Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, dưới sự hướng dẫn của TS Chu Xuân Khánh, các số liệu trình bày trong luận văn này đều có luận chứng rõ ràng Những kết luận mới về khoa học của luận văn chưa hề được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào
Tác giả luận văn
VŨ THẾ HÙNG
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng dạy: “Học nữa, học mãi” để chúng
ta thấy được tầm quan trọng của kiến thức là bao la và vô tận Mà kiến thức chúng ta có được là từ các thầy cô đã truyền đạt và giảng dạy cho chúng ta Trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu tại trường, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm cũng như giúp đỡ của nhiều cá nhân và tập thể để hoàn thiện luận văn của mình:
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành tới TS Chu Xuân Khánh, là thầy giáo hướng dẫn khoa học cho tôi, sự quan tâm giúp đỡ tận tình của thầy đã giúp tôi hoàn thành tốt luận văn này
Tôi xin bày tỏ sự cảm ơn đến an giám đốc Học viện, cô giáo chủ nhiệm cùng các thầy cô đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu tại trường
Cuối cùng tôi xin cảm ơn các anh chị chuyên viên phòng văn hóa và thông tin huyện Tĩnh Gia và đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi về mọi mặt để tôi hoàn thành tốt quá trình học tập và nghiên cứu đề tài luận văn này
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC BẢNG BIỂU ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản 8
1.1.1 Di sản văn hóa Việt Nam 8
1.1.2 Di tích lịch sử - văn hóa 8
1.1.3 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 11
1.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 12
1.2.1 Xuất phát từ vai trò, giá trị của di tích lịch sử - văn hóa 12
1.2.2 Thách thức của cơ chế thị trường và quá trình hội nhập 13
1.2.3 Từ thực trạng của quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa 15
1.2.4 Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý 17
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa 18
1.3.1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển, bảo vệ và phát huy các di tích lịch sử – văn hóa 18
1.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy định pháp luật về các di tích lịch sử – văn hóa 19
1.3.3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích lịch sử – văn hóa 19
Trang 51.3.4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên môn về quản lý văn hóa- xã hội 23 1.3.5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị của di tích lịch sử – văn hóa 24 1.3.6 Tổ chức, chỉ đạo công tác khen thưởng trong việc bảo vệ và phát triển các giá trị lịch sử - văn hóa của di tích lịch sử – văn hóa 24 1.3.7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tổ chức ở di tích lịch sử – văn hóa 25 1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa ở một số địa phương khác 26 1.4.1 inh nghiệm quản nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa của một số 26 1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Tĩnh Gia 30
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA 32
2.1 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa 32 2.1.1 iều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội và truyền thống văn hóa 32 2.1.2 Thực trạng hệ thống di tích Lịch sử - Văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia 35 2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia 41 2.2.1 Xây dựng chỉ đạo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn huyện 41
Trang 62.2.2 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy các giá trị di tích lịch sử – văn hóa; tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về di tích lịch sử
– văn hóa 41
2.2.3 Tổ chức thực hiện các hoạt động nghiệp vụ nhằm giữ gìn và phát huy giá trị các di tích 45
2.2.4 Lập kế hoạch và huy động, sử dụng nguồn lực cho công tác bảo tồn các di tích lịch sử - văn hóa 47
2.2.5 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo về di tích lịch sử - văn hóa 49
2.2.6 ào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn về quản lý di tích lịch sử - văn hóa 50
2.2.7 an hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy định pháp luật về các di tích lịch sử – văn hóa 51
2.3 ánh giá chung 53
2.3.1 Những kết quả đạt được 53
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 58
2.3.3 Các vấn đề đặt ra từ thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia 61
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 64
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓATRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN TĨNH GIA, TỈNH THANH HÓA 65
3.1 Quan điểm tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa 65
3.1.1 Thống nhất quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện 66
Trang 73.1.2 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa phải bảo tồn và phát huy được các giá trị di tích trên địa bàn huyện, phải đàm bảo tính trung thực, tính nguyên gốc của các di tích 67 3.1.3 Quản lý nhà nước về các di tích lịch sử – văn hóa phải bảo tồn và phát huy được giá trị các di tích gắn với cộng đồng, vì cộng đồng 67 3.1.4 Quản lý nhà nước về các di tích lịch sử – văn hóa phải bảo tồn, phát huy được các giá trị của các di tích gắn với sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương 68 3.2 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa 69 3.2.1 Xây dựng, thực hiện quy hoạch, kế hoạch bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện 69 3.2.2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về di tích lịch sử – văn hóa 70 3.2.3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị các di tích; tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về di sản văn hóa trên địa bàn huyện 71 3.2.4 Tổ chức, quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chuyên môn làm công tác quản lý các di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn huyện 73 3.2.5 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ, gìn giữ, phát huy giá trị di tích trên địa bàn huyện 74 3.2.6 y mạnh công tác thi đua, khen thưởng tạo động lực nâng cao chất lượng quản lý các di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn huyện 75 3.2.7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lỷ vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về các di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn huyện 76
Trang 83.3 Kiến nghị 76
3.3.1 Với Trung ương và tỉnh Thanh Hóa 76
3.3.2 Với y ban nhân dân huyện Tĩnh Gia 77
TIỂU ẾT CHƯƠNG 3 79
KẾT LUẬN 80
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
Trang 9H ND : Hội đồng nhân dân
Sở VH - TT : Sở Văn hóa - Thông tin
UBND : y ban nhân dân
Trang 10DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.2 Thống kê vốn ngân sách huyện cấp cho các dự án đầu tư liên quan đến Di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia 48 Bảng 2.3 Thống kê nguồn vốn xã hội hóa cho các dự án đầu tư liên quan đến
Di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia 49
