Đổi mới cung cấp dịch vụ trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (LV thạc sĩ)Đổi mới cung cấp dịch vụ trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (LV thạc sĩ)Đổi mới cung cấp dịch vụ trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (LV thạc sĩ)Đổi mới cung cấp dịch vụ trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (LV thạc sĩ)Đổi mới cung cấp dịch vụ trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (LV thạc sĩ)Đổi mới cung cấp dịch vụ trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (LV thạc sĩ)Đổi mới cung cấp dịch vụ trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (LV thạc sĩ)Đổi mới cung cấp dịch vụ trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (LV thạc sĩ)Đổi mới cung cấp dịch vụ trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (LV thạc sĩ)Đổi mới cung cấp dịch vụ trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
VŨ DUY LINH
ĐỔI MỚI CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN Ở BỘ NÔNG NGHIỆP
VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Bế Trung Anh
Phản biện 1: PGS TS Nguyễn Hữu Hải
Học viện Hành chính Quốc gia
Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Bá Chiến
Đại học Nội vụ Hà Nội
Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia
Địa điểm: Phòng họp 204, Nhà A , Học viện Hành chính Quốc gia
Số: 77 - Đường: Nguyễn Chí Thanh - Quận: Đống Đa – TP.Hà Nội Thời gian: vào hồi 15 giờ 00 ngày 16 tháng 8 năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong bối cảnh thay đổi mau chóng của cục diện chính trị - kinh tế trên thế giới những năm đầu thế kỷ 21, Đảng và Nhà nước ta nhận định tình hình thế giới trong thời gian tới với đặc trưng cơ bản như sau: Hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng xung đột tôn giáo, sắc tộc, tranh chấp tài nguyên và lãnh thổ, biển đảo, bạo loạn, khủng bố diễn biến phức tạp; Toàn cầu hóa tiếp tục phát triển sâu rộng trên mọi lĩnh vực; Kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, thách thức; Mức độ tùy thuộc lẫn nhau giữa các nước ngày một gia tăng; Các cơ chế đa phương, các tổ chức quốc tế có vai trò ngày càng quan trọng trong mọi mặt của đời sống nhân loại; Khu vực châu Á - Thái Bình Dương phát triển năng động, đang trở thành trung tâm phát triển của thế giới Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) tiến tới hình thành cộng đồng chung, tiếp tục giữ vai trò trung tâm trong phần lớn các cơ chế hợp tác ở khu vực, đồng thời có vị trí ngày càng cao trong chiến lược của các nước lớn
Với những nhận định như vậy, yêu cầu hội nhập quốc tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc cách mạng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) trở nên cấp thiết đối với Việt Nam Quyết tâm đẩy mạnh ứng dụng và phát triển CNTT được minh chứng bằng Nghị quyết 36/NQ-TW ngày 01/07/2014 của
Bộ Chính trị, Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XI Theo
đó, “CNTT là một công cụ hữu hiệu tạo lập phương thức phát triển mới và bảo vệ
Tổ quốc trong tình hình mới Đó là một trong những nguồn lực quan trọng phát triển kinh tế tri thức, xã hội thông tin, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế góp phần thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ứng dụng CNTT là một yếu tố quan trọng, đảm bảo thực hiện thành công ba đột phá chiến lược, quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội Đầu tư cho CNTT là đầu
tư cho phát triển và bảo vệ đất nước Do vậy, chúng ta cần thực hiện tốt công tác quản lý, tăng cường khả năng làm chủ, sáng tạo công nghệ, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và giữ vững chủ quyền không gian mạng”
