Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây thành phố Hà Nội (LV thạc sĩ)
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VĂN THẮNG
CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC
ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VĂN THẮNG
CHẤT LƯỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC
ỦY BAN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS DƯƠNG QUANG TUNG
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tác giả đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ của các tổ chức và cá nhân Vì vậy, với tình cảm chân thành, tác giả xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến:
Khoa Sau đại học, cùng các Thầy ,Cô giáo của Học viện Hành chính quốc gia đã tham gia quản lý, giảng dạy tận tâm, động viên và giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn Tiến sĩ Dương Quang Tung, nguyên cán bộ Bộ Nội vụ, người đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm những người thân yêu, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên khích lệ và giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn
Mặc dù đã hết sức cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn của tác giả không tránh khỏi những sai sót, cho nên tác giả kính mong được góp ý và chỉ dẫn thêm
TÁC GIẢ
Nguyễn Văn Thắng
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của Luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ
Nguyễn Văn Thắng
Trang 5MỞ ĐẦU 01
Chương 1: Cơ sở lý luận về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 10
1.1 Khái niệm công chức, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 10
1.1.1 Khái niệm công chức 10
1.1.2 Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 15
1.2 Khái niệm, tiêu chí đánh giá chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 24
1.2.1 Khái niệm chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 24
1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 26
1.3 Các nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện 35
Chương 2: Thực trạng chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 41
2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội thị xã Sơn Tây và đặc điểm của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 41
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 41
2.1.2 Đặc điểm kinh tế 42
2.1.3 Đặc điểm xã hội 44
2.1.4 Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế - xã hội đến chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 46
2.1.5 Đặc điểm của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 49
2.2 Phân tích thực trạng chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 51
Trang 62.2.1 Thực trạng về phẩm chất chính trị, phẩm chất đạo đức 51
2.2.2 Thực trạng năng lực thực thi công vụ 53
2.2.3 Thực trạng về sức khỏe, độ tuổi 64
2.2.4 Thực trạng về kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao và sự hài lòng của người dân 65
2.3 Đánh giá chung về thực trạng chất lượng các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 69
2.3.1 Ưu điểm 69
2.3.2 Hạn chế 72
2.4 Nguyên nhân của những hạn chế về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 76
Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 85
3.1 Quan điểm của Đảng về phát triển cán bộ, công chức 85
3.2 Những giải pháp nâng cao chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội 89
3.2.1 Thực hiện tốt việc phân tích công việc gắn với xây dựng vị trí việc làm 89
3.2.2 Nâng cao hiệu quả tuyển dụng công chức 91
3.2.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng công chức 93
3.2.4 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức 94
3.2.5 Nâng cao chất lượng đánh giá công chức 97
3.2.6 Thực hiện tốt chế độ, chính sách đãi ngộ với công chức 99
3.2.7 Tăng cường công tác thanh tra công vụ 100
3.2.8 Nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ, đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, tự diễn biến, tự chuyển hóa của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây 102
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
Phụ lục 1 111
Phụ lục 2 118
Trang 7BGDĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo
BTTTT Bộ Thông tin và Truyền thông
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 8Tên bảng Trang
Bảng 2.1 Trình độ chuyên môn của công chức các cơ quan chuyên
môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây năm 2016 51 Bảng 2.2 Kết quả khảo sát công chức đối với các lớp đào tạo, bồi
dưỡng, tập huấn nghiệp vụ chuyên môn 55 Bảng 2.3 Trình độ quản lý nhà nước của công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây tính đến năm 2016
56
Bảng 2.4 Trình độ lý luận chính trị của công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây tính đến năm 2016
57
Bảng 2.5 Trình độ tin học, ngoại ngữ của công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây tính đến năm 2016
58
Bảng 2.6 Bảng đánh giá các kỹ năng cần thiết đối với công chức
Bảng 2.7 Bảng đánh giá mức độ thành thạo các kỹ năng cần thiết
đối với công chức các cơ quan chuyên môn cấp huyện 60-61 Bảng 2.8 Bảng đánh giá của công dân đối với thái độ, hành vi của
Bảng 2.9 Độ tuổi của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây tính đến năm 2016 64 Bảng 2.10 Đánh giá của người dân về tiến độ và chất lượng giải
quyết công việc của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây
66
Bảng 2.11 Đánh giá của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây về tiến độ và chất lượng giải quyết công việc
67
Trang 9Tên biểu đồ Trang
Biểu đồ 2.1 Kết quả khảo sát về phẩm chất chính trị của công chức
các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây năm 2016
52
Biểu đồ 2.2 Kết quả khảo sát về việc công chức gây khó khăn
Biểu đồ 2.3 Kết quả khảo sát biểu hiện tham nhũng tiêu cực của
Biểu đồ 2.4 Kết quả khảo sát về việc công chức được bố trí công
việc phù hợp với trình độ chuyên môn 56 Biểu đồ 2.5 Biểu đổ thể hiện kết quả khảo sát công chức đối với
cách thức đánh giá công chức hiện nay 67 Biểu đồ 2.6 Biểu đổ thể hiện sự hài lòng của người dân đối với
công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây
68
Trang 10
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc Công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém, có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong” Công chức là những người trực tiếp xây dựng và thực thi các chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân Vì vậy, xây dựng, nâng cao chất lượng công chức nói chung và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nói riêng là mối quan tâm hàng đầu của Đảng và Nhà nước ta nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới trong giai đoạn hiện
nay Nghị quyết 03-NQ/TW Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII về Chiến
lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ, là khâu then chốt trong xây dựng Đảng”[17] Nghị quyết chỉ rõ: “Đất nước ta đang bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa Nhiệm vụ chính trị mới rất nặng nề, khó khăn phức tạp, đòi hỏi Đảng ta phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ ngang tầm, góp phần thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”[17] Đặc biệt, khi nước ta đang hội nhập sâu, rộng vào nền kinh tế thế giới, với những thời cơ và vận hội mới, đồng thời cũng có những khó khăn, thách thức mới thì việc xây dựng, nâng cao chất lượng công chức nói chung và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
Thời gian qua, kiến thức, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và năng lực hoạt động thực tiễn của công chức nói chung và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nói riêng từng bước được nâng cao về mọi mặt, góp phần tích cực vào thành công của sự nghiệp đổi mới đất nước
Trang 11trong giai đoạn vừa qua, đã và đang góp phần đáng kể vào tiến trình cải cách hành chính theo mục tiêu xây dựng nền hành chính hiện đại, có tính chuyên nghiệp cao, xây dựng một Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ nhân dân mà Đảng, nhà nước và nhân dân ta đã đặt
ra trong thời kỳ mới Tuy nhiên, thực trạng công chức nói chung và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện hiện nay vẫn bộc lộ những yếu kém, bất cập như Đảng ta đã nhận định: “đội ngũ cán bộ hiện nay xét về chất lượng, số lượng, cơ cấu nhiều mặt chưa ngang tầm với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá”[19], “Năng lực và phẩm chất của nhiều cán bộ công chức còn yếu, một bộ phận không nhỏ thoái hoá, biến chất”[18] Trình
độ chuyên môn nghiệp vụ của công chức chưa tương xứng, chưa đáp ứng yêu cầu công việc; tính chủ động, ý thức trách nhiệm với công việc được giao còn thấp; khả năng quản lý, điều hành còn nhiều hạn chế Một bộ phận công chức thoái hoá, biến chất, gây nhũng nhiễu phiền hà, thiếu công tâm, khách quan khi giải quyết công việc; kỷ luật hành chính lỏng lẻo, bản lĩnh thiếu vững vàng, lãng phí bị kỷ luật Tất cả những điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến uy tín và hiệu quả lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với Đảng; đồng thời đặt ra đòi hỏi bức thiết phải nâng cao chất lượng công chức trong đó có công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện
Tại UBND thị xã Sơn Tây, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã trong thời gian qua đã được kiện toàn, bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ nên chất lượng được nâng lên rõ rệt, cơ bản đáp ứng được những đòi hỏi rất khắt khe của thời kỳ mở cửa, hội nhập Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây vẫn còn tồn tại một số hạn chế, bất cập như: trình độ, năng lực, kỹ năng của một số công chức chưa đáp ứng được yêu
Trang 12cầu của công việc, đào tạo bồi dưỡng công chức chưa gắn với việc sử dụng, chưa có chính sách thỏa đáng để hỗ trợ và thu hút công chức có trình độ cao
về Thị xã công tác, Điều đó đòi hỏi thị xã Sơn Tây cần có những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển kinh - tế xã hội của thị xã
Xuất phát từ lý do trên, tác giả đã chọn đề tài "Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây, thành phố
Hà Nội" làm đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp thạc sỹ Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Công chức là chủ đề nghiên cứu được nhiều nhà khoa học quan tâm Đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu ở những cấp độ khác nhau: Luận văn; Luận án; Bài báo khoa học; Sách chuyên khảo, trước hết cần kể tới:
- PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm (2001), Luận
cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhà xuất bản Chính trị quốc
gia, Hà Nội
Cuốn sách này đã luận chứng sâu sắc về vị trí, vai trò và yêu cầu khách quan cấp bách của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức Mỗi chế độ xã hội muốn đứng vững và phát triển đều phải được xây dựng nên bởi những con người hết lòng trung thành với chế độ, có trí tuệ và năng lực Trong xã hội ngày nay, đó là những công chức, những người trực tiếp phục vụ chế độ của dân, do dân và vì dân Họ là người đại diện cho nhà nước để xây dựng và thực thi các chủ trương, chính sách Họ là nhân tố có tính quyết định đối với sự phát triển của mỗi quốc gia Cuốn sách đã góp phần lý giải, hệ thống hóa các căn cứ khoa học của việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đặc biệt là đội ngũ lãnh đạo chủ chốt các cấp, từ đó đưa ra những kiến nghị về
Trang 13phương hướng, giải pháp nhằm củng cố, phát triển đội ngũ này cả về chất lượng, số lượng và cơ cấu cho phù hợp với yêu cầu hiện nay
- Nguyễn Kim Diện (2006), Nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính tỉnh Hải Dương, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học Kinh tế quốc
dân, Hà Nội
Luận án đã hệ thống được những lý luận cơ bản về nâng cao chất lượng
đội ngũ công chức hành chính nhà nước nói chung và nâng cao chất lượng đội
ngũ công chức hành chính nhà nước của tỉnh Hải Dương nói riêng Đồng thời
đã phân tích và rút ra những đánh giá thực trạng đó một cách khách quan, chính xác về một số ưu điểm và hạn chế về chất lượng đội ngũ công chức hành chính sự nghiệp nhà nước tỉnh Hải Dương trong thời kỳ mới Luận án cũng đã đưa ra những quan điểm, mục tiêu và một số giải pháp quan trọng, phù hợp, nêu lên những kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước tỉnh Hải Dương trong thời kỳ đổi mới Song tác giả
luận án mới chỉ dừng lại ở độ ngũ công chức hành chính trên phạm vi cấp tỉnh chứ chưa chuyên sâu về đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn ở cấp huyện vốn có những đặc thù nhất định so với các cấp khác trong bộ máy quản
ở Việt Nam hiện nay; những yếu tố ảnh hưởng, tác động đến đội ngũ công chức đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân
Trang 14- Trần Đình Hoan (2009), Đánh giá, quy hoạch, luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội
Cuốn sách đã phân tích và khẳng định dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, gần 80 năm qua, cách mạng Việt Nam đã liên tiếp giành được những thắng lợi vẻ vang Từ một nước nô lệ, Việt Nam đã trở thành một quốc gia độc lập, là ngọn cờ tiên phong trong phong trào giải phóng dân tộc Trong hơn 25 năm qua, công cuộc đổi mới
đã giành được những thành tựu vô cùng quan trọng, tạo điều kiện, cơ sở vững chắc cho quá trình phát triển đất nước trong những năm tiếp theo Có được những thắng lợi đó là nhờ đường lối chính trị đúng đắn, là do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã dày công xây dựng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng đặt ra Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "Muốn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ tốt hoặc kém" Cuốn sách đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn về công tác xây dựng đội ngũ công chức nói chung, công tác đánh giá, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nói riêng, đồng thời từ đó rút ra được những giải pháp hiệu quả cho công tác cán bộ trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước hiện nay Tuy nhiên, cuốn sách này tập trung nghiên cứu về cán bộ, lãnh đạo, quản lý mà chưa đề cập sâu tới đội ngũ công chức trực tiếp thực thi công việc như công chức trong các cơ quan chuyên môn cấp huyện
- PGS, TS Lê Minh Thông, TS Nguyễn Danh Châu (2009), Kinh nghiệm công tác nhân sự của một số nước, nhà xuất bản Chính trị quốc gia,
Hà Nội
Để nhanh chóng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức theo yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền và nhiệm vụ mới, cần phải nghiên cứu một số mô
Trang 15hình công vụ, công chức của một số nước tiên tiến và những nước có điều kiện gần giống với Việt Nam để thấy rõ hơn những vấn đề về công vụ, công chức ở Việt Nam, từ đó có giải pháp đổi mới công tác cán bộ, nhanh chóng khắc phục những mặt còn hạn chế là việc làm rất cần thiết
Trong nội dung cuốn sách, các tác giả tập trung phân tích, giới thiệu những vấn đề: bộ máy quản lý công chức; tuyển chọn công chức; chế độ công trạng, luân chuyển công chức; đào tạo, bồi dưỡng công chức; chế độ kiểm tra, đánh giá công chức; chế độ, chính sách đối với công chức; ở Nhật Bản, Hoa
Kỳ, Cộng hòa Liên bang Đức, Trung Quốc Từ việc khảo cứu các mô hình công vụ, công chức của một số nước trên thế giới, các tác giả rút ra một số nhận xét chung và đề xuất kiến nghị nhằm đổi mới công tác cán bộ của Việt Nam cho phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển của đất nước trong giai đoạn mới
- Chu Xuân Khánh (2010), Hoàn thiện việc xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước chuyên nghiệp ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ chuyên
ngành Quản lý hành chính công, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội
Nội dung luận án tác giả chủ yếu đề cập đến những quan niệm về công chức nhà nước của một số quốc gia khác nhau, làm cơ sở việc phântích, so sánh với thực tiễn ở Việt Nam, từ đó góp phần vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về đội ngũ công chức hành chính nhà nước và tính chuyên nghiệp của đội ngũ này Luận án đưa ra quan niệm về tính chuyên nghiệp của đội ngũ công chức hành chính nhà nước, những biểu hiện của tính chuyên nghiệp và hệ thống chuẩn mực của đội ngũ công chức hành chính nhà nước chuyên nghiệp Tác giả đã hệ thống lại quá trình hình thành
và phát triển của đội ngũ công chức ở Việt Nam qua các giai đoạn cách mạng; phân tích đánh giá thực trạng về xây dựng và phát triển đội ngũ công
Trang 16chức hành chính nhà nước ở Việt Nam trên cơ sở đó rút ra các nhân tố (nguyên nhân) cản trở việc xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước Đồng thời, tác giả đã nêu một số giải pháp nhằm xây dựng đội ngũ công chức hành chính nhà nước chuyên nghiệp ở Việt Nam, phục vụ cho công cuộc cải cách nền hành chính nhà nước
Xung quanh vấn đề chất lượng đội ngũ công chức đã có các công trình
nghiên cứu và một số bài viết như: "Giải pháp cơ bản nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tổ chức" của Thạc sỹ Phạm Thúy Dương; "Về công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ tổ chức" của TS Hoàng Mạnh Đoàn; "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức ở một số nước trên thế giới" của Lê Quang;
Các bài viết đó đã tập trung nghiên cứu các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chức, nhất là giải pháp đào đạo bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tổ chức cán bộ
Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các Tạp chí khoa học hoặc nhiều công trình Luận văn, Luận án khác có đề cập ít nhiều tới vấn đề này
Tuy có nhiều công trình khoa học nghiên cứu nhưng mỗi công trình đề cập đến vấn đề ở những khía cạnh khác nhau Cho đến hiện nay chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây Những quan điểm, nhận định, đánh giá của những công trình khoa học liên quan đến đề tài đều được tác giả nghiên cứu, tham khảo có chọn lọc
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích
Từ thực trạng chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây, phân tích các nguyên nhân của thực trạng, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây trong thời gian tới
Trang 173.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống lại một số vấn đề lý luận liên quan đến chất lượng công chức
- Phân tích thực trạng chất lượng công chức tại UBND thị xã Sơn Tây
- Phân tích nguyên nhân của thực trạng chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây
- Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây
-Về thời gian: Luận văn nghiên cứu trong năm 2016
5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác-Lênin;
tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác cán bộ, chất lượng cán bộ, công chức
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích
- tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp lịch sử - cụ thể và phương pháp điều tra, khảo sát
6 Những đóng góp về khoa học của luận văn
Góp phần vào hệ thống hoá lý luận về công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện và chất lượng công chức các cơ quan chuyên
Trang 18môn thuộc UBND cấp huyện; hệ thống hoá và xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện; làm
rõ những đặc điểm và điều kiện khách quan của việc xây dựng và bảo đảm chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Qua phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng, rút ra những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế Từ đó, làm tiền đề để hoàn thiện, bổ sung các tiêu chí về chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây hiện nay, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế
Làm rõ và đưa ra quan điểm, phương pháp tuyển dụng, sử dụng, quy hoạch, đào tạo và những giải pháp, kiến nghị xây dựng, bảo đảm chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND thị xã Sơn Tây hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 9 tiết
Trang 191.1.1 Khái niệm công chức
Công chức là khái niệm được dùng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới nhưng được hiểu không giống nhau, thậm chí ngay trong phạm vi một quốc gia quan niệm về công chức qua các thời kỳ cũng khác nhau
Theo kinh nghiệm của các quốc gia đã thực hiện chế độ công chức thì công chức được hiểu là những công dân được tuyển dụng, bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước, được xếp vào một ngạch và hưởng lương từ ngân sách Nhà nước Với quan niệm như thế để trở thành người công chức cần phải thỏa mãn sáu điều kiện sau:
- Là công dân của nước đó
- Được tuyển dụng bằng hình thức thi tuyển
- Giữ một công vụ thường xuyên
- Làm việc trong một công sở
