Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN TRUNG DŨNG
NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN
NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN TRUNG DŨNG
NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN
NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS VŨ THỊ LOAN
HÀ NỘI – 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là những nghiên cứu của cá nhân tôi Các kết quả đƣợc trình bày trong luận văn là trung thực và chƣa đƣợc công bố trong bất cứ công trình nào khác
Nội dung luận văn có sử dụng tài liệu tham khảo đều đƣợc trích dẫn nguồn một cách đầy đủ và chính xác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Trung Dũng
Trang 4đã quan tâm, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phan Trung Dũng
Trang 6MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP TỈNH 8
1.1 Lý luận chung về công chức, công vụ, công chức chuyên môn cấp tỉnh 8 1.1.1 Công chức - Quan niệm, đặc điểm và phân loại 8
1.1.2 Quan niệm và đặc điểm của công vụ 16
1.1.3 Công chức chuyên môn cấp tỉnh - Quan niệm, đặc điểm 18
1.2 Năng lực, các tiêu chí đánh giá năng lực 21
1.2.1 Khái niệm năng lực, năng lực thực thi công vụ 21
1.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh 24
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh 28
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 33
1.3.1 Yếu tố khách quan 33
1.3.2 Yếu tố chủ quan 36
1.4 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh 37
1.4.1 Đáp ứng yêu cầu công cuộc cải cách hành chính nhà nước nâng cao chất lượng công vụ 37
1.4.2 Đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng công chức, tinh giản biên chế 38 1.5 Kinh nghiệm của một số địa phương 39
1.5.1 Kinh nghiệm của Tỉnh Quảng Ninh 39
Trang 71.5.2 Kinh nghiệm của TP Đà Nẵng 41
Tiểu kết Chương 1 44
Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN 45
2.1 Khái quát về tỉnh Điện Biên và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên 45
2.1.1 Một số nét về tỉnh Điện Biên 45
2.1.2 Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên 50
2.2 Thực trạng năng lực đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên 51
2.2.1 Thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên 51
2.2.2 Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên 54
2.3 Đánh giá nhận xét 65
2.3.1 Ưu điểm và bài học kinh nghiệm 65
2.3.2 Hạn chế và nguyên nhân 67
Tiểu kết Chương 2 73
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN 74
3.1 Quan điểm, định hướng 74
3.2 Giải pháp 77
3.2.1 Giải pháp về nhận thức 77
3.2.2 Xây dựng đội ngũ công chức có chất lượng cao 77
3.2.3 Phát triển năng lực công chức 78
Trang 83.2.4 Tạo động lực làm việc cho công chức 89
3.2.5 Kiểm tra giám sát hoạt động thực thi công vụ của công chức 95
3.3 Đề xuất, kiến nghị 97
3.3.1 Đối với Trung ương 98
3.3.2 Đối với tỉnh Điện Biên 98
Tiểu kết Chương 3 101
KẾT LUẬN 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng biểu 2.1 Trình độ chuyên môn của công chức tại 10 cơ quan chuyên
môn thuộc UBND tỉnh (năm 2015) 55
Bảng 2.2 Trình độ lý luận chính trị của công chức tại 10 cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh (năm 2015) 56
Bảng 2.3 Trình độ kiến thức quản lý nhà nước của công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 57
Bảng 2.4 Trình độ ngoại ngữ của công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 58
Bảng 2.5 Trình độ tin học của công chức cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh 59
Bảng 2.6 Mức độ đáp ứng các kỹ năng cần thiết của công chức 61
Bảng 2.8 Mức độ đáp ứng các yêu cầu về thái độ, hành vi của công chức trong thực thi công vụ 62
Bảng 2.9 Bảng kết quả kết quả thực thi công vụ của công chức 64
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Trình độ chuyên môn 55
Biểu đồ 2.2: Trình độ lý luận chính trị 56
Biểu đồ 2.3: Trình độ quản lý nhà nước 58
Biểu đồ 2.4: Trình độ ngoại ngữ 59
Biểu đồ 2.5: Trình độ tin học 60
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Nền hành chính nhà nước được hình thành bởi các yếu tố: hệ thống thể chế để quản lý xã hội theo pháp luật, cơ cấu tổ chức và cơ chế vận hành của
bộ máy hành chính, nguồn lực vật chất, tài chính và đội ngũ cán bộ công chức hành chính Trong đó yếu tố đội ngũ cán bộ công chức – những người thực thi công vụ trong bộ máy hành chính công quyền đóng vai trò quan trọng nhất, là một bộ phận quan trọng không thể thiếu trong bất kỳ nền hành chính nhà nước nào Năng lực thực thi công vụ của công chức nói chung, các cơ quan của cấp tỉnh nói riêng có vai trò quyết định đến hiệu quả công vụ của cơ quan địa phương Đội ngũ công chức vừa có vai trò thực thi pháp luật, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, bảo đảm hiệu lực của đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, vừa là lực lượng đại diện cho quyền lợi của nhân dân Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 ban hành kèm theo Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 đã nhấn mạnh: “nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; chú trọng cải cách chính sách tiền lương nhằm tạo động lực thực sự để cán bộ, công chức, viên chức thực thi công vụ có chất lượng và hiệu quả cao” Đặc biệt trong hoàn cảnh nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, việc nâng cao năng lực thực thi công
vụ của công chức đóng vai trò quan trọng, có ý nghĩa quyết định; nhằm xây dựng một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” Vì vậy việc nâng cao chất lượng và năng lực của đội ngũ công chức hành chính là yếu tố
Trang 11quyết định nhằm xây dựng nền hành chính nhà nước hoạt động chất lượng, hiệu lực, hiệu quả
Điện Biên là tỉnh biên giới miền núi vùng Tây Bắc đất nước, là địa phương còn nhiều khó khăn nhưng cũng hội tụ những điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tỉnh Điện Biên có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội của cả vùng Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Điện Biên lần thứ XIII đã xác định mục tiêu phát triển tỉnh Điện Biên đến năm 2020 là: “TIẾP TỤC XÂY DỰNG ĐẢNG BỘ TRONG SẠCH VỮNG MẠNH; PHÁT HUY SỨC MẠNH ĐOÀN KẾT CÁC DÂN TỘC; ĐẨY MẠNH TOÀN DIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI; TẬP TRUNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI, ĐẢM BẢO QUỐC PHÒNG – AN NINH; PHẤN ĐẤU XÂY DỰNG ĐIỆN BIÊN THÀNH TỈNH PHÁT TRIỂN TRUNG BÌNH TRONG VÙNG TRUNG DU
VÀ MIỀN NÚI PHÍA BẮC”
Để đạt được mục tiêu trên, tỉnh Điện Biên đã và đang tập trung xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức của hệ thống chính trị nói chung, cơ quan hành chính nói riêng.Công chức cơ quan chuyên môn có vai trò quan trọng trong việc tham mưu giúp cơ quan hành chính cao nhất ở địa phương-UBND tỉnh triển khai thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội, các chính sách, biện pháp quản lý phù hợp với địa phương Tuy nhiên, đội ngũ công chức hành chính Nhà nước và nhất là công chức làm công tác ở các cơ quan chuyên môn tỉnh Điện Biên chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của tình hình phát triển mới, đặc biệt là yêu cầu xây dựng nền hành chính hiện đại, hội nhập quốc tế Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nước phải xây dựng đội ngũ công chức có năng lực chuyên môn và đạo đức công vụ, đặc biệt là nâng cao năng lực thực thi công vụ cho công chức