Thực hiện Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương tình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020; Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ Quy định về việc cung cấp thông tin và DVCTT trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử (TTĐT) của cơ quan nhà nước; Nghị quyết 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Chính phủ điện tử (CPĐT); Quyết định số 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về ứng dụng CNTT trong hoạt động của CQNN giai đoạn 2016-
2020 với mục tiêu đẩy mạnh phát triển CPĐT, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của CQNN, phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn Công khai, minh bạch hoạt động của CQNN trên môi trường mạng
Trang 4Trong thực tiễn, ứng dụng CNTT vào công tác cải cách hành chính (CCHC) mà trọng tâm là ứng dụng Dịch vụ công trực tuyến (DVCTT) đã minh chứng những thế mạnh to lớn như: tiết kiệm thời gian, chi phí hoạt động, công khai, minh bạch, chống tham nhũng, lãng phí, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau Cung cấp DVCTT để giảm thời gian, số lần trong một năm người dân, doanh nghiệp phải đến trực tiếp CQHCNN thực hiện các TTHC Do vậy, để giải quyết công việc này vấn để đặt ra là: Cần làm gì để tận dụng và phát huy tối đa vai trò của CNTT trong tổ chức, quản lý và thực hiện triển khai xây dựng DVCTT một cách có hiệu quả
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đa ngành, đa nghề, đa lĩnh vực gồm: nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy lợi, thủy sản và phát triển nông thôn trong phạm vi cả nước trong đó bao gồm quản lý nhà nước các dịch vụ công (DVC) thuộc phạm vi, với công việc quản lý nhà nước đa dạng, phức tạp như vậy thì buộc phải ứng dụng CNTT, mà trọng tâm là cung cấp DVCTT để nâng cao hoạt động của quản lý nhà nước (QLNN), chỉ đạo và điều hành chung của Bộ, cũng như phục vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn Trong những năm qua, Bộ Nông nghiệp và PTNT
đã quan tâm, đầu tư triển khai xây dựng DVCTT tại các đơn vị QLNN của Bộ (các Tổng cục, Cục chuyên ngành) để người dân, các doanh nghiệp, tổ chức đã có kênh giao tiếp tiện dụng qua môi trường mạng Tuy nhiên, việc tổ chức, quản lý và triển khai thực hiện cung cấp DVCTT, nhất là DVCTT mức độ cao của Bộ hiện nay đang gặp phải những khó khăn, vướng mắc nhất định, lộ trình cung cấp diễn ra còn chậm so với kế hoạch, số lượng và chất lượng DVCTT còn khiêm tốn, nhỏ lẻ, phân tán chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng cũng như xu thế hiện nay của người dân, doanh nghiệp, các tổ chức trong và ngoài nước mong muốn tham gia DVC của Bộ, chưa có Cổng DVCTT tập trung duy nhất tại một địa chỉ để người dân, doanh nghiệp và tổ chức tiện dụng trong quá trình truy cập, sử dụng
Chính vì vậy, việc triển khai xây dựng, đổi mới và nâng cao chất lượng cung cấp DVCTT, nhất là DVCTT mức độ cao của của Bộ là hết sức cần thiết, phù hợp với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và Chính phủ, đồng thời phù hợp với lộ trình,
kế hoạch phát triển DVCTT hướng tới Bộ Nông nghiệp và PTNT là Bộ điện tử trong
tương lại gần Xuất phát từ tực tiễn trên, tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài:“Đổi mới cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn”
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
DVCTT là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng, cụ thể là việc ứng dụng CNTT trong hoạt động cung ứng để người dân, doanh nghiệp
và các tổ chức có thể tiếp cận các thông tin và dịch vụ một cách thuận lợi hơn, cải thiện chất lượng dịch vụ và mang lại các cơ hội tốt hơn cho công dân, các
Trang 5doanh nghiệp và tổ chức trong việc tham gia vào xây dựng thể chế và phát triển đất nước Với tầm quan trọng nêu trên, cho đến thời điểm này số lượng các công trình nghiên cứu liên quan về ứng dụng CNTT-TT, CPĐT và cung cấp DVCTT đã có nhiều công trình nghiên cứu hết sức quy mô và tầm cỡ Tuy nhiên các công trình nghiên cứu sâu về cung cấp DVCTT trong hoạt động của các cơ quan quản lý nhà nước hiện nay chưa nhiều và vẫn chưa thống nhất văn bản, tài liệu nghiên cứu, mà chỉ tập trung vào nghiên cứu chung về phát triển CPĐT, về ứng dụng CNTT-TT và một số bài báo về DVCTT liên quan
Có thể thấy, những công trình nghiên cứu đa phần đề cập đế những hoạt động mang tính định hướng khái quát chung, phạm vi tương đối rộng hoặc chuyên biệt về góc độ kỹ thuật, các công trình nghiên cứu về Đổi mới và nâng cao chất lượng cung cấp DVCTT trong hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước hiện nay còn khá khiêm tốn Tiếp thu những kết quả của các công trình nghiên cứu trên, luận văn này tác giả tập trung nghiên cứu về việc Đổi mới cung cấp DVCTT trên cơ sở thực tiễn nghiên cứu việc triển khai thực hiện cung cấp DVCTT tại Bộ Nông nghiệp và PTNT hiện nay
3 Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài
- Mục tiêu:
Cung cấp luận cứ khoa học để từ đó đề xuất các giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng cung cấp DVCTT ở Bộ Nông nghiệp và PTNT, phục vụ người dân, doanh nghiệp và các tổ chức mọi lúc, mọi nơi nhằm phát huy hiệu quả công tác QLNN, xử lý và giải quyết các TTHC nhanh chóng và hiệu quả, thực hiện công khai minh bạch trong các hoạt động
- Nhiệm vụ:
Để thực hiện được mục đích nêu trên, nghiên cứu của đề tài có nhiệm vụ sau:
- Xác định cơ sở lý luận về DVCTT tại cơ quan quản lý hành chính nhà nước
- Phân tích thực trạng cung cấp DVCTT ở Bộ Nông nghiệp và PTNT hiện nay, những mặt còn hạn chế, tồn tại cần giải quyết trong hoạt động cung cấp DVCTT ở Bộ Nông nghiệp và PTNT
- Từ đó đề xuất các giải pháp để từng bước đổi mới và nâng cao chất lượng cung cấp DVCTT ở Bộ Nông nghiệp và PTNT
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu:
Cung cấp DVCTT ở Bộ Nông nghiệp và PTNT
- Phạm vi nghiên cứu:
Không gian nghiên cứu: Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi
khách thể là các đơn vị QLNN của Bộ Nông nghiệp và PTNT (các Tổng cục
và Cục), có chức năng cung cấp DVCTT
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2010 – đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trang 6Nghiên cứu của đề tài dựa trên quan điểm cơ bản của Chủ nghĩa Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân,
Mác-do dân và vì dân; các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về cung cấp DVC, DVCTT, CPĐT, cải cách nền hành chính theo hướng hiện đại hóa
Các phương pháp nghiên cứu áp dụng:
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp;
- Phương pháp so sánh, tổng hợp, thống kê: Khảo sát, thu thập, đánh giá các thông tin về thực trạng thực hiện các nội dung về hoạt động cung cấp dịch DVCTT nói chung và công việc ứng dụng CNTT trong QLNN nói riêng;
- Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý, chỉ đạo và điều hành về phát triển và ứng dụng CNTT trọng tâm là việc thực hiện DVCTT của lãnh đạo các đơn vị liên quan của Bộ;
- Phương pháp chuyên gia: trao đổi, phối hợp, tiếp thu ý kiến từ các chuyên gia am hiểu về lĩnh vực trong và ngoài Bộ trong quá trình khảo sát, đánh giá trực trạng; đề xuất giải pháp; tầm nhìn và định hướng phát triển
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Những giải pháp đề xuất của luận văn là tài liệu tham khảo chung cho việc xây dựng, quản lý và tổ chức thực hiện cung cấp DVCTT cấp Bộ, cơ quan ngang