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Di tích lịch sử - văn hóa là những tài sản vô giá của quốc gia, là di sản văn hóa vật thể, mang trong mình rất nhiều giá trị vượt không gian và thời gian Trải qua nhiều biến cố của lịch sử như chiến tranh, loạn lạc, động đất, lũ lụt, hay thiên tai… nhiều công trình có giá trị lịch sử còn bị phá hoại, tàn phá bởi bàn tay của con người Do vậy, đòi hỏi phải có công tác quản lý nhà nước đối với các di tích lịch sử - văn hóa Trong quá trình hội nhập và phát triển ở Việt Nam hiện nay cũng như trên thế giới thì đều chú ý khai thác thế mạnh vốn có của mình để phát triển kinh tế - xã hội Quá trình khai thác giá trị của các di tích lịch sử - văn hóa để phát triển kinh tế - xã hội phải cần đến công tác quản lý nhà nước về các di tích này ảng và Nhà nước ta đã có chủ trương, chính sách phát triển văn hóa, bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị của
di tích lịch sử - văn hóa quốc gia vì lợi ích chung của xã hội Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành Trung ương ảng (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Nghị quyết ại hội lần thứ X của ảng là những quan điểm chỉ đạo và được quán triệt trong chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 theo Quyết định số 581/Q -TTg ngày 06/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ Coi trọng và gắn văn hóa với phát triển, coi văn hóa là nhân tố đảm bảo cho sự phát triển kinh
tế - xã hội bền vững Di sản văn hóa vật thể và phi vật thể là nền tảng để hun đúc nên bản sắc văn hóa và hệ giá trị của văn hóa dân tộc, là một nguồn lực
để phát triển cả về kinh tế và văn hóa tinh thần
Di tích lịch sử - văn hóa là một phần quan trọng của di sản văn hóa, là tài sản quý của dân tộc, thể hiện giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, kiến trúc nghệ thuật qua từng thời kỳ của lịch sử Di tích lịch sử - văn hóa chính là những truyền đạt của thế hệ trước cho các thế hệ sau những tinh hoa văn hóa
Trang 12của dân tộc có cả về tín ngưỡng, tâm linh Do vậy, bảo tồn, phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa dân tộc không chỉ là nhiệm vụ riêng của những người làm công tác văn hóa, mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội, là trách nhiệm của mỗi người con đối với quê hương mình sinh
ra, đối với cả dân tộc
Hiện nay, đất nước ta đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, iện đại óa Điều này sẽ tạo ra những thuận lợi và khó khăn cho vấn đề quản lý
hệ thống di sản văn hóa của cả nước nói chung và huyện Tĩnh Gia nói riêng Mặc dù vấn đề bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa luôn được các cấp các ngành quan tâm và đã đạt được nhiều kết quả tốt Tuy nhiên, trước thực trạng xã hội đang ngày càng phát triển không ngừng, nhiều giá trị mới sẽ dần thay thế các giá trị xưa cũ đã đặt ra không ít khó khăn cho vấn đề quản lý nhà nước về các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia như: hiện tượng các di tích bị lấn chiếm bởi người dân
và các cơ sở kinh doanh, vi phạm diễn ra khá phổ biến, sử dụng diện tích đất của các di tích để xây dựng các công trình với mục đích khác nhau ồng thời, thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện còn có những bất cập và hạn chế trong việc bảo vệ, giữ gìn các
di tích Việc tôn tạo, giữ gìn, bảo vệ, phát huy những giá trị của các di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa nói riêng,
cả nước nói chung đang là một nhiệm vụ cấp bách của các cấp chính quyền trong đó có hệ thống cơ quan hành chính nhà nước
Vì vậy, học viên chọn đề tài: “ uản n nước về c c i t c c
s - v n óa tr n đ a n uyện n ia làm luận văn thạc sĩ chuyên
ngành quản lý công, mã số 60 34 04 03
Trang 132 Tình hình nghiên cứu
Vấn đề nghiên cứu, bảo tồn di tích lịch sử – văn hóa cũng như khai thác tiềm năng của các di tích là vấn đề đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu nhiều dưới nhiều giác độ: lịch sử, chính trị, văn hóa, kiến trúc, quản lý công…Trong luận văn này, học viên chỉ tổng quan một số công trình khoa học đã được công bố có liên quan đến đề tài luận văn
- Hoàng Vinh, Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc, 1997 Nxb Chính trị Quốc gia Trên cơ sở những quan niệm di sản văn hóa của quốc tế và Việt Nam, tác giả đưa ra một hệ thống lý luận về di sản văn hóa
- Tác giả Lê Văn Tuấn (2007), “nghiên cứu tiềm năng và định hướng khai thác các di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Quảng Trị phục vụ và phát triển hoạt động du lịch” Luận văn thạc sỹ ịa lý, ại học sư phạm Luận văn đã phân tích tiềm năng các di tích lịch sử - văn hóa, và đưa ra định hướng khai thác các di tích lịch sử - văn hóa phục vụ hoạt động phát triển du lịch Tuy nhiên tác giả không chú trọng vai trò quản lý nhà nước đối với di tích lịch sử - văn hóa tỉnh Quảng Trị
- Công trình luận văn thạc sỹ địa lý ại học sư phạm của tác giả Hoàng Trọng Tuân (2008), “ ịnh hướng khai thác các di tích lịch sử phục vụ phát triển du lịch ở Thừa Thiên Huế” Tác giả đã xác định một số phương pháp thích hợp trong nghiên cứu, đánh giá về hệ thống di tích lịch sử phục vụ phát triển du lịch ở Thừa Thiên Huế, xác định những tồn tại và nguyên nhân trong thực trạng khai thác các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh, làm cơ sở cho việc xây dựng định hướng khai thác giá trị du lịch của các di tích lịch sử, tuy nhiên tác giả chưa đề cập đến vai trò quản lý nhà nước đối với hệ thống di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 14- Năm 2010, Viện khoa học Xã hội Việt Nam viện phát triển bền vững vùng Trung bộ xuất bản công trình Dư địa chí huyện Tĩnh gia, đồng biên soạn PGS.TS Nguyễn Văn Nhật, PSG.TS Võ im Cương, TS Nguyễn Ngọc Mão,
TS Hà Mạnh Khoa Công trình giới thiệu rất về vùng đất huyện Tĩnh Gia từ thời cận đại đến thời đại hiện nay
- ề án: “Tăng cường công tác quản lý nhà nước và phát huy giá trị di tích lịch sử -văn hóa, cách mạng, danh lam thắng cảnh trên địa bàn huyện Tĩnh Gia giai đoạn 2016 -2020” ( y ban nhân dân huyện Tĩnh Gia tháng 12/2015)
- Ngày 28/12/2016 Tạp chí công nghiệp và tiêu dùng đăng bài huyện Tĩnh Gia: “Phát huy giá trị các di tích và danh thắng gắn với phát triển du lịch bền vững của tác giả inh t có một cái nhìn rất tổng quát về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia”
Các công trình khoa học nêu trên đã đề cập đến di sản văn hóa, di tích lịch sử – văn hóa dưới nhiều giác độ: lịch sử, văn hóa, kinh tế ở một số địa b phương Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu ở giác độ khoa học quản lý công về di tích lịch sử – văn hóa trên một địa bàn cụ thể như trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa ể thực hiện luận văn, tác đã nghiên cứu và kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đã được công bố có liên quan
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu lý luận và thực tiễn để
đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch
sử - văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn bao gồm các nhiệm vụ sau:
Trang 15- Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa quốc gia
-Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
- ề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
ối tượng nghiên cứu trong luận văn là hoạt động Quản lý nhà nước về
di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu trong luận văn bao gồm:
- Phạm vi nghiên cứu về nội dung: Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn một huyện
- Phạm vi nghiên cứu về không gian: huyện Tĩnh Gia
- Phạm vi nghiên cứu về thời gian: số liệu từ năm 2010 đến 2015 Thực hiện theo nghị quyết về “Tăng cường công tác quản lý nhà nước về các di tích lịch sử – văn hóa trên địa bàn huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa, giai đoạn
