Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)Quảnh lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
-/ -
BỘ NỘI VỤ -/ - HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGÔ BÌNH NAM GIANG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐÃ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN
Trang 2Luận văn được hoàn thành tại: HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn:
TS NGUYỄN THỊ HƯỜNG
Phản biện 1: PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết
Học viện Hành chính Quốc gia Phản biện 2: PGS.TS Lê Kim Việt
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn,
Học viện Hành chính Quốc gia Địa điểm: Phòng 402 nhà A Hội trường bảo vệ Luận văn Thạc sĩ
Học viện Hành chính Quốc gia Số: 77, Nguyễn Chí Thanh, Đống Đa, Hà Nội Thời gian: vào hồi 9h30 phút ngày 10 tháng 8 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Học viện Hành chính Quốc gia
hoặc trên trang Web của Khoa Sau đại học,
Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Việt Nam là đất nước có năm mươi tư dân tộc với hàng ngàn năm văn hiến, mỗi dân tộc lại sản sinh và lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống mang bản sắc riêng của từng vùng, miền; trong đó bao gồm cả di sản thiên nhiên, di sản vật thể, di sản phi vật thể, di sản tư liệu và di sản hỗn hợp Tuy đóng một vai trò quan trọng nhưng di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam đang ở tình trạng báo động đỏ Tình trạng trên xẩy ra do nhiều nguyên nhân Trong đó, những bất cập
về nhận thức trong công tác quản lý nhà nước cũng đã tác động làm sai lệch giá trị di sản
Phú Thọ đã có ba di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận đó là: Ca trù, hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương Sau khi các di sản được ghi danh, tỉnh Phú Thọ đã triển khai đồng bộ công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vùng đất Tổ Những chủ trương, chính sách đã luôn được đưa ra kịp thời để thu hút sự tham gia tích cực của toàn xã hội, tranh thủ sự ủng
hộ có hiệu quả của các cấp, các ngành và cộng đồng quốc tế Phú Thọ đã xây dựng được một hệ thống quản lý giúp bảo tồn, khai thác và phát huy giá trị của các di sản sau khi được UNESCO vinh danh
Do những điểm đặc biệt nêu trên, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các thế hệ đi trước đã công bố và sự hiểu biết khiêm tốn cá nhân, tôi
chọn vấn đề “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO
công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” cho luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Cho đến nay, đã có rất nhiều chuyên gia quan tâm khảo sát và nghiên cứu
về di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ngay cả trước và sau khi các di sản được UNESCO vinh danh là di sản phi vật thể của thế giới Thực tế cho thấy, những công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu về từng loại di sản văn hóa phi vật thể, hoặc quản lý di sản nói chung, hoặc quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại một địa phương mà chưa có đề tài nào trực tiếp nghiên cứu quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận, mà trường hợp đặc biệt ở đây là tỉnh Phú Thọ - nơi có đến
ba di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO vinh danh
Trang 43 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Từ thực trạng của các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, luận văn đề xuất các giải pháp phù hợp, mang tính ứng dụng khả thi, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước đối với các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO vinh danh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các tài liệu và tư liệu để làm lý luận cơ bản và căn cứ cho quá trình nghiên cứu
- Nghiên cứu, khảo sát và hình thành nguồn tư liệu sơ cấp
- Phân tích, đánh giá về thực trạng quản lý nhà nước đối với các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận, xác định các vấn đề cần quan tâm giải quyết
- Xây dựng, đề xuất giải pháp để nâng cao vai trò và tính hiệu quả trong quản lý nhà nước về các di sản đã được UNESCO vinh danh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ - nơi là cái nôi của các di sản văn hóa phi vật thể bao gồm Ca trù (Câu lạc bộ Ca trù Việt Trì); hát Xoan (các làng Xoan cổ nằm ở làng Kim Đới (Kim Đái), Phù Đức, Thét của xã Kim Đức và làng An Thái xã Phượng Lâu); Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Khu di tích tịch sử quốc gia Đền Hùng)
- Về thời gian: Luận văn chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng của việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn từ năm 2010 - 2016 (sau khi các
di sản được UNESCO công nhận)
- Về nội dung: luận văn tập trung vào các nội dung quản lý Nhà nước sau đây: xây dựng và tổ chức thực thi chính sách quản lý các di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận ở cấp tỉnh; tổ chức bộ máy quản lý các di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận ở cấp tỉnh; nâng cao
Trang 5công tác tuyên truyền, giáo dục để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận ở tỉnh Phú Thọ