Bộ và có thể áp dụng vào thực tiễn của Bộ Nông nghiệp và PTNT Cụ thể là:
- Đóng góp vào hệ thống lý thuyết và thực tiễn trong việc xây dựng, quản
lý và tổ chức thực hiện cung cấp DVCTT trong tiến trình CCHC, phát triển CPĐT ở nước ta nói chung và tại Bộ Nông nghiệp và PTNT nói riêng;
- Đưa ra một số giải pháp để tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động, quản lý cung cấp DVCTT của Bộ Nông nghiệp và PTNT nói riêng và các Bộ, cơ quan ngang Bộ nói chung góp phần làm thay đổi thói quen tiếp cận chính quyền truyền thống của cơ quan, tổ chức và công dân nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của QLNN
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ công trực tuyến tại Cơ quan quản
lý hành chính nhà nước
Chương 2: Thực trạng cung cấp dịch vụ công trực tuyến tại Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn
Chương 3: Giải pháp đổi mới và nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ
công trực tuyến tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN
TẠI CƠ QUAN QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1.1 Khái niệm
1.1.1 Dịch vụ công
Theo nghĩa rộng, “dịch vụ công là những hàng hoá, dịch vụ mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng Theo
đó, dịch vụ công là tất cả những hoạt động nhằm thực hiện các chức năng vốn
có của Chính phủ, bao gồm từ các hoạt động ban hành chính sách, pháp luật, toà án… cho đến những hoạt động y tế, giáo dục, giao thông công cộng”
Theo nghĩa hẹp, “dịch vụ công được hiểu là những hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực tiếp nhu cầu của các tổ chức và công dân mà Chính phủ can thiệp vào việc cung cấp nhằm mục tiêu hiệu quả và công bằng”
Vì vậy, khái niệm DVC được hiểu là những hoạt động phục vụ các nhu cầu cơ bản, thiết yếu của cá nhân vì lợi ích chung của xã hội, do Nhà nước chịu trách nhiệm trước xã hội (trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện) nhằm bảo đảm ổn định và công bằng xã hội
Loại thứ ba, Dịch vụ công do tổ chức nhà nước, tổ chức phi chính phủ,
tổ chức tư nhân phối hợp thực hiện
Dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng, có thể chia dịch vụ công thành các loại sau:
Loại thứ nhất, Dịch vụ sự nghiệp công
Loại thứ hai, Dịch vụ công ích
Loại thứ ba, Dịch vụ hành chính công
1.1.2 Dịch vụ hành chính công
1.1.2.1 Khái niệm
Đến nay trong các văn bản của Đảng và Nhà nước đã đề cập đến loại dịch vụ này, thực chất dịch vụ hành chính công (DVHCC) là một phần rất cơ bản của DVC nên trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả đề cập tại
Nghị định 43/2011/NĐ-CP quy định về DVHCC như sau: “Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho
tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các
lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý
Mỗi dịch vụ hành chính công gắn liền với một thủ tục hành chính để giải
quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân”
Trang 81.1.2.2 Đặc điểm
Qua phân tích cho thấy các DVHCC có các đặc điểm sau:
Thứ nhất, việc cung ứng DVHCC luôn gắn với thẩm quyền Hành chính -
Pháp lý của CQHCNN
Thứ hai, DVHCC là các hoạt động phục vụ cho hoạt động quản lý của
Nhà nước
Thứ ba, DVHCC là những hoạt động không nhằm mục đích lợi nhuận,
nếu có thu thì thu dưới dạng lệ phí (chỉ dành cho những người cần dịch vụ) nộp ngân sách nhà nước
Thứ tư, mọi công dân đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp nhận và
sử dụng các dịch vụ này với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền
1.1.3 Dịch vụ công trực tuyến
1.1.3.1 Khái niệm
Tại Chương I, Điều 3, Khoản 4 trong Nghị định số 43/2011/NĐ-CP về DVCTT tuyến như sau:
“Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ
khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi
trường mạng”
1.1.3.2 Đặc điểm
Thứ nhất, DVCTT tăng cường kênh giao tiếp, là môi trường giúp người
sử dụng truy cập đến các hệ thống thông tin CPĐT
Thứ hai, DVCTT được hiểu là áp dụng phương thức xử lý tự động hóa
vào trong việc cung cấp dịch vụ (thông qua các phương tiện hiện đại)
- Giảm số lần giao dịch “trực tiếp” với công chức (giảm thời gian gửi/nhận
hồ sơ, giảm thời gian đi lại cho người sử dụng các DVHCC dưới hình thức trực tuyến) dẫn đến tăng tính minh bạch của các cơ quan cung cấp dịch vụ
Đối với DVCTT mức độ 3 và 4 thì các dịch vụ này cho phép tương tác
hai chiều trực tuyến với công dân (mọi thủ tục như: nộp - tiếp nhận - xử lý -
bổ sung - trả kết quả hồ sơ - thanh toán) đều thông qua hình thức trực tuyến Mọi giao dịch đều sẽ thông qua hệ thống tự động, đảm bảo tính minh bạch và tính vô nhân xưng trong hoạt động cung cấp dịch vụ
Vì vậy, triển khai các DVCTT ở mức độ 3 và 4 nghĩa là công dân, doanh nghiệp có thể giao tiếp với chính quyền qua các giao dịch trong quá trình xử lý hồ
sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện tự động Khi đó công dân, tổ chức không cần quan tâm đến địa chỉ trụ sở của cơ quan cung cấp dịch vụ ở đâu, công chức nào
là người quản lý, và có thể công dân sẽ nhận kết quả tại nơi mình lựa chọn (và thanh toán lệ phí tại nhà được chấp nhận), chứ không nhất thiết phải đến CQNN
Trang 91.1.4 Hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở cơ quan hành chính Nhà nước
Dịch vụ hành chính công gắn với chức năng phục vụ và quản lý của Nhà nước, do các CQHCNN thực hiện để phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân Trong những năm qua, Nhà nước ta đã chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượng cung ứng dịch vụ hành chính công, coi
đó là một khâu quan trọng trong việc thực hiện chương trình cải cách nền hành chính cả về thể chế, thủ tục, tổ chức bộ máy và đội ngũ CBCC Nhà nước đã bắt đầu áp dụng các phương tiện kỹ thuật điện tử, tin học để nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công, như việc cung cấp thông tin về thể chế,
tổ chức, đấu thầu các dự án chi tiêu công, đăng ký cấp phép kinh doanh, cấp phép đầu tư, hỏi đáp pháp luật hay đăng ký xe máy…Nhìn chung việc cung ứng DVCTT có một số tiến bộ, nhưng không đều Người dân và doanh nghiệp được tạo thuận lợi và dễ dàng hơn trong một số việc cần giải quyết với CQNN, như đăng ký kinh doanh, làm thủ tục hộ tịch, tìm hiểu luật pháp….song còn gặp nhiều rắc rối, phiền hà trong nhiều lĩnh vực khác, như cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà, đất, cho thuê dất, cấp phép xây dựng nhà, công chứng, hộ khẩu….Người dân và doanh nghiệp vẫn tiếp tục là “nạn nhân” của tình trạng phiền nhiễu, bất hợp lý, chậm trễ, thiếu hiệu quả trong tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính các cấp
1.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng hưởng đến hoạt động cung cấp dịch vụ công trực tuyến
Để hoạt động cung ứng DVCTT được hiệu quả, CQNN cần quan tâm đến những yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến việc triển khai việc cung ứng
dịch vụ trên môi trường mạng như sau:
1.1.5.1 Khung pháp lý
1.1.5.2 Đối tượng sử dụng
1.1.5.3 Cơ sở hạ tầng thông tin
1.1.5.4 Tổ chức triển khai
1.1.6 Các tiêu chí đánh giá việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến
Để nâng cao hiệu quả của DVCTT, việc đánh giá chất lượng của dịch vụ là việc cần làm để các cơ quan cung cấp dịch vụ nhận thức được các yêu cầu cơ bản cần có khi xây dựng và cung cấp dịch vụ cho người sử dụng Luận văn nghiên cứu về một số tiêu chí đánh giá DVCTT để từ đó đề xuất các yêu cầu, tiêu chí đánh giá chất lượng DVCTT của CQNN nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả của dịch vụ
1.1.6.1 Tiếp cận đánh giá chất lượng DVCTT như một phần mềm
Từ góc độ nhà phát triển, đối với DVCTT mức độ 3, mức độ 4 được xem như một ứng dụng (một phần mềm) Khi đó, theo tiêu chuẩn ISO/IEC TR
9126, chất lượng của DVCTT được đánh giá theo 06 tiêu chí là: (1) Chức năng; (2) Tính tin cậy; (3) Tính khả dụng; (4) Tính hiệu quả; (5) Khả năng bảo trì; (6) Tính khả chuyển
Trang 101.1.6.2 Tiếp cận đánh giá chất lượng DVCTT từ góc độ người sử dụng
Từ góc độ của người sử dụng, chất lượng của DVCTT tập trung vào chất lượng của cổng cung cấp dịch vụ và sự hài lòng đối với dịch vụ Sự hài lòng của người sử dụng đối với DVCTT được tác động từ sự nhận thức của người sử dụng về chất lượng dịch vụ và kỳ vọng của họ cho các dịch vụ này Theo nghiên cứu “Các tiếp cận và mô hình đánh giá chất lượng của DVCTT”, chất lượng của DVCTT được đánh giá dựa trên sáu tiêu chí chính bao gồm: (1) Dễ dùng; (2) Độ đảm bảo chắc chắn (Tính bảo mật, an toàn); (3) Tin cậy; (4) Sự hỗ trợ người dân; (5) Nội dung và sự xuất hiện thông tin; (6) Chức năng môi trường tương tác
1.2 Các thành phần của dịch vụ công trực tuyến
1.2.1 Mục tiêu cung cấp dịch vụ công trực tuyến
Thứ nhất, Giảm thời gian gửi/nhận hồ sơ, giảm thời gian đi lại cho người
sử dụng
Thứ hai, Tăng tính minh bạch của các cơ quan cung cấp dịch vụ
Thứ ba, Tăng khả năng giám sát của công dân và các cơ quan cấp trên Thứ tư, Tạo cơ hội cho việc cải cách hành chính
Thứ năm, Hiệu quả kinh tế cho cả người sủ dụng dịch vụ và cơ quan
cung cấp dịch vụ
1.2.2 Mô hình tổng thể Khung kiến trúc Chính phủ điện tử cấp Bộ
Căn cứ văn bản số 1178/BTTTT-THH ngày 21/4/2015 của Bộ Thông tin
và Truyền thông về việc Ban hành khung Kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam
phiên bản 1.0 Xét trên quy mô cấp Bộ Mô hình Khung Kiến trúc CPĐT cấp Bộ
bao gồm 9 chức năng , chức năng cung cấp DVCTT là một nội dung chính và là một thành phần quan trọng của triển khai “Chính phủ điện tử” Vì vậy, vai trò của CPĐT đối với sự phát triển trong hoạt động cung cấp DVCTT của CQNN là mối liên hệ tương hỗ qua lại Định hướng phát triển CPĐT cũng là nhân tố thúc đẩy hoạt động cung cấp DVCTT
1.2.3 Quy trình của hệ thống dịch vụ công trực tuyến
- Người dân, doanh nghiệp tương tác với hệ thống DVCTT thể tìm kiếm lựa chọn loại DVCTT đang cần
- Sau đó người dân, doanh nghiệp nhập vào các thông tin liên hệ của người cần liên hệ Các thông tin này được dùng để liên hệ với người dân, doanh nghiệp và cũng như tiêu chí được xác định để tra cứu tình trạng hồ sơ
mà người dân đã nộp
- Sau đó người dân tiến hành soạn hồ sơ, bao gồm các công việc như:
soạn hồ sơ, đính kèm các giấy tờ liên quan đi cùng (dưới dạng file word, pdf, ) Việc soạn hồ sơ theo mẫu x-Form đã được định nghĩa sẵn
- Khi hồ sơ soạn xong, hệ thống DVCTT sẽ hiển thị thông tin cho doanh nghiệp xem được thông tin hồ sơ đã đăng ký và cho phép in hồ sơ đăng ký
- Sau khi hồ sơ đăng ký đã được đẩy về phần mềm một cửa điện tử của các đơn vị, hệ thống DVC sẽ ra thông báo thanh toán đến doanh nghiệp và doanh nghiệp khi nhận được thông báo đó sẽ tiến hành thanh toán trực tuyến
Trang 11- Vì đây là qui trình khi người dân chọn theo hình thức dịch vụ là DVC mức độ 3 và 4 Nên những hồ sơ mà doanh nghiệp đã nộp trên hệ thống DVC
sẽ được chuyển đến đơn vị liên quan
- Người dân, doanh nghiệp sau đó sẽ ký đơn và chuẩn bị các loại giấy tờ yêu cầu cần thiết mà trong lúc đăng ký hồ sơ trên hệ thống DVC theo thông tin hướng dẫn
- Hồ sơ đã nộp, nếu có thiếu sót giấy tờ gì trong quá trình xử lý tại phần mềm một cửa điện tử các đơn vị thì bộ phận một cửa tại các đơn vị thụ lý hồ sơ
sẽ liên hệ với người dân, doanh nghiệp để yêu cầu nộp bổ sung
- Người dân, doanh nghiệp cung cấp những giấy tờ bổ sung có thể qua 2
hình thức là đường điện tử (thông qua hệ thống DVCTT) và đường công văn
- Sau khi đã có những giấy tờ cần bổ sung, bộ phận một cửa sẽ chuyển tới các đơn vị tiếp tục xử lý hồ sơ
- Khi có kết quả hồ sơ, bộ phận một cửa của các đơn vị giao trả kết quả
về cho người dân, doanh nghiệp
- Trong quá trình thụ lý hồ sơ, các phần mềm xử lý nghiệp vụ của các đơn vị sẽ cập nhật các trạng thái hồ sơ về cho hệ thống DVCTT Thông tin được biết bao gồm:
hồ sơ đang nằm ở đâu, ai đang tham gia xử lý và ngày hẹn trả,…
- Người dân, doanh nghiệp cũng có thể truy cập vào hệ thống DVCTT để
xem thông tin và trạng thái hồ sơ đăng ký (dựa vào các thông tin đã đăng ký liên hệ trước đó, cũng như mã số hồ sơ)
1.2.4 Đối tượng sử dụng dịch vụ công trực tuyến
a) Công dân, doanh nghiệp
b) Bộ phận một cửa
c) Bộ phận chuyên môn
d) Lãnh đạo
1.3 Kinh nghiệm cung cấp dịch vụ công trực tuyến
1.3.1 Kinh nghiệm ở một số nước tiên tiến trên thế giới
Thứ nhất, Mô hình của Hồng Kông
1.3.2 Kinh nghiệm ở một số Bộ, Ngành tại Việt Nam
Mô hình cung cấp DVCTT ở các Bộ, Ngành ở nước ta hiện nay về mặt kiến trúc tuân thủ Khung kiến trúc Chính phủ điển tử cấp Bộ, một trong những thành phần quan trọng là Hệ thống cung cấp DVCTT, hạt nhân của hệ thống DVCTT là một hệ thống phần mềm lõi Phần mềm này đóng vai trò là trung tâm kết nối với các hệ thống bên ngoài gồm Cổng DVCTT quốc gia, Cổng Hải quan một cửa quốc gia (NSW), với Cổng DVCTT của Bộ, Ngành và phần mềm một cửa điện tử, các DVCTT của các đơn vị trực thuộc Hệ thống thành phần tại các đơn vị trực thuộc được phân tách thành các mô đun một cửa điện
Trang 12Mô hình kiến trúc này đảm bảo tính linh hoạt dễ dàng mở rộng hệ thống với nhiều cơ quan kết nối vào Hệ thống DVCTT và có thể mở rộng thêm số lượng DVCTT bằng cách thêm các mô đun xử lý nghiệp vụ Toàn bộ hệ thống thành phần lõi, Cổng DVCTT của Bộ, Ngành, một cửa điện tử trong hệ thống DVCTT sẽ không phải đầu tư lại khi thực hiện mở rộng số lượng DVCTT cũng như số lượng cơ quan thực hiện thủ tục
Triển khai thực hiện Nghi quyết 36a/NQ-CP của Chính phủ về Chính phủ điện tử bên cạnh Cổng thông tin hải quan một cửa quốc gia hiện nay đã có
6 Bộ, Ngành triển khai xây dựng Cổng dịch vụ công trực tuyến tập trung gồm:
Bộ Công thương, Bộ Tài chính, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài nguyên và Môi trương, Bộ Văn hóa thể thao và Du lịch (Bộ Nông nghiệp và PTNT đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Cổng dịch vụ công trực tuyến và dự kiến sẽ khai trương trong quý I/2017) Tình hình triển khai tại một số Bộ, cơ quan ngang Bộ tiêu biểu như:
Thứ nhất, Bộ Tài Chính
Thứ hai, Bộ Công thương
1.3.3 Bài học kinh nghiệm
Một là, Các cấp lãnh đạo, nhất là người đứng đầu, cùng toàn thể đội ngũ
CBCCVC phải có quyết tâm chính trị và tạo được sự đồng thuận cao Việc chuyển đổi mô hình xử lý, giải quyết công việc từ lề lối làm việc cũ sang quy chuẩn làm việc mới như cấp dịch vụ DVCTT vẫn là điều khá mới mẻ, do đó đòi hỏi quyết tâm cao của lãnh đạo, sự ủng hộ của các Bộ, Ngành liên quan và của Chính phủ
Hai là, Phải tuyên truyền sâu rộng, nâng cao nhận thức đến toàn thể cán
bộ, công chức, người dân, tổ chức và doanh nghiệp về những lợi ích mang lại
Sự vào cuộc, tham gia của các cấp, ngành, đơn vị liên quan phải thực sự chủ động, tích cực và đồng thuận
Ba là, Đào tạo và phát triển nhân lực CNTT cả về quản lý, triển khai, ứng
dụng là khâu quan trọng đảm bảo sự thành công của việc cung cấp DVCTT tới người dân, tổ chức và doanh nghiệp Đội ngũ làm việc phải chuyên nghiệp, khoa học, năng lực quản lý tốt, chuyên môn nghiệp vụ phải vững vàng, có kinh
nghiệm trong quản lý nhà nước để đảm bảo nguyên tắc “Tiếp nhận, thẩm định
và phê duyệt” tại các đơn vị quản lý nhà nước thuộc Bộ tạo sự chính xác, công
khai, minh bạch và niềm tin cho người dân và doanh nghiệp
Bốn là, Tập trung đầu tư cơ sở hạ tầng CNTT đồng bộ bao gồm việc đầu
tư phần cứng (Trung tâm tích hợp dữ liệu, trụ sở, thiết bị, đường truyền,…) và phần mềm (Các phần mềm dịch vụ công, hệ thống cơ sở dữ liệu,…)
Năm là, Thường xuyên kiểm tra, đôn đốc trong công tác chuẩn bị, công
tác tổ chức phối hợp, kịp thời uốn nắn, điều chỉnh những nội dung chưa phù hợp trong công tác đầu tư, trong việc thiết lập hệ thống, quy trình trao đổi, xử
lý công việc và cả trong ý thức, thái độ của CBCC
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN
Ở BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
2.1 Hoạt động quản lý nhà nước của Bộ Nông nghiệp và PTNT
2.1.1 Tổng quan về ngành Nông nghiệp và PTNT
Từ ngày 03/10 - 28/10/1995, tại kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khoá IX thông qua Nghị quyết về việc thành lập Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông
thôn trên cơ sở hợp nhất 3 Bộ: Bộ Lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Công
nghiệp thực phẩm và Bộ Thuỷ lợi; Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khoá XII (tháng 8/2007) đã quyết định hợp nhất Bộ Thuỷ sản vào Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Ngày 26/11/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 199/2013/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nghị định quy định “Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thủy sản, thủy lợi và phát triển nông thôn trong phạm vi cả nước; quản lý Nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ
Nhiệm vụ chính trị của Bộ Nông nghiệp và PTNT được đặt ra không chỉ là nhiệm vụ của các ngành trước đây về sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, diêm nghiệp, thuỷ lợi, thuỷ sản một cách riêng rẽ mà còn là sự đòi hỏi cao hơn về việc phát triển ngành nông nghiệp và nông thôn một cách bền vững, bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên đất - nước - rừng - thuỷ sản, gắn chặt hơn nữa sự phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản và thuỷ lợi với việc phát triển nông thôn với đối tượng phục vụ chủ yếu hơn 60 triệu dân sống ở nông thôn, chiếm gần 78% dân số cả nước và đảm bảo an ninh lương thực cho hơn 90 triệu dân Trong 5 năm trở lại đây (từ 2010-2015) giá trị xuất khẩu các loại nông lâm, thuỷ sản tăng bình quân 10,8%/năm, riêng năm 2015 đạt 30.42 tỷ USD, chiếm 23% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước Một số sản phẩm có thị phần lớn và vị thế cao trên thị trường thế giới, gồm: gạo, cao su, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, sản phầm đồ gỗ, thuỷ sản
2.1.2 Bộ máy và cơ cấu tổ chức của của Bộ Nông nghiệp và PTNT
Căn cứ Nghị định số 199/2013/NĐ-CP ngày 26/11/2013 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Điều 3 của Nghị định quy định về cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và PTNT
2.2 Thực trạng cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở Bộ Nông nghiệp và PTNT
2.2.1 Tình hình ứng dụng CNTT
2.2.1.1 Cơ sở hạ tầng kỹ thuật CNTT
100% các đơn vị thuộc Bộ đã có mạng LAN, đường truyền internet riêng
Về kết nối mạng diện rộng (WAN), Bộ Nông nghiệp và PTNT đã thực hiện kết nối các mạng LAN tại trụ sở chính với các mạng LAN tại trụ sở số 10 Nguyễn Công Hoan qua đường truyền kết CPNET 10 Mbps
Hệ thống máy chủ tại Bộ có 30 máy, trong đó 50% đã triển khai giải pháp máy chủ ảo hóa trên nền tảng Vmware