính Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý và phát triển tổ chức hành chính nhà nước
Tác giả: Võ Kim Sơn
Năm: 2006

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w