- Lĩnh lương từ ngân sách Nhà nước [31]
Ở một số nước, công chức chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động quản
lý nhà nước Có những nước, ngoài những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước, công chức còn được áp dụng cho những người làm trong các cơ quan dịch vụ công Từ năm 1859 ở vương quốc Anh, người ta đã xác định hai bộ phận của công chức như sau: Những người do nhà Vua trực tiếp bổ nhiệm hoặc được ủy ban dân sự cấp giấy chứng nhận cho phép tham gia công tác ở cơ quan dân sự; những người mà toàn bộ tiền lương được cấp trực
Trang 20tiếp từ ngân sách thống nhất của Vương quốc liên hợp hoặc từ các khoản được Quốc hội thông qua
Nước Mỹ, người ta gọi chung những nhân viên trong ngành hành chính
của Chính phủ là công chức
Công chức ở Nhật Bản gồm có công chức Nhà nước và công chức ở địa phương Công chức nhà nước là những người được nhậm chức trong bộ máy của Chính phủ Trung ương, ngành tư pháp, quốc hội, quân đội, trường học công, xí nghiệp và đơn vị sự nghiệp quốc doanh, được lĩnh lương từ ngân sách Nhà nước Công chức địa phương là những người làm việc và lĩnh lương
từ nguồn ngân sách của địa phương
Inđônêxia xác định công chức là những người được tuyển dụng và bổ nhiệm làm việc thường xuyên ở các công sở trung ương và địa phương, một số
sĩ quan cao cấp trong quân đội, những nhà quản trị các doanh nghiệp nhà nước
Ở Việt Nam, cán bộ, công chức, viên chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ Trong khoa học hành chính, theo các cách tiếp cận khác nhau, người ta đã đưa ra các quan niệm khác nhau về các thuật ngữ "cán bộ", "công chức", "viên chức" Trải qua một thời gian dài cho đến trước khi Luật Cán bộ, công chức được ban hành năm 2008, trong nhận thức cũng như trong các hoạt động quản lý, chúng ta chưa xác định rõ ràng cán bộ, công chức, viên chức
Khái niệm “cán bộ” được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ
nghĩa và bao hàm một diện rất rộng các loại nhân sự thuộc khu vực Nhà nước
và các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội Thuật ngữ khi đó thường
dùng là “cán bộ, công nhân viên chức”, bao gồm tất cả những người làm
công hưởng lương từ Nhà nước, từ những người đứng đầu một cơ quan tới các nhân viên phục vụ như lái xe, bảo vệ hay lao động tạp vụ Sự đánh đồng như vậy dẫn tới việc không phân định rõ ràng về chức năng và nhiệm vụ, không phân biệt rõ những người thực thi chức năng quản lý nhà nước và
Trang 21những người cung ứng dịch vụ công trong bộ máy nhà nước, thậm chí gây nhầm lẫn trong hoạt động cũng như hành xử công vụ Thực tiễn cho thấy, ngay cả nhiều quy định về kỷ luật cán bộ cũng khó thực thi bởi chính sự mơ
hồ và dễ gây lẫn lộn trong khái niệm này
Khái niệm công chức được quy định lần đầu tiên tại Điều 1 của Sắc lệnh số 76/SL ngày 20 tháng 5 năm 1950 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ cộng hoà về Quy chế công chức, trong đó khái niệm công chức Việt Nam
chỉ được xác định trong phạm vi các cơ quan Chính phủ, đó là “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”
Tuy nhiên, do điều kiện đất nước chiến tranh nên bản Quy chế công
chức này không được triển khai đầy đủ, và suốt một thời gian dài (đến cuối những năm 1980), khái niệm công chức không được sử dụng mà thay vào đó
là khái niệm cán bộ, công nhân viên chức nhà nước Khái niệm này dùng chung cho tất cả mọi người làm việc cho Nhà nước, không có sự phân biệt, theo đó đội ngũ này rất đông đảo vì nó được hình thành từ rất nhiều con đường, có thể do bầu, có thể do phân công sau khi tốt nghiệp, do tuyển dụng,
bổ nhiệm,… phạm vi làm việc của họ cũng rất rộng, vì vậy đội ngũ cán bộ, công nhân viên chức không ổn định Thực tế trên đã gây khó khăn, thiếu thống nhất cho công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước trong việc sử dụng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức
Sau ngày giải phóng miền Nam 30/4/1975, thống nhất đất nước, chúng
ta thực hiện chế độ cán bộ trên phạm vi cả nước, lấy người cán bộ làm trung tâm Theo đó, tất cả những người làm việc trong các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp nhà nước, nông trường, lâm
trường và lực lượng vũ trang đều được gọi chung trong một cụm từ "cán bộ, công nhân viên nhà nước"
Trang 22Chuyển sang thời kỳ đổi mới (năm 1986), trước yêu cầu khách quan
cần cải cách nền hành chính và đòi hỏi phải chuẩn hoá đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước, khái niệm công chức được sử dụng trở lại trong Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 Nghị định chỉ rõ: Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức nhà nước Khái niệm công chức này cũng giống như khái niệm công chức theo Sắc lệnh 76/SL
Đến năm 1998, khi Pháp lệnh Cán bộ, công chức được ban hành, những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng, Nhà nước, đoàn
thể được gọi chung trong một cụm từ là "cán bộ, công chức" Để cụ thể hoá
Pháp lệnh, Chính phủ ban hành Nghị định số 95/1998/NĐ-CP ngày 17/11/1998 về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Theo Nghị định này, công chức là: Công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, bao gồm những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công việc thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp; những người làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân và Công
an nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp và công nhân quốc phòng
Như vậy, cán bộ, công chức mang các đặc trưng như: Công dân Việt Nam, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước mới chỉ là những
căn cứ để xác định một người có phải là "cán bộ, công chức" hay không Tuy
nhiên, vấn đề ai là cán bộ, ai là công chức vẫn chưa được phân biệt và giải quyết triệt để
Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 đã phân biệt được đối tượng làm việc trong các đơn vị sự nghiệp của Nhà nước và gọi họ là viên
Trang 23chức, đồng thời Pháp lệnh sửa đổi đã quy định thêm công chức xã, phường, thị trấn Tuy nhiên, cả Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 và Pháp lệnh Cán bộ, công chức sửa đổi năm 2003 đều không đưa ra được khái niệm về cán
bộ, khái niệm về công chức, chỉ đưa ra thuật ngữ chung là cán bộ, công chức
Để khắc phục mặt hạn chế của các văn bản từ truớc đến nay, ngày 13 tháng 11 năm 2008, tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá XII đã thông qua Luật Cán bộ, công chức Đây là một văn bản có giá trị pháp lý cao nhất từ trước đến nay và cắt nghĩa được rõ ràng hơn về các khái niệm cán bộ, công chức Tại Điều 4 của Luật Cán bộ, công chức quy định:
Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, ở tỉnh, thành phố
trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và
hưởng lương từ ngân sách nhà nước
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Trang 24Như vậy, có thể khái quát, công chức là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những người được tuyển dụng, bổ nhiệm làm một công việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước (hoặc cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân hay Công an nhân dân mà không phải là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng), được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch nhất định, trong biên chế và được hưởng lương từ
Trong Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định những người là công chức, không chỉ điều chỉnh các vấn
đề liên quan đến công chức trong cơ quan hành chính nhà nước nói chung và công chức hành chính nhà nước cấp huyện mà còn liên quan đến công chức trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam; công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội; công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân; công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân; công chức trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập; công chức được luân chuyển
Đến Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức; Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức; Nghị định số
Trang 2524/2010/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức cũng điều chỉnh các vấn đề liên quan đến cán bộ, công chức nói chung và điều chỉnh cả những vấn đề liên quan đến công chức trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam; trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội; trong hệ thống Tòa án nhân dân; trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân; trong cơ quan, đơn vị của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân; trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập
Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh, thành phố (gọi chung là cấp huyện), được xác định là cầu nối chuyển tải các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với người dân, đồng thời cũng là cấp
có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các quyết định trên địa bàn Vì vậy, UBND huyện có những chức năng chủ yếu sau:
- Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân huyện quyết định các nội dung quy định tại các điểm a, b, c và g khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 26 của Luật Chính quyền địa phương và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân huyện
- Quy định tổ chức bộ máy và nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện
- Tổ chức thực hiện ngân sách huyện; thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi, xây dựng điểm dân cư nông thôn; quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, tài nguyên thiên nhiên khác; bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật
- Thực hiện các nhiệm vụ về tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, xây dựng chính quyền và địa giới hành chính, giáo dục,
Trang 26đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao, y tế, lao động, chính sách xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, hành chính tư pháp, bổ trợ tư pháp và các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật
Do vậy, căn cứ Luật Cán bộ công chức và các văn bản có liên quan,
chức năng nhiệm vụ của UBND cấp huyện, có thể hiểu: Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện là công dân Việt Nam được tuyển dụng,
bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, được UBND huyện giao thực hiện những nhiệm vụ
cụ thể và có những quyền hạn nhất định để giúp UBND huyện thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
1.1.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
Nghị định 37/2014/NĐ-CP ngày 5/5/2014 của Chính Phủ đã quy định
tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.Cơ quan chuyên môn thuộc UBND huyện thực hiện chức năng tham mưu, giúp UBND cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, vị trí việc làm, biên chế công chức, cơ cấu ngạch công chức và công tác của UBND cấp huyện, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp
vụ của cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh
Cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện làm việc theo chế độ thủ trưởng và theo Quy chế làm việc của UBND cấp huyện; bảo đảm nguyên tắc
Trang 27tập trung dân chủ; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo của các cơ quan chuyên môn theo quy định
Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là những người làm việc trong các cơ quan chuyên môn, với những chức trách và thẩm quyền cụ thể để giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Vì vậy, căn cứ vào nhiệm vụ của từng cơ quan chuyên môn mà mình đang làm việc, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện
có những chức năng, nhiệm vụ sau:
- Phòng Nội vụ
Công chức phòng Nội vụ tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: tổ chức bộ máy; vị trí việc làm; biên chế công chức và cơ cấu ngạch công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước; vị trí việc làm, cơ cấu viên chức theo chức danh nghề nghiệp và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập; tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng trong cơ quan, tổ chức hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập; cải cách hành chính; chính quyền địa phương; địa giới hành chính; cán bộ, công chức, viên chức; cán bộ, công chức
xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã; hội, tổ chức phi chính phủ; văn thư, lưu trữ nhà nước; tôn giáo; công tác thanh niên; thi đua - khen thưởng
- Phòng Tư pháp
Công chức phòng Tư pháp tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: công tác xây dựng và thi hành pháp luật, theo dõi thi hành pháp luật, kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật, kiểm soát thủ tục hành chính, phổ biến, giáo dục pháp luật; hòa giải ở cơ sở, trợ giúp pháp lý, nuôi con nuôi, hộ tịch, chứng thực, bồi thường nhà nước và các công tác tư pháp khác theo quy định của pháp luật; quản lý công tác thi hành pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
Trang 28- Phòng Tài chính – Kế hoạch
Công chức phòng Tài chính – Kế hoạch tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài chính; kế hoạch và đầu tư; đăng ký kinh doanh; tổng hợp và thống nhất quản lý các vấn đề về doanh nghiệp, hợp tác xã, kinh tế tư nhân
- Phòng Tài nguyên và Môi trường
Công chức phòng Tài nguyên và Môi trường tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: đất đai; tài nguyên nước; tài nguyên khoáng sản; môi trường; biển và hải đảo (đối với các huyện có biển, đảo)
- Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội
Công chức phòng Lao động - Thương binh và Xã hội tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Việc làm; dạy nghề; lao động, tiền lương; tiền công; bảo hiểm xã hội (bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm xã hội tự nguyện, bảo hiểm thất nghiệp); an toàn lao động; người có công; bảo trợ xã hội; bảo vệ và chăm sóc trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội
- Phòng Văn hóa và Thông tin
Công chức phòng Văn hóa và Thông tin tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: văn hóa; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; quảng cáo; bưu chính; viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh truyền hình; báo chí; xuất bản; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại; hạ tầng thông tin
- Phòng Giáo dục và Đào tạo
Công chức phòng Giáo dục và Đào tạo tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: chương trình và nội dung giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo và tiêu chuẩn cán bộ quản lý giáo
Trang 29dục; tiêu chuẩn cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ; bảo đảm chất lượng giáo dục và đào tạo
- Phòng Y tế
Công chức phòng Y tế tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức năng; y dược cổ truyền; sức khỏe sinh sản; trang thiết bị y tế; dược;
mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số - kế hoạch hóa gia đình
- Thanh tra huyện
Công chức Thanh tra huyện tham mưu, giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong phạm vi quản lý nhà nước của UBND cấp huyện; thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn thanh tra giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng theo quy định của pháp luật
- Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Công chức Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tham mưu tổng hợp cho Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân về: hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân; tham mưu cho Chủ tịch Ủy ban nhân dân về chỉ đạo, điều hành của Chủ tịch Ủy ban nhân dân; cung cấp thông tin phục vụ quản lý và hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và các cơ quan nhà nước ở địa phương; bảo đảm cơ sở vật chất, kỹ thuật cho hoạt động của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân; trực tiếp quản lý và chỉ đạo hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông; hướng dẫn, tiếp nhận hồ sơ của cá nhân, tổ chức trên tất
cả các lĩnh vực thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND cấp huyện, chuyển hồ
sơ đến các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện giải quyết và nhận kết quả để trả cho cá nhân, tổ chức
Đối với những huyện có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đủ tiêu chí để thành lập cơ quan làm công tác dân tộc, Văn phòng Hội
Trang 30đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoặc Văn phòng Ủy ban nhân dân nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân tham mưu, giúp UBND thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác dân tộc
Đối với đơn vị hành chính cấp huyện có đường biên giới lãnh thổ quốc gia trên đất liền, trên biển và hải đảo, Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoặc Văn phòng Ủy ban nhân dân nơi thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về công tác ngoại vụ, biên giới
Ngoài 10 cơ quan chuyên môn được tổ chức thống nhất ở tất cả các quận, huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, tổ chức một số cơ quan chuyên môn
để phù hợp với từng loại hình đơn vị hành chính cấp huyện như sau:
- Ở các quận
+ Phòng Kinh tế
Công chức phòng Kinh tế tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: tiểu thủ công nghiệp; khoa học và công nghệ; công nghiệp; thương mại;
+ Phòng Quản lý đô thị
Công chức phòng Quản lý đô thị tham mưu, giúp UBND quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: Cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ
sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông
- Ở các thị xã, thành phố thuộc tỉnh
+ Phòng Kinh tế
Trang 31Công chức phòng Kinh tế tham mưu, giúp UBND thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy lợi; thủy sản; phát triển nông thôn; phòng, chống thiên tai; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản, muối; tiểu thủ công nghiệp; khoa học và công nghệ; công nghiệp; thương mại
+ Phòng Quản lý đô thị
Công chức phòng Quản lý đô thị tham mưu, giúp UBND thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao (bao gồm: Cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở
hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông
- Ở các huyện
+ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Công chức phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: nông nghiệp; lâm nghiệp; diêm nghiệp; thủy lợi; thủy sản; phát triển nông thôn; phòng, chống thiên tai; chất lượng, an toàn thực phẩm đối với nông sản, lâm sản, thủy sản, muối; phát triển kinh tế hộ, kinh tế trang trại nông thôn, kinh tế hợp tác xã nông, lâm, ngư, diêm nghiệp gắn với ngành nghề, làng nghề nông thôn
+ Phòng Kinh tế và Hạ tầng
Công chức phòng Kinh tế và Hạ tầng tham mưu, giúp UBND huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: công nghiệp; tiểu thủ công nghiệp; thương mại; quy hoạch xây dựng, kiến trúc; hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật đô thị, khu công nghiệp, khu kinh tế, khu công
Trang 32nghệ cao (bao gồm: cấp nước, thoát nước đô thị và khu công nghiệp, khu kinh
tế, khu công nghệ cao, cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng; chiếu sáng đô thị, cây xanh đô thị; quản lý nghĩa trang, trừ nghĩa trang liệt sĩ; quản lý xây dựng ngầm đô thị; quản lý sử dụng chung cơ sở hạ tầng kỹ thuật đô thị); nhà ở; công sở; vật liệu xây dựng; giao thông; khoa học và công nghệ
Như vậy, tất cả các chức năng, nhiệm vụ thuộc thẩm quyền của UBND cấp huyện đều do các công chức thuộc các cơ quan đó tham mưu hoặc trực tiếp thực hiện Có thể khẳng định không có các công chức thì UBND cấp huyện không thể hoàn thành được chức năng, nhiệm vụ của mình Vì vậy, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện có vai trò hết sức quan trọng, đến kết quả công việc của UBND cấp huyện Do đó, nghiên cứu
và làm rõ chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là việc làm rất cần thiết để từ đó nâng cao hiệu quả công việc của UBND cấp huyện
1.1.2.3 Đặc điểm của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là một bộ phận của công chức hành chính nhà nước nói chung nên mang đầy đủ đặc điểm của công chức nhà nước Tuy nhiên, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện cũng có những đặc điểm riêng biệt:
Trang 33- Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức vụ, chức danh trong các
cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, nó phân biệt với công chức trong các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, hay các chức danh công chức tại UBND cấp xã
- Công chức thuộc cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh đồng thời hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ về lĩnh vực quản lý của cơ quan chuyên môn cho cán bộ, công chức cấp xã Đối với các vấn đề liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ thì công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nhận các hướng dẫn, chỉ đạo của cấp tỉnh,