2010 đến 2015” của y ban nhân dân huyện Tĩnh Gia (tháng 2/2010
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Phương pháp luận dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của ảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về Văn hóa, di sản văn hóa
Trang 165.2 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu để thực hiện các mục tiêu đề ra, đề tài sử dụng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp thống kê, thu thập các nguồn tư liệu, các nghiên cứu về công tác quản lý, bảo tồn và phát triển các lễ hội văn hóa truyền thống của các địa phương trong nước và huyện Tĩnh Gia
- Phương pháp điều tra xã hội học bằng hình thức phiếu điều tra và phương pháp thực địa, phỏng vấn nhanh trực tiếp các đối tượng tham gia vào hoạt động lễ hội, các nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề quản lý lễ hội trên địa bàn huyện
- Phương pháp đối sánh: so sánh, đánh giá những hoạt động liên quan đến việc quản lý lễ hội văn hóa truyền thống trên địa bàn huyện Tĩnh Gia với các địa phương khác trong cả nước… nhằm đúc kết kinh nghiệm cho việc thực hiện đề tài nghiên cứu
Bên cạnh đó đề tài còn được thực hiện bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên quan khác như: Phương pháp thống kê; phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp diễn dịch, quy nạp…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Trang 177 Kết c u của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận và danh mục tài liệu tham khảo nội dung chính của luận văn bao gồm 3 Chương:
- C ương 1: Cơ sở khoa học quản n nước về di tích l ch s - v n hóa
- C ương 2: ực trạng quản n nước về di tích l ch s - v n óa
tr n đ a bàn huyện n ia, tỉnh Thanh Hóa
- C ương 3: P ương ướng và giải p p t ng cường quản n nước
về di tích l ch s - v n óa tr n đ a bàn huyện n ia, tỉnh Thanh Hóa
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Di sản văn hóa Việt Nam
- Di sản v n óa Việt Nam
Là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản ph m tinh thần, vật chất
có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở Việt Nam
- Di sản v n óa vật thể
Là sản ph m vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia
- Di sản văn hóa phi vật thể
Là các sản ph m tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết và được lưu truyền bằng miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác
1.1.2 Di tích lịch sử - văn hóa
Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chất cụ thể, khách quan, trong đó có chứa đụng các điển hình lịch sử, do tập thể hoặc cá nhân con người trong lịch sử sáng tạo ra Di tích lịch sử - văn hóa là những dấu tích, dấu vết hoạt động của con người trong quá khứ, di tích là những gì còn lại so với thời gian, những thông tin trực tiếp từ di tích lịch sử - văn hóa quốc gia và sử liệu từ các di vật có trong di tích góp phần nghiên cứu lịch sử, văn hóa của dân tộc Việt Nam Chúng ta có thể nhận biết kiến trúc của các di tích lịch sử - văn hóa trải qua các thời đại thông qua các dấu tích, di vật còn sót
Trang 19lại Ví dụ, chúng ta có thể biết được kiến trúc các ngôi đình làng đa dạng ở khu vực đồng bằng sông Hồng thay đổi qua các thời kỳ, dựa vào dấu tích còn lại của kiến trúc đình làng người ta có thể suy ra niên đại của các ngôi đình, chẳng hạn như những ngôi đình có niên đại trước sớm hơn thường có ván sàn đình những ngôi đình có niên đại sau muộn hơn thường không có ván sàn đình Di vật được bảo lưu ở các di tích, là nguồn sử liệu trực tiếp mang lại nhiều thông tin thú vị cho các nhà nghiên cứu trên các lĩnh vực khác nhau như tôn giáo, địa lý, lịch sử, thông qua di vật ở di tích như quả chuông được đúc năm nào hay nội dung văn bia có thể suy ra niên đại khởi dựng hoặc trùng tu lại ngôi chùa, xem qua tượng thờ, nghệ thuật chạm khắc thông tin cho chúng
ta biết được sự xuất hiện của tín ngưỡng dân gian khác nhau qua các thời kỳ
Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia là một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc, là nguồn sử liệu trực tiếp cho ta những thông tin quan trọng
để khôi phục những trang sử vẻ vang của dân tộc Việt Nam
Thuộc di sản văn hóa vật thể, là sản ph m vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử- văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm
và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình địa điểm có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học
Di tích là dấu tích, công trình xây dựng, là bằng chứng của sự tiến hóa hay biến cố về lịch sử, có ý nghĩa về văn hóa; di tích là cổ vật bất động sản, là
di sản văn hóa vật thể Di tích lịch sử - văn hóa nói chung do nhân dân tạo ra,
là kết quả của hoạt động sáng tạo văn hóa bao gồm cả vật chất và tinh thần, một bộ phận quan trọng của di sản văn hóa dân tộc Tiềm n trong mỗi di tích lịch sử - văn hóa quốc gia có những giá trị cao, cả về mặt văn hóa và về mặt kinh tế, những yếu tố hấp dẫn rất lớn không thể thiếu để góp phần vào việc giữ gìn bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc Việt Nam
Trang 20Di tích lịch sử - văn hóa phải có một trong các tiêu chí sau:
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc địa phương
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của các anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử
- ịa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu
- Công tình kiến trúc nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc
đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật
Di tích lịch sử - văn hóa là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia, bao gồm:
- Công trình xây dựng, địa điểm ghi dấu sự kiện, mốc lịch sử quan trọng của dân tộc hoặc gắn với anh hùng dân tộc, doanh nhân, nhà hoạt động chính trị, văn hóa nghệ thuật, khoa học nổi tiếng có ảnh hưởng quan trọng đối với tiến trình lịch sử của dân tộc
- Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm có giá trị tiêu biểu trong các giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật Việt Nam
- ịa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển văn hóa khảo cổ
- Cảnh quan thiên nhiên đẹp hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc, nghệ thuật hoặc khu vực thiên nhiên có giá trị khoa học về địa chất, địa mạo, địa lý, đa dạng sinh học, và hệ sinh thái dặc thù
Di tích lịch sử - văn hóa được phân loại như sau:
- Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia
- Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh
Trang 21- Di tích lịch sử văn hóa cấp huyện
- Di tích lịch sử văn hóa cấp xã
1.1.3 Quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
- “Quản lý” là thuật ngữ được sử dụng để chỉ “sự tác động có kế hoạch, sắp xếp tổ chức, chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn, kiểm tra của các chủ thể quản lý (cá nhân hay tổ chức) đối với các quá trình xã hội và hoạt động của con người, để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra của tổ chức và đúng ý chí của nhà quản lý, với chi phí thấp nhất
Quản lý là hoạt động thiết yếu nảy sinh khi con người hoạt động tập thể, là sự tác động của chủ thể quản lý vào khách thể nhằm thực hiện các mục tiêu chung của tổ chức, quản lý là một yếu tố hết sức quan trọng không thể thiếu trong đời sống xã hội, xã hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp
- “Quản lý nhà nước” là thuật ngữ chỉ sự tác động của các chủ thể mang tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ sự phân công, hợp tác lao động khách quan nảy sinh khi cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Quản lý diễn ra ở mọi tổ chức, từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ xã hội hóa càng cao thì yêu cầu quản lý và vai trò của quản lý ngày càng tăng lên Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật để điều chỉnh hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội
Trang 22Quản lý nhà nước về văn hóa là thông qua những giải pháp về pháp luật, thể chế, chính sách, kế hoạch… của nhà nước để quản lý các giá trị vật chất và tinh thần, quản lý những hoạt động văn hóa theo đúng đường lối chủ trương của ảng đồng thời đảm bảo quyền tự do dân chủ trong hoạt động và sáng tạo văn hóa, xác lập vai trò, vị trí của văn hóa trong sự phát triển của dân tộc
Quản n nước về di tích l ch s - v n óa sự t c động có đ nh ướng tr n cơ sở quyền n p p c a ệ t ống cơ quan n c n n nước tới n vi, oạt động c a c n n o c t c c trong n vực v n óa
n c ti u bảo vệ, giữ gìn di sản, các di tích l ch s - v n óa v c o giá tr các di sản, di tích l ch s - v n óa được phát huy theo chiều ướng tích cực p c v p t triển in t – ội, đ p ng n u c u về vật c ất v tin t n c a n n n
1.2 Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
1.2.1 Xuất phát từ vai trò, giá trị của di tích lịch sử - văn hóa
Nước Việt Nam trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, những trang sử hào hùng của dân tộc được ghi lại qua nhiều loại hình sử liệu khác nhau: di tích - di vật, hình ảnh, chữ viết, ngôn ngữ truyền miệng Trong số những nguồn sử liệu ấy thì di tích lịch sử - văn hóa đóng vai trò như một nguồn
sử liệu vật chất quan trọng nhất Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia cho chúng ta những thông tin trực tiếp về hoạt động của con người trong quá khứ và giúp cho các nhà nghiên cứu lịch sử có những bằng chúng cụ thể để khẳng định sự có mặt của cộng đồng dân cư đã sống và tồn tại trên mảnh đất này
Ngày nay có nhiều di tích đã và đang được bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị đúng mức nhưng cũng có không ít những di tích lịch sử - văn hóa quốc gia như bị bỏ quên, đang xuống cấp hoặc đang bị xâm hại nghiêm trọng và đã
bị khai thác sử dụng quá mức Chúng ta cần quan tâm, chú ý hành động chung tay góp sức bảo vệ, gìn giữ những tài sản vô giá mà cha ông chúng ta đã để lại
Trang 23qua nhiều thế kỷ
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích lịch sử - văn hóa được chia thành: Di tích lịch sử - văn hóa cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương, do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định xếp hạng di tích Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia do Bộ trưởng ộ Văn hóa Thể thao và Du lịch quyết định xếp hạng di tích cấp quốc gia; Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia, do Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng
di tích lịch sử - văn hóa quốc gia đặc biệt
Việt Nam là một quốc gia có lịch sử lâu đời với những trang sử chói lọi trong cuộc đấu tranh dựng nước, giữ nước, giành độc lập dân tộc Trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước, các thế hệ trước đã để lại cho chúng ta kho tàng di sản văn hóa vô cùng quý giá, được lưu giữ lại ở các di tích lịch sử - văn hóa với nhiều giá trị Việc bảo vệ, giữ gìn các di tích lịch sử
- văn hóa quốc gia để lưu truyền lại cho muôn đời sau là một việc quan trọng
và cần thiết Chiến lược phát triển văn hóa đến năm 2020 đã xác định: “ ảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc là nhiệm vụ then chốt của Chiến lược phát triển văn hóa”
1.2.2 Thách thức của cơ ch thị trư ng và quá tr nh h i nhập
Nước ta một nước đang phát triển, lại bị chiến tranh kéo dài tàn phá nặng nề, nên sau khi giành được độc lập, thống nhất đất nước, ưu tiên hàng đầu của Nhà nước và nhân dân là phát triển kinh tế, nâng cao đời sống Tuy nhiên, tập trung phát triển kinh tế trong khi chưa xây dựng hoàn thành hành lang pháp lý về bảo vệ di sản văn hóa đồng thời ý thức chấp hành pháp luật và nhận thức cộng đồng về bảo tồn di sản văn hóa trong phát triển chưa đầy đủ rất dễ dẫn đến tình trạng phát triển không bền vững Hơn nữa di sản văn hóa vật thể của Việt Nam phần lớn làm bằng chất liệu hữu cơ, lại bị thiên tai và
Trang 24địch họa tàn phá, sự tác động của phát triển dân số, kinh tế, do nhu cầu khai thác, xây dựng và sản xuất ngày càng tăng ó là những nguy cơ hiện hữu
đ y di sản văn hóa đến với những cơ hội và thách thức lớn lao Những sức ép
do sự tác động tiêu cực của sự phát triển cộng với sự xuống cấp hàng loạt của
di sản văn hóa, di tích lịch sử - văn hóa quốc gia, nhận thức chung của cộng đồng về bảo vệ di sản, di tích vẫn còn bị hạn chế so với nhu cầu phát triển kinh tế phục vụ đời sống hàng ngày Chính vì vậy, di sản, di tích lịch sử - văn hóa của nước ta đã và đang chịu tác động ngày càng nhanh chóng của sự biến đổi môi trường tự nhiên và xã hội
Giai đoạn hiện nay, những thách thức đối với quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói chung và di tích lịch sử - văn hóa quốc gia nói riêng chủ yếu gồm:
Một là, trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa tạo cơ hội để chúng ta tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới, tuy nhiên cũng nảy sinh những nguy
cơ về sự thay đổi quan niệm sống, lối sống khác thâm nhập tác động tiêu cực đến giá trị văn hóa truyền thống;
Hai là, đặc tính thương mại trong văn hóa nếu không được kiểm soát chặt chẽ dễ bị chi phối bởi yếu tố thị trường, làm thay đổi chức năng của văn hóa;
a là, hoạt động quản lý văn hóa nói chung chưa gắn kết với thực tiễn trên mọi phương diện do trình độ quản lý còn lạc hậu, yếu kém;
ốn là, khoảng cách đời sống văn hóa ở các vùng miền còn cách xa nhau; Năm là, dữ liệu cần thiết cho các nhà hoạch định chính sách làm căn cứ
để đưa ra những quyết sách đúng đắn vì những số liệu liên quan để đánh giá cần phải điều tra xã hội học, mất nhiều thời gian và chi phí
Muốn phát huy được bản sắc văn hóa dân tộc trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo giữ gìn, phát huy những nhân tố tích cực của văn hóa truyền thống thấm sâu vào lĩnh vực kinh tế, kinh doanh, để kinh tế - xã hội có những bước phát triển bền vững thì
Trang 25quản lý nhà nước cần phải có những chính sách và giải pháp đúng đắn cùng với sự nỗ lực chung của toàn xã hội
1 Từ thực trạng của quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
- Những thành tựu đạt được từ thực trạng của quản lý nhà nước
Nhiều di tích lịch sử - văn hóa bị các yếu tố tự nhiên và xã hội tàn phá nhưng với truyền thống văn hóa dân tộc, trên nền móng cũ của nhiều công trình như những ngôi đình thờ thành hoàng làng, ngôi chùa thờ được phục dựng
ền thờ những người có công với dân với nước được phục hồi để bảo tồn giữ gìn và phát huy các giá trị tinh thần truyền thống văn hóa của dân tộc
xu thế toàn cầu hóa kinh tế là tất yếu, trong tiến trình phát triển mạnh mẽ và đầy biến động, nhiều giá trị mới sinh ra cùng với sự mất đi của một số giá trị truyền thống, vì vậy cần phải tăng quản lý nhà nước để bảo tồn các giá trị truyền thống và phát hiện, giữ gìn các giá trị mới
Tăng cường hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cập nhật cùng với sự phát triển chung của thế giới vì lợi ích, sự phát triển của quốc gia, dân tộc, phát huy hiệu lực, hiệu quả trong thực tiễn và tăng cường hoàn thiện cơ cấu tổ chức, bộ máy để quản lý bảo vệ, giữ gìn và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa
Việc bảo tồn được các di tích lịch sử – văn hóa tại địa phương cũng góp phần đáng kể vào quá trình phát triển du lịch, mang lại nhiều nguồn lợi kinh tế cho địa phương
- ên cạnh những thành tựu thì cũng có rất nhiều những hạn chế:
Thứ nhất là, do quá trình hội nhập kinh tế, những giá trị mới dần thay thế những giá trị xưa cũ, vấn đề này đặt ra nhiều thách thức trong công tác quản lý nhà nước về các di tích lịch sử – văn hóa, như việc trang phục cuả khách tham quan đến các di tích, việc tham quan các di tích còn gắn với các
Trang 26hoạt động mê tín dị đoan, việc công đức tại các di tích làm mục đích thương mại hay quảng cáo… đòi hỏi nếu không tăng cường quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa từ việc đầu tư bảo tồn, xây dựng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đủ mạnh, có hiệu lực trong thực tiễn thì các di tích sẽ khó gìn giữ được cho thế hệ tương lai của chúng ta
Thứ hai là, những hạn chế đội ngũ cán bộ quản lý số lượng và chất lượng không song hành, những cán bộ có chuyên môn về đúng chuyên ngành bảo tồn di tích còn khiêm tốn, mà đa phần có thể có các cán bộ học kinh tế, thương mại hay nông nghiệp hiện lại đang làm công tác bảo tồn di tích
Thứ ba là, do sự thiếu đồng bộ, thiếu ý thức và thiếu sự quan tâm đến việc bảo tồn di sản, di tích của một số ngành chức năng, địa phương không tuân thủ các quy định của Nhà nước trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ, phát triển cơ sở sản xuất như: cầu đường, bến cảng, khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy sản không chú ý đến việc bảo tồn di sản, di tích trong khu vực triển khai dự án; việc phát triển nhanh các đô thị, xây dựng nhà cao tầng
vô hình chung đã làm cho di sản, di tích bị mất không gian truyền thống, nhiều di tích còn bị các công trình mới chèn lấn, có nguy cơ bị mai một Các công trình cấp thoát nước và xử lý rác thải, khói bụi gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực di sản, di tích
Thứ tư là, đô thị hóa nông thôn, phát triển du lịch trong khi chưa có đủ
cơ sở hạ tầng, chưa có những công cụ pháp lý hữu hiệu để điều chỉnh các hành vi liên quan dẫn đến tình trạng quá tải, tập trung quá đông người trong mùa lễ hội tại di tích, cơ sở dịch vụ, nhà hàng lấn át gây bất lợi cho di tích
Thứ năm là, nguồn kinh phí, bất kỳ vấn đề gì liên quan đến bảo tồn hay trùng tu các di tích trong quản lý nhà nước tại địa phương thì mối quan tâm lớn luôn là nguồn kinh phí, hiện nay ngoài ngân sách nhà nước thì nguồn vốn
xã hội hóa là nguồn vốn chính để duy trì hoạt động cũng như trùng tu tại các
Trang 27di tích, tuy vậy việc huy động nguồn vốn này từ các doanh nghiệp hay nhân dân là vấn đề khó nếu không có sự hướng dẫn của quản lý nhà nước tại địa phương
Do sự thiếu đồng bộ, thiếu ý thức và thiếu sự quan tâm đến việc bảo tồn di sản, di tích của một số ngành chức năng, địa phương không tuân thủ các quy định của Nhà nước trong quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng, dịch vụ, phát triển cơ sở sản xuất như: cầu đường, bến cảng, khai thác khoáng sản, nuôi trồng thủy sản không chú ý đến việc bảo tồn di sản, di tích trong khu vực triển khai dự án; việc phát triển nhanh các đô thị, xây dựng nhà cao tầng vô hình chung đã làm cho di sản, di tích bị mất không gian truyền thống, nhiều di tích còn bị các công trình mới chèn lấn, có nguy cơ bị mai một Các công trình cấp thoát nước và xử lý rác thải, khói bụi gây ô nhiễm môi trường xung quanh khu vực di sản, di tích
1 .4 ăng lực của đ i ng cán quản lý
- Trong quá trình xây dựng và phát triển nhiều năm qua, việc đ y mạnh công tác quản lý văn hóa cả về chiều rộng và chiều sâu trên tất cả các lĩnh vực
đã được chú trọng, tạo không ít thành quả Tuy nhiên, có thể thấy chất lượng,
số lượng, quy mô, phương thức của công tác quản lý văn hóa chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, chưa theo kịp thực tiễn hoạt động văn hóa và đang đặt ra nhiều vấn đề cần được quan tâm giải quyết một cách thấu đáo
- Hiện nay đa phần số cán bộ làm quản lý văn hóa tại các địa phương làm công tác về văn hóa nhưng hầu hết lại không có chuyên môn về văn hóa, nghiệp vụ chính của họ là làm công tác quản lý, điều này cũng đặt ra nhiều vấn đề cho công tác quản lý các di tích lịch sử – văn hóa tại các địa phương
- Hiện nay, tuy chúng ta đang tiến hành quản lý văn hóa trong cơ chế kinh tế thị trường, nhưng dấu ấn của cơ chế bao cấp vẫn còn khá sâu đậm, khiến cho nhiều cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức văn hóa vẫn trông
Trang 28chờ, ỷ lại vào Nhà nước, chưa phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo Chủ trương xã hội hóa các hoạt động văn hóa chưa phát huy hiệu quả cao Việc xây dựng và hoàn thiện thể chế văn hóa còn thiếu và chưa đồng bộ, chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn Công tác kiện toàn tổ chức, bộ máy nhân
sự ngành văn hóa, thể thao và du lịch còn nhiều lúng túng Trong khi quản lý văn hóa là một công việc rất phức tạp, nhạy cảm, đòi hỏi cả về kiến thức, kỹ năng lẫn tinh thần trách nhiệm, thì đội ngũ cán bộ quản lý, nhất là cấp cơ sở, còn nhiều hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ, chưa đáp ứng tốt yêu cầu công tác
Tựu chung lại, năng lực nguồn nhân lực quản lý văn hóa vẫn còn nhiều hạn chế dẫn đến ảnh hưởng tới chất lượng của công tác quản lý nhà nước về
văn hóa
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về di tích lịch sử – văn h a
1 .1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chi n lược, quy hoạch, k hoạch phát triển, ảo vệ và phát huy các di tích lịch sử – văn hóa
ế hoạch, chiến lược bảo tồn và phát triển các di tích lịch sử – văn hóa
có ý nghĩa trong ngành di sản văn hoá góp phần thực hiện tốt các mục tiêu lớn
về văn hoá của một quốc gia, dân tộc
Trên cơ sở tiềm năng và lợi thế về sự phong phú các di tích lịch sử – văn hóa của đất nước; nhà nước phải xây dựng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển lễ hội ây là một trong những nội dung quan trọng của quản lý nhà nước và có tính quyết định đối với sự phát triển các di tích Nếu không được định hướng phát triển đúng sẽ gây ra lãng phí, kém hiệu quả, tạo dư luận xấu Các chính sách, chiến lược hợp lý được đưa ra thì góp phần quan trọng trong việc bảo vệ và phát huy giá trị của lễ hội cổ truyền Vì thế, phải hết sức quan tâm đến việc xây dựng và công khai kịp thời các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển di sản văn hóa phi vật thể
Trang 29của địa phương, đặc biệt là các di tích lịch sử – văn hóa Các mục tiêu, chỉ tiêu trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển các di tích phải phù hợp với chiến lược, quy hoạch phát triển chung và phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, của địa phương Cần có kế hoạch tổng thể về các di tích đang bị mai một để có phương án khôi phục; Xây dựng chiến lược
về nguồn nhân lực lâu dài để để đáp ứng cho nhu cầu từng giai đoạn và của từng địa phương
1.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn ản quy định pháp luật về các di tích lịch sử – văn hóa
Trên cơ sở chiến lược quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch, Nhà nước phải cụ thể hóa bằng các các văn bản quy phạm pháp luật tạo môi trường, hành lang pháp lý cho hoạt động của các di tích lịch sử – văn hóa; tổ chức thực hiện có hiệu quả các văn bản quy phạm pháp luật đó Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành phải được nghiên cứu kỹ lưỡng, phù hợp tình hình thực tiễn, có tính khả thi cao, giảm tối đa sự trùng lặp, gây khó khăn cho việc tổ chức các hoạt động của các di tích Việc xây dựng thể chế, chính sách về hoạt động bảo tồn và phát triển các di tích ngày càng hoàn thiện hơn sẽ giúp việc quản lý nhà nước trong hoạt động này thuận lợi hơn
1.3.3 Tổ chức, chỉ đạo các hoạt đ ng bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa; tuyên truyền, phổ bi n, giáo dục pháp luật về di tích lịch sử – văn hóa
ể tổ chức, chỉ đạo các hoạt động bảo vệ, bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử – văn hóa cần phải tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về các di sản văn hóa nói chung, di tích lịch sử – văn hóa nói riêng Trong phân công thực hiện các nhánh quyền lực nhà nước, Chính phủ được phân công thực hiện quyền hành pháp Trọng tâm quyền hành pháp của Chính phủ - với vị trí pháp
lý là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất - Chính phủ thống nhất quản lý
Trang 30nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Trong quản lý nhà nước
về di tích văn hóa pháp luật về di sản văn hóa quy định trách nhiệm cụ thể của các chủ thể như sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa
- ộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa cụ thể như: trình Thủ tướng Chính phủ quyết định: quy hoạch bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, tổ chức và hướng dẫn thực hiện sau khi được phê duyệt; thành lập bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành; xếp hạng và điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia đặc biệt; đề nghị tổ chức Giáo dục, hoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO công nhận di sản văn hóa và thiên nhiên tiêu biểu của Việt Nam là di sản thế giới; phương án xử lý tài sản là di sản văn hóa vật thể bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia trừ trường hợp luật có quy định khác; cấp phép đưa bảo vật quốc gia ra nước ngoài Quyết định theo th m quyền: về việc xếp hạng di tích quốc gia, bảo tàng hạng I; điều chỉnh khu vực bảo vệ đối với di tích quốc gia, giao
di vật, cố vật, bảo vật quốc gia cho bảo tàng nhà nước có chức năng theo quy định của pháp luật; phê duyệt quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt; phê duyệt hoặc thỏa thuận việc xây dựng các công trình ở khu vực bảo vệ II đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt; th m định quy hoạch dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích quốc gia, di tích quốc gia đặc biệt; dự án cải tạo, xây dựng các công trình năm ngoài khu bảo vệ di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt xét thấy có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích theo quy định của pháp luật; cấp phép thăm do, khai quật khảo cổ; đưa di vật, cổ vật ra nước ngoài, làm bản sao di vật, cổ vật và bảo vật quốc gia thuộc các bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành; quản lý việc cấp phép cho người Việt Nam định cư ở ngước ngoài, tổ
Trang 31chức, cá nhân nước ngoài nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam hướng dẫn hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn bởi các di tích và nhân vật lịch sử; chủ trì, phối hợp với các cơ quan, tổ chức liên quan huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; công nhận, trao tặng danh hiệu vinh dự đối với các nghệ nhân có công gìn giữ, trình diễn, truyền dạy di sản văn hóa phi vật thể
- Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có trách nhiệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa theo phân công của Chính phủ Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với ộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa
- y ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình thực hiện việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa ở địa phương theo phân cấp của Chính phủ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch có nhiệm vụ trình
ủy ban nhân dân tỉnh cụ thể như: tổ chức thực hiện quy chế, giải pháp huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực đế bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa tại địa phương sau khi được phê duyệt; hướng dẫn và tổ chức thực hiện các dự án bảo quản, tu bổ và phục hồi di tích thuộc địa phương quản lý sau khi được phê duyệt; tổ chức điều tra, phát hiện, thống kê, phân loại và lập hồ
sơ di sản văn hóa phi vật thể thuộc địa bàn tỉnh; hướng dẫn thủ tục và cấp phép nghiên cứu, sưu tầm di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh cho tổ chức, cá nhân nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức thực hiện kiểm kê, phân loại, lập hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh thuộc địa bàn tỉnh; th m định dự án cải tạo, xây dụng các công trình nằm ngoài khu vực bảo vệ di tích cấp tỉnh có khả năng ảnh hướng đến cảnh quan, môi trường của di tích; tổ chức việc thu nhận, bảo quản
Trang 32các di vật, cô vật, bảo vật quốc gia do tổ chức, cá nhân giao nộp và thu giữ ở địa phương theo quy định của pháp luật; đăng ký và tổ chức quản lý di vật, cổ vạt, bảo vật quốc gia trong phạm vi tỉnh; cấp giấy phép làm bản sao di vật, cổ vật bảo vật quốc gia thuộc bảo tàng cấp tỉnh và sở hữu tư nhân; quản lý, hướng dẫn tổ chức các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, lễ hội truyền thống, tín ngưỡng gắn với di tích, nhân vật lịch sử tại địa phương,
ủy ban nhân dân các cấp hoặc cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa, thể thao
và du lịch ở địa phương có trách nhiệm bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa quốc gia khi phát hiện di tích bị lấn chiếm, hư hại hoặc có nguy cơ bị hủy hoại phải kịp thời có biện pháp ngăn chặn, bảo vệ và báo cáo ngay với cơ quan cấp trên trực tiếp Phòng Văn hóa Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp huyện, có chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa trong phạm vi địa bàn huyện; ủy ban nhân dân cấp xã xây dụng phong trào và tổ chức các hoạt động văn hóa,
tổ chức các lễ hội cổ truyền, bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử - văn hóa ở địa phương
Mặt khác, công tác bảo tồn và phát triển các di văn hóa nó chung, di tích tích lịch sử – văn hóa nói riêng cần được chung tay thực hiện giữa Nhà nước cùng với cộng đồng huyến khích các tổ chức, cá nhân tham gia công tác xã hội hóa trong các hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị các di tích Thống kê, rà soát, nhận diện và phân loại các di tích hiện có, trên cơ sở đó tiến hành quy hoạch nhằm quản lý và có kế hoạch bảo tồn, phục hồi và phát triển ảo tồn có chọn lọc các giá trị văn hóa truyền thống đặc sắc, coi trọng tính đặc thù, độc đáo của mỗi loại hình di tích ở địa phương, đồng thời, loại
bỏ dần các yếu tố lạc hậu; khai thác những kinh nghiệm, các tập tục cổ truyền tốt đẹp, kiến thức về tổ chức lễ hội còn tiềm n trong dân gian, góp phần giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa của các di tích Xây dựng thêm các tiêu chí
Trang 33văn hóa trên nền truyền thống, phù hợp đặc điểm văn hóa dân tộc, xu hướng phát triển và nhịp sống văn hoá của thời đại, làm cho các di tích có thêm sức sống mới, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân
ản thân chính sách, pháp luật đối với nền văn hóa của một đất nước nói chung và trong lĩnh vực di sản văn hóa phi vật thể, trong đó có các di tích lịch sử – văn hóa nói riêng mới chỉ là những quy định của Nhà nước, là ý chí của Nhà nước bắt mọi chủ thể khác (trong đó có chính bản thân nhà nước phải thực hiện Vì vậy, để chính sách, pháp luật đi vào cuộc sống, để các thông tin chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo tồn và phát triển các di tích đến với được với mọi người, Nhà nước phải tổ chức tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về các di tích cho cán bộ, công nhân viên chức và nhân dân trên địa bàn giúp họ nhận thức đúng đắn, từ đó có hành động đúng trong hoạt động thực tiễn; đảm bảo sự tuân thủ, thi hành chính sách, pháp luật
về các di tích lịch sử – văn hóa một cách nghiêm túc
1.3.4 Tổ chức, quản lý hoạt đ ng nghiên cứu khoa học; đào tạo, bồi dưỡng cán b chuyên môn về quản lý văn hóa- xã h i
Các cơ quan quản lý nhà nước có th m quyền cần khuyến khích và tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân tiến hành hoạt động nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, truyền dạy và giới thiệu di sản văn hoá phi vật thể nhằm giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và làm giàu kho tàng di sản văn hoá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam
Do đó, cần tạo điều kiện và khuyến khích đ y mạnh việc nghiên cứu khoa học về bảo tồn và phát triển các di tích lịch sử – văn hóa ởi các cuộc hội thảo, nghiên cứu khoa học sẽ giúp tìm ra giải pháp để giải quyết những vấn đề quản lý lễ hội, bảo tồn các di tích… đang đặt ra và xã hội rất quan tâm
Cần quan tâm hơn nữa về nguồn nhân lực Cũng như trong các lĩnh vực, ngành nghề khác, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động bảo tồn,
Trang 34tôn tạo các d tích, quản lý các lễ hội cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của lĩnh vực này Nguồn nhân lực là yếu tố then chốt trong vai trò quản
lý, quyết định sự thành công hay thất bại Do vậy, Cần có kế hoạch, phương
án, chiến lược trong việc đào tạo, thu hút nguồn nhân lực có chất lượng để phục vụ cho bảo tồn, trùng tu, tôn tạo, khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử, kiến trúc phục vụ phát triển kinh - xã hội của các di tích lịch sử - văn hóa
1 .5 Huy đ ng, quản lý, sử dụng các nguồn lực để bảo vệ và phát huy giá trị của di tích lịch sử – văn hóa
Hoạt động của các di tích lịch sử – văn hóa chiếm một phần rất lớn nguồn kinh phí Do đó, để có nguồn vốn cho mục đích bảo tồn và phát triển các di tích, nhất là các di tích lịch sử – văn hóa cấp quốc gia, cần được tổ chức, huy động từ các nguồn khác nhau
Nguồn tài chính để bảo tồn và triển các di tích bao gồm: Từ ngân sách nhà nước; Các khoản thu từ hoạt động tổ chức lễ hội; Tài trợ và đóng góp của
tổ chức, cá nhân trong và nước ngoài; Tổ chức, cá nhân là chủ sở hữu hoặc được giao quản lý, sử dụng di tích lịch sử - văn hóa theo quy định của pháp luật; khuyến khích tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ cho việc bảo tồn và phát triển các di tích
y mạnh công tác xã hội hóa các hoạt động ở các di tích nhằm tăng cường sự tham gia một cách chủ động, sáng tạo của đông đảo nhân dân theo
sự hướng dẫn, quản lý chung của cơ quan chức năng; huy động nguồn lực của toàn dân và du khách thập phương, góp phần tiết kiệm ngân sách nhà nước
1 .6 Tổ chức, chỉ đạo công tác khen thưởng trong việc ảo vệ và phát triển các giá trị lịch sử - văn hóa của di tích lịch sử – văn hóa
hen thưởng là hoạt động khuyến khích cho tất cả mọi người cho hành động bảo tồn và phát huy giá trị các di tích; các tổ chức, cá nhân có thành tích trong việc bảo tồn và phát huy giá trị các di tích được khen thưởng theo quy
Trang 35định của pháp luật Bên cạnh các quy định của Nhà nước về thi đua- khen thưởng, các địa phương cần có chính sách cụ thể nhằm khuyến khích các hoạt động bảo tồn và phát triển các di tích ở địa phương như: các tập thể, tổ chức,
cá nhân làm tốt công tác quản lý, tổ chức lễ hội; những tập thể, cá nhân có công trong việc gìn giữ và phát huy các giá trị của các di tích lịch sử – văn hóa
Trái lại, phải thời uốn nắn các biểu hiện lệch lạc, xử lý nghiêm minh các trường hợp lợi dụng các di tích để trục lợi, coi các di tích là một thương
ph m để mưu cầu lợi nhuận nên tập trung khai thác giá trị kinh tế, thương mại hóa hoạt động dịch vụ phục vụ lễ hội, đặc biệt những biến tướng như mê tín
dị đoan, chùa giả, hòm công đức tràn lan, lợi dụng lễ hội để quảng bá dưới hình thức đóng góp kinh phí tài trợ (các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân…
1.3.7 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, giải quy t khi u nại tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tổ chức ở di tích lịch sử – văn hóa
Cơ quan quản lý nhà nước kiểm tra, thanh tra đối với hoạt động ở các
di tích lịch sử – văn hóa để phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành
vi tiêu cực có thể xảy ra như: chấn chỉnh các hành vi tiêu cực, phi văn hóa, hoạt động mê tín dị đoan, tình trạng lộn xộn tại các khu dịch vụ ở các di tích, góp phần làm lành mạnh hóa các lễ hội, đưa hoạt động ở các di tích ngày càng
đi vào nề nếp
Thông qua công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo để theo dõi, đôn đốc các đơn vị quản lý di tích lịch sử - văn hóa, quản lý lễ hội khắc phục các thiếu sót, ngăn ngừa, hạn chế phát sinh trong quá trình quản lý
lễ hội truyền thống trên địa bàn
Thanh tra nhà nước về văn hóa thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành về hoạt động ở các di tích, có nhiệm vụ: Thanh tra, kiểm tra, rà soát các thủ tục, hồ sơ xin cấp giấy phép tổ chức ở các di tích lịch sử – văn hóa và các
Trang 36quy định báo cáo tổ chức các di tích; Thanh tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch về bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hoá- địa điểm tổ chức các lễ hội truyền thống; Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo th m quyền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về tổ chức ở các di tích Tiếp nhận và kiến nghị việc giải quyết khiếu nại, tố cáo về công tác tổ chức ở các di tích lịch sử – văn hóa…
ên cạnh đó, cần phải thường xuyên nhắc nhở, phát hiện và có biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh và triệt để các sai phạm và hành vi tiêu cực, chú trọng công tác bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, các vấn
đề phát sinh và có phương án xử lý kịp thời ở các di tích
1.4 inh nghiệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn h a ở một số địa phương khác
1.4.1 inh nghiệm quản nhà nước về di tích lịch sử – văn hóa của m t số
1.4.1.1 Huyện Hậu lộc, tỉnh Thanh Hóa
Phòng văn hóa và thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc y ban nhân dân huyện, có chức năng tham mưu, giúp ủy ban nhân dân huyện quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao, du lịch và các dịch vụ công thuộc lĩnh vực văn hóa, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trên địa bàn huyện Nhiệm vụ và quyền hạn trình ủy ban nhân dân huyện ban hành quyết định, chỉ thị, kế hoạch dài han 5 năm và hàng năm Phòng văn hóa thông tin
có 1 trưởng phòng và 3 phó trưởng phòng Biên chế hành chính của phòng văn hóa và thông tin do y ban nhân dân huyện quyết định trong tổng biên chế hành chính của huyện được y ban nhân dân tỉnh giao Về vị trí địa lý cũng có chút tương đồng với huyện Tĩnh Gia, là một vùng đồng bằng ven biển, lại cùng trong một tỉnh Hiện nay, theo số liệu thống kê năm 2016 của phòng văn hóa thông tin thì huyện Hậu Lộc có 3 di tích lịch sử văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia: di tích đền, lăng bà triệu, di tích đình làng Phú iền
Trang 37(xã Triệu Lộc), di tích Chùa Sung nghiêm diên thánh (xã Văn Lộc) và có 2 lễ hội lớn được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể, ngoài ra còn có 21 di tích đã được xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp tỉnh Công tác quản lý nhà nước về các
di tích lịch sử - văn hóa những năm gần đây luôn được quan tâm và đầu tư xứng đáng từ cấp chính quyền huyện ồng thời tích cực tuyên truyền, hướng dẫn, phổ biến và giáo dục pháp luật về bảo vệ các di tích lịch sử - văn hóa Huyện Hậu Lộc đã có quy hoạch tổng thể các lễ hội từ 2015 đến 2020, bố trí kinh phí ngân sách huyện hằng năm để thực hiện quy hoạch, có nhiều lễ hội được phục dựng Lễ hội luôn được các cấp chính quyền địa phương chu n bị chu đáo, thành lập ban tổ chức, phân công nhiệm vụ cụ thể cho lực lượng tham gia, xây dựng nội quy ở nơi thờ tự, nghiên cứu khảo sát kỹ trước khi tổ chức, đảm bảo nghi lễ truyền thống Tổ chức thành công lễ hội cầu ngư làng Diêm Phố (xã Ngư Lộc), đây là lễ hội mang sắc thái nghề nghiệp biển và tâm linh của người dân biển Việc quản lý tốt các di tích và tổ chức thành công các lễ hội đã thu hút một lượng lớn các du khách và đông đảo quần chúng đến tham quan và tham gia tích cực Thông qua hoạt động các lễ hội, các di tích lịch sử văn hóa quốc gia được bảo vệ và giữ gìn, và khai thác có hiệu quả tạo nguồn thu cho ngân sách
1.4.1.2 Huyện Quỳn Lưu, tỉnh Nghệ An
Cũng giống như huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa thì huyện Quỳnh Lưu cũng là một huyện vùng đồng bằng ven biển, xen lẫn địa hình đồi núi iều kiện tự nhiên rất phong phú và đa dạng ồng thời cùng có tuyến đường quốc
lộ 1a ngang qua Phòng văn hóa thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc y ban nhân dân cấp huyện, có trách nhiệm tham mưu, giúp y ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về văn hóa, gia đình, thể thao và du lịch Phòng có 1 trưởng phòng và 1 phó trưởng phòng, và có 3 chuyên viên Theo thống kê năm
Trang 382016 của phòng văn hóa huyện thì trên địa bàn huyện có 20 di tích lịch sử - văn hóa được công nhận (trong đó có 11 di tích cấp quốc gia và 9 di tích cấp tỉnh)
ịa phương đã tổ chức tốt một số lễ hội gây tiếng vang trong cả nước Theo báo cáo của phòng văn hóa huyện, thì con số khách tham quan hằng năm của
cả huyện từ năm 2014 đến nay thì trung bình có 15 vạn khách hằng năm, và các năm sau đều tăng dần so với năm trước Tuy đây là con số đã tính cả khách tham quan du lịch biển ở Quỳnh Lưu, nhưng cũng có một đóng góp không nhỏ của du lịch tâm linh tại các di tích lịch sử, cũng như các lễ hội trên địa bàn huyện ể gây được tiếng vang và thu hút du khách đến tham dự, bên cạnh công tác tuyên truyền, ngành văn hóa phối hợp với các địa phương nơi diễn ra
lễ hội đảm bảo cho du khách tham quan được an toàn, vui vẻ và tiết kiệm Ban
tổ chức lễ hội đã xây dựng kế hoạch phối hợp với lực lượng công an xã, dân phòng, liên tục tuần tra kiểm soát tuyệt đối không để xảy ra tình trạng ăn xin, bói toán, chèo kéo du khách Bên cạnh công tác bảo vệ, giữ gìn và trùng tu các
di tích lịch sử - văn hóa thì huyện Quỳnh Lưu phát triển đồng bộ các cơ sở hạ tầng du lịch, mở rộng nhiều tuyến đường dẫn vào các khu di tích, quy hoạch bãi đỗ xe hợp lý, sân hành lễ, lắp đặt các phương tiện bảo vệ, phân luồng giao thông thuận tiện cho khách đến dự lễ… Tựu chung lại, những thành công ở huyện Quỳnh Lưu cho thấy quản lý nhà nước về các di tích lịch sử - văn hóa diễn ra ở đây rất bài bản, và đồng bộ, thể hiện được tầm nhìn của các cấp chính quyền, đặc biệt là sự tham mưu của phòng văn hóa
1.4.1.3 Huyện V n ường, tỉn V n P úc
Vĩnh Tường là vùng đất cổ thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng, là vùng chuyển tiếp văn hóa Hùng Vương xuống văn hóa Kinh bắc Thăng Long Hiện nay trên địa bàn huyện có 239 di tích (thống kê phòng văn hóa huyện năm 2016), bao gồm có 73 đình, 80 chùa, 11 đền, 24 miếu, 4 quán, 25 điếm, 4 nhà thờ họ, 6 nhà thờ công giáo, nhà thờ tổ nghề, 2 lăng mộ, 1 văn chỉ, 4 di
Trang 39tích khảo cổ, 4 di tích lịch sử Trong đó có 18 di tích được xếp hạng di tích quốc gia, 49 di tích xếp hạng cấp tỉnh Rõ ràng, đây là vùng đất giáp kinh đô xưa nên số lượng di tích lịch sử - văn hóa rất lớn, nên công tác quản lý nhà nước đặc biệt khó khăn nếu không được tổ chức tốt Nhằm nâng cao ý thức của nhân dân cũng như tăng cường vai trò, trách nhiệm của các cấp chính quyền cơ sở trong việc bảo vệ và phát huy di sản văn hóa, hằng năm huyện Vĩnh Tường đều triển khai tuyên truyền, phổ biến luật di sản và các văn bản của nhà nước về quản lý di tích bằng nhiều hình thức khác nhau như thông tin, tuyên truyền trên các tạp chí, tập san, bản tin, hệ thống truyền thanh, cổng thông tin trên mạng của huyên, tổ chức các lớp tập huấn, các cuộc thi tìm hiểu luật và các văn bản nhà nước về quản lý các di tích lịch sử cho các đối tượng liên quan đến công tác này ồng thời y ban nhân dân huyện Vĩnh Tường
có các văn bản chỉ đạo, đôn đốc và tiến hành kiểm tra công tác quản lý các di tích ặc biệt, năm 2013 y ban nhân dân huyện Vĩnh Tường còn cho xuất bản 2 cuốn sách “Vĩnh Tường - Di sản văn hóa “và “Tài liệu giáo dục lịch sử địa phương huyện Vĩnh Tường “giới thiệu khá đầy đủ các công trình và giá trị văn hóa của huyện Ngoài ra, công tác tu bổ, tôn tạo và phục hồi các di tích cũng được chính quyền thực hiện rất tốt Theo số liệu của phòng văn hóa huyện, năm từ năm 2010 đến nay trên địa bàn huyện có 46 di tích được tu bổ, tôn tạo và phục hồi, tiến hành đúng trình tự, đúng quy định của luật di sản và hướng dẫn của Sở văn hóa Số vốn đầu tư là 165 tỉ đồng, với phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm, công tác xã hội hóa trong việc bảo tồn và phát huy các giá trị di tích lịch sử được nhân dân ủng hộ cả về vật chất và ngày công Quản lý nhà nước về các di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn huyện được thực hiện rất tốt, không những tốt về mặt quản lý, mà lại được nhân dân địa phương nhiệt tình ủng hộ
Trang 401.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra cho huyện Tĩnh Gia
- Thứ nhất, có cơ chế, chính sách phù hợp cùng một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật hoàn chỉnh có tác dộng nâng cao hiệu quả công tác quản
lý di sản văn hóa, tạo động lực cho các hoạt động bảo tồn các di tích lịch sử - văn hóa
- Thứ hai, có hệ thống quản lý đủ mạnh, có khả năng triển khai trong đời sống xã hội các cơ chế, chính sách, pháp luật về bảo tồn các di tích này
- Thứ ba, có nguồn nhân lực chất lượng, hoạt động chuyên nghiệp trong lĩnh vực bảo tồn các các di tích
- Thứ tư, truyền thống giáo dục về di sản văn hóa tốt để tăng cường nhận thức, ý thức và hành vi ứng xử của cộng đồng và từng người dân
- Thứ năm, đảm bảo đầu tư ngân sách nhà nước và huy động nguồn lực
từ xã hội cho hoạt động bảo tồn các di tích lịch sử - văn hóa
- Cuối cùng là sự kết hợp chặt chẽ các hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích với hoạt động kinh tế, nhất là phát triển du lịch