Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đấu tranh ngoại giao là một trong 3 mặt trân đấu tranh của nhân dân ta, bên cạnh đấu tranh quân sự và chính trị, trong đó “đấu tranh quân sự và chính trị là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao”.
Trang 1HỘI NGHỊ PARI VÀ HIỆP ĐỊNH PARI VỀ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH, LẬP LẠI HOÀN BÌNH Ở VIỆT NAM.
1 Hoàn cảnh lịch sử
Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, đấu tranh ngoại giao là một trong 3 mặt trân đấu tranh của nhân dân ta, bên cạnh đấu tranh quân
sự và chính trị, trong đó “đấu tranh quân sự và chính trị là nhân tố chủ yếu quyết định thắng lợi trên chiến trường, làm cơ sở cho thắng lợi trên mặt trận ngoại giao”.
Đặc điểm của đấu tranh ngoại giao trong chống Mĩ là “chúng ta chỉ giành được trên bàn hội nghị cái mà chúng ta đã giành được trên chiến trường”
Năm 65, cùng với “chiến tranh cục bộ” ở miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc lần 1, chính quyền Gionxơn còn nói đến “hòa bình”,
“thương lượng”… nhưng đó chỉ là thủ đoạn chính trị nhằm phối hợp với
hoạt động quân sự của chúng
Đầu 67, sau thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong hai mùa khô 65-66, 66-67, ta chủ trương mở thêm mặt trận tiến công ngoại giao nhằm tố cáo tôi ác của Mĩ, vạch trần luận điệu hòa bình, bịt bợ của chúng, nêu cao tính chính nghĩa của ta, tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế
Mục tiêu đấu tranh ngoại giao trước mắt là đòi Mĩ chấm dứt không điều kiện cuộc ném bom bắn phá miền Bắc và mọi hoạt động khác chống nước VNDCCH
Sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy xuân Mậu Thân 68, Giônxơn tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc từ vĩ tuyến 20 trở ra và bắt đầu nói đến dàm phán với Việt Nam ngày 31-3-68
Ngày 13-5-68, cuộc đàm phán chính thức 2 bên giữa đại diện VNDCCH- Bộ trưởng Xuân Thủy và đại diện chính phủ Hoa Kì- Hariman
ở Pari họp phiên đầu tiên Tuy chưa giải quyết được vấn đề cơ bản, nhưng
đã mở đầu cho thời kì tiến công trực diện về ngoại giao trên bàn hội nghị
Trang 2Ngày 1-11-68, Giônxơn tuyên bố ngừng ném bom bắn phá trên toàn miền Bắc, và đi đến hội nghị 4 bên; VNDCCH, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (tức chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam), Hoa Kì và Việt Nam Cộng Hòa (chính quyền Sài Gòn)
Sau hội nghị trù bị 18-1-69 Ngày 25-1-69, Hội nghị 4 bên chính thức họp phiên đầu tiên tại Pari Lập trường 4 bên (thực chất là 2 bên) mâu thuẫn gay gắt, nhất là trên 2 vấn đề: ta đòi Mĩ rút quân khỏi miền Nam và tôn trọng các quyền dân tộc cơ bản, quyền tự quyết của nhân dân miền
Nam; Mĩ lại nêu quan điểm “có đi, có lại” đòi 2 bên cùng rút quân, như
vậy chúng đã đặt ngang hàng kẻ đi xâm lược và người chống xâm lược
Do thất bại trên mặt trận quân sự và để giành thắng lợi trong cuộc tranh cử Tổng thống vào 11-72, Nich xơn dùng thủ đoạn lùi bước trong thương lượng với ta và xuống thang chiến tranh phá hoại miền Bắc
Đầu 10-72, phái đoàn Mĩ tới Pari để nối lại cuộc đàm phán đã bị gián đoạn từ 3-72
Trong cuộc tiếp xúc riêng với đại diện Mĩ 8-10-72 tại Pari, ta đưa ra
dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam”
và đề nghị thảo luận để đi đến kí kết
Ngày 17-10-72, văn bản Hiệp định được hoàn tất và hai bên thỏa thuận kí chính thức vào ngày 31-10-72 Để đi đến kí chính thức, 22-10-72, Nich xơn tuyên bố ngừng mọi hoạt động chống phá miền Bắc từ vĩ tuyến
20 trở ra
Nhưng sau khi đã trúng cử lại Tổng thống (8-11-72), tập đoàn Nich xơn trở mặt, đòi xét lại văn bản Hiệp định đã được thỏa thuận đòi ta nhân nhượng (thay đổi 1 số điều khoản không có lợi cho chúng, trong đó có vấn
đề quân miền Bắc rút khỏi miền Nam; trì hoãn việc kí hiệp định để có thời gian chở vũ khí, đạn dược, phương tiện chiến tranh cho quân ngụy)
Để ép ta nhân nhượng, kí một Hiệp định do Mĩ đưa ra, Nich xơn âm mưu giành một thắng lợi quyết định về quân sự, cuộc tập kích bằng máy bay chiến lược B.52 vào Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối 72
Trang 3của Mĩ trên chiến trường đã quyết định thất bại của chúng trên bàn thương lượng
Sau khi buộc phải chấm dứt hoàn toàn các cuộc ném bom bắn phá và mọi hoạt động chiến tranh xâm lược miền Bắc, Mĩ cử đại diện đến Pari để nối lại bàn đàm phán Đứng trên tư thế người chiến thắng, phái đoàn ta tại cuộc đàm phán kiên trì đấu tranh giữ vững nội dung cơ bản của dự thảo Hiệp định đã được thỏa thuận ngày 22-10-72 Qua nhiều cuộc trao đổi, đến ngày 13-1-73, bản dự thỏa Hiệp định về cơ bản được thỏa thuận
Hiệp định Pari về chám dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam được kí tắt 23-1-73, giữa hai chính phủ VNDCCH àvà Hoa Kì Ngày 27-1-73 thì được kí chính thức giữa bốn bộ trưởng đại diện các chính phủ tham dự Hội nghị, tại trung tâm các hội nghị quốc tế ở Pari Hiệp định bắt đầu có hiệu lực từ 7h sáng ngày 28-1-73
2 Diễn biến hội nghị
Hội nghị kéo dài 5 năm với 202 phiên họp công khai, 24 cuộc tiếp xúc riêng và phải trải qua hai giai đoạn:
* Giai đoạn 1: Từ tháng 5-68 đến hết 68
Thành phần của Hội nghị là hai bên; đó là đoàn đại biểu của Việt Nam DCCH và đoàn đại biểu Hoa Kì
Nội dung Hội nghị: Lập trường chính của chính phủ ta là Mĩ phải chấm dứt hoàn toàn không điều kiện việc ném bom bắn phá miền Bắc Có như vậy chúng ta mới bàn về vấn đề chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình
ở Việt Nam
Mĩ yêu cầu quân đội miền Bắc rút khỏi miền Nam
Kết quả: Qua hơn nửa năm đấu tranh quyết liệt ta đã buộc Mĩ phải ngừng ném bom bắn phá miền Bắc
* Giai đoạn 2: Từ 1-69 đến 1-73.
Thành phần 4 bên;
Đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trang 4Đoàn đại biểu của Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (đến 6-6-69 thay thế bằng đoàn đại biểu của Chính phủ Lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam)
Đoàn đại biểu Hoa Kì
Đoàn đại biểu Việt Nam Cộng (Sài Gòn)
Nội dung của Hội nghị:
Ta đòi Mĩ rút quân khỏi miền Nam, phải cho nhân dân miền Nam tự quyết định lấy tương lai chính trị của họ
Mĩ đòi hai bên cùng rút quân
Để làm hậu thuẫn cho Hội nghị, quân và dân cả nước đã đẩy mạnh đấu tranh đánh địch trên tất các chiến trường
Qua 4 năm đấu tranh với địch ở trong và ngoài hội nghị, ta đã buộc Mĩ- Ngụy phải kí vào các văn bản của hội nghị vào ngày 27-1-73
3 Nội dung của Hiệp định
- Hoa Kì và các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam
- Hoa Kì rút hết quân viễn chinh và quân các nước thân Mĩ, phá hết các căn cứ quân sự Mĩ, cam kết không tiếp tục dính lứu quân sự hoặc can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam
- Các bên để cho nhân dân miền Nam tự quyết định tương lai chính trị của họ thông qua cuộc tổng tuyển cử tự do
- Các bên công nhận thực tế miền Nam có hai chính quyền, hai quân đội, hai vùng kiểm soát và ba lực lượng chính trị
- Mĩ phải có trách nhiệm tham gia đóng góp vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh ở hai miền Nam- Bắc Việt Nam và trên toàn Đông Dương
Trang 5- Mĩ có trách nhiệm vớt hết bom, mìn, thủy lôi do Mĩ thả xuống phong tỏa các cửa sông, cửa biển ở miền Bắc Việt Nam
- Các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả cho nhau tù binh và dân thường
bị bắt
Ngày 2-3-73, Hội nghị quốc tế về Việt Nam được triệu tập tại Pari, gồm đại biểu của các nước; Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, bốn bên tham gia kí Hiệp định và bốn nước trong Ủy ban giám sát và kiểm soát quốc tế (Ba Lan, Canađa, Hung ga ri, Inđônêxia), với sự có mặt của Tổng thư kí Liên Hợp quốc Tất cả các nước tham dự Hội nghị đã kí vào bản Định ước ghi nhận và bảo đảm Hiệp định Pari về Việt Nam được thi hành nghiêm chỉnh
4 Ý nghĩa Hiệp định
Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình ở Việt Nam
là một văn bản mang tính pháp lí quốc tế, là thắng lợi của sự kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao
Mở ra một bước ngoặt mới của cách mạng Việt Nam: đối với miền Bắc tạo điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội; đối với miền Nam là cơ sở chính trị, pháp lí để nhân dân tiến lên hoàn
thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Thời kì “đánh cho Mĩ cút” đã kết thúc, tạo cơ sở tiếp tục thời kì “đánh cho ngụy nhào” hoàn
thành công cuộc giải phóng miền Nam thống nhất đất nước
KHÔI PHỤC VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở MIỀN BẮC, GIẢI PHÓNG HOÀN TOÀN MIỀN NAM 73-75.
1 Miền Bắc khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội, ra sức chi viện cho miền Nam
Sau hiệp định Pari về Việt Nam 27-1-73, miền Bắc đứng trước khó khăn lớn là cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân của giặc Mĩ, nhất là cuộc tập kích chiến lược bằng máy bay B.52 liên tục trong
12 ngày đêm cuối 72 đã “phá hủy hầu hết những cái mà nhân dân đã tốn biết bao công sức để xây dựng nên, làm cho quá trình tiến lên sản xuất lớn
Trang 6bị chậm lại đến vài ba kế hoạch 5 năm và làm đảo lộn đến nề nếp quản lí kinh tế”.
Tình hình đó đặt ra cho miền Bắc nhiệm vụ vừa tranh thủ điều kiện hòa bình để hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh
tế, đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống nhân dân, vừa phải đề cao cảnh giác, sẵn sàng đối phó với âm mưu và thủ đoạn của địch Miền Bắc còn thực hiện nhiệm vụ hậu phương lớn, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến miền Nam và nghĩa vụ quốc tế với Lào và Campuchia
* Trong khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế- xã hội
Trên khắp miền Bắc, công nhân, nông dân, trí thức… hăng hái lao động và công tác nhanh chóng khắc phục hậu quả chiến tranh, phát triển kinh tế- xã hội:
Đến cuối 6-73, miền Bắc căn bản hoàn thành việc tháo gỡ thủy lôi, bom mìn do Mĩ thả trên sông, trên biển đảm bảo đi lại bình thường
Sau hai năm (73-74), về cơ bản miền Bắc khôi phục xong các cơ
sở kinh tế, các hệ thống thủy nông, mạng lưới giao thông, các công trình văn hóa, giáo dục y tế Kinh tế có bứơc phát triển
Cuối 74, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp trên một số mặt đã đạt và vượt mức chỉ tiêu năm 65 và 71, là hai năm phát triển kinh
tế cao nhất trong 20 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Tổng sản phẩm xã hội 73 cao hơn 65, năm 74 cao hơn 73 là 12,4
% Sản lượng lúa 73 đạt 5 triệu tấn Năm 74, mặc dù có một số khó khăn về thiên tai, miền Bắc vẫn đạt 4,8 triệu tấn Gía trị tổng sản lượng công nghiệp, thủ công nghiệp năm 74 tăng 15 % so với 73
* Trong thực hiện nghĩa vụ hậu phương
- Trong 73-74, miền Bắc đã đưa vào các chiến trường miền Nam, Lào, Capuchia gần 20 vạn bộ đội, hàng vạn thanh niên xung phong, cán bộ chuyên môn, kĩ thuật…Đột xuất trong 2 tháng đầu 75, miền Bắc gấp rút
Trang 7đưa vào miền Nam 57.000 bộ đội (trong tổng số 108.000 bộ đội của kế hoạch động viên 75)
- Về vật chất kĩ thuật, miền Bắc đã đáp ứng đầy đủ và kịp thời:
Từ đầu mùa khô 73-74 đến đầu mùa khô 74-75, miền Bắc đã đưa vào chiến trường hơn 26 vạn tấn vũ khí, đạn dược, thuốc men, quân trang, quân dụng, lương thực, thực phẩm Trong đó có 4,6 vạn tấn vũ khí, đạn dược; 12,4 vạn tấn gạo; 3,2 vạn tấn xăng dầu
Chi viện cho miền Nam thời kì này, ngoài việc yêu cầu phục vụ nhiệm vụ chiến đấu tiến tới Tổng khởi nghĩa và nổi dậy xuân 75, còn phải phục vụ nhiệm vụ xây dựng vùng giải phóng (trên các mặt quốc phòng, kinh tế, giao thông vận tải, văn hóa, giáo dục, y tế) và chuẩn bị cho nhiệm
vụ tiếp quản vùng giải phóng sau khi chiến tranh kết thúc
2 Miền Nam đấu tranh chống địch “bình định – lấn chiếm”, tạo thế và lực tiến tới giải phóng hoàn toàn
a Âm mưu, hành động của Mĩ và chính quyền Sài Gòn sau Hiệp định Pari
Với hiệp định Pari về Việt Nam ta đã “đánh cho Mĩ cút” mà vẫn chưa “đánh cho ngụy nhào” Ngày 29-3-73, toán lính Mĩ cuối cùng rời
