Quản lý nhà nước về chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về chất lượng nước thải ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Nam Định (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ KIM HOA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
HÀ NỘI - NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ KIM HOA
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG
NƯỚC THẢI Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NAM ĐỊNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRỊNH ĐỨC HƯNG
HÀ NỘI - NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, dữ liệu nêu trong Luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Thị Kim Hoa
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn tốt nghiệp tại Học viện Hành chính, em luôn nhận được sự quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ của các thầy cô trong Ban Giám đốc Học viện và toàn thể các thầy cô giáo trong Học viện Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và xin trân trọng cám ơn các thầy
cô, đặc biệt TS Trịnh Đức Hưng đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành luận văn tốt nghiệp này;
- Tôi xin trận trọng cảm ơn lãnh đạo, chuyên viên Văn phòng Ban Quản lý các KCN, Cục Thống kê tỉnh Nam định, Sở TN & MT tỉnh Nam Định đã nhiệt tình cung cấp số liệu, tài liệu và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành Luận văn;
- Xin cảm ơn người thân trong gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện chia sẻ, khích lệ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập, công tác, nghiên cứu khoa học và hoàn thành Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30 tháng 6 năm 2017
Tác giả: Lê Thị Kim Hoa
Trang 5MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚCVỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 7
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn 7
1.1.1 Nước thải 7
1.1.2 Khái niệm chất lượng nước thải 12
1.1.3 Khái niệm KCN 13
1.1.4 Khái niệm chất lượng nước thải KCN 14
1.1.5 Khái niệm QLNN về chất lượng nước thải các KCN 15
1.1.6 Khái niệm chính sách QLNN 17
1.1.7 Tổ chức bộ máy QLNN 18
1.2 Sự cần thiết, đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về chất lượng nước thải KCN 19
1.2.1 Sự cần thiết QLNN về chất lượng nước thải KCN 19
1.2.2 Đặc điểm QLNN về chất lượng nước thải KCN 21
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng QLNN về chất lượng nước thải KCN 24
1.3 Chủ thể, nội dung QLNN về chất lượng nước thải các KCN 28
1.3.1 Chủ thể quản lý 28
1.3.2 Nội dung quản lý 30
1.4 Kinh nghiệm QLNN về chất lượng nước thải các KCN 33
1.4.1 Kinh nghiệm của thành phố Đà Nẵng 33
1.4.2 Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên 34
1.4.3 Bài học kinh nghiệm được rút ra cho tỉnh Nam Định 35
CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG NƯỚC THẢI VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚCVỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI CÁC KHU CÔNG NGHIỆPTỈNH NAM ĐỊNH 38
2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, xã hội tỉnh Nam Định 38
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 39
2.2 Đặc điểm chất lượng nước thải các KCN tỉnh Nam Định 40
2.2.1 Tình hình phát triển các KCN tỉnh Nam Định 40
2.2.2 Đặc điểm chất lượng nước thải các KCN tỉnh Nam Định 41
2.2.3 Đặc điểm QLNN về chất lượng nước thải các KCN tỉnh Nam Định 45
2.3 Thực trạng QLNN về chất lượng nước thải các KCN tỉnh Nam Định 48
Trang 62.3.1 Thực trạng ban hành, hướng dẫn, tổ chức, thực hiện VBQPPL về chất
lượng nước thải các KCN tỉnh Nam Định 48
2.3.2 Thực trạng hệ thống tổ chức QLNN về chất lượng nước thải các KCN tỉnh Nam Định 53
2.3.3 Thực trạng hệ thống chính sách QLNN về chất lượng nước thải các KCN tỉnh Nam Định 58
2.3.4 Thực trạng thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm 60
2.3.5 Xã hội hóa hoạt động BVMT về chất lượng nước thải các KCN 62
2.3.6 Hợp tác quốc tế 62
2.3.7 Nguyên nhân của những thuận lợi và hạn chế trong QLNN về chất lượng nước thải các KCN 63
CHƯƠNG 3QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁPQUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢICÁC KHU CÔNG NGHIỆP TỈNH NAM ĐỊNH TRONG THỜI GIAN TỚI 66