5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn sử dụng phương pháp luận khoa học (chủ nghĩa duy vật biện chứng, khoa học quản lý…)
5.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn cá nhân (phỏng vấn định tính): phỏng vấn sâu với các cá nhân và thảo luận nhóm đối với các đối tượng nhất định như cán
bộ quản lý văn hóa tại địa phương, nhóm nghệ nhân, câu lạc bộ, người dân, nhà nghiên cứu…
-Phú Thọ, trực tiếp quan sát và tham gia vào các hoạt động bảo vệ, khai thác
di sản văn hóa phi vật thể ở địa phương (như các lớp truyền dạy, câu lạc bộ, trường học )
- Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp
- Phương pháp điều tra xã hội học: đối tượng của điều tra xã hội học trong phạm vi luận văn này là quản lý nhà nước đối với các di sản văn hóa phi vật thể
đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Phiếu
những câu hỏi về nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể của Phú Thọ sau khi được thế giới vinh danh Thông qua phiếu thu thập thông tin về di sản thế giới trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và việc quản lý các di sản
đó sau khi được ghi danh nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của luận văn Chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát tại các cấp quản lý di sản như: Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); Vụ Văn hóa đối ngoại và UNESCO (Bộ Ngoại giao); UBND tỉnh Phú Thọ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ; Bảo tàng Hùng Vương (Việt Trì, Phú Thọ); Ban quản lý Khu
di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng; cán bộ quản lý văn hóa của hai xã Kim Đức
và Phượng Lâu (nơi có các làng Xoan cổ), Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (nơi làm hồ sơ Ca trù của người Việt và hát Xoan Phú Thọ), Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (nơi làm hồ sơ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương), một số nghệ nhân dân gian và người dân ở Phú Thọ với 100 phiếu và tiến hành xử lý dữ liệu trên phần mềm Epidata
Trang 6- Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để xử lý tư liệu thu thập được từ thực tiễn và các bản ghi chép của các cá nhân tại địa phương nhằm làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiến của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống một số cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận và thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về các di sản này Qua đó, bước đầu phác họa một mô hình quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể sau khi được công nhận
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn khái quát thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ Bước đầu giúp làm tiền đề tham khảo cho việc vận dụng và đề ra các giải pháp phù hợp, sát thực tiễn, chấn chỉnh, đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận, góp phần bảo tồn, khai thác và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể theo hướng bền vững
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể
đã được UNESCO công nhận
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
Trang 7Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ ĐÃ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN
1.1 NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN
DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN
1.1.1 Di sản văn hóa
1.1.1.1 Khái niệm di sản văn hóa
Văn hóa là một phạm trù rất rộng và có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa về nó Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra
và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội, song chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội Di sản văn hóa chính là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo và tích lũy trong một quá trình lịch sử lâu dài và được lưu truyền
từ thế hệ trước sang thế hệ sau
Di sản văn hóa bao gồm hầu hết các giá trị văn hóa do thiên nhiên và con người tạo nên và được chia ra thành di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể Di sản văn hóa là phần tinh túy, mang tính chất đặc trưng của từng vùng miền, được sáng tạo, bảo vệ, lưu truyền ở trong chính cộng đồng và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
1.1.1.2 Đặc trưng, tính chất của di sản văn hóa
Đặc trưng cơ bản của di sản văn hóa phải mang những nét đặc trưng cơ bản của văn hóa là: tính nhân sinh, tính lịch sử, tính giá trị và tính hệ thống
Ngoài những đặc trưng cơ bản, di sản văn hóa còn có một vài đặc trưng riêng xuất phát từ những đặc trưng cơ bản của văn hóa đó là tính hiểu biết, tính biểu tượng và tính sử liệu
Tuy một đối tượng hay sự vật không nhất thiết phải hội tụ cả ba yếu tố trên nhưng ít nhất phải có một tiêu chí đặc sắc thì đối tượng hay sự vật ấy mới trở thành di sản văn hóa
Trang 81.1.2 Di sản văn hóa phi vật thể
1.1.2.1 Khái niệm
Trong khoản 1, điều 4 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di
sản văn hóa, số 32/2009/QH12 có nêu “Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm
tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.”