Trang 12Dưới góc độ tiếp cận năng lực bao gồm các yếu tố kiến thức, kỹ năng
và thái độ thì hiện nay đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Điện Biên cơ bản đang được chuẩn hóa về trình độ, kiến thức khi tuyển dụng, phù hợp với ngạch công chức và vị trí việc làm, nhưng về kỹ năng và thái độ của công chức hành chính nhất là đội ngũ công chức làm việc trong cơ quan chuyên môn ở Điện Biên chưa đáp ứng yêu cầu của nền hành chính hiện đại
Xuất phát từ thực tế trên và để góp phần nâng cao năng lực đội ngũ công chức nói chung và công chức chuyên môn tại các cơ quan chuyên môn nói riêng thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước trong tình hình hiện nay; phân tích thực trạng, chỉ ra những
ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân để đề ra các giải pháp nâng cao chất lượng thực thi công vụ của đội ngũ công chức, tác giả lựa chọn đề tài nghiên cứu:
“Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên” làm đề tài luận văn thạc sĩ Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tìm hiểu tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài: “Nâng cao năng lực năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên” cho thấy các nhà khoa học tiếp cận theo các hướng khác nhau, với những cấp độ khác nhau, cụ thể như:
- Nguyễn Văn Trường: “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của Cán bộ công chức cấp Quận trên địa bàn quận Hà Đông, thành phố Hà Nội” Luận văn thạc sĩ Quản lý Hành chính công – Học viện hành chính, 2011
- Đỗ Tuấn Thành: “Năng lực lãnh đạo của cán bộ chính quyền cơ sở - thực tiễn Thành phố Hà Nội”, , Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, 2011;
- Nguyễn Thị Thu Nhuần: “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội
Trang 13ngũ cán bộ chủ chốt xã, thị trấn ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên hiện nay”, , Luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính,2012;
- Trịnh Thị Thoa: “Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức hành chính cấp tỉnh ở Thái Nguyên”, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính, 2013;
- Đỗ Văn Thắng: “Chất lượng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Nam”, Luận văn thạc sĩ Quản lý công, Học viện Hành chính Quốc gia … Và một số công trình khoa học khác
Các công trình nghiên cứu trên đã đưa ra những vấn đề lý luận và thực tiễn về năng lực thực thi công vụ của công chức ở các góc độ nghiên cứu hoặc tiếp cận khác nhau, hướng tới một đối tượng công chức ở mỗi cấp hành chính khác nhau Tuy nhiên hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ở Điện Biên Đặc biệt đề tài tập trung nghiên cứu sâu đối tượng công chức chuyên môn và không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý Đây là đội ngũ công chức làm công tác tham mưu, xây dựng triển khai các nội dung thuộc các lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước Vì vậy đây là vấn đề hoàn toàn mới và không trùng lặp với đề tài khác
Trên cơ sở các bài viết, các hướng tiếp cận, ở các mức độ khác nhau đã giúp tôi có được một số tư liệu và kiến thức cần thiết để hình thành những hiểu
biết chung, giúp tiếp cận, đi sâu nghiên cứu đề tài: “Năng lực thực thi công vụ
của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên”
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích:
Đề xuất giải pháp góp phần nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên,
Trang 14trên cơ sở đó đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
3.2 Nhiệm vụ:
+ Thứ nhất, tổng quan những lý luận cơ bản về công chức, công vụ, công
chức chuyên môn cấp tỉnh, năng lực thực thi công vụ của công chức, yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ; xác định những tiêu chí đánh giá và yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của công chức và sự cần thiết phải nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức; phân tích kinh nghiệm thực tiễn tại một
số địa phương về nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức
+ Thứ hai, phân tích thực trạng và đưa ra đánh giá về năng lực thực thi
công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
+ Thứ ba, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi
công vụ của công chức tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu năng lực thực thi
công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Không gian : Luận văn tập trung nghiên cứu về năng lực thực thi công
vụ của công chức đang công tác tại các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý (không tính công chức làm công việc thừa hành, phục vụ: văn thư, bảo vệ, lái xe ) Số liệu trong luận văn được thu thập từ Sở Nội vụ tỉnh Điện Biên, Thuộc 10 cơ quan chuyên môn được chọn nghiên cứu
Thời gian: từ năm 2013-2015
Trang 155 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, phương pháp nghiên cứu khoa học quản lý, khoa học tổ chức nhân sự…
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp khảo cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan
để có những luận cứu khoa học cho việc đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức nói chung và công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh nói riêng, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
- Phương pháp phân tích đánh giá: Đề tài đã tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức tại cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên để từ đó đưa ra các mặt mạnh, hạn chế trong năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên làm cơ sở để đề xuất những giải pháp
- Phương pháp điều tra: Được tiến hành tại 10 cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên nhằm thu thập thông tin về mức độ hài lòng, kỹ năng hành vi…yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ và những giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức
- Phương pháp thống kê: Được tác giả sử dụng để xử lý số liệu thu thập được từ kết quả điều tra, khảo sát
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp quan sát, so sánh, tổng hợp…để thu thập thêm các thông tin phục vụ cho việc phân tích, đánh
Trang 16giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài đã hệ thống hoá, góp phần làm rõ các vấn đề lý luận chung về công chức, công vụ, năng lực, năng lực thực thi công vụ, đưa ra các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ và sự cần thiết phải nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức trong giai đoạn hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn là một kênh thông tin để các cấp Lãnh đạo tỉnh, Sở ngành có những cơ chế, chính sách phù hợp để nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức cơ quan chuyên môn cấp tỉnh ở Điện Biên
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu khoa học, giảng dạy và học tập tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành quản lý hành chính nhà nước và các khóa bồi dưỡng đối với công chức nhà nước