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước 66
3.1.1 Quan điểm của Đảng 66
3.1.2 Quan điểm của Đảng bộ tỉnh Nam Định 71
3.2 Một số giải pháp QLNN về chất lượng nước thải các KCN tỉnh Nam Định 72 3.2.1 Tăng cường hướng dẫn, tổ chức, thực hiện VBQPPL về chất lượng nước thải các KCN 72
3.2.2 Kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý 75
3.2.3 Phát huy hiệu quả hệ thống chính sách 82
3.2.4 Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các doanh nghiệp, KCN gây ô nhiễm môi trường 85
3.2.5 Thúc đẩy xã hội hóa hoạt động BVMT về chất lượng nước thải KCN 87
3.2.6 Tăng cường hợp tác quốc tế 88
KẾT LUẬN 91
TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BOD (Biochemical oxygen demand): Nhu cầu ô xy sinh học
BVMT: BVMT
CCN: Cụm công nghiệp
COD (Chemical Oxygen Demand):Nhu cầu ô xy hóa học
GDP: Tổng thu nhập quốc nội
IDA: Hiệp hội Phát triển Quốc tế
KCN: Khu công nghiệp
ODA: Hỗ trợ phát triển chính thức
pH (power of hydrogen): Nồng độ ion hyđrô
QCVN: QCVN
QLNN: Quản lý nhà nước
SS (suspended solids): Hàm lượng chất rắn lơ lửng
TN&MT: Tài nguyên và Môi trường
UBND: Ủy ban nhân dân
Pt/Co: Hòa tan 1,246g K2Pt Cl6 và 1g CoCl2.6H2O trong nước cất đã có
100 ml HCl đậm đặc, định mức thành 1 lít Dung dịch này có màu xanh của nước tự nhiên được chọn làm dung dịch màu chuẩn Với phương pháp so màu bằng máy quang phổ thang đo màu Pt/Co được chia từ 0 đến 70 đơn vị với màu của dung dịch chuẩn nêu trên là điểm 0
mg/l: Khối lượng các chất có trong 1 lít nước thải
MPN/100ml: Số lượng vi khuẩn nhóm coliform có trong 100 ml nước thải
m3/ngày.đêm: Tổng lưu lượng nước thải trong 1 ngày đêm
Trang 8DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ
Bảng 1: Một số chất có mùi 9
Bảng 2: Thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp 12
Bảng 3: Giá trị các thông số đặc trưng nước thải một số ngành công nghiệp 13
Bảng 4: Giá trị các thông số đặc trưng nước thải KCN Hòa Xá 42
Bảng 5: Giá trị các thông số đặc trưng nước thải KCN Mỹ Trung 43
Bảng 6: Giá trị các thông số đặc trưng nước thải KCN Bảo Minh 44
Sơ đồ 1: Hệ thống QLNN về chất lượng nước thải KCN 53
Sơ đồ 2: Hệ thống QLNN về chất lượng nước thải KCN tỉnh Nam Định 76
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế đất nước, các KCN đóng góp vai trò khá quan trọng Từ năm 1991, Đảng và Nhà nước đã xây dựng thí điểm KCN đầu tiên Trải qua hơn 20 năm hình thành và phát triển, tính đến 31/12/2015, cả nước đã có 299 KCN đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập với tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 81.000 ha tại 59 tỉnh thành phố Trong đó, có 212 KCN đã đi vào hoạt động với tổng diện tích đất thương phẩm là 54.060ha đạt tỷ lệ lấp đầy trung bình 66.4% được phân bổ rộng khắp các miền của đất nước, thu hút được 6.325 dự án có vốn đầu tư nước ngoài với tổng số vốn đầu
tư khoảng 93,3 tỷ USD, 9.082 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn 945000 tỷ đồng Việt Nam, tạo việc làm cho 4,3 triệu lao động [27, tr.7] Các KCN đã có những đóng góp lớn trong thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, việc phát triển các KCN nảy sinh nhiều vấn đề trong đó đáng quan tâm nhất
là chất lượng nước thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất trong các KCN này
Theo chương trình Liên hiệp quốc về phát triển cứ mỗi 1 tấn hóa chất được sử dụng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất thì sẽ có 7-9% khối lượng hóa chất tức là vào khoảng 70-90 kg hóa chất sẽ bị phát tán ra môi trường nếu không có biện pháp xử lý Số liệu thống kê của Bộ Công thương tại các KCN Việt Nam mỗi ngày có khoảng 10-15 nghìn tấn hóa chất được sử dụng cho các hoạt động sản xuất khác nhau Điều đó có nghĩa là khoảng 700-1350 tấn hóa chất sẽ được các KCN thải ra môi trường mỗi ngày [25, tr.19] Một sự cố môi trường xảy ra gần đây tại vùng biển gần KCN Vũng Áng (Sơn Dương, Kỳ Anh,
Hà Tĩnh) sau đó lan ra các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên - Huế làm chết khoảng 100 tấn cá và các loài sinh vật tầng nước nổi và làm ô nhiễm môi trường biển toàn bộ khu vực miền trung Nguyên nhân được xác định là do nước thải của Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh (Formosa)