UNSECO cũng đã cố gắng cụ thể hóa tính “trừu tượng” của di sản văn hóa phi vật thể bằng việc đưa ra một số định dạng của di sản văn hóa phi vật thể như: tập quán, biểu đạt tri thức, kỹ năng, các không gian văn hóa có liên quan…
Di sản văn hóa phi vật thể phải có sự gắn bó chặt chẽ với đời sống tinh thần của cộng đồng, được lưu truyền, tái tạo để tạo nên bản sắc riêng của mỗi một cộng đồng và sự đa dạng văn hóa trên toàn thế giới
1.1.2.2 Đặc điểm, tính chất của di sản văn hóa phi vật thể
Tính chất của di sản văn hóa phi vật thể bao gồm: tính truyền thống, đương đại, sống động; tính bao hàm, tính đại diện, tính tùy thuộc vào cộng đồng UNESCO và các quốc gia đều công nhận di sản văn hóa phi vật thể có những giá trị cơ bản sau: giá trị lịch sử, giá trị nghệ thuật, giá trị khoa học, giá trị gắn kết các dân tộc Ngoài ra, di sản văn hóa phi vật thể còn có giá trị về kinh tế
Di sản văn hóa phi vật thể không “nhất thành bất biến” mà chúng hàm chứa những nhân tố mang tính lịch sử, đồng thời cũng mang hơi thở của thời đại Điều đó còn nhấn mạnh rằng để tồn tại đến ngày hôm nay, di sản văn hóa phi vật thể đã trải qua một quá trình sàng lọc và sáng tạo không ngừng nghỉ
1.1.3 Di sản văn hóa phi vật thể đã đƣợc UNESCO công nhận tại Việt Nam
Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam bao gồm danh sách khu dự trữ sinh quyển thế giới, di sản tư liệu thế giới, công viên địa chất toàn cầu, di sản thiên nhiên, di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam đã được UNESCO công nhận
Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận tại Việt Nam là các di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam do một hoặc nhiều quốc gia đề cử hồ sơ và được UNESCO xem xét, thông qua và công nhận đưa vào một trong hai danh sách:
Trang 9- Danh sách di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại;
- Danh sách di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ
ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN
1.2.1 Quản lý nhà nước về di sản văn hóa
Công tác quản lý nhà nước về văn hóa góp phần định hướng, điều chỉnh
sự phát triển văn hóa của quốc gia, giúp hiện thực hóa các chủ trương, đường lối văn hóa, văn nghệ của Đảng; từ đó tác động đến mục tiêu, bản chất của văn hóa dân tộc Trong công tác quản lý văn hóa không thể thiếu việc quản lý các di sản văn hóa Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong
sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc ta Công tác bảo vệ và phát huy di sản đã có một truyền thống lâu đời và nhận được sự quan tâm to lớn của Đảng, Nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành từ trung ương đến địa phương
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về di sản văn hóa Cục Di sản văn hóa là cơ quan có chức năng tham mưu giúp Bộ trưởng thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước về di sản văn hóa, được Bộ trưởng giao trách nhiệm chỉ đạo và hướng dẫn hoạt động phát triển sự nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong phạm vi cả nước
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương Phòng Văn hoá và Thông tin là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp huyện, dưới nữa là quản lý văn hóa cấp xã, phường, có ban Văn xã, và cộng đồng đang gìn giữ di sản
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận
1.2.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận
Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể là việc Đảng và Nhà nước
sử dụng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách… thông qua bộ máy quản lý tác động có tính chất định hướng tới cộng đồng xã hội nhằm đạt được mục tiêu bảo tồn và phát huy giá trị các di sản Đối với các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận thì quốc gia đang sở hữu di sản đó yêu cầu phải tuân theo
Trang 10đúng những cam kết bảo tồn và phát huy đã nêu ra trong hồ sơ đệ trình, cũng như những điều khoản của Công ước 2003 mà nước đó là thành viên Quản lý nhà nước về các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO ghi danh nhìn chung vẫn giống với việc quản lý các di sản văn hóa phi vật thể trên cả nước, nhưng vẫn có những đặc trưng riêng biệt
1.2.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận
* Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận
Quản lý nhà nước về di sản nói chung và quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận nói riêng có công cụ là hệ thống luật và các văn bản có tính pháp quy Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên đưa di sản văn hóa phi vật thể trở thành đối tượng điều chỉnh của Luật Di sản văn hóa năm 2001 và được điều chỉnh, bổ sung năm 2009 Các tiêu chí để bảo tồn và lưu truyền di sản văn hóa phi vật thể của thế giới cũng được thể hiện một cách rõ ràng và cụ thể hóa trong Luật và Nghị định
Tuy là một quá trình dài và yêu cầu sự hợp tác phối hợp của rất nhiều bên, nhưng khi một di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO vinh danh thì đó không chỉ là niềm tự hào của riêng địa phương mà còn là cách để Việt Nam nâng cao vị thế của mình trên thế giới Đây là cách quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới hiệu quả, tinh tế và thuyết phục