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức
các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh
Chương 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ
quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của
công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Điện Biên
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ
CỦA CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN CẤP TỈNH
1.1 Lý luận chung về công chức, công vụ, công chức chuyên môn cấp tỉnh
1.1.1 Công chức - Quan niệm, đặc điểm và phân loại
1.1.1.1 Quan niệm công chức
Công chức là thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên quan niệm và phạm vi công chức ở mỗi quốc gia có những điểm khác nhau, phụ thuộc vào đặc điểm thể chế chính trị, tổ chức bộ máy nhà nước, sự phát triển kinh tế - xã hội, truyền thống và các yếu tố văn hóa lịch sử của từng giai đoạn lịch sử cụ thể ở mỗi quốc gia
* Khái niệm công chức của một số quốc gia trên thế giới
Trên thế giới, tùy thuộc vào đặc điểm về thể chế chính trị, tổ chức bộ máy, truyền thống mà quan niệm về công chức như sau :
Nước Đức, công chức là nhân viên làm việc trong các cơ quan nhà nước,
tổ chức văn hóa, nghệ thuật, giáo dục và nghiên cứu khoa học quốc gia, nhân viên công tác trong các xí nghiệp nhà nước, công chức làm việc trong cơ quan chính phủ, nhân viên lao động công, giáo sư đại học, giáo viên trung học hay tiểu học…
Nước Pháp, công chức là những nhân viên trong bộ máy hành chính nhà nước, những người tham gia làm các dịch vụ công
Nước Nhật Bản, quan niệm công chức bao gồm cả công chức nhà nước trung ương và công chức địa phương, có nghĩa là cả những người làm việc trong các cơ quan chính quyền tự quản địa phương cũng là công chức
Trang 18Như vậy, có thể nhận thấy rằng, đặc điểm chung của công chức ở các quốc gia: Công chức là những người làm việc trong bộ máy nhà nước được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ chức danh công vụ nhất định và được trả công từ nguồn ngân sách nhà nước
* Khái niệm công chức ở Việt Nam
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành và phát triển theo tiến trình lịch sử, mỗi thời kỳ khác nhau có quan niệm khác nhau về công chức
Theo Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì công chức là “những người công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các
cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”
Sau đó do tình hình chiến tranh nên trong một thời gian dài, khái niệm công chức ít được sử dụng mà thay vào đó là khái niệm “cán bộ, công nhân viên chức nhà nước” để chỉ toàn bộ những người làm công ăn lương nhà nước, không phân biệt công chức và viên chức
Ngày 25/5/1991, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 169/HĐBT quy định chung về khái niệm công chức và phạm vi công chức Theo đó, công chức được hiểu như sau: “Công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng và
bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước gọi là công chức”
Pháp lệnh cán bộ công chức năm 1998 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thông qua ngày 26/02/1998 có quy định: “Công chức Việt Nam là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ, được giao nhiệm vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ đào tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp trong các cơ quan, tổ
Trang 19chức, đơn vị của nhà nước, mỗi ngạch thể hiện chức và cấp về chuyên môn nghiệp vụ, có chức danh tiêu chuẩn riêng, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”
Pháp lệnh cán bộ, công chức sửa đổi bổ sung năm 2003 không đưa ra định nghĩa riêng cho khái niệm cán bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực hiện phân định biên chế hành chính với biên chế sự nghiệp Tuy nhiên theo quy định tại Điều 2 Nghị định số 117/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ, công chức được định nghĩa như sau: “Công chức là công dân Việt Nam trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước được quy định tại điểm b, điểm c, điểm e khoản 1 điều 1 của Pháp lệnh Cán bộ, công chức, làm việc trong các cơ quan nhà nước, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội”
Luật cán bộ công chức năm 2008 tại khoản 2, điều 4 đã quy định:
“Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân
mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”
Như vậy, theo Luật cán bộ công chức phạm vi công chức được quy định rất rộng bao gồm công chức trong cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức
Trang 20chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, đơn vị của nhà nước, các đơn vị sự nghiệp công, cơ quan đơn vị thuộc quân đội nhân dân và công an nhân dân Vì phạm
vi công chức được quy định rất rộng, chưa có quy định rõ ràng phân biệt giữa các nhóm công chức: công chức hành chính nhà nước, công chức trong cơ quan Đảng, tổ chức chính trị - xã hội nên việc quản lý sẽ có những chồng chéo và khó khăn
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm chung nhất về công chức như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, làm việc trong cơ quan nhà nước, trong biên chế nhà nước và hưởng lương từ ngân sách nhà nước
1.1.1.2 Đặc điểm của công chức
* Đội ngũ công chức hành chính là chủ thể của nền hành chính nhà nước, là những người thực thi quyền lực công và được đảm bảo những điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để thực thi công vụ
Trong hoạt động của bộ máy quản lý hành chính nhà nước, cán bộ công chức đóng vai trò quan trọng, là mắt xích không thể thiếu trong bất kỳ nền hành chính nhà nước nào, đặc biệt là đội ngũ công chức trong bộ máy hành chính, thực thi pháp luật và thi hành công vụ nhằm phục vụ lợi ích chung cho toàn xã hội Đây là yếu tố quyết định đảm bảo cho bộ máy quản lý hành chính nhà nước hoạt động có hiệu lực hiệu quả
Công chức là những người thực thi công vụ, trực tiếp thi hành quyền lực nhà nước, cụ thể hóa những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước vào thực tế đời sống xã hội Lao động của công chức khác với các dạng lao động khác trong xã hội Sản phẩm lao động của công chức là các văn bản quy phạm pháp luật, quyết định hành chính… để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, thi hành pháp luật và đưa pháp luật vào đời sống
Trang 21Được Nhà nước trao quyền để thực thi quyền lực của Nhà nước, công chức có trách nhiệm, nghĩa vụ được quy định trong các văn bản của Nhà nước liên quan đến chức trách nhiệm vụ được giao Họ có thể bị từ chức, truy cứu trách nhiệm hoặc phải bồi thường thiệt hại nếu không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, ra quyết định hành chính làm tổn hại lợi ích hợp pháp của tổ chức công dân Để thực hiện công vụ, công chức được Nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để tiến hành thực thi công vụ Họ được đảm bảo quyền lợi chính đáng về vật chất và tinh thần như: hưởng lương từ ngân sách của nhà nước tương xứng với chức trách và công việc, nhận các loại trợ cấp, phụ cấp, quyền được nghỉ ngơi, nghiên cứu khoa học, khen thưởng khi có thành tích trong thực hiện nhiệm vụ