Trang 10Vấn đề chất lượng nước thải phát sinh từ các KCN đã trở lên đặc biệt nghiêm trọng và mang tính toàn cầu trong thời gian gần đây Ô nhiễm môi trường
do quá trình sản xuất của các KCN gây ra làm thiệt hại lớn về kinh tế, ảnh hưởng đến các vấn đề xã hội Lương thực, thực phẩm bị nhiễm độc, môi trường thiên nhiên bị phá hủy Nguyên nhân của tình trạng này xuất phát từ nhiều phía Về phía các cơ sở sản xuất, nhiều doanh nghiệp ý thức chấp hành pháp luật BVMT chưa cao, do chạy theo lợi nhuận họ bỏ qua trách nhiệm BVMT Một số doanh nghiệp do nhận thức về pháp luật BVMT thấp nên thực hiện không đúng các quy định Một số doanh nghiệp sử dụng công nghệ sản xuất cũ, lạc hậu, sử dụng lao động trình độ thấp, giá nhân công rẻ, sử dụng nguyên nhiên liệu rẻ tiền, hóa chất độc hại nhằm hạ giá thành sản phẩm, làm tăng phát thải gây ô nhiễm môi trường Ngoài những nguyên nhân trên, còn có trách nhiệm của các cơ quan, các cấp quản lý QLNN về nước thải các KCN còn nhiều mặt tồn tại, hạn chế: hệ thống VBQPPL chưa đồng bộ; chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan QLNN ở trung ương và địa phương còn chồng chéo; nhiều địa phương do sức ép về thu hút vốn đầu tư nên chính sách thu hút đầu tư coi nhẹ nhiệm vụ BVMT; việc thực hiện quy hoạch chi tiết của nhiều KCN không thống nhất; việc triển khai các công cụ quản lý hiệu quả chưa được cao; nguồn nhân lực và tài chính cho BVMT đối với nước thải các KCN còn thiếu
Tỉnh Nam Định, KCN đầu tiên được thành lập từ năm 2003 (KCN Hòa Xá) Đến nay, có 3 KCN đã hoạt động Trong những năm qua, các KCN tỉnh Nam Định đã dần khẳng định vị trí, vai trò trong việc phát triển kinh tế xã hội của tỉnh với những đóng góp về tổng thu ngân sách, tổng giá trị xuất khẩu và giải quyết lao động, việc làm tại địa phương Tuy nhiên, nước thải phát sinh từ các KCN đang có nguy cơ gây ảnh hưởng đến chất lượng nước tại các lưu vực sông tiếp nhận nước thải từ các KCN Bằng những công cụ quản lý, các cấp chính quyền của tỉnh Nam Định có những biện pháp tích cực giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải các KCN gây ra Tuy nhiên, thực tế hoạt động QLNN
về chất lượng nước thải các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định còn nhiều hạn chế, bất cập, chưa hiệu quả
Trang 11Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường do nước thải của các KCN tỉnh Nam Định đòi hỏi các cấp chính quyền tỉnh Nam Định cần tăng cường hơn nữa hoạt động QLNN đối với chất lượng nước thải các KCN Xuất phát từ lý do đó, tác
giả đã lựa chọn đề tài "QLNN về chất lượng nước thải trong các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định" làm đề tài luận văn tốt nghiệp cao học, với mong
muốn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động QLNN về chất lượng nước thải ở các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Ở Việt Nam, hoạt động QLNN về chất lượng nước thải các KCN đã được Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học và những người làm công tác lý luận đặc biệt quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu hoạt động QLNN về chất lượng nước thải các KCN được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: Đề tài, luận văn, đề án, giáo trình, Các công trình nghiên cứu tiêu biểu của các cá nhân, tập thể được công
bố có liên quan đến đề tài như:
Nguyễn Thị Thơm - An Như Hải (2011), Nâng cao hiệu lực QLNN về môi trường, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội
Lưu Đức Hải - Nguyễn Ngọc Sinh (2001), Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững, Nxb Đại học quốc gia, Hà Nội
PGS.TS Phạm Thị Ngọc Trầm (2006), QLNN đối với TN & MT vì sự phát triển bền vững dưới góc nhìn xã hội nhân văn, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
TS Trịnh Thị Minh Sâm (2004), Các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN
về BVMT ở các KCN và khu chế xuất, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Trần Văn Tùng - Đặng Thị Phương Hoa - Nguyễn Bá Thủy (2005), Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường ở một số KCN phía Bắc tới sức khỏe cộng đồng, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội
Các tài liệu