khỏi nước ta Nhưng do ngụy chưa nhào, Mĩ còn duy trì được chính quyền tay sai ở miền Nam nên chúng vẫn giữ lại hơn 20 vạn cố vấn quân sự, lập
bộ chỉ huy quân sự, tiếp tục viện trợ quân sự, kinh tế cho chính quyền Sài Gòn
Điều gì xảy ra ngày 29-3-73?
Đó là ngày Bộ chỉ huy quân viễn chinh Mĩ tổ chức lễ cuốn cờ, sau
dó Uâyen – Tổng tư lệnh quân đội Mĩ ở Nam Việt Nam, đến nhập với 2501
tên lính Mĩ cuối cùng lặng lẽ rời sân bay Tân Sơn Nhất, dưới sự kiểm soát của các sĩ quan QĐND Việt Nam trong Ban liên hiệp quân sự bốn bên Chấm dứt sự có mặt của quân đội xâm lược trên đất nước ta sau 115 năm,
kể từ 1858.
Được cố vấn Mĩ chỉ huy và nhận viện trợ của Mĩ (tuy không bằng trước), chính quyền Sài Gòn ngang nhiên xóa hoại Hiệp định Chúng huy
Trang 8động hầu như toàn bộ lực lượng tiến hành chiến dịch “tràn ngập lãnh thổ”,
liên tiếp mở những cuộc hành quân “bình định-lấn chiếm” vùng giải phóng Đây thực chất là hành động tiếp tục chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của Nich xơn, chống lại các lực lượng cách mạng và nhân
dân miền Nam
Về phía ta, việc kí Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam và việc quân đội xâm lược Mĩ rút khỏi nước ta, đã tạo nên sự thay đổi căn bản trong so sánh lực lượng giữa cách mạng và phản cách mạng, có lợi cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta ở miền Nam chống âm mưu và hành động mới của Mĩ và chính quyền Sài Gòn
b Đấu tranh của nhân dân miền Nam
So sánh tương quan lực lượng của ta và địch sau 1973 => thời cơ giải phóng miền Nam xuất hiện?
Thời cơ xuất hiện khi giai cấp thống trị không thể thống trị như cũ được nữa và giai cấp bị trị không thể sống như vậy nữa
Thời cơ xuất hiện sau Hiệp định Pari, so sánh tương quan lực lượng
có lợi cho ta:
- Quân đội Mĩ rút khỏi miền Nam nhưng quân đội miền Bắc vẫn tiếp tục ở miền Nam
- Quân Ngụy bị cô lập, ngược lại quân đội miền Nam được sự chi viện của miền Bắc, tại chỗ và quốc tế
- Vùng giải phóng của ta ngày càng được mở rộng, vùng chiếm đóng của địch ngày càng bị thu hẹp
=> Tương quan lực lượng đã có sự thay đổi theo chiều hướng có lợi cho ta, thời cơ giải phóng hoàn toàn miền Nam đã xuất hiện
* Trong những năm đầu sau Hiệp định Pari đến trước khi có Nghị quyết 21 của TW Đảng
Trang 9Trong cuộc đấu tranh chống “bình định- lấn chiếm”, chống âm mưu
“tràn ngập lãnh thổ” của chúng vào những ngày tháng đầu sau Hiệp định,
quân dân ta đã đạt một số thắng lợi nhất định Nhưng do không đánh giá hết âm mưu phá hoại Hiệp định của địch, do quá nhấn mạnh đến hòa bình, hòa hợp dân tộc… nên trên một số địa bàn quan trọng, chúng ta bị mất đất, mất dân
* Từ khi có nghị quyết 21 của TW Đảng (7-73)
Nắm bắt tình hình trên, 7-73, Hội nghị BCHTW lần 21 của Đảng họp Trên cơ sở nhận định kẻ thù vẫn là đế quốc Mĩ và tập đoàn Nguyễn VănThiệu - kẻ đang phá hoại hòa bình, ngăn cản nhân dân ta đi tới độc lập,
tự do, thống nhất tổ quốc Hội nghị nêu rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng
Việt Nam trong giai đoạn hiện tại là: “tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân” và nhấn mạnh “trong bất cứ tình hình nào cũng phải tiếp tục con đường cách mạng bạo lực, phải nắm vững chiến lược tiến công, kiên quyết đấu tranh trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị, ngoại giao”.
Quán triệt chủ trương của Đảng, 8-10-73, Chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam ra tuyên bố vạch rõ:
Chính phủ Hoa Kì chấm dứt hoàn toàn và triệt để mọi dính lứu quân
sự và can thiệp vào công việc nội bộ của miền Nam Việt Nam, phải rút hết quân sự đội lốt dân sự ra khỏi miền Nam theo như Hiệp định Pari đã quy định
Đánh đổ Nguyễn Văn Thiệu và phe cánh- trở ngại chính của việc giải quyết các vấn đề chính trị ở miền Nam Việt Nam hiện nay Thành lập ở Sài Gòn một chính quyền tán thành hòa bình, hòa hợp dân tộc, nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Pari về Việt Nam
Cũng do nắm vững quam điểm cách mạng bạo lực và tư tưởng chiến lược tiến công Ngày 15-10-73, Bộ chỉ huy các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam đã ra lệnh cho quân và dân miền Nam kiên quyết đánh trả những hành động đánh chiếm của địch
ra chủ trương, kế hoạch
Trang 10- Chủ trương giải phóng hoàn toàn miền Nam được đề ra dựa trên
cơ sở nhận định đúng sự thay đổi trong so sánh lực lượng giữa ta và địch ngày càng có lợi cho ta.
- Đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam trong hai năm 75
và 76, nhưng cũng dự đoán khả năng giải phóng sớm hơn (trong 75) khi thời cơ đến nhanh bằng cuộc tổng tiến công và nổi dậy.
- Đảng cũng nêu sự cần thiết tranh thủ thời cơ đánh thắng nhanh để
đỡ thiệt hại về người và của, giữ gìn tốt cơ sở kinh tế, công trình văn hóa…giảm bớt sự tàn phá của chiến tranh.
Thực hiện Nghị quyết Hội nghị TW lần thứ 21 của Đảng, từ cuối 73, quân dân ta ở miền Nam vừa kiên quyết đánh trả những cuộc hành quân
“bình định- lấn chiếm” của địch, bảo vệ vùng giải phóng; vừa chủ động
mở những cuộc tiến công địch, mở rộng vùng giải phóng
Từ cuối 73, quân dân ta chẳng những đã bảo vệ được vùng giải phóng và căn cứ cách mạng, mà còn lấy lại nhiều vùng bị địch lấn chiếm
Cuối 74 đầu 75, ta mở đợt hoạt động quân sự ở đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ Quân dân ta đã giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch Đường 14- Phước Long (từ 12-12-74 đến 6-1-75), loại khỏi vòng chiến đấu 3000 địch, giải phóng đường 14, thị xã và toàn tỉnh Phước Long với 5 vạn dân (tỉnh đầu tiên ở miền Nam được giải phóng hoàn toàn)
Sau chiến thắng này của ta, chính quyền Sài Gòn phản ứng mạnh và đưa quân chiếm lại, nhưng đã thất bại Còn Mĩ chỉ phản ứng yếu ớt, chủ yếu dùng áp lực đe dọa từ xa (Sự thật thì như thông báo ngày 9-1-74 của
Sứ quán Mĩ gửi cho Thiệu; “Việc yểm trợ bằng máy bay của Mĩ lúc này chưa được phép”).
Thực tế thắng lợi của ta ở Phước Long, phản ứng của Mĩ và chính quyền Sài Gòn sau đó, cho thấy rõ về sự lớn mạnh và khả năng thắng lợi của quân ta, sự suy yếu và bất lực của quân đội Sài Gòn; về khả năng can thiệp trở lại bằng quân sự rất hạn chế của Mĩ