* Công chức là lực lượng lao động chuyên nghiệp, có tính chuyên môn hóa cao
Các cơ quan hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương được
tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc nhất định để thực thi quyền hành pháp của Nhà nước để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội Phạm vi hoạt động của cơ quan quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội mang tính phức tạp, vì vậy đòi hỏi đội ngũ cán bộ công chức phải có tính chuyên nghiệp, chính xác Bởi lẽ các chính sách tham mưu của đội ngũ công chức chuyên môn nghiệp vụ và quyết định của công chức lãnh đạo quản lý ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, phát triển kinh tế- xã hội của người dân
Tính chuyên nghiệp của công chức được quy định bởi địa vị pháp lý và thể hiện qua hai yếu tố: thời gian, thâm niên công tác và trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp Thời gian, thâm niên công tác tạo cho công chức sự thành thạo, những kinh nghiệm trong thực thi công vụ, còn trình
độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ tạo cho họ khả năng, mức độ
Trang 22hoàn thành nhiệm vụ được giao, qua thời gian công tác trình độ kỹ năng ngày càng được hoàn thiện Trong nền kinh tế thị trường hội nhập kinh tế thế giới, việc nâng cao trình độ năng lực chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp ngày càng trở nên quan trọng để đáp ứng yêu cầu của quản lý hành chính nhà nước trong tình hình hiện nay
* Đội ngũ công chức phải am hiểu, tuân thủ các chính sách và pháp luật
Trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật chiếm vị trí tối cao trong hoạt động nhà nước, công cụ để quản lý xã hội Trong đó, công chức là những thực thi công vụ, thực thi quyền hành pháp; vì vậy hoạt động công vụ của công chức phải tuân thủ theo pháp luật Trong bộ máy hành chính nhà nước, công chức là lực lượng tham mưu kiến tạo nên hệ thống pháp luật của nhà nước phù hợp với điều kiện của thực tiễn Pháp luật là hành lang pháp lý điều chỉnh hành vi, quyền và trách nhiệm của công chức trong thực thi công vụ Trong các trường hợp công chức vi phạm, gây thiệt hại đến quyền lợi chính đáng của tổ chức cán nhân thì chịu trách nhiệm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự nhất định Đặc biệt trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay, đội ngũ công chức phải có kiến thức, am hiểu pháp luật và thông lệ quốc tế Vấn đề đặt ra công chức phải không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kiến thức pháp luật và trình độ ngoại ngữ
* Đội ngũ công chức có trách nhiệm và đạo đức công vụ; trung thành với Đảng, Chính phủ, Tổ quốc và nhân dân
Đặc trưng cơ bản mang tính dân tộc và là yêu cầu của đội ngũ công chức hành chính Việt Nam là trung thành với Đảng, Chính phủ, Tổ quốc và nhân dân Nhà nước ta là nhà nước của dân, do dân và vì dân nên hoạt động của cơ quan hành chính Nhà nước, công chức thực thi công vụ phải tôn trọng, tận tụy phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân
Trang 23Trong quá trình thực thi công vụ phục vụ nhân dân, đòi hỏi công chức phải có đạo đức công vụ Đạo đức công vụ là những giá trị đạo đức và chuẩn mực pháp lý được áp dụng cho cán bộ công chức nhà nước khi thi hành công
vụ Đạo đức công vụ chính là sự thể hiện quá trình tự ý thức về lương tâm, trách nhiệm của mình để từ đó tự giác hành động vì các lợi ích đó Người công chức để thực hiện là công bộc của dân, ngoài yêu cầu về trình độ chuyên môn nghiệp vụ thì phẩm chất đạo đức là yêu cầu tất phải có Bởi vậy người công chức phải có đầy đủ chuẩn mực đạo đức vừa “hồng”, vừa “chuyên”,
“cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” Bởi vì mục đích cuối cùng của nền công vụ là phục vụ nhân dân, có trách nhiệm với nhân dân
1.1.1.3 Phân loại công chức
Phân loại công chức là cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn khách quan trong tuyển dụng người vào làm việc trong cơ quan hành chính; xác định tiền lương, các chế độ chính sách một cách hợp lý; đào tạo bồi dưỡng, quy hoạch,
cơ chế chính sách đối với từng đối tượng theo yêu cầu công tác, nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Do tính chất đặc thù đa dạng của hoạt động công vụ, có thể phân loại công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước như sau:
* Căn cứ vào ngạch, bậc công chức:
Ngạch công chức là khái niệm để chỉ trình độ, năng lực, khả năng chuyên môn và ngành nghề của công chức Mỗi ngạch thể hiện một cấp độ
về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và có tiêu chuẩn cụ thể Theo quy định tại khoản 1 Điều 34 Luật cán bộ công chức 2008 thì công chức được phân loại như sau:
Loại A gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên cao cấp hoặc tương đương;
Trang 24Loại B gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên chính hoặc tương đương;
Loại C gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch chuyên viên hoặc tương đương;
Loại D gồm những người được bổ nhiệm vào ngạch cán sự hoặc tương đương và nhân viên
* Căn cứ vào vị trí công tác:
+ Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý là những người được bầu
cử hoặc bổ nhiệm giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý, có thẩm quyền pháp lý để hoạch định chủ trương công tác, điều hành, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về tổ chức hoạt động của phòng, tổ chức, đơn vị được giao quản lý Đối tượng này được quy hoạch, đào tạo căn bản cả về trình độ chuyên môn và lý luận chính trị, nắm vững thẩm quyền trách nhiệm trong tổ chức điều hành công tác
+ Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo quản lý là những công chức
có trình chuyên môn nghiệp vụ nhất định, được tuyển dụng đảm nhiệm chức danh về chuyên môn nghiệp vụ, thừa hành phục vụ trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước Đây là đối tượng có số lượng đông, nhiệm vụ chung là tham mưu giúp việc các mặt công tác được giao cho lãnh đạo, chịu trách nhiệm trước pháp luật và lãnh đạo về những nhiệm vụ được giao Có thể nói đây là đối tượng đóng vai trò quyết định đến việc chất lượng công việc, hiệu lực hiệu quả của bộ máy hành chính nhà nước
Ngoài ra, công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước còn có thể được phân loại theo trình độ đào tạo (tốt nghiệp đại học, trên đại học, trung cấp, sơ cấp, nghề…), hoặc phân loại theo cấp hành chính (công chức làm việc trong cơ quan nhà nước trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã)
Trang 251.1.2 Quan niệm và đặc điểm của công vụ
1.1.2.1 Khái niệm công vụ
Công vụ là khái niệm rộng về phạm vi và quan trọng về nội dung ý nghĩa trong nền hành chính nhà nước Khi nói đến công vụ là nói đến các hoạt động của Nhà nước; công vụ bao gồm các yếu tố hợp thành như: thể chế công vụ, đội ngũ công chức và các cơ quan công quyền
Các học giả trong và ngoài nước đã đưa ra các cách hiểu khác nhau về công vụ Một số tác giả trong một số tài liệu đã đưa quan niệm về công vụ như sau:
Công vụ là một loại lao động đặc biệt để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, để thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào đời sống và sử dụng có hiệu quả nguồn lực công để phục vụ các mục tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ra Công vụ gắn liền trực tiếp với con người là công chức, bao gồm toàn bộ những người được Nhà nước bổ nhiệm vào một công việc thường xuyên trong một công sở và được xếp vào một trong những ngạch của nền hành chính Trong Từ điển thuật ngữ hành chính, công vụ là “một dạng hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do các công chức, viên chức nhà nước tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, phục vụ lợi ích nhà nước và xã hội”
Như vậy, hoạt động công vụ khác với nhiều loại hoạt động thông thường khác ở chỗ là hoạt động công quyền dựa trên cơ sở vận dụng quyền lực của Nhà nước giao cho Hoạt động này được thực hiện bởi một pháp nhân công quyền, được quyền lực nhà nước bảo đảm, được sử dụng cùng với ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong phạm vi hệ thống chính trị quốc gia, có nghĩa vụ, quyền lợi, trách nhiệm do luật định
Trang 26Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, dưới góc độ quản lý hành chính nhà nước có thể đưa khái niệm: Công vụ là một loại hoạt động đặc thù mang tính quyền lực – pháp lý được thực thi chủ yếu bởi đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước nhằm thực hiện các chức năng nhiệm vụ quản lý của Nhà nước toàn diện trên các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội
Thứ ba, hoạt động công vụ mang tính quyền lực nhà nước, nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội, phục vụ các nhu cầu chung của xã hội không vì mục tiêu lợi nhuận Hoạt động công vụ sử dụng nguồn ngân sách nhà nước hay quỹ công
để hoạt động
Thứ tư, hoạt động công vụ mang tính thường xuyên, chuyên nghiệp, đảm bảo cho mọi hoạt động nhà nước được liên tục, ổn định Nhiệm vụ của hoạt động công vụ là phục vụ nhân dân, đây là công việc hàng ngày, mang tính thường xuyên liên tục, thực hiện trên các mặt của đời sống xã hội
Thứ năm, hoạt động công vụ của công chức là những hoạt động không trực tiếp tạo ra của cải, vật chất cho xã hội nhưng những hoạt động đó đảm bảo các điều kiện để hỗ trợ và tổ chức quản lý hoạt động sản xuất, tạo ra các giá trị vật chất và tinh thần của xã hội, nhằm tác động lên hành vi, cách ứng
xử của con người hoặc phục vụ con người
Từ những đặc trưng trên, có thể nhận thấy rằng hoạt động công vụ là một dạng lao động đặc thù trong xã hội; nên việc thực thi công vụ cần đảm bảo
Trang 27thực hiện các nguyên tắc thực thi công vụ, tuân theo các quy định của pháp luật Trong hoạt động công vụ, hạt nhân đảm bảo cho nền công vụ hiệu lực hiệu quả là cán bộ công chức Vì vậy vấn đề đặt ra là phải xây dựng một đội ngũ cán bộ công chức vừa có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vừa có phẩm chất đạo đức, hay nói cách khác yêu cầu đặt ra là phải nâng cao năng lực thực thi công vụ cho công chức để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế
1.1.3 Công chức chuyên môn cấp tỉnh - Quan niệm, đặc điểm
1.1.3.1 Quan niệm
Trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam, theo quy định của Hiến pháp gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp Các cơ quan hành chính nhà nước nằm trong hệ thống cơ quan hành pháp tiến hành
tổ chức, điều hành, quản lý các mặt, các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội; tổ chức thực hiện và đưa pháp luật vào đời sống Có thể đưa ra quan niệm chung nhất, cơ quan hành chính bao gồm: Chính phủ, các bộ, cơ quan ngang
bộ, ủy ban nhân dân các cấp, các cơ quan chuyên môn trực thuộc ủy ban nhân dân, riêng cấp xã gồm có 7 công chức chuyên trách Những người làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương là công chức cơ quan chuyên môn cấp tỉnh (trong phạm
vi đề tài, luận văn xem xét ở phạm vi công chức các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh) Công chức ở các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh là một bộ phận hợp thành của nền hành chính nhà nước ở cấp địa phương, quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở phạm vi địa phương, trên cơ sở nguyên tắc tập trung dân chủ và kết hợp hài hòa giữa lợi ích của nhân dân địa phương với lợi ích chung của cả nước
Như vậy, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh (sau đây gọi tắt là công chức chuyên môn cấp tỉnh) là những người được
Trang 28tuyển dụng, bổ nhiệm, vào ngạch, chức vụ, chức danh, làm việc trong cơ quan hành chính nhà nước thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của
cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, quản lý nhà nước trên các lĩnh vực thuộc thẩm quyền địa phương, duy trì trật tự an ninh, giữ vững ổn định và phát triển kinh
tế xã hội
1.1.3.2 Đặc điểm
Nằm trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước, công chức chuyên môn cấp tỉnh mang đặc điểm chung của công chức; đồng thời có những đặc trưng riêng
Thứ nhất, đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh là hạt nhân cơ bản của nền công vụ, nhân tố đảm bảo cho nền công vụ hoạt động có hiệu lực hiệu quả tại địa phương
Đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh hoạt động trong hệ thống quản
lý hành chính nhà nước thống nhất, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách, chế độ quy định của nhà nước, cơ quan trung ương tại địa phương Đây là nguồn nhân lực quan trọng trong việc nâng cao hiệu lực hiệu quả của bộ máy quản lý hành chính ở cấp địa phương, đóng góp vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
Công chức chuyên môn cấp tỉnh là đội ngũ trực tiếp tham mưu, tham gia xây dựng kế hoạch, hoạch định chính sách, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức quản lý nhà nước và kiểm tra trên tất cả lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý của địa phương Đây là đội ngũ đóng vai trò nòng cốt trong tham mưu chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh đồng thời là cầu nối gắn kết,
tổ chức thực hiện triển khai các đường lối, chính sách, cơ chế, chủ trương ở
Trang 29Chính phủ và cơ quan trung ương tại địa phương Thông qua đội ngũ này, Nhà nước đánh giá được tính đúng đắn của đường lối, chính sách, kịp thời phát hiện thiếu sót cần chỉnh sửa bổ sung và nhu cầu mới phát sinh từ thực tế
để hoàn thiện chính sách Đây vừa là đội ngũ công chức tham mưu văn bản quy phạm pháp luật, quyết định quản lý, chính sách, kế hoạch phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương vừa đóng vai trò là đội ngũ tổ chức triển khai và thực hiện các chủ trương, chính sách của cơ quan nhà nước cấp trên Điều này đặt ra yêu cầu công chức chuyên môn cấp tỉnh phải có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất chính trị trong thực thi công vụ để thực hiện những nhiệm vụ chính trị mà trung ương giao phó vừa phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an sinh xã hội cho nhân dân địa phương
Thứ hai, công chức chuyên môn cấp tỉnh làm việc trong bộ máy quản lý hành chính nhà nước ở địa phương, vừa thực hiện chức năng quản lý theo ngành vừa chịu sự quản lý của địa phương
Các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh là cơ quan tham mưu, giúp ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương; đồng thời chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của ủy ban nhân dân cấp tỉnh và chịu sự chỉ đạo kiểm tra
về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành lĩnh vực của cấp trên Được tuyển dụng, bổ nhiệm để làm việc trong các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, đội ngũ công chức thực hiện theo chức năng nhiệm vụ của cơ quan, chịu
sự quản lý về tổ chức biên chế của ủy ban nhân dân tỉnh; đồng thời tổ chức triển khai thực hiện, chịu sự kiểm tra giám sát của cơ quan quản lý ngành Hai cấp quản lý này phải có sự quản lý, điều hành, chỉ đạo thống nhất, xuyên suốt
để đảm bảo hiệu quả thực thi công vụ của công chức
Thứ ba, chất lượng của đội ngũ công chức chuyên môn cấp tỉnh không đồng đều giữa các tỉnh trong cả nước, do điều kiện lịch sử, tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội nhất định
Trang 30Mỗi tỉnh thành phố trong cả nước khác nhau về vị trí địa lý, điều kiện
tự nhiên, trình độ phát triển kinh tế - xã hội, do đó trình độ năng lực công chức chuyên môn mỗi tỉnh có sự khác biệt Đặc biệt là những tỉnh có nền kinh
tế còn khó khăn, trình độ dân trí chưa cao, thu nhập bình quân đầu người thấp Những chính sách phát triển, nâng cao trình độ cho đội ngũ công chức của Nhà nước cũng đã tính toán đến sự khác biệt này và có những cơ chế hỗ trợ đặc thù Tuy nhiên, đây cũng là yêu cầu đặt ra đối với mỗi công chức, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, đặc biệt kiến thức trong thời kỳ hội nhập quốc tế, nâng cao năng lực thực thi công vụ để đóng góp vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Đồng thời, công chức chuyên môn cấp tỉnh ở mỗi địa phương phải dựa trên điều kiện kinh tế - xã hội, trình độ dân trí của nhân dân để có những biện pháp thích hợp để tổ chức thực hiện triển khai chính sách, giao tiếp ứng xử với người dân
1.2 Năng lực, các tiêu chí đánh giá năng lực
1.2.1 Khái niệm năng lực, năng lực thực thi công vụ
1.2.1.1 Khái niệm năng lực
Có nhiều tài liệu định nghĩa khác nhau về năng lực Theo Từ điển Tiếng Việt, năng lực là khả năng đủ để làm một công việc nào đó; hay năng lực là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực hiện một hoạt động nào đó Theo quan điểm của các nhà tâm lý học, năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động, nhằm đảm bảo cho hoạt động đạt hiệu quả cao
Năng lực được cấu thành bởi kiến thức – kỹ năng – thái độ cần có để đạt được những mục tiêu cụ thể trong các một điều kiện xác định, trong đó:
Kiến thức là những hiểu biết chung và hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể
Trang 31Kỹ năng là quá trình chuyển hóa từ những tri thức, kiến thức của mình vào hoạt động thực tiễn
Thái độ, hành vi là trạng thái tinh thần, hành vi ứng xử của cá nhân đối với công việc, các mối quan hệ với những người khác trong công việc
Trên thực tế, khi thực hiện các hoạt động công việc hay ngành nghề nhất định, con người không chỉ sử dụng một năng lực duy nhất mà sẽ phối hợp với các năng lực khác nhau để thực hiện thành công một hoạt động hay công việc nào đó với mục tiêu là đạt được hiệu quả cao nhất Đồng thời, mỗi thời kỳ, hoàn cảnh, môi trường khác nhau đặt ra các yêu cầu về năng lực không giống nhau Hơn nữa, các hoạt động, sự vật, hiện tượng luôn luôn biến đổi, nguồn năng lực của cá nhân không phải là bất biến mà trong quá trình hoạt động nghề nghiệp của mỗi cá nhân, năng lực luôn biến động, hoàn thiện và kết hợp với các năng lực khác để giúp cá nhân đạt được mục tiêu của tổ chức đã đặt ra Như vậy có thể khái quát, năng lực là khả năng đáp ứng về kiến thức, kỹ năng và thái độ, hành vi một cách tốt nhất trong thực hiện công việc hoặc giải quyết vấn đề để đạt những mục tiêu đã đề ra
1.2.1.2 Khái niệm năng lực thực thi công vụ
Trên cơ sở khái niệm về năng lực, công vụ, công chức có thể đưa ra khái niệm về năng lực thực thi công vụ của công chức như sau: Năng lực thực thi công vụ của công chức là khả năng đáp ứng về kiến thức, kỹ năng, thái độ
và hành vi của công chức một cách tốt nhất trong thực thi công vụ để hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước đạt được mục tiêu đã để ra
Năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan hành chính nhà nước được tiếp cận trên các khía cạnh:
Một là, năng lực thực thi công vụ của mỗi công chức các cơ quan hành chính nhà nước Năng lực của công chức các cơ quan hành chính nhà nước được coi là khả năng của một người để hoàn thành công việc được giao, xử lý
Trang 32tình huống và để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể trong môi trường xác định Như vậy, năng lực của mỗi công chức các cơ quan hành chính nhà nước bao gồm việc sử dụng tổng hợp các yếu tố như kiến thức, kỹ năng, thái độ, hành
vi, phong cách cá nhân để đạt được những mục tiêu cụ thể Ngoài ra còn bao gồm khả năng quan hệ giữa công chức các cơ quan hành chính nhà nước, quan hệ với lãnh đạo, quản lý, với các tổ chức cá nhân trên cở sở những thái
độ, kỹ năng giao tiếp cần thiết
Ngoài ra, ngoài năng lực chung của mỗi công chức hành chính nhà nước, đối với đội ngũ công chức lãnh đạo quản lý, cần phải có thêm những năng lực, kỹ năng cần thiết để điều hành chỉ đạo các hoạt động của cấp được giao quản lý Người cán bộ công chức lãnh đạo quản lý cần phải huy động sức mạnh cá nhân của mỗi công chức hành chính kết hợp sức mạnh tập thể để đạt được mục tiêu của tổ chức
Hai là, năng lực thực thi của tập thể (năng lực nhóm) Năng lực tập thể của tổ chức là sự tổng hợp năng lực của các công chức hành chính nhà nước Mỗi công chức trong các cơ quan hành chính nhà nước có năng lực, khả năng khác nhau trong việc thực thi công vụ, giải quyết công việc Tất cả các yếu tố
đó kết hợp với nhau tạo nên năng lực thực thi của tập thể, với mục đích để phục vụ tốt hơn nhu cầu của cá nhân, tổ chức trong xã hội, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đổi mới hội nhập quốc tế Năng lực tập thể giúp kết hợp năng lực khác nhau của mỗi công chức và sử dụng chúng một cách hiệu quả nhất để đạt được những mục tiêu cụ thể của cơ quan, tổ chức, góp phần vào sự phát triển của tổ chức Mối quan hệ giữa năng lực thực thi công vụ của mỗi công chức các cơ quan hành chính nhà nước và năng lực tập thể là mối quan hệ biện chứng Năng lực không chỉ tồn tại ở mỗi công chức trong cơ quan hành chính nhà nước mà năng lực của của một cơ quan, tổ chức được xây dựng trên
cơ sở kết hợp có hiệu quả năng lực của nhiều công chức hành chính nhà nước trong cơ quan, tổ chức
Trang 331.2.2 Các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh
1.2.2.1 Trình độ chuyên môn và kiến thức cơ bản
Trình độ chuyên môn và kiến thức cơ bản về hình thức được thể hiện thông qua văn bằng, chứng chỉ của cấp học, ngành học Đây là một trong các tiêu chí để tuyển dụng công chức hành chính nhà nước nói chung và công chức chuyên môn cấp tỉnh nói riêng, liên quan đến yếu tố kiến thức của năng lực, là kết quả của quá trình đào tạo của cá nhân Những kiến thức chuyên môn mà cá nhân sử dụng trong quá trình giải quyết công việc là cơ sở đánh giá trình độ chuyên môn của công chức đó trong lĩnh vực được phân công công tác
Trong quá trình thực thi công vụ đòi hỏi công chức các cơ quan hành chính nhà nước phải đảm bảo các yêu cầu về trình độ, kiến thức sau đây:
* Trình độ chuyên môn
Trình độ chuyên môn của công chức được đào tạo thông qua hệ thống cơ
sở giáo dục, đào tạo, được cấp các văn bằng, chứng chỉ chuyên môn phù hợp với yêu cầu công việc Ở Việt Nam, các văn bằng chứng chỉ được chia thành:
sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học Trong hoạt động thực thi công vụ cần xem xét sự phù hợp của trình độ chuyên môn được đào tạo với yêu cầu vị trí công việc được giao đảm nhận, bởi nó là yếu tố tiên quyết để công chức giải quyết công việc hiệu quả trong thực thi công vụ
* Trình độ lý luận chính trị
Lý luận là hệ thống tri thức được khái quát từ thực tiễn khách quan, tri thức cả về tự nhiên và xã hội trong tiến trình lịch sử được biểu đạt dưới dạng quy luật, tư tưởng, quan điểm…nhằm giúp con người chi phối và cải tạo thực tiễn Trong hoạt động thực thi công vụ của công chức, việc học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị là cần thiết Ngoài kiến thức về trình độ chuyên môn,
Trang 34công chức hành chính nhà nước phải được trang bị, đào tạo trình độ lý luận chính trị phù hợp với vị trí công tác, mục đích giúp cho công chức nắm vững đường lối, chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước để vận dụng vào thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước Các chương trình, đào tạo, bồi dưỡng
lý luận chính trị ở Việt Nam bao gồm: sơ cấp, trung cấp, cao cấp
* Trình độ quản lý nhà nước
Quản lý hành chính nhà nước là lĩnh vực quản lý phức tạp về nội dung, phạm vi và đối tượng quản lý, bởi phạm vi quản lý của nó là các lĩnh vực của đời sống xã hội Vì vậy, công chức làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và công chức chuyên môn cấp tỉnh nói riêng phải được đào tạo về kiến thức quản lý nhà nước Trình độ quản lý nhà nước là những kiến thức, kỹ năng mà công chức được đào tạo bồi dưỡng để phù hợp với từng chức danh, ngạch, vị trí công việc của công chức để đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước Kiến thức quản lý nhà nước thông qua chương trình đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng tiêu chuẩn về ngạch bao gồm: bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch cán sự và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính và tương đương, bồi dưỡng quản lý nhà nước ngạch chuyên viên cao cấp và tương đương
* Trình độ ngoại ngữ, tin học
Trình độ ngoại ngữ, tin học là kiến thức bổ trợ cần thiết để công chức hành chính nhà nước thực thi công việc đạt hiệu quả cao Đặc biệt trong khi nước ta đang xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế thế giới, đòi hỏi công chức làm việc trong bộ máy công quyền phải đạt chuẩn về trình độ ngoại ngữ tin học Kiến thức về ngoại ngữ, tin học của công chức phải được đánh giá thông qua việc vận dụng chúng vào quá trình thực thi công vụ
Trang 351.2.2.2 Kinh nghiệm, kỹ năng nghề nghiệp
Kỹ năng nghề nghiệp là khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết về kiến thức hoặc kinh nghiệm
để tạo ra kết quả mong đợi Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng Kinh nghiệm công tác là những hiểu biết, kiến thức có được do hoạt động thực tế, từng trải trong cuộc sống, trong lao động và công tác Kỹ năng của cá nhân có được dựa trên cơ sở hiểu biết, kiến thức còn kinh nghiệm công tác có được khi trải qua một quá trình lao động, công tác
Kỹ năng nghề nghiệp là sản phẩm của quá trình tư duy kết hợp với việc tích lũy kinh nghiệm thông qua đào tạo tạo, bồi dưỡng và quá trình công tác Trong hoạt động thực thi công vụ, công chức cần có những kỹ năng cụ thể
Kỹ năng của công chức các cơ quan hành chính nhà nước được phân thành kỹ năng công chức lãnh đạo quản lý và kỹ năng công chức chuyên môn Kỹ năng của công chức lãnh đạo bao gồm: lập kế hoạch, xây dựng chiến lược, phân tích và giải quyết vấn đề, ra quyết định, tổng hợp, thuyết trình, thanh tra, xử lý xung đột, tạo động lực… Kỹ năng của công chức chuyên môn bao gồm soạn thảo văn bản, giao tiếp hành chính, thu thập và xử lý thông tin, quản lý hồ sơ, làm việc nhóm, viết báo cáo, nghe và gọi điện thoại…
Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá chất lượng thực thi công vụ của công chức Đây là những yếu tố cần thiết khi công chức thực thi công vụ Ngoài những kỹ năng chung đối với mọi công chức, mỗi nhóm công chức nhất định phải có những kỹ năng riêng để phù hợp với từng vị trí công tác
1.2.2.3 Thái độ, hành vi của công chức
Thái độ được hiểu là cách nghĩ, cách nhìn nhận và cách hành động theo một hướng nào đó về một vấn đề hay tình hình cụ thể Thái độ của công chức trong hoạt động thực thi công vụ được hiểu là cách suy nghĩ, ứng xử, nhìn
Trang 36nhận vấn đề trong hoạt động công vụ Thái độ chi phối cách ứng xử, hành vi
và tác phong của công chức, khi giải quyết công việc công chức đều có thái
độ tích cực hoặc không tích cực Vì vậy yêu cầu đặt ra phải có chuẩn mực của công chức trong thực thi công vụ để hạn chế những thái độ không tốt và phát huy thái độ tích cực của công chức Thái độ, hành vi của công chức trong thực thi công vụ được thể thông qua tác phong, phong cách làm việc của cá nhân; trách nhiệm trong công việc; tinh thần phối hợp trong công tác và thái độ phục vụ nhân dân
* Tác phong, phong cách làm việc
Tác phong của người công chức được coi là phù hợp khi họ có những thái độ, cách ứng xử phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể, với từng đối tượng, sự việc và từng người nhất định, đặc biệt là những người liên quan đến công việc của họ, tạo điều kiện để giải quyết công việc nhanh chóng, đạt hiệu quả cao
Phong cách làm việc là cách thức làm việc, mang sắc thái của mỗi cá nhân Phong cách làm việc phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực; vị trí, chức năng, nhiệm vụ, điều kiện làm việc, sự giáo dục, rèn luyện…
Người công chức có tác phong làm việc nhanh nhẹn, thái độ cư xử đúng mực và phong cách làm việc khoa học thì sẽ giải quyết công việc một cách nhanh chóng, đạt hiệu quả cao Vì vậy tác phong, phong cách làm việc là một trong yếu tố để đánh giá năng lực thi công vụ của công chức Bên cạnh trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp thì việc ứng xử, phương pháp làm việc khoa học, kỹ năng ứng xử trong các mối quan hệ là yếu tố cấu thành nên năng lực thực thi công vụ của công chức
* Trách nhiệm trong công việc
Trang 37Trong hoạt động thực thi công vụ đòi hỏi công chức phải có trách nhiệm trong công việc Tận tâm với công việc, hoàn thành tốt công việc với hiệu quả tốt nhất do cơ quan đơn vị phân công Đối với những công việc, nhiệm vụ đã được phân công phải có ý thức thực hiện, không đùn đẩy trách nhiệm Tham gia nghiên cứu, tham mưu cải tiến quy trình nghiệp vụ, giảm bớt các thủ tục hành chính phiền hà, giải quyết công việc nhanh chóng, chính xác, không gây khó khăn cho tổ chức công dân
* Tinh thần phối hợp trong công tác
Hoạt động công vụ rất đa dạng và phức tạp diễn ra trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Vậy đòi hỏi trong quá trình thực thi công vụ, các công chức trong cơ quan hành chính và các cơ quan đơn vị khác phải có sự phối hợp hài hòa Đây cũng là yêu cầu trong thực thi công vụ, bởi trong bộ máy hành chính nhà nước, công chức không phải là một thực thể tách biệt đơn lẻ mà cần phải
có sự phối hợp trong công việc; mục đích là công việc được giải quyết nhanh chóng, đáp ứng yêu cầu và nguyện vọng của nhân dân
* Thái độ phục vụ nhân dân
Mục tiêu của nền hành chính nước ta là xây dựng nền hành chính trong sạch, vững mạnh, chính quy, chuyên nghiệp, hiện đại; không chỉ đòi hỏi công chức trong bộ máy hành chính nhà nước phải có trình độ chuyên môn nghiệp, bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp mà phải có thái độ phục vụ nhân dân tốt Trong thực thi công vụ người công chức phải có thái độ niềm nở, đúng mực, tận tình hướng dẫn cho nhân dân, tránh các biểu hiện hách dịch, quan liêu, cửa quyền, nhũng nhiễu…
1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp tỉnh
Đánh giá việc thực thi công vụ của công chức là một trong những nội dung cơ bản và quan trọng, là khâu trọng yếu trong quản lý nhân sự hành
Trang 38chính nhà nước Thông qua đối chiếu giữa kết quả thực hiện nhiệm vụ công chức với mục tiêu đặt ra, nhiệm vụ được phân công để thấy được năng lực, trách nhiệm, mức độ hoàn thành công việc, sự công hiến, đạo đức công vụ của công chức Luật cán bộ công chức 2008 quy định mục đích “đánh giá công chức để làm rõ phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao Kết quả đánh giá là căn cứ để bố trí, sử dụng, bổ nhiệm, đào tạo, bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật
và thực hiện chính sách đối với công chức” Đánh giá công chức là một trong những biện pháp để đánh giá thực chất chất lượng, thực trạng, qua đó xây dựng đội ngũ công chức chính quy chuyên nghiệp nâng cao hiệu lực hiệu quả của quản lý hành chính nhà nước
Hiện nay, văn bản quy phạm pháp luật về vấn đề đánh giá cán bộ công chức đã được ban hành và thực thi trên thực tế Tuy nhiên, văn bản quy phạm pháp luật quy định rõ khung năng lực tiêu chuẩn, tiêu chí cụ thể để đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức hiện chưa có Việc đánh giá công chức hiện nay chủ yếu vẫn là các tiêu chí chung chung, chưa chú trọng tới kỹ năng hay thái độ, hành vi của công chức, tiêu chí cụ thể đối với từng vị trí công tác Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả xin đưa ra một số tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức các cơ quan hành chính nhà nước
* Tiêu chí chung
Đội ngũ công chức hành chính nhà nước là nhân tố quan trọng nhất của bất kỳ nền hành chính nhà nước nào, vai trò quan trọng trong quá trình thực thi pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống, quản lý nhà nước trên các mặt, lĩnh vực của đời sống xã hội Do đó, đặt ra yêu cầu bức thiết là phải nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hành chính nhà nước Tùy theo vị trí công tác sẽ
có từng tiêu chí, mức độ cụ thể khác nhau Tuy nhiên, công chức nói chung khi
Trang 39được bổ nhiệm vào ngạch, chức danh nhất định cần phải đạt được những kiến thức cơ bản; tạo nền tảng cho quá trình thực thi công vụ hay nói khác hơn đây chính là yếu tố đầu vào đã được trang bị trước khi tuyển dụng Đó là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức về quản lý nhà nước, kiến thức bổ trợ
- Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Trình độ chuyên môn nghiệp vụ được trang bị ở các cơ sở đào tạo trong
hệ thống giáo dục quốc dân trong nước hoặc nước ngoài bằng nhiều hình thức khác nhau Ở mỗi ngành nghề hay vị trí công việc đòi hỏi các trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định Kiến thức về chuyên môn nghiệp vụ thường được đào tạo trước khi tuyển dụng, bố trí, sắp xếp công việc Trong quá trình thực thi công vụ, ở các vị trí công tác, mỗi công chức phải thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
- Kiến thức về quản lý nhà nước
Kiến thức về quản lý nhà nước liên quan đến hoạt động quản lý nhà nước nói chung và kiến thức quản lý hành chính nhà nước nói riêng giúp công chức
có kiến thức tổng quát và cụ thể về hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước
và công vụ công chức Đây là kiến thức liên quan đến hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung và văn bản quy phạm pháp luật nói riêng Đây là kiến thức nền tảng giúp công chức có định hướng đúng đắn trong hoạt động thực thi công vụ
- Kiến thức bổ trợ: ngoại ngữ, tin học
Đây là những công cụ hỗ trợ cho quá trình thực thi công vụ của công chức, tùy ở mỗi ngành nghề và vị trí công việc khác nhau lại có mức độ yêu cầu khác nhau Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường hội nhập kinh tế quốc
tế, đây là những kiến thức cần thiết bắt buộc mỗi người công chức phải có
- Kết quả công tác
Trang 40Kết quả công tác là một trong các yếu tố quan trọng để đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức Đây là kết quả quá trình vận dụng kiến thức,
kỹ năng, thái độ hành vi của công chức trong quá trình thực thi công vụ Kết quả công việc được giao bao gồm số lượng, chất lượng công việc; hiệu suất làm việc; hiệu quả tổ chức hội họp, làm việc nhóm, cách giải quyết công việc… Qua đó, cơ quan đơn vị đánh giá mức độ hoàn thành công việc, tính chịu trách nhiệm của công chức Ở Việt Nam, đánh giá kết quả công việc của công chức ở các mức độ khác nhau như: hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, hoàn thành tốt nhiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực (hay hoàn thành nhiệm vụ) và không hoàn thành nhiệm vụ
* Tiêu chí cụ thể
Ngoài các tiêu chí chung trên, ở từng chức danh, vị trí công việc công chức các cơ quan hành chính nhà nước có tiêu chí đánh giá cụ thể
- Đối với công chức lãnh đạo quản lý
Lãnh đạo là người đứng đầu đơn vị, tổ chức ở một cấp độ nhất định, có chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm để điều hành tổ chức đơn vị được giao quản lý Để đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức lãnh đạo cần dựa vào một số các tiêu chí sau: khả năng định hướng, khả năng tổ chức, khả năng
dự báo, khả năng sáng tạo, khả năng quyết đoán
- Đối với công chức chuyên môn
Đây là lực lượng nòng cốt, chiếm số lượng lớn của cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh Họ là những người tham mưu giúp việc cho lãnh đạo, cơ quan hoạt động hiệu quả Để đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn có thể dựa vào các tiêu chí sau:
Một là, mức độ hiểu biết chuyên môn nghiệp vụ
Người công chức trước khi được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch công chức đã có trình độ về chuyên môn nghiệp vụ nhất định Tuy nhiên trong quá