* Xây dựng và vận hành bộ máy tổ chức quản lý nhà nước về di sản văn hóa phí vật thể đã được UNESCO công nhận
Việc quản lý các di sản sau khi được công nhận vẫn gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của bộ máy quản lý di sản văn hóa từ trung ương đến địa phương, trong đó Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về di sản văn hóa
Bộ máy quản lý các di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận thì ngoài bộ máy quản lý nhà nước về các di sản văn hóa phi vật thể còn cần thêm sự quản lý và giám sát của Ủy ban quốc gia UNESCO Việt Nam (Bộ Ngoại giao) Đối với các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận thì theo cam kết với UNESCO, quốc gia có di sản được công nhận phải báo cáo về tình trạng của di sản theo định kỳ Yêu cầu báo cáo định kỳ đối với
Trang 11Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại là 6 năm, đối với Di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp là 4 năm
* Tuyên truyền, phổ biến và phát huy các di sản văn hóa phí vật thể đã được UNESCO công nhận
Sau khi được UNESCO công nhận, thì các di sản của địa phương đã vượt
xa khỏi tầm quốc gia mà đã trở thành di sản của thế giới Nhà nước và các tỉnh
có di sản được vinh danh luôn quan tâm đến việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục về các di sản, gây dựng niềm tự hào trong nhân dân và ở các cộng đồng đang trực tiếp gìn giữ di sản Hàng loạt kế hoạch, chương trình đưa di sản vào dạy trong nhà trường cũng như đào tạo cán bộ, giảng viên chuyên sâu về di sản
đã được triển khai liên tục và rộng khắp trên cả nước trong những năm qua
1.2.3 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận
Tuy di sản văn hóa phi vật thể là một phần quan trọng cấu thành nên di sản văn hóa nhưng nó lại không được quan tâm như những di sản văn hóa vật thể Xác định được tầm quan trọng của di sản văn hóa và đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể, Đảng và Chính phủ đã luôn nhấn mạnh đến vai trò chủ chốt của các cơ quan Nhà nước trong việc quản lý di sản văn hóa phi vật thể
Việt Nam đã ý thức được từ sớm vai trò của UNESCO trong việc bảo vệ
di sản và đặc biệt là Công ước Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (Công ước 2003) Sau khi các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận thì Nhà nước và các cấp quản lý đã có trách nhiệm hơn trong việc bảo tồn, khai thác và lưu truyền các di sản đó Vai trò của quản lý nhà nước đối với các di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh là rất quan trọng Điều này đảm bảo các di sản văn hóa phi vật thể sau khi được công nhận sẽ được bảo vệ và phát huy một cách đúng đắn
1.3 NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐÃ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN
Tuy chúng ta đang tiến hành quản lý di sản văn hóa trong thời kinh tế thị trường, nhưng dấu ấn của cơ chế bao cấp vẫn còn khá sâu đậm, khiến cho nhiều
cơ quan quản lý, doanh nghiệp, tổ chức văn hóa vẫn trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước, chưa phát huy tốt tính tích cực, chủ động, sáng tạo Việc xây dựng và
Trang 12hoàn thiện thể chế văn hóa còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ Một số văn bản pháp luật về di sản văn hóa mà đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể đã được công nhận chưa theo kịp sự phát triển của thực tiễn, việc tổ chức thực hiện còn chậm chạm, quan liêu, một số văn bản chưa thực sự đi vào cuộc sống
Công tác kiện toàn tổ chức, bộ máy nhân sự ngành văn hóa, nhất là khi mới sáp nhập thành bộ đa ngành còn nhiều lúng túng Năng lực quản lý văn hóa của các cán bộ địa phương vẫn còn nhiều yếu kém Các di sản phi vật thể sau khi được xếp hạng đối mặt với nguy cơ bị nhà nước hóa và sân khấu hóa
1.4 KINH NGHIỆM VÀ BÀI HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐÃ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN
1.4.1 Kinh nghiệm từ các địa phương có di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận
1.4.1.1 Tỉnh Thừa Thiên Huế
Trang 13Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA
PHI VẬT THỂ ĐÃ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN
Thành phố Việt Trì là điểm đầu của tam giác châu Bắc Bộ - trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh Phú Thọ Đây cũng là nơi tập trung của rất nhiều loại hình di sản văn hóa vật thể và phi vật thể của Phú Thọ Bốn phường Xoan cổ là Phù Đức, Kim Đái (Kim Đới), Thét và An Thái nằm ở 2 xã Kim Đức và Phượng Lâu của Phú Thọ Câu lạc bộ Ca trù cũng nằm
ở thành phố Việt Trì Theo các nghiên cứu thì xưa kia ở Phú Thọ, Ca trù từng tồn tại song hành với các làn điệu dân ca Xoan, Ghẹo - đặc sản của địa phương Việt Trì còn nổi tiếng với Đền Hùng - khu Di tích Lịch sử đặc biệt cấp Quốc gia, đây chính là trung tâm thực hành Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương lớn nhất và lâu đời nhất của dân tộc Việt Nam
2.1.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội
Phú Thọ là một tỉnh trung du miền núi với rất nhiều tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội Trong những năm qua, kinh tế - xã hội của vùng chuyển biến tích cực, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại