Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)Xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐINH THỊ DIỆU TÚ
XÃ HỘI HÓA Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAILUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
ĐINH THỊ DIỆU TÚ
XÃ HỘI HÓA Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
Mã số: 60 34 04 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS ĐẶNG KHẮC ÁNH
HÀ NỘI, NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các tư liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn
rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi
Tác giả luận văn
Đinh Thị Diệu Tú
Trang 42 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn 3
6 Ý nghĩa lí luận và thực tiễn của luận văn 7
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH
1.2 CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA Y
TẾ CHỦ YẾU
22
1.2.1 Cho phép thành lập và phát triển y tế tư nhân
1.2.2 Thu viện phí và thực hiện bảo hiểm y tế
1.2.3 Hợp tác công - tư tại các bệnh viện, cơ sở y tế công lập trong
cung ứng dịch vụ theo yêu cầu
22
23
26
1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC
HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA Y TẾ
Trang 51.3.4 Những tập tục của văn hóa dân tộc 31 1.3.5 Tổ chức bộ máy thực hiện chính sách xã hội hóa y tế 31
1.4 KINH NGHIỆM THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA Y
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
37
39
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
HÓA Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
40
2.1 KHÁI QUÁT VỀ BỆNH VIỆN BẠCH MAI 40
2.2 ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA
Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
42
2.2.1 Thực trạng cơ sở pháp lý để thực hiện chính sách xã hội hóa y
tế tại Bệnh viện Bạch Mai
sở hạ tầng, trang thiết bị, liên doanh, liên kết, và cung ứng dịch vụ theo yêu cầu
55
2.2.2.4 Phương thức phát triển nguồn lực cho hoạt động xã hội
hóa y tế
60
2.2.2.5 Phương thức nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ
trong hoạt động xã hội hóa y tế
63
2.2.2.6 Phương thức hợp tác quốc tế đối với xã hội hóa y tế tại
Bệnh viện Bạch Mai
65
2.2.2.7 Phương thức thanh tra, kiểm tra các hoạt động xã hội
hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai
66
2.3 KẾT QUẢ VÀ HẠN CHỀ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
XÃ HỘI HÓA Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI
67 2.3.1 Kết quả đạt được trong việc thực hiện chính sách XHH y tế tại 67
Trang 6Bệnh viện Bạch Mai
2.3.2 Những hạn chế trong thực hiện chính sách XHH y tế tại Bệnh
viện Bạch Mai
73
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong thực hiện chính sách
XHH y tế tại Bệnh viện Bạch Mai
75
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI TRONG GIAI ĐOẠN 2017-2030
3.2 ĐỊNH HƯỚNG ĐẨY MẠNH VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH
SÁCH XÃ HỘI HÓA Y TẾ CỦA BỆNH VIỆN BẠCH MAI
83
3.3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ
HỘI HÓA Y TẾ TẠI BỆNH VIỆN BẠCH MAI GIAI ĐOẠN
2017-2030
84
3.3.1 Nhóm giải pháp huy động nguồn lực tài chính thông qua bảo
hiểm y tế, viện phí, liên danh liên kết để phát triển bệnh viện
85
3.3.2 Tăng cường hơn nữa các hoạt động đầu tư sửa chữa, xây mới
cơ sở vật chất kỹ thuật, xây dựng lại bảng giá dịch vụ khám
chữa bệnh, phát triển hệ thống công nghệ thông tin trong công
tác XHH y tế
89
3.3.3 Kiện toàn tổ chức bộ máy, phát triển, đào tạo nguồn lực đáp
ứng yêu cầu đẩy mạnh chính sách xã hội hóa y tế của bệnh viện
theo hướng tự chủ tài chính
90
3.3.4 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học trong hoạt động xã
hội hóa y tế bệnh viện
92
3.3.5 Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả xã hội
hóa của bệnh viện
94
3.3.6 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các khoa có hoạt động
liên doanh, liên kết
Trang 7LỜI CẢM ƠN
Xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Đặng Khắc Ánh, người hướng dẫn khoa học của luận văn, đã hướng dẫn tận tình và giúp đỡ cả về nội dung và phương pháp để em hoàn thành luận văn
Xin trân trọng cảm ơn Quý Thầy Cô trong Hội đồng chấm luận văn đã
có những góp ý về những thiếu sót của luận văn, giúp luận văn càng hoàn thiện hơn
Để có được kiến thức như ngày hôm nay, cho phép em gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Quý Thầy Cô Khoa Sau đại học, Khoa Hành Chính học, các khoa của Học viện Hành chính quốc gia trong thời gian qua đã truyền đạt cho em những kiến thức và phương pháp quý báu để em hoàn thành bài luận văn
Trong quá trình thực hiện luận văn, em xin cám ơn sự quan tâm giúp đỡ của Quý Thầy Cô, bạn bè và các khoa, phòng Bệnh viện Bạch Mai
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 7 năm 2017
Tác giả luận văn
Đinh Thị Diệu Tú
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BHYT Bảo hiểm y tế
BSCKI Bác sĩ chuyên khoa I
BSCKII Bác sĩ chuyên khoa II
HĐND Hội đồng nhân dân
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
KCB Khám chữa bệnh
KHTH Kế hoạch tổng hợp
TLSD Tỷ lệ sử dụng
TNGT Tai nạn giao thông
TTLB Thông tư liên bộ
TƯ Trung ương
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU Nội dung bảng biểu Trang
Bảng 1.1 Chủ thể của chính sách xã hội hóa y tế 21 Bảng 2.1 Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Bạch Mai 41 Bảng 2.2 Số liệu tổng hợp về thu viện phí (2011- 2015) 49
Bảng 2.3 Số liệu tổng hợp từ nguồn bảo hiểm y tế của Bệnh
Bảng 2.7 Số liệu tổng hợp về đào tạo của Bệnh viện Bạch
Mai (giai đoạn 2000 - 6/2015)
63
Bảng 2.8 Số liệu tổng hợp một số kỹ thuật cao của Bệnh
viện Bạch Mai (2012 - 2016)
64
Bảng 2.9 Một số kết quả khám chữa bệnh và phẫu thuật của
Bệnh viện Bạch Mai (giai đoạn 2011 – 2015)
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Sự nghiệp phát triển y tế luôn được Chính phủ các nước ưu tiên hàng đầu Thành quả của y tế tham gia tích cực vào sự phát triển con người và kinh
tế - xã hội của đất nước Thụ hưởng đầy đủ dịch vụ y tế có ý nghĩa quyết định đến chất lượng cuộc sống Tăng cường xã hội hóa dịch vụ công trong đó có xã hội hóa y tế là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta đã khẳng định trong các văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, IX, X, XI, XII Nhận thức rõ mục tiêu, nội dung chính sách xã hội hóa y tế và nắm vững chính sách của Đảng và Nhà nước là tiền đề quan trọng để xây dựng và thực thi có hiệu quả chính sách đẩy mạnh hoạt động xã hội hóa y tế
Ở nước ta hiện nay phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, thực thiện chính sách xã hội hóa y tế là nhằm mục tiêu huy động, phát huy và
sử dụng hiệu quả các nguồn lực vật chất, trí tuệ của xã hội để nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, tạo điều kiện toàn bộ xã hội đặc biệt là đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng các thành quả của y tế Bên cạnh đầu tư ngân sách nhà nước thì việc thông qua chính sách xã hội hóa để huy động nguồn lực của xã hội phát triển y tế Chính sách xã hội hóa y tế không chỉ thuần túy
là đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của bệnh nhân mà còn góp phần an sinh
xã hội và thực hiện việc đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội
Những năm gần đây hệ thống các cơ sở cung ứng dịch vụ y tế ngoài công lập ngày càng phát triển, tạo ra rất nhiều việc làm Cơ sở y tế ngoài công lập được thành lập mới, thực hiện cấp cứu, khám chữa bệnh cho hàng triệu lượt người góp phần giảm tải cho các cơ sở khám chữa bệnh công lập, hình thành cơ chế cạnh tranh giữa các loại hình cung ứng dịch vụ công lập và ngoài công lập nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ y tế góp phần chăm sóc sức
Trang 11khỏe nhân dân Đồng thời huy động được nhiều nguồn lực xã hội cùng với ngân sách nhà nước đầu tư cho y tế, tạo điều kiện cho ngân sách nhà nước tập trung đầu tư phát triển cho cơ sở công lập ở những vùng khó khăn, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, y tế dự phòng, y tế cơ sở, chăm sóc sức khỏe
cơ bản cho người nghèo, các đối tượng chính sách
Bên cạnh những mặt tích cực, chính sách xã hội hóa y tế còn có một số điểm bất cập, đó là chưa đảm bảo được định hướng đề ra; Kết quả đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và thiếu vững chắc; Cơ chế chính sách thu hút các nguồn lực xã hội để phát triển y tế ngoài công lập chưa đủ mạnh; Các chính sách đòn bẩy kinh tế như thuế, tín dụng, đất đai, chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội chưa được triển khai đồng bộ, nhất quán; Sự phối hợp giữa các
bộ ngành và địa phương chưa chặt chẽ; Công tác chỉ đạo tổ chức thực hiện thiếu kiên quyết hoặc buông lỏng quản lý hoặc chậm chuyển đổi phương thức quản lý, đồng thời chưa hoặc ít quan tâm đến việc nâng cao mức hưởng thụ của nhân dân về chăm sóc sức khỏe
Những hạn chế trên đây là do quan niệm về xã hội hóa của các cấp, các ngành và xã hội còn chưa rõ Khái niệm “xã hội hóa” dịch vụ công đã được sử dụng khá phổ biến trong các văn kiện của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhiều năm nay, nhưng nội hàm của nó vẫn chưa được làm rõ, còn nhiều ý kiến khác nhau Một số quan điểm cho rằng xã hội hóa chỉ là biện pháp huy động đóng góp kinh phí của nhân dân trong điều kiện kinh phí nhà nước khó khăn Người dân thiếu tin tưởng trong việc cung ứng dịch vụ của cá nhân và tổ chức ngoài công lập Một số cán bộ và đại đa số người dân còn tư tưởng bao cấp, trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước Công tác tuyên truyền chính sách xã hội hóa chưa thực sự phát huy hiệu quả
Bên cạnh đó cũng còn một số khó khăn như việc thực hiện Luật Khám bệnh, chữa bệnh, các thông tư hướng dẫn về điều kiện cán bộ viên chức thuộc
Trang 12cơ sở y tế công lập tham gia thực hiện đề án xã hội hóa còn chưa rõ ràng, chi tiết; Công tác định giá tài sản nhà nước để tính giá trị đối ứng vào đề án xã hội hóa chưa được hướng dẫn cụ thể; Các dịch vụ xã hội hóa chưa được Bộ Y
tế ban hành khung giá trần nhằm công khai, minh bạch giá; Các đề án xã hội hóa của bệnh viện công lập chưa có chính sách hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng
Hiện nay, việc triển khai chính sách xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai còn nhiều bất cập vì chưa có cơ chế nhằm khuyến khích thu hút nguồn nhân lực trước tình hình thiếu nhân lực, thiếu cơ sở vật chất để phục vụ người bệnh Bước đầu tiếp cận xã hội hóa nên việc triển khai tại các khoa trong bệnh viện chưa đồng bộ và hiệu quả chưa cao Trong khi việc nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn thực hiện chính sách xã hội hóa y tế, tìm kiếm các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai chưa được quan tâm đúng mức dẫn đến việc áp dụng còn nhiều lúng túng,
vướng mắc Với lý do đó, tác giả đã lựa chọn chính sách: “Xã hội hóa y tế tại
Bệnh viện Bạch Mai” là đề tài nghiên cứu của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Đã có một số công trình nghiên cứu khoa học về xã hội hóa y tế, có thể tóm tắt nghiên cứu tiêu biểu:
- Đề tài khoa học cấp nhà nước về “Nghiên cứu thực trạng và xây dựng
mô hình huy động xã hội thực hiện xã hội hóa y tế đảm bảo công bằng và hiệu quả trong chăm sóc sức khỏe nhân dân” [1] của Viện Chiến lược và Chính sách y tế nhấn mạnh xã hội hóa y tế đó là sự tham gia của cộng đồng trong chăm sóc sức khỏe nhân dân như hộ gia đình trồng cây thuốc nam, các cá nhân tự chăm sóc sức khỏe, công tác khám chữa bệnh cho người nghèo Việc thực hiện xã hội hóa y tế góp phần tăng thêm nguồn tài chính cho công tác khám chữa bệnh
Trang 13- Nghiên cứu của Huỳnh Bửu Sơn trong bài “Xã hội hóa dịch vụ công”
[32] đề cập tới xã hội hóa y tế khía cạnh cổ phần hóa Tác giả khẳng định cần xem xét nghiêm túc vấn đề xã hội hóa y tế như cổ phần hóa một số bệnh viện công nhằm nâng cao chất lượng chữa bệnh bởi điều này dẫn đến sự cải thiện
về nguồn vốn và hiệu quả đầu tư, hiện đại hóa trang thiết bị, cải thiện cách quản lý, tạo động lực làm việc và nâng cao chất lượng phục vụ
- Nghiên cứu của Nguyễn Hoài Nam với bài “Phải xã hội hóa nền y tế mới phát triển” [27] đề cập tới xã hội hóa là phát triển y tế tư nhân Ông nêu
rõ hiệu quả của y tế tư nhân ở các nước phát triển bệnh viện công chỉ chiếm 1/5 trong số các bệnh viện, còn lại là bệnh viện tư Xã hội hóa y tế là yêu cầu cấp bách của nhà nước và toàn dân, chỉ có xã hội hóa, nền y tế mới có điều kiện phát triển
- Nghiên cứu của Đặng Khắc Ánh trong bài viết “Nâng cao chất lượng
xã hội hóa dịch vụ công” [4] đã đưa ra khái niệm xã hội hóa đó là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện việc cung cấp dịch vụ công; Đa dạng hóa các hình thức cung cấp dịch
vụ, mở rộng các cơ hội cho các tầng lớp nhân dân tham gia chủ động và bình đẳng vào các hoạt động cung cấp dịch vụ công
- Nghiên cứu của Nguyễn Trí Hòa trong bài “Một số ý kiến về xã hội hóa dịch vụ công” [25] đề cập đến dịch vụ công nào có thể xã hội hóa Nhóm dịch vụ công đặc biệt thuộc độc quyền của nhà nước như an ninh, quốc phòng, ngoại giao thì không được xã hội hóa Nhóm dịch vụ mà người dân dùng miễn phí, hay chi trả một phần như y tế, giáo dục thì có thể xã hội hóa
- Nghiên cứu của Ngô Toàn Định “Đổi mới cơ chế quản lý bệnh viện công - xã hội hóa các hoạt động khám chữa bệnh” [22] chỉ rõ phải đổi mới cơ chế quản lý bệnh viện công bằng việc xã hội hóa hoạt động khám chữa bệnh
Trang 14- Nghiên cứu của Hoàng Thu Hòa và Đinh Văn Ân trong “Đổi mới cung ứng dịch vụ công ở Việt Nam” [2] đã chỉ ra tính tất yếu phải đổi mới cung ứng dịch vụ công, đặc biệt là y tế, đó là phát triển y tế tư nhân để tạo ra
sự cạnh tranh nâng cao chất lượng y tế tại cơ sở y tế công lập và cung ứng thêm dịch vụ cho người sử dụng Mở rộng và đa dạng hóa các hoạt động bảo
vệ, chăm sóc sức khỏe của nhân dân; Củng cố và phát triển hệ thống y tế công lập; Phát triển bảo hiểm y tế; Đa dạng hóa các loại hình khám chữa bệnh Nghiên cứu cũng đề xuất các giải pháp tăng cường xã hội hóa y tế như tăng đầu tư ngân sách cho y tế; Xóa bỏ độc quyền trong xuất nhập khẩu, sản xuất thuốc chữa bệnh và trang thiết bị y tế; Tăng cường chuyển giao cho các tổ chức, cá nhân ngoài công lập thực hiện các nhiệm vụ ngoài chuyên môn, kỹ thuật
- Nghiên cứu của Nguyễn Văn Thường “Một số chủ trương và giải pháp thực hiện xã hội hóa công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân”
[33] chỉ rõ xã hội hóa cần có sự tham gia rộng rãi của nhân dân và sự phối hợp liên ngành vào thực hiện các mục tiêu y tế, đồng thời tác giả đưa ra giải pháp thực hiện xã hội hóa như sửa đổi chế độ thu viện phí cho phù hợp với thay đổi kinh tế xã hội, sửa đổi mức phí bảo hiểm y tế cho phù hợp với giá viện phí, đa dạng hóa các mức đóng góp, thực hiện cơ chế chi trả thích hợp, khám chữa bệnh cho người nghèo, ban hành chính sách huy động nguồn lực của nhân dân vào công tác khám chữa bệnh
- Nghiên cứu của Đặng Khắc Ánh “Hợp tác công - tư và vận dụng vào cải cách khu vực công ở Việt Nam” [3] nêu rõ xã hội hóa y tế dưới hình thức hợp tác công tư trong việc liên doanh, liên kết đầu tư trang thiết bị, máy móc tại bệnh viện công lập và hợp tác trong khám chữa bệnh bảo hiểm y tế
Những nghiên cứu trên về chính sách xã hội hóa y tế với những đóng góp không nhỏ và có ý nghĩa tham khảo cho luận văn Tuy nhiên xã hội hóa y
Trang 15tế trong những năm qua còn nhiều bất cập cần giải quyết như tạo sự phân biệt đối xử, lạm dụng, khó kiểm soát và cũng chưa có nghiên cứu chính sách lĩnh vực này tại Bệnh viện Bạch Mai Chính vì vậy, tiếp tục nghiên cứu chính sách
xã hội hóa y tế nói chung và xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai nói riêng
là cần thiết và nghiên cứu này có thể là mô hình áp dụng triển khai cho các bệnh viện tuyến trung ương trong việc thực hiện có hiệu quả chính sách xã hội hóa y tế
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về xã hội hóa và xã hội hóa y tế
- Làm rõ nội dung các phương thức xã hội hóa y tế hiện nay
- Phân tích thực trạng thực hiện chính sách xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai, từ đó đưa ra đánh giá những thành tựu đạt được, cũng như hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong thực hiện chính sách xã hội hóa từ thực tiễn Bệnh viện Bạch Mai
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm đổi mới việc thực hiện chính sách xã hội hóa y tế phù hợp với điều kiện thực tế tại Bệnh viện Bạch Mai và đề ra giải pháp tăng cường xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trang 16- Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực
hiện chính sách xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai, cũng như thực trạng
và các giải pháp thực hiện chính sách xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai, trong đó tập trung vào hoạt động khám chữa bệnh
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện tại Bệnh viện Bạch
Mai, tập trung vào giai đoạn từ năm 2011 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Cơ sở và phương pháp luận được sử dụng trong
luận văn là phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và vận dụng quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về chính sách xã hội hóa y tế
- Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
+ Phương pháp phân tích tổng hợp
+ Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Nghiên cứu, phân tích, tổng hợp để làm rõ khái niệm “ xã hội hóa” từ
đó có hướng tiếp cận mới toàn diện hơn và khoa học hơn đối với khái niệm
“xã hội hóa y tế” Trên cơ sở đó đánh giá sự nhận thức về việc thực hiện chính sách xã hội hóa y tế ở nước ta hiện nay, vai trò và chức năng của nhà nước và trách nhiệm của xã hội trong tổ chức và thực hiện chính sách y tế nhằm mang lại dịch vụ chăm sóc y tế tốt nhất đến cho người dân
Đánh giá tác động của việc thực hiện chính sách xã hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai thông qua việc phân tích thống kê hoạt động của công tác xã hội hóa y tế tại bệnh viện để từ đó tìm ra những bất cập trong quản lý
và thực hiện chính sách xã hội hóa y tế tại các đơn vị trong bệnh viện
Các kết quả nghiên cứu cho phép luận văn đưa ra các đề xuất về khung chính sách và quy định để đẩy mạnh chính sách xã hội hóa y tế từ đó nâng cao kết quả chăm sóc sức khỏe nhân dân Nghiên cứu có thể được ứng dụng vào
Trang 17việc nâng cao chất lượng phục vụ của Bệnh viện Bạch Mai, đồng thời kiểm soát và hạn chế tối đa các yếu tố tiêu cực, khuyến khích, phát huy yếu tố tích cực của các phương thức xã hội hóa y tế nhằm thực hiện thành công chính sách xã hội hóa y tế
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách xã hội hóa y tế
Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách xã hội hóa y tế tại Bệnh viện
Bạch Mai
Chương 3: Phương hướng và giải pháp tăng cường thực hiện chính sách xã
hội hóa y tế tại Bệnh viện Bạch Mai giai đoạn 2017 - 2030
Trang 18Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA Y TẾ 1.1 QUAN NIỆM VỀ XÃ HỘI HÓA VÀ CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA Y TẾ
1.1.1 Một số khái niệm có liên quan về xã hội hóa
Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định
của số đông, có tổ chức và được trả công
Dịch vụ công là thuật ngữ được sử dụng để chỉ những hoạt động của cơ
quan, tổ chức nhà nước hoặc các tổ chức xã hội, tư nhân được nhà nước ủy quyền để thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vu trực tiếp những nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội [23]
Xã hội hóa
Trong những năm gần đây, “xã hội hoá” đã trở thành một chính sách lớn, quan trọng trong việc đổi mới các lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội ở Việt Nam Tuy nhiên, cho đến nay khái niệm này được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau và có những nội hàm hoàn toàn khác nhau Trước đây các lĩnh vực dịch vụ công đều do Nhà nước bao cấp và trực tiếp điều hành, tức là được vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp Chính sách mặc dù
đã có tác dụng tích cực trong điều kiện đất nước còn nghèo và có chiến tranh, tuy nhiên các lĩnh vực dịch vụ công chỉ bó hẹp trong phạm vi các nguồn lực
có hạn của Nhà nước, gây ra sự lãng phí, hiệu quả thấp trong cung cấp dịch
vụ và tâm lý thụ động của nhân dân và các cấp quản lý Thực hiện chính sách
xã hội hoá chính là yêu cầu khách quan để khắc phục tình trạng không hợp lý
đó, cũng là giải pháp quan trọng để thực hiện chính sách công bằng xã hội trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Đảng và Nhà nước
Trang 19Xã hội hoá là vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào công cuộc phát triển đất nước Bản chất của xã hội hoá là huy động các tiềm năng về nhân lực, vật lực, tài lực của toàn xã hội, trên cơ
sở đổi mới cơ chế quản lý, đa dạng hoá các hình thức hoạt động và các nguồn đầu tư, đổi mới vai trò và trách nhiệm của Nhà nước, xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội và nghề nghiệp
Thực tế ở nước ta thời gian qua cho thấy, xã hội hóa là một khái niệm bao quát với những nội dung và mức độ khác nhau của các quá trình sau:
Xã hội hóa là việc chuyển các doanh nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nước sang hoạt động theo cơ chế thị trường, tham gia cạnh tranh thị trường đầy đủ và trực tiếp với các thành phần kinh tế khác
Xã hội hóa là việc chuyển dịch cơ chế quản lý ngân sách nhà nước đối với hoạt động cung ứng dịch vụ công từ phương thức cấp phát trực tiếp mang tính bao cấp sang cơ chế đấu thầu theo đơn đặt hàng của nhà nước, không phân biệt doanh nghiệp nhà nước hay ngoài nhà nước
Xã hội hóa không có nghĩa giảm nhẹ trách nhiệm của nhà nước, giảm bớt ngân sách nhà nước mà xã hội hóa là mở rộng nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng nhân lực, vật lực, tài lực của xã hội, cho phép các nhà đầu tư, các doanh nghiệp ngoài khu vực kinh tế nhà nước được tham gia tự do rộng rãi vào các lĩnh vực, hoạt động vốn thuộc sự độc quyền của nhà nước
Xã hội hóa là việc người dân thụ hưởng và sử dụng các dịch vụ tiện ích
xã hội được tài trợ từ ngân sách nhà nước phải trả tiền hoặc tăng thêm đóng góp tài chính và tham gia giám sát, dân chủ hơn để thụ hưởng các dịch vụ đa dạng hơn, chất lượng hơn, thuận tiện và phù hợp với nhu cầu
Xã hội hoá dịch vụ công có nghĩa là mở rộng sự tham gia của các chủ thể
kinh tế ngoài nhà nước vào việc cung ứng dịch vụ công Trước đây hoạt động
Trang 20cung ứng dịch vụ công chỉ do một mình Nhà nước đảm nhiệm thì nay được
mở rộng sự tham gia của nhiều chủ thể kinh tế khác dựa trên điều kiện và cơ chế nhất định
1.1.2 Chính sách xã hội hóa y tế
1.1.2.1 Khái niệm
Khái niệm chính sách công
Trong hệ thống các công cụ quản lý được Nhà nước dùng để điều hành hoạt động kinh tế - xã hội thì chính sách được coi là công cụ nền tảng định hướng cho các công cụ khác
Theo các nhà nghiên cứu trên thế giới thì “chính sách” là “một đường lối hành động được thông qua và theo đuổi bởi chính quyền, đảng, nhà cai trị, chính khách”; Hay “chính sách bao gồm một chuỗi các quyết định và các hành động mà trong đó phân phối thực hiện các giá trị”; Hoặc “khái niệm chính sách bao hàm sự lựa chọn có chủ định hành động hoặc không hành động, thay vì những tác động của các lực lượng có quan hệ với nhau” [23, tr.45]
Có quan niệm lại cho rằng chính sách là những hành động có tính toán của chủ thể để đối phó với đối tượng quản lý theo hướng đồng thuận hay phản đối
Như vậy có thể thấy, chính sách đôi khi có thể được nhận thấy dưới hình thức các quyết định đơn lẻ, nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc được nhìn nhận như là một sự định hướng hành động cụ thể Nhà nước là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách để mưu cầu lợi ích cho cộng đồng xã hội Chính sách của nhà nước (chính sách công) tác động rộng khắp đến mọi đối tượng, mọi quá trình trên phạm vi toàn quốc, có thể mang tính chính trị, kinh tế, hành chính, kỹ thuật được lồng ghép vào các cơ chế quản lý điều hành thống nhất
Trang 21PGS.TS Nguyễn Hữu Hải - Học viện Hành chính quốc gia đã đưa ra định nghĩa một cách chung nhất về chính sách công như sau: “Chính sách công là kết quả ý chí chính trị của nhà nước được thể hiện bằng một tập hợp các quyết định có liên quan với nhau, bao hàm trong đó định hướng mục tiêu
và cách thức giải quyết những vấn đề công trong xã hội” [23, tr.51]. Như vậy,
chính sách công là thể hiện cụ thể của những chủ trương, quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; Có những chủ trương, định hướng phát triển chung và những chủ trương định hướng cho từng ngành và lĩnh vực cụ thể
Chủ thể ban hành chính sách công là Nhà nước Cơ quan trong bộ máy Nhà nước là chủ thể ban hành chính sách công, thông qua ý chí chính trị của Nhà nước Các quyết định chính sách công là những quyết định chính trị, bao hàm ý chí chính trị và thực tiễn cuộc sống nhằm đáp ứng nhu cầu của người dân Chính sách công tập trung giải quyết vấn đề xã hội đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội theo mục tiêu tổng thể đã xác định, không chỉ đề ra mục tiêu và các giải pháp với công cụ hành động thực hiện nhằm giải quyết một hoặc một số vấn đề có mối quan hệ biện chứng đang đặt ra trong đời sống xã hội, mà còn giải quyết mối quan hệ giữa các bên tham gia chính sách
Ở nhiều quốc gia hiện nay, chính sách công đã và đang trở thành công
cụ chính yếu của Nhà nước để quản lý các đối tượng kinh tế - xã hội Chính sách công có vai trò đặc biệt quan trọng được dùng để định hướng phát triển
và là động lực thúc đẩy các quá trình phát triển kinh tế - xã hội; Đồng thời phát huy các mặt tích cực, hạn chế các mặt tiêu cực, nâng cao chất lượng phát triển xã hội Ngoài ra, chính sách công còn có vai trò tạo lập sự cân đối hài hòa, bền vững trong phát triển
Chính sách xã hội hóa y tế là chính sách công, là một tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước về xã hội hóa y tế nhằm lựa chọn các
Trang 22mục tiêu cụ thể, giải pháp và công cụ chính sách để giải quyết vấn đề về xã hội hóa y tế theo mục tiêu tổng thể của Đảng và Nhà nước đã xác định
Khái niệm chính sách xã hội hóa y tế
Trách nhiệm phát triển sự nghiệp y tế không phải là của riêng tổ chức hay cá nhân nào mà đòi hỏi sự gánh vác của toàn xã hội, cụ thể là Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân, doanh nghiệp, gia đình và tổ chức xã hội, các chủ thể cung ứng lẫn đối tượng thụ hưởng dịch vụ y tế Đương nhiên Nhà nước phải chịu trách nhiệm cao nhất trong việc tổ chức cung ứng dịch vụ cũng như đảm bảo chất lượng dịch vụ Bên cạnh đó cũng cần tăng cường sự quan tâm và tham gia rộng rãi của xã hội về mặt vật chất và tinh thần đối với các dịch vụ y tế; Mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác các tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực trong xã hội; Phát huy và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, tạo điều kiện cho y tế phát triển nhanh với chất lượng ngày càng cao, góp phần thỏa mãn nhu cầu khám và chữa bệnh của người dân, thực hiện công bằng xã hội trong thụ hưởng thành quả dịch vụ y tế nhưng không làm giảm vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực này
Chính sách xã hội hóa y tế là xây dựng cộng đồng trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân trong việc tạo lập, cải thiện môi trường kinh tế, xã hội thuận lợi cho các hoạt động y tế ở từng địa phương; Khuyến khích, huy động
và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia quản lý và cung ứng dịch vụ y tế; Đa dạng hóa các loại hình tổ chức hoạt động y tế; Mọi tổ chức, gia đình và công dân có trách nhiệm chăm lo phát triển y tế nhưng Nhà nước đóng vai trò chủ đạo trong quản lý tổ chức và cung ứng các dịch vụ y tế
Nói cách khác chính sách xã hội hóa y tế là quá trình mở rộng sự tham gia của các đối tác (các chủ thể) xã hội với nhiều phương thức (phương pháp, hình thức, biện pháp) và mô hình linh hoạt để chia sẻ trách nhiệm xã hội cùng
Trang 23với Nhà nước trong việc giải quyết nhiệm vụ về y tế hướng vào mục tiêu phát triển con người và phát triển bền vững đất nước
Mục tiêu lớn của chính sách xã hội hóa y tế như Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ xác định là phát huy tiềm năng trí tuệ và vật chất trong nhân dân, huy động toàn bộ xã hội chăm lo sự nghiệp y tế và tạo điều kiện để toàn xã hội, đặc biệt là các đối tượng chính sách, người nghèo được hưởng thành quả y tế ở mức độ ngày càng cao
Vì vậy, chính sách xã hội hóa y tế là một phương cách ủy quyền có điều kiện của Nhà nước cho tư nhân cung ứng để khai thác các tiềm năng về nhân lực vật lực cũng như trí lực trong xã hội (không chỉ giải quyết sự thiếu hụt về tài chính) nhằm phát triển dịch vụ y tế thông qua việc vận dụng quy luật thị trường, tạo cơ hội cạnh tranh giữa các đơn vị công lập và ngoài công lập Sự tham gia của khu vực tư nhân trong cung ứng dịch vụ y tế nhưng không được phép biến y tế thành thị trường kinh doanh theo quy luật tuyệt đối của thị trường, mà Nhà nước có thể mua dịch vụ y tế của tư nhân hoặc ủy quyền cung cấp dịch vụ phục vụ cho mục tiêu của Nhà nước Hơn nữa, hoạt động của các đối tác tham gia thực hiện chính sách xã hội theo phương thức
xã hội hóa chủ yếu là không vì mục tiêu lợi nhuận mà nếu là hoạt động kinh doanh thì phải có điều kiện
Chính sách xã hội hóa y tế là việc doanh nghiệp, tư nhân, các hội, tổ chức phi chính phủ tham gia cùng Nhà nước thực hiện cung ứng các dịch vụ này nhưng không làm biến đổi tính chất dịch vụ cũng như không làm giảm vai trò chịu trách nhiệm bảo đảm cung ứng dịch vụ công của Nhà nước
Đẩy mạnh chính sách xã hội hóa y tế có nghĩa là mở rộng các chủ thể cung ứng các dịch vụ nhưng không làm mất đi hay giảm “tính dịch vụ công” của các dịch vụ này Nhà nước có vai trò điều tiết, chỉ đạo, giám sát, kiểm tra việc tổ chức các dịch vụ Dù có sự tham gia của các chủ thể khác thì Nhà
Trang 24nước vẫn luôn là người chịu trách nhiệm chính trị, pháp lý cuối cùng trong việc bảo đảm cung ứng dịch vụ y tế cho người dân và cộng đồng, bảo đảm công bằng và ổn định xã hội
Chính sách xã hội hóa y tế bao gồm nhiều loại hình khác nhau trong việc đào tạo nhân lực, hoạt động từ thiện, nhân đạo, góp vốn, liên doanh liên kết đặt thiết bị, vay vốn ngân hàng… Trong đó, bảo hiểm y tế và thu một phần viện phí là hai loại hình quan trọng và chủ chốt Luật Bảo hiểm y tế được ban hành (2009), đến nay trên 70% dân số có BHYT và nguồn BHYT
đã chiếm 70-80% kinh phí của các bệnh viện, trong đó 58% là do người lao động và chủ sử dụng lao động đóng góp
Như vậy, chính sách xã hội hóa y tế là quá trình huy động sự tham gia giữa các hình thức khác nhau của các chủ thể và cộng đồng xã hội, đồng thời tăng cường vai trò của Nhà nước đối với y tế nhằm nâng cao chất lượng cung ứng các dịch vụ và mở rộng đối tượng thụ hưởng, bảo đảm công bằng xã hội
trong đóng góp và thụ hưởng các dịch vụ y tế
1.1.2.2 Mục tiêu của chính sách xã hội hóa y tế
Chính sách y tế là chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân từ hoạt động
vệ sinh môi trường sống và làm việc, dinh dưỡng, phòng chống bệnh tật, khám và điều trị bệnh Chính sách xã hội hóa y tế là vận động, tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội và sự phát triển của sự nghiệp
y tế nhằm từng bước nâng cao mức thụ hưởng các dịch vụ y tê vào sự phát triển thể chất, tinh thần của nhân dân Vì vậy, mục tiêu chủ yếu của chính sách xã hội hóa y tế là:
- Huy động các nguồn lực tài chính trong xã hội
Hầu hết các quốc gia trên thế giới, chi tiêu cao nhất thường dành cho chăm sóc sức khỏe, điều này xuất phát từ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân ngày càng tăng (dịch bệnh, sự phát triển của trang thiết bị) [38, tr
Trang 2548] Nằm trong xu hướng đó, trong những năm qua Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác y tế, tạo điều kiện huy động nguồn lực ngoài nhà nước cho công tác phòng bệnh, chữa bệnh, trong khi ngân sách nhà nước dành cho y tế liên tục tăng vẫn không đáp ứng đủ cho ngành y tế Chính sách xã hội hóa huy động nguồn lực trong xã hội phục vụ cho sự phát triển y tế thông qua các hình thức như: Chính sách thu một phần viện phí (từ năm 1989); Chính sách bảo hiểm y tế (từ năm 1992); Huy động nguồn lực để đầu tư phát triển các cơ sở y
tế công lập; Phát triển khu vực y tế tư nhân…
Để thực hiện chính sách xã hội hóa, Bộ Y tế đã đề ra “Huy động nguồn lực để đầu tư phát triển hệ thống y tế công lập” trong đó “Khuyến khích các
cơ sở khám chữa bệnh, điều dưỡng, phục hồi chức năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước, hợp tác và liên kết với các doanh nghiệp, cá nhân để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cấp trang thiết bị và cung cấp các dịch vụ y tế phù hợp với quy hoạch đã được phê duyệt” [9].Thực hiện chính sách này, việc huy động các nguồn lực để đầu tư phát triển các cơ sở y
tế công lập đang được thực hiện dưới hai hình thức chủ yếu là liên doanh, liên kết đầu tư thiết bị y tế tại các bệnh viện công và phát triển dịch vụ theo yêu cầu tại các bệnh viện công trong khi kinh phí nhà nước chưa cung cấp đủ Việc huy động các nguồn lực xã hội giúp nâng cao một bước số lượng cũng như chất lượng các dịch vụ y tế phục vụ nhân dân Theo báo cáo của Chính phủ, đến nay các bệnh viện công huy động được khoảng 3.000 tỷ đồng để triển khai kỹ thuật cao, trong đó các bệnh viện trực thuộc Bộ Y tế trên 500 tỷ đồng; Các đơn vị thuộc thành phố Hồ Chí Minh huy động và vay quỹ kích cầu gần 1.000 tỷ đồng; Các đơn vị thuộc Hà Nội huy động được trên 100 tỷ đồng, Quảng Ninh gần 50 tỷ đồng [11]
Chính sách xã hội hóa y tế đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh ngày càng đa dạng của các tầng lớp nhân dân, nhất là các đối tượng có khả năng chi
Trang 26trả, các hình thức khám chữa bệnh theo yêu cầu, sự phát triển của y tế tư nhân giúp họ có nhiều lựa chọn hơn, được cung cấp các dịch vụ chất lượng cao mà trước đây người bệnh phải đi khám, chữa bệnh ở nước ngoài Chính sách xã hội hóa y tế đã đáp ứng nhu cầu chẩn đoán, điều trị, phát triển kỹ thuật cao, phát hiện sớm và chính xác bệnh tật, giảm tỷ lệ tử vong Nhiều kỹ thuật mới
đã được thực hiện, trình độ kỹ thuật y tế của Việt Nam nâng cao và ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực
Người dân, trong đó có cả người nghèo, cận nghèo, trẻ em, đối tượng chính sách xã hội cũng được hưởng lợi vì chính sách xã hội hóa y tế là cơ chế mang đến cho họ nhiều lợi ích như thẻ bảo hiểm y tế miễn phí, được sử dụng các dịch vụ y tế kỹ thuật cao, chi phí lớn và được bảo hiểm y tế thanh toán
Chính sách xã hội hóa y tế góp phần tăng nguồn thu cho bệnh viện, tăng thu nhập cho cán bộ ngành y, bổ sung kinh phí hoạt động của các đơn vị
và là tiền đề cơ bản cho sự cải tiến cơ cấu tổ chức, hạch toán kế toán để các bệnh viện hoạt động hiệu quả hơn Chính sách xã hội hóa cũng dành nguồn ngân sách cho y tế dự phòng hoạt động có hiệu quả, mang lại nhiều lợi ích cho các vùng miền còn khó khăn về tài chính
- Chính sách xã hội hóa y tế cân bằng lại khu vực công - tư, hoàn
thiện khu vực y tế công, thúc đẩy sự phát triển của y tế tư nhân
Một thời gian dài trước đây, nhà nước đã thực hiện bao cấp trong y tế
mà vắng bóng của thị trường, điều đó để lại sự trì trệ trong các bệnh viện công, người dân được khám, chữa bệnh, cấp thuốc miễn phí nhưng ở dịch vụ thấp, đây cũng là thời điểm thiếu hụt nghiêm trọng nguồn lực trong phục vụ
sự nghiệp y tế Hiện nay, nhà nước và thị trường có vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực sản xuất và cung cấp dịch vụ y tế Chính sách xã hội hóa y tế cho phép ngành y cân bằng lại giữa nhà nước và thị trường Khu vực tư nhân được phép tham gia vào một số lĩnh vực phù hợp thì y tế công có điều kiện
Trang 27tập trung hơn vào những mảng chính như đào tạo, y tế dự phòng, y tế kỹ thuật
cao Các văn bản pháp lý về chính sách xã hội hóa y tế đã tạo điều kiện thuận
lợi cho sự phát triển của y tế tư nhân, y tế công thông qua cơ chế tự chủ tài chính, cho phép các bệnh viện thu phí, cung cấp dịch vụ theo yêu cầu hay các hoạt động liên doanh liên kết Những hoạt động này mang lại nguồn lực tài chính, vật chất không nhỏ cho các bệnh viện, và là tiền đề cho sự cải tiến cơ cấu tổ chức, hạch toán kế toán để các bệnh viện hoạt động hiệu quả hơn
- Chính sách xã hội hóa y tế đảm bảo tính công bằng, hiệu quả trong lĩnh vực y tế
Trong cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta,
hệ thống chăm sóc sức khỏe phải được vận hành trong sự thống nhất giữa hai mặt công bằng và hiệu quả Khi nguồn lực của xã hội được huy động cho hoạt động khám chữa bệnh tăng cũng đồng nghĩa với phần ngân sách nhà nước dành để đầu tư cho lĩnh vực ưu tiên như y tế cơ sở, y tế dự phòng cũng tăng
Sự phân bổ ngân sách luôn được cho là vừa đảm bảo tính công bằng vừa đảm bảo tính hiệu quả Nguồn ngân sách này dành để hỗ trợ cho các đối tượng chính sách thông qua hoạt động mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, trẻ
em, các đối tượng khác, đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân Chính sách viện phí bệnh viện công và khám bệnh ở khu vực y tế tư nhân theo dịch vụ bên cạnh đó người nghèo được miễn giảm viện phí của chính sách xã hội hóa y tế hay đóng góp theo khả năng chi trả là cách đảm bảo công bằng trong y tế Việc đa dạng hóa các loại hình cung cấp dịch vụ y tế cũng là cách thức đảm bảo tính hiệu quả ở khía cạnh nào đó khi khu vực tư nhân luôn được cho là sử dụng tiêt kiệm và hiệu quả nguồn lực Vì vậy công bằng là mục đích nhân đạo của nền y tế và cũng là một trong những tiêu chí đánh giá hiệu quả Hiệu quả với nội dung là hiệu quả về kinh
tế y tế và cũng là hiệu quả của tính nhân văn trong y tế hay đó chính là công
Trang 28bằng Chính sách xã hội hóa y tế giải quyết công bằng đi đôi với hiệu quả làm cho hệ thống chăm sóc sức khỏe phát triển bền vững lâu dài, góp phần quan trọng vào an sinh xã hội của nước ta
- Chính sách xã hội hóa y tế hoàn thiện cơ chế thị trường trong lĩnh vực y tế
Trong những năm qua, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN đã phát huy được vai trò của nó trong các ngành, các lĩnh vực Tuy nhiên trong lĩnh vực y tế vẫn còn chậm đổi mới và lúng túng trong xây dựng cơ chế hoạt động để phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhằm thực hiện mục tiêu an sinh, công bằng, tiến bộ xã hội Chính sách xã hội hóa y tế là
cơ chế có áp dụng các nguyên tắc kinh tế thị trường, đồng thời cũng là cách thức Chính phủ thực hiện định hướng phát triển y tế tư nhân hay liên doanh với nước ngoài
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, chính sách xã hội hóa y tế từng bước đáp ứng “yêu cầu” và “nhu cầu” của xã hội, đấy là sự công bằng lợi ích trong tình hình mới Bản thân tầng lớp giầu có được đáp ứng tốt trong chăm sóc sức khỏe theo khả năng chi trả của họ thì họ mới tích cực tham gia những giải pháp thực hiện công bằng với người nghèo như họ tích cực tham gia bảo hiểm y tế toàn dân đóng theo thu nhập Vì vậy chính sách xã hội hóa y
tế giải quyết mối quan hệ giữa đáp ứng “yêu cầu” và “nhu cầu” trong chăm sóc sức khỏe của xã hội là một trong những vai trò quan trọng của hệ thống chăm sóc sức khỏe vận hành theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và cũng liên quan chặt chẽ trong mối quan hệ hợp tác công - tư
1.1.2.3 Chủ thể tham gia thực hiện chính sách xã hội hóa y tế
Chăm sóc sức khỏe nhân dân không chỉ là công việc của ngành y tế mà còn cần có sự phối hợp và vào cuộc của các cấp, các ngành, đoàn thể
Trang 29Nhà nước với vai trò hoàn thiện hệ thống pháp lý, tạo ra cơ chế thúc đẩy sự tham gia của các cấp các ngành vào thực hiện chính sách xã hội hóa y
tế như ban hành các văn bản pháp lý, hỗ trợ, giám sát ngành y tế triển khai các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, phòng và chữa bệnh; ban hành các văn bản hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, vai trò của các cấp, ngành, tổ chức, các
cá nhân trong việc thực thi chính sách xã hội hóa y tế
Các ngành khi triển khai nhiệm vụ của mình đều chú ý các vấn đề liên quan đến sức khỏe nhân dân, như ngành Giáo dục và Đào tạo đưa chương trình giáo dục sức khỏe vào giảng dạy chính khóa cùng với chương trình y tế học đường
Các cơ quan đoàn thể khác như Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội Cựu chiến binh, Hội chữ thập đỏ, Hội Y học cổ truyền với các hoạt động xây dựng quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo, tổ chức các lớp tập huấn về kiến thức nâng cao sức khỏe và phòng chống bệnh tật cho hội viên, vận động hội viên, đoàn viên tham gia các hoạt động giữ gìn, chăm sóc và phòng chống bệnh tật [33]
Trang 30Bảng 1.1 Chủ thể của chính sách xã hội hóa y tế
Hệ
thống tổ
chức
Các bên tham gia
Thẩm tra, giám sát
Chính phủ
Thống nhất quản lý xã hội hóa y tế trong phạm vi cả nước, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách cụ thể để đảm bảo phát triển xã hội hóa y tế
Quản lý trong phạm
vi cả nước
Các Bộ, cơ
quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc
Chính phủ
Quản lý nhà nước về xã hội hóa trong ngành, lĩnh vực theo sự phân công của Chính phủ
Quản lý xã hội hóa theo ngành, lĩnh vực
ương
Quản lý về xã hội hóa trên địa bàn tỉnh, thành phố Quản lý cấp
tỉnh, thành phố
Các sở, các
tỉnh trực thuộc trung
ương
Tham mưu, giúp ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước về xã hội hóa trên địa bàn
Tham mưu, quản lý cấp tỉnh Như vậy, chính sách xã hội hóa y tế được ban hành để giải quyết những vấn đề y tế, có liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau trong xã hội Vì vậy có nhiều chủ thể khác nhau trực tiếp tham gia soạn thảo, hoặc định, thực thi, phân tích đánh giá chính sách nhằm thực hiện tốt chính sách xã hội hóa y tế
Trang 311.2 CÁC HÌNH THỨC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA CHỦ YẾU
1.2.1 Cho phép thành lập và phát triển các cơ sở y tế tư nhân
Cùng với quá trình đổi mới, y tế tư nhân được phép hoạt động từ năm
1989 và sau đó được chính thức hợp pháp hóa bằng Pháp lệnh Hành nghề y dược tư nhân được Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành năm 1993 Hiện nay trên cả nước có hơn 70.000 cơ sở y tế tư nhân hoạt động, trong đó có hơn 30.000 cơ sở hành nghề y tư nhân với khoảng hơn 100 bệnh viện tư nhân đang hoạt động (chiếm 9% tổng số bệnh viện trên cả nước) với hơn 6000 giường bệnh (chiếm 5% tổng số giường bệnh) Ngành y tế đang phấn đấu đến năm 2020 đạt tỷ lệ tối thiểu là 25 giường bệnh/10.000 dân, trong đó có 5 giường bệnh tư nhân [20]
Hành nghề tư nhân gồm các hoạt động của các chủ thể cung cấp các dịch vụ về khám chữa bệnh và phòng bệnh Họ có thể hoạt động vì mục đích lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận Các tổ chức hành nghề tư nhân bao gồm: bệnh viện đa khoa, bệnh viện chuyên khoa, phòng khám đa khoa, phòng khám chuyên khoa, nhà hộ sinh, cơ sở dịch vụ y tế, cơ sở dịch vụ vận chuyển người
bệnh trong nước và ra nước ngoài và các hình thức dịch vụ y tế khác
Để hành nghề y tư nhân, các cá nhân cần có đủ các điều kiện cơ bản như: có bằng cấp tùy theo yêu cầu của hình thức tổ chức hành nghề và phạm
vi chuyên môn hành nghề và đã qua thực hành năm năm đối với hình thức tổ chức hành nghề [36] Các cá nhân, tổ chức hành nghề y có các quyền sau:
- Ký hợp đồng với cơ sở y tế nhà nước và cán bộ y tế để hỗ trợ chuyên môn
kỹ thuật;
- Ký hợp đồng với các cơ quan bảo hiểm về khám chữa bệnh cho người có bảo hiểm y tế; ký hợp đồng với người lao động;
Trang 32- Tiến hành các hoạt động chuyên môn y tế đúng phạm vi của chứng chỉ hành nghề y tư nhân, giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề y tư nhân;
- Dự trữ cơ số thuốc cấp cứu theo quy định của Bộ Y tế;
- Nhận tài trợ của cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật;
- Tham gia hội y học, các hội nghề nghiệp khác;
- Hưởng các chế độ ưu đãi theo quy định của pháp luật
Vì vậy, y tế tư nhân xuất hiện và phát triển mạnh mẽ như là một bộ phận của nền kinh tế khi Nhà nước có định hướng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần (từ những năm 1986)
1.2.2 Thu viện phí và thực hiện bảo hiểm y tế
Viện phí không phải là một phương thức tài chính được lựa chọn ở nhiều quốc gia do những lo ngại về khả năng chi trả của người dân Nước sử dụng phương thức thu viện phí chủ yếu dưới dạng thu một phần viện phí và phương thức này được coi như phương án tình thế trong bối cảnh chưa có nguồn tài chính thay thế, chưa phát triển mạng lưới BHYT
Phương án tình thế này buộc phải sử dụng trong điều kiện ngân sách quốc gia dành cho y tế là hạn hẹp Đây là cách thức để cải thiện điều kiện cung cấp dịch vụ KCB ở nhiều quốc gia Tuy nhiên, những tác động tiêu cực của phương án này là rất rõ ràng Chủ yếu là tính công bằng trong việc tiếp cận dịch vụ KCB bị xói mòn Người nghèo là đối tượng bị ảnh hưởng nặng
nề nhất, tạo ra vòng luẩn quẩn “bệnh tật - đói nghèo” Từ đó, tính hiệu quả trong việc chăm sóc sức khoẻ người dân cũng bị tổn hại nghiêm trọng.Tuy nhiên, phương thức viện phí thường được bổ trợ cho các chính sách KCB miễn phí cho người nghèo
Phương án huy động một phần sự đóng góp của người bệnh là cách thức mà trong đó người bệnh và gia đình phải trả trực tiếp cho các dịch vụ y
tế khi sử dụng dịch vụ, ví dụ chi mua thuốc, chi trả viện phí, phí xét nghiệm,
Trang 33chẩn đoán cận lâm sàng và các chi phí khác
Trong thời kỳ bao cấp, nhà nước cung cấp các dịch vụ y tế miễn phí cho toàn dân nên khoản chi tiêu trực tiếp từ tiền túi người dân là không đáng
kể Nhưng từ năm 1989, người bệnh phải chịu (một phần) gánh nặng tài chính do bệnh tật Cơ sở pháp lý của phương án này là Quyết định 45 - HĐBT về việc thu một phần viện phí của Chính phủ (sau đó được bổ sung
và sửa đổi bằng Nghị định 95 - CP năm 1994 và Nghị định 33 - CP năm
1995 của Chính phủ) nên phương án này còn được gọi là phương án thu viện phí (một phần) Chi tiêu trực tiếp từ tiền túi cho y tế là khoản tiền hộ gia đình phải trả trực tiếp cho các dịch vụ y tế khi sử dụng dịch vụ và các chi phí khác liên quan đến KCB ở các cơ sở y tế Nhà nước và tư nhân (trong đó có việc
tự mua thuốc) Như vậy, chi tiêu trực tiếp từ tiền túi cho y tế của các hộ gia đình lớn hơn phần viện phí Tuy nhiên, trong các nghiên cứu y tế, người ta thường sử dụng hai thuật ngữ này như nhau bởi thực tế vì phải mất viện phí nên người dân mới tìm đến các hình thức KCB khác như KCB ở các cơ sở y
tế tư nhân hay tự mua thuốc, tự điều trị
Mức viện phí ở nước ta trước đây áp dụng theo nghị định 95/CP ngày 27/8/1994 của Chính phủ là mức khá thấp, ví dụ thu cho một lần khám bệnh dao động từ 500 đồng ở tuyến xã tới 3000đ/lần ở tuyến Trung ương và tiền giường bệnh chỉ 18.000đ/ngày Tuy nhiên, ở hầu hết các bệnh viện công, mức phí này không còn được áp dụng và Bộ Y tế đang có kiến nghị tăng viện phí cho phù hợp với tình hình mới
Hiện nay giá viện phí do liên Bộ Tài chính - Bộ Y tế quy định theo
khung giá tối đa - tối thiểu Đối với người bệnh điều trị nội trú, biểu giá thu viện phí được tính theo ngày giường nội trú của từng chuyên khoa theo phân hạng bệnh viện và các khoản chi phí khác được sử dụng trực tiếp cho người bệnh Người bệnh ngoại trú thì được tính theo số lần khám bệnh và các dịch
Trang 34vụ kỹ thuật mà người bệnh trực tiếp sử dụng tại bệnh viện Đối với việc KCB theo yêu cầu thì mức viện phí được tính trên mức đầu tư của bệnh viện cho cơ
sở khám chữa bệnh theo yêu cầu đó và được phê duyệt bởi các cấp có thẩm quyền
Năm 1993 Chính phủ đã áp dụng chế độ bảo hiểm y tế chính thức sau một vài năm nghiên cứu thí điểm, để bù đắp vào nguồn kinh phí dành cho y tế công lập
Bảo hiểm y tế là một phương thức tài chính nhằm bảo vệ người tham gia khỏi những gánh nặng tài chính mà họ phải gánh chịu nếu gặp các rủi ro
có liên quan đến sức khỏe, bệnh tật [6]
Theo Luật bảo hiểm y tế Việt Nam, bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật bảo hiểm y tế [30] Do đó, bảo hiểm y tế giống như các loại hình bảo hiểm khác dựa trên nguyên tắc cơ bản: tập hợp số đông chia sẻ rủi ro, nguy cơ về sức khỏe và bệnh tật, thu phí từ số đông người mạnh khỏe để chi trả cho số ít người ốm đau Người tham gia bảo hiểm y tế đóng góp một mức phí từ trước khi đau ốm vào một quỹ bảo hiểm y tế và sẽ được hưởng các quyền lợi về chăm sóc y tế khi đến các cơ sở khám chữa bệnh Cách thức tham gia bảo hiểm y tế còn gọi là trả trước cho chi phí khám chữa bệnh
Có ba thành tố tham gia bảo hiểm y tế với các chức năng khác nhau và
có mối quan hệ chặt chẽ, khăng khít trong chu trình bảo hiểm y tế, đảm bảo lợi ích hài hòa giữa các bên, đó là người tham gia bảo hiểm y tế, cơ quan bảo hiểm y tế, cơ quan cung cấp dịch vụ y tế
Người tham gia bảo hiểm y tế là người đóng phí bảo hiểm hay mua thẻ bảo hiểm theo quy định của quỹ
Trang 35Cơ quan bảo hiểm y tế là đơn vị thực hiện thu phí bảo hiểm, xây dựng, xác định phạm vi quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và đảm bảo cung cấp dịch vụ y tế cho người tham gia bảo hiểm
Cơ quan cung cấp dịch vụ y tế là các cơ sở khám chữa bệnh, thực hiện việc cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh theo hợp đồng với cơ quan bảo hiểm y
tế để đảm bảo quyền lợi về khám chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế khi họ đến khám chữa bệnh và thanh toán với cơ quan bảo hiểm y tế về những chi phí đã tiêu tốn để phục vụ bệnh nhân có thẻ bảo hiểm y tế
Có hai loại hình bảo hiểm y tế cơ bản đó là bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện
Bảo hiểm y tế bắt buộc là chương trình bảo hiểm y tế được thực hiện bắt buộc theo luật định, mức phí bảo hiểm được tính theo tỷ lệ thu nhập của người lao động (4,5% tiền lương), quyền lợi bảo hiểm được hưởng theo nhu cầu khám chữa bệnh
Bảo hiểm y tế tự nguyện là chương trình bảo hiểm y tế được Bảo hiểm
xã hội Việt Nam thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, phi lợi nhuận với phí đóng bảo hiểm theo mức cho từng đối tượng ở từng khu vực [8]
Hiện nay, theoLuật Bảo hiểm y tế, tất cả công dân Việt Nam đều phải mua thẻ bảo hiểm y tế, tiến tới bảo hiểm y tế toàn dân
1.2.3 Hợp tác công - tư tại các bệnh viện, cơ sở y tế công lập trong cung ứng dịch vụ theo yêu cầu
Đề án “Phát triển xã hội hóa bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân” được Bộ Y tế phê duyệt ngày 21/6/2005 như là một cách thức thực hiện chính sách xã hội hóa, đã đưa ra các giải pháp, trong đó có nhóm giải pháp huy động nguồn lực để đầu tư phát triển hệ thống y tế công lập Nội dung cụ thể được đề cập trong giải pháp này là khuyến khích các cơ sở khám chữa bệnh, điều dưỡng và phục hồi chức năng huy động các nguồn vốn ngoài
Trang 36ngân sách, hợp tác và liên doanh liên kết với các doanh nghiệp, cá nhân để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cấp trang thiết bị và cung cấp các dịch
vụ y tế phù hợp với quy hoạch được phê duyệt Ngoài ra Nghị định 10/CP năm 2002 và Nghị định 43/CP năm 2006 chỉ đạo việc thực hiện tự chủ tài chính trong các bệnh viện công Các bệnh viện được huy động các nguồn tài chính ngoài ngân sách, phát triển dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu, tạo điều kiện cho người bệnh có nhiều cơ hội được chăm sóc sức khỏe tốt hơn Mặt khác người dân cũng phải trả nhiều hơn cho chi phí y tế Do vậy, hợp tác công - tư các bệnh viện, cơ sở y tế công lập để huy động các nguồn lực đầu tư phát triển các cơ sở y tế công lập hiện đang được thực hiện dưới các hình thức chủ yếu như liên doanh liên kết đầu tư trang thiết bị y tế, máy móc; xã hội hóa các dịch vụ như dọn vệ sinh, cung cấp xuất ăn, đào tạo bồi dưỡng cán bộ; phát triển các dịch vụ khám chữa bệnh theo yêu cầu…
Như vậy việc liên kết bệnh viện công - tư là một trong những cách thức thực hiện chính sách xã hội hóa y tế, là bài toán hay cho giảm tải và quan trọng hơn cả là chính sách này đã và đang mang lại hiệu quả thiết thực trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe của nhân dân
Về cách thức liên doanh, liên kết: các bệnh viện được phép huy động nguồn vốn, liên doanh, liên kết với các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước
để đầu tư cơ sở vật chất, mua sắm trang thiết bị phụ vụ cho hoạt động chuyên môn, cung ứng dịch vụ Nguồn vốn này có thể cũng được huy động trong nội
bộ bệnh viện như vay vốn của cán bộ nhân viên, quỹ phúc lợi tập thể của đơn
vị mua sắm máy móc, trang thiết bị chuyên môn kỹ thuật hiện đại, dưới cơ chế cùng chia lợi nhuận thu được [13]
Được Nhà nước giao tự chủ tài chính, các cơ sở y tế công, đặc biệt là các bệnh viện lớn có sự thay đổi về đầu tư Các bệnh viện có kế hoạch xây mới, mở rộng chủ yếu tập trung theo hướng phát triển khu “dịch vụ theo yêu
Trang 37cầu” và coi đây là nguồn tăng thu chủ yếu Một số bệnh viện có khu dịch vụ theo yêu cầu riêng biệt hoặc cũng lồng ghép cung ứng dịch vụ theo yêu cầu vào các dịch vụ khám chữa bệnh thông thường
Dịch vụ theo yêu cầu ở bệnh viện thường được cung cấp dưới các hình thức như sau [25]:
- Khám chữa bệnh ngoài giờ: các cơ sở y tế tổ chức các hoạt động dịch
vụ y tế ngoài giờ hành chính, nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu khám chữa bệnh cho đông đảo người dân không có điều kiện đi KCB trong giờ hành chính, đồng thời cũng góp phần giảm tải bệnh viện, giải quyết một phần khó khăn đời sống cho cán bộ y tế Để thực hiện công tác này được tốt, đơn vị y tế phải xây dựng phương án hoạt động gửi các cấp quản lý Hoạt động dịch vụ y tế này về nguyên tắc không được ảnh hưởng đến việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao, và phải đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng, kỹ thuật theo tiêu chuẩn chung của ngành y tế
- Giường dịch vụ: nhiều bệnh viện đã triển khai mô hình giường dịch
vụ, bệnh nhân được chăm sóc, điều trị về chuyên môn theo giá viện phí quy định của nhà nước và khi bệnh nhân sử dụng giường dịch vụ theo yêu cầu thì phải chi trả cho bệnh viện theo giá thỏa thuận Số tiền thu được của các giường tự nguyện nộp vào nguồn thu một phần viện phí chung của bệnh viện
và sử dụng theo quy định của nhà nước Tuy nhiên số giường dịch vụ này không được quá 30% số giường bệnh trong chỉ tiêu kế hoạch được Nhà nước giao
- Dịch vụ sinh, phẫu thuật theo yêu cầu: bệnh nhân được phép chọn bác
sĩ theo ý muốn để được hưởng sự chăm sóc của các bác sĩ giỏi chuyên môn và không phải chờ đợi lâu Tiền dịch vụ thu được của dịch vụ này được trích một phần bồi dưỡng cho bác sĩ được chọn hoặc cho ê kíp phẫu thuật thực hiện
Trang 38Để thực hiện phương thức này, cần đảm bảo các nguyên tắc chung như: Giá dịch vụ y tế do giám đốc đơn vị sự nghiệp y tế tự quyết định trên cơ sở đảm bảo đầy đủ các chi phí và có tích lũy; tổng số nguồn thu trên (trừ dịch vụ giường) được phân bổ cho: chi phí tiền thuốc, hóa chất, vật tư tiêu hao, sửa chữa bảo trì máy móc trang thiết bị, chi phí quản lý, điện, nước, trích khấu hao tài sản để hoàn vốn, trả lãi suất theo tỷ lệ góp vốn, nộp đầy đủ các khoản thuế theo quy định hiện hành, phần thu nhập còn lại bổ sung vào kinh phí hoạt động thường xuyên, quỹ phúc lợi, khen thưởng
Về đảm bảo quản lý tài chính: đơn vị nộp đầy đủ sổ sách kế toán theo dõi thu chi; hạch toán và báo cáo theo quy định; lập đầy đủ chứng từ để kiểm tra, theo dõi; nộp đầy đủ các khoản thuế theo quy định của nhà nước
Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức y tế có ý nghĩa quan trọng, góp phần tích cực trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực công tác, chất lượng và hiệu quả làm việc của cán bộ, công chức, viên chức Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/03/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức đã nhấn mạnh: "Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức theo vị trí việc làm nhằm trang bị, cập nhật kiến thức, kỹ năng, phương pháp cần thiết để làm tốt công việc được giao"
Cùng với quá trình huy động đầu tư cơ sở vật chất, các bệnh viện đã có chính sách thu hút nguồn nhân lực, đào tạo bồi dưỡng cán bộ y tế, nâng cao chất lượng chuyên môn đáp ứng nhu cầu xã hội hóa Các cơ sở y tế tạo điều kiện để bác sĩ, điều dưỡng được theo học các lớp đại học, sau đại học và đi học theo hình thức cầm tay chỉ việc tại một số bệnh viện tuyến trung ương Bên cạnh đó, các bệnh viện đã chú trọng mời chuyên gia từ các bệnh viện lớn
về hướng dẫn, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật cho cán bộ, y, bác sĩ đồng thời tổ chức các lớp tập huấn, rèn luyện kỹ năng, tác phong làm việc của cán bộ công nhân viên chức trong bệnh viện và tổ chức bỏ phiếu kín, đánh giá, bình xét
Trang 39năng lực chuyên môn của từng người hàng tháng, hàng năm để nâng cao ý thức trách nhiệm, tay nghề của các y, bác sĩ
1.3 MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HÓA Y TẾ
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến quá trình thực hiện chính sách xã hội hóa y tế nói chung và hoạt động xã hội hóa dịch vụ y tế tại Bệnh viện Bạch Mai nói riêng, song có thể quy tụ ở một số nhân tố cơ bản sau:
1.3.1 Vai trò lãnh đạo của các cấp ủy đảng đối với các hoạt động xã hội hóa y tế
Đảng có vai trò quyết định về chủ trương và tổ chức hoạt động đồng thời là nhân tố quyết định sự thành công của chính sách xã hội hóa dịch vụ y
tế
Chính sách về xã hội hóa dịch vụ y tế và việc tổ chức triển khai nó trong đời sống xã hội, về thực chất là thể chế chủ trương của Đảng về xã hội hóa dịch vụ công nói chung và dịch vụ y tế nói riêng Do đó, có thể nói vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định đến nội dung và tổ chức hoạt động đối với xã hội hóa dịch vụ y tế
1.3.2 Thể chế pháp luật và chính sách của Nhà nước về hoạt động
xã hội hóa y tế
Thể chế pháp luật và chính sách của Nhà nước về hoạt động xã hội hóa dịch vụ y tế có vai trò quan trọng hàng đầu quá trình thực hiện chính sách xã hội hóa y tế nói chung và hoạt động xã hội hóa dịch vụ y tế tại Bệnh viện
Bạch Mai nói riêng, bởi nó không những là cơ sở pháp luật mà còn là công cụ
để thực hiện chức các hoạt động xã hội hóa dịch vụ y tế Hệ thống pháp luật, chính sách đồng bộ thì đạt kết quả cao trong việc thực hiện chính sách xã hội hóa y tế nói chung và hoạt động xã hội hóa dịch vụ y tế tại Bệnh viện Bạch
Mai nói riêng
Trang 401.3.3 Những điều kiện về tài chính và cơ sở vật chất có liên quan đến hoạt động xã hội hóa y tế
Khả năng tài chính và điều kiện về cơ sở vật chất có liên quan đến thực hiện chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế của quốc gia, là nhân tố hết sức quan trọng đến thực hiện thành công chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế
Khả năng về tài chính và cơ sở vật chất đảm bảo thì việc tiến hành và
mở rộng các hoạt động xã hội hóa sẽ thuận lợi hơn vì:
+ Khả năng hỗ trợ của Nhà nước hay sự đóng góp của Nhà nước với vai trò là đối tác sẽ thuận lợi hơn
+ Việc huy động từ các tổ chức xã hội, cá nhân cũng dễ dàng hơn + Người dân tham gia vào các hoạt động chăm sóc sức khỏe ở các dịch
vụ y tế ngoài công lập cũng phổ biến hơn
Khả năng tài chính và cơ sở vật chất mà hạn hẹp thì việc thực hiện các nội dung chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế sẽ gặp khó khăn hơn, nhất là việc góp vốn, việc hỗ trợ đầu tư, việc tham gia của các tổ chức, cá nhân
1.3.4 Những tập tục của văn hóa dân tộc
Những tiềm năng văn hóa của dân tộc cũng là một nhân tố hết sức quan trọng đối với việc thực hiện các hoạt động dịch vụ xã hội hóa y tế Do tập tục
để lại, nhất là những vùng núi, nông thôn, vùng dân tộc ít người, tập quán khi
ốm đau đi mời thầy lang, thầy mo, thầy cúng thay cho thuốc men và bệnh viện Các tập tục này là nhân tố tác động, ảnh hưởng đến xã hội hóa dịch vụ y
tế và chính sách xã hội hóa dịch vụ y tế, bởi vì nó không những cản trở sự phát triển và còn có những hành vi bất lợi khác
1.3.5 Tổ chức bộ máy thực hiện chính sách xã hội hóa y tế
Tổ chức bộ máy thực hiện chức các hoạt động xã hội hóa dịch vụ y tế
có tác động trực tiếp đến hoạt động thực thi chính sách Bởi lẽ, các cơ quan