có vấn đề gì còn vướng mắc thì xin ý kiến, hướng dẫn của cấp tỉnh đồng thời tiếp nhận những thắc mắc về chuyên môn nghiệp vụ của công chức cấp xã và hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn nghiệp vụ của công chức cấp xã
- Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện thực hiện chức năng tham mưu, giúp lãnh đạo UBND cấp huyện quản lý nhà nước
về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của lãnh đạo UBND cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương
1.2 KHÁI NIỆM, TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ CHẤT LƢỢNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN
1.2.1 Khái niệm chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
Theo từ điển bách khoa Việt Nam "Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn
Trang 34định tương đối của sự vật và phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính Chất lượng của sự vật, hiện tượng biểu thị trình độ phát triển của nó, chất lượng càng cao thì mức độ phát triển của sự vật càng lớn" [38]
Theo Từ điển tiếng Việt, chất lượng được xem là "Cái tạo nên phẩm chất, giá trị của mỗi con người, một sự vật, sự việc" [44] Đây là cách đánh giá một con người, một sự việc, một sự vật trong cái đơn nhất, trong tính độc lập của nó
Đối với một con người sống trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì chất lượng của cá nhân đó được hiểu là tổng hợp những phẩm chất nhất định về sức khỏe, trí tuệ khoa học, chuyên môn nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, ý chí, niềm tin, năng lực; luôn gắn bó với tập thể, với cộng đồng và tham gia một cách tích cực vào quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đối với công chức, bên cạnh những đặc điểm của chất lượng cá nhân còn phải gương mẫu, đi tiên phong về lý luận và thực tiễn, chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước; giữ vững tiêu chuẩn và tư cách của người công chức
Chất lượng của mỗi công chức trước hết được biểu hiện ở phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, ở trình độ chuyên môn, kiến thức văn hóa và giao tiếp, thể hiện ở kinh nghiệm và năng lực lãnh đạo, quản lý, tổ chức, điều hành bộ máy và năng lực tổ chức thực tiễn, kết quả thực hiện công việc, đồng thời được biểu hiện ở hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý, ở uy tín của họ trước tập thể và nhân dân…
Tuy nhiên, mỗi chức danh, mỗi cương vị và mỗi loại công chức khác nhau
có yêu cầu chất lượng ở mức độ chuyên sâu khác nhau Nhưng nhìn chung ở bất
cứ cương vị và lĩnh vực nào thì yêu cầu về phẩm chất chính trị của công chức phải được đặt lên hàng đầu Phẩm chất đạo đức là cái gốc và trình độ, kiến thức
Trang 35năng lực là nhân tố quyết định đến hiệu quả công tác Chất lượng hoạt động quản lý nhà nước của UBND suy cho cùng chính là chất lượng của công chức làm việc trong UBND Do vậy, khi nói đến chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là nói đến tổng thể những phẩm chất, năng lực của người công chức đang làm việc tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, những phẩm chất và năng lực này thể hiện khả năng và kết quả thực hiện công việc của họ, cụ thể hơn là thực hiện những nhiệm vụ của UBND cấp huyện mà họ được cấp có thẩm quyền phân công
Để đảm bảo chất lượng công chức, cần phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa chất lượng với số lượng công chức Chỉ khi nào hai mặt này quan hệ hài hòa, tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ Trong thực tế chúng ta cần phải chống hai khuynh hướng, khuynh hướng thứ nhất là chạy theo số lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến công chức nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệu quả Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến số lượng Khuynh hướng này là một nguyên nhân quan trọng làm cho tuổi đời bình quân của công chức ngày càng cao, hẫng hụt về thế hệ Trong giai đoạn hiện nay thì cần hơn hết là phải coi trọng chất lượng công chức trên cơ sở bảo đảm số lượng hợp lý
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện là tổng hợp những phẩm chất giá trị về chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực và kết quả hoàn thành nhiệm vụ được phân công của mỗi công chức trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của UBND cấp huyện
1.2.2 Tiêu chí đánh giá chất lƣợng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện
Đánh giá chất lượng công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được
Trang 36giao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật và thực hiện chính sách đối với công chức Để việc đánh giá chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện thực hiện có hiệu quả cần dựa trên những tiêu chí cụ thể phản ánh chất lượng công chức Dưới đây là những tiêu chí đánh giá chất lượng chủ yếu
- Phẩm chất chính trị
Phẩm chất chính trị là nhân tố có ý nghĩa nền tảng, căn bản, quyết định đến chất lượng, hiệu quả công tác của công chức và hiệu quả tổ chức, hoạt động của bộ máy đảng, nhà nước, hệ thống chính trị Phẩm chất đó thể hiện ở
sự trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, với Đảng, với nhân dân, với mục tiêu và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đảng ta, dân tộc ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn Đó là sự trung thành và vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện và những thách thức mới để kiên quyết, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Đặc biệt, trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới và trong nước đang có những diễn biến rất phức tạp, hơn lúc nào hết công chức phải có bản lĩnh chính trị vững vàng và kiên định, kiên quyết đấu tranh, phê phán những quan điểm sai trái, phủ nhận chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng
Trang 37- Phẩm chất đạo đức
Đạo đức cách mạng là nền tảng, là gốc, là sức mạnh của người công
chức, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Cũng như sông thì có nguồn mới có nước, không có nguồn thì sông cạn; cây phải có gốc không có gốc thì cây héo; người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, không có đạo đức thì có tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân "[29, tr.252-253] Với tư cách vừa là một người dân sống trong xã hội, vừa là một người làm việc trong
cơ quan hành chính nhà nước, phẩm chất đạo đức của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện được thể hiện thông qua đạo đức, lối sống cá nhân trong sinh hoạt hàng ngày và đạo đức công vụ trong thực thi công vụ Trong đời sống sinh hoạt hàng ngày, công chức phải luôn trung thực, nói đi đôi với làm, lối sống trong sáng, lành mạnh, sẵn sàng đấu tranh với những biểu hiện tiêu cực trong xã hội, là người tiền phong gương mẫu trong việc chấp hành đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, phải là tấm gương sáng để nhân dân noi theo Đối với đạo đức công vụ thì với đặc trưng của hoạt động công vụ là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm
vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và xã hội Đạo đức công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện đầu tiên là thực hiện cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, thực hiện nhiệm vụ một cách trung thực không vụ lợi, luôn đặt lợi ích của Đảng, Nhà nước và nhân dân lên trên lợi ích cá nhân, hết lòng phục vụ nhân dân, luôn có thái độ cư xử đúng mực và phải luôn tự hoàn thiện mình Đồng thời phải tích cực đấu tranh chống lại các biểu hiện tiêu cực như: Tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tha hoá, sa sút về đạo đức lối sống chạy theo địa vị danh lợi, tranh giành kèn cựa lẫn nhau mất đoàn kết nội bộ, dối trá, lười biếng, suy thoái về tư tưởng chính trị, phai nhạt lý tưởng cách mạng Đạo đức đó sẽ định hướng và điều chỉnh hành động của người công chức khi họ thực thi công vụ
Trang 38Phẩm chất đạo đức của công chức quan hệ mật thiết với phẩm chất chính trị Phẩm chất chính trị chi phối, quy định phẩm chất đạo đức; phẩm chất đạo đức tác động tới sự phát triển phẩm chất chính trị Người công chức
có giác ngộ chính trị, có niềm tin sâu sắc vào lý tưởng cộng sản chủ nghĩa sẽ giúp họ có tình yêu thương đồng chí, kính trọng nhân dân, quan tâm giúp đỡ mọi người, biết hy sinh lợi ích cá nhân cho lợi ích cách mạng Những phẩm chất đạo đức tốt đẹp sẽ giúp người công chức củng cố, phát triển các phẩm chất chính trị như sự kiên định lập trường, tư tưởng, tính tiên phong gương mẫu của người công chức Quan hệ biện chứng giữa phẩm chất chính trị và
phẩm chất đạo đức của người công chức tạo nên phẩm chất đạo đức cách mạng của người công chức thường được gọi là “phẩm chất” hay mặt “đức” mặt “hồng” của công chức
1.2.2.2 Năng lực thực thi công vụ
Năng lực thực thi công vụ là sự kết hợp của các yếu tố: trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của công chức
- Trình độ kiến thức
+ Trình độ chuyên môn: Trình độ chuyên môn ở đây là những kiến thức
mà công chức được đào tạo trong các chương trình, cơ sở đào tạo liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ và những kiến thức mà công chức tích lũy được trong quá trình công tác của mình Công chức là một nghề đòi hỏi phải nắm vững nhiều lĩnh vực, tuy nhiên, mỗi người công chức phải được đào tạo, phải nắm vững các kiến thức liên quan đến lĩnh vực, nhiệm vụ được giao Có chuyên môn thì công chức mới có thể hiểu, nắm bắt được công việc, có thể tham mưu cho lãnh đạo cách thức giải quyết hoặc trực tiếp giải quyết các công việc một cách hiệu quả, chính xác Tùy vào từng ngạch, từng công việc,
vị trí việc làm công chức đảm nhận mà đòi hỏi công chức có những trình độ chuyên môn phù hợp
Trang 39+ Trình độ quản lý nhà nước
Quản lý vừa là hoạt động khoa học, vừa là hoạt động nghệ thuật, cho nên yêu cầu công chức phải am hiểu sâu sắc về kiến thức quản lý và phải vận dụng linh hoạt các kiến thức đó vào giải quyết những vụ việc cụ thể Thực tế cho thấy trong quá trình quản lý chỉ dựa vào kinh nghiệm thôi chưa đủ mà phải được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng quản lý nhà nước, để qua đó nâng cao năng lực quản lý nhà nước Công chức có trình độ quản lý nhà nước thì sẽ
có được các kỹ năng, khả năng, tính chuyên nghiệp, phương pháp xử lý tình huống quản lý trong thực tiễn đáp ứng yêu cầu của công việc, nâng cao được trình độ và năng lực công tác, cải tiến lề lối làm việc, từng bước củng cố, xây dựng nền hành chính Nhà nước dân chủ, hiện đại, chất lượng, hiệu quả; làm căn cứ để tiêu chuẩn hóa và đề bạt, bổ nhiệm công chức và là điều kiện cần thiết để thi nâng ngạch Hiện nay, một trong những hạn chế của công chức là trình độ quản lý nhà nước, để nâng cao năng lực quản lý nhà nước thì cần phải tập trung đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước cho công chức
+ Trình độ lý luận chính trị
Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng; người cách mạng không thể làm tròn nhiệm vụ của người chiến sĩ tiên phong, người lãnh đạo, dẫn dắt phong trào nếu như không được vũ trang bởi lý luận tiên phong Công chức nói chung và công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện nói riêng là những người làm việc trong các cơ quan nhà nước, là những người nhân danh quyền lực nhà nước trong thực thi công vụ,
là người công bộc của nhân dân, nguyện trung thành với sự lãnh đạo của Đảng, trung thành với nhà nước Chính vì vậy mà công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện phải có lý luận, có trình độ lý luận chính trị Công chức không có trình độ lý luận, thì sẽ nắm không chắc, không vững, không thực chất lý luận chủ nghĩa Mác-Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường
Trang 40lối, quan điểm của Đảng, nhà nước, "không biết xem cho rõ, cân nhắc cho đúng, xử trí cho khéo" mọi công việc, do đó kết quả thường không được như mong muốn, hiệu quả quản lý nhà nước không cao Kết quả do thiếu lý luận
có thể gây ra nguy hại khó lường, có thể dẫn đến mất "phương hướng", lạc hướng, có thể hiểu sai, làm sai các chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, làm giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước Công chức ở cương vị càng cao mà thiếu lý luận thì mức độ nguy hại càng lớn.Do đó, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện cần thiết phải học tập lý luận, "nghiên cứu thêm lý luận", phải có trình độ lý luận chính trị Tuy nhiên, công chức biết lý luận, có trình độ lý luận không phải chỉ có biết
lý thuyết mà phải biết vận dụng vào thực tiễn công tác, không chỉ ở nhận thức, mà còn biểu hiện ở tác phong công tác, "lối làm việc" khoa học
Trình độ của công chức là một yếu tố có vai trò đặc biệt, chi phối, ảnh hưởng tới tất cả các yếu tố tạo nên chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, là yếu tố đặc biệt quan trọng tạo thành năng lực
và là điều kiện để có năng lực Điều đó đòi hỏi công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện phải luôn rèn luyện, học tập để nâng cao trình
độ kiến thức của mình
- Kỹ năng
Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế Kỹ năng nghề nghiệp bao giờ cũng gắn với một hoạt động cụ thể ở một lĩnh vực cụ thể Đây là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích luỹ kinh nghiệm thông qua đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện, công tác Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng công chức khi thực thi nhiệm vụ Công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện cần có những kỹ năng nhất định để thực thi nhiệm
vụ Tuy nhiên, có những kỹ năng cần thiết cho mọi công chức và có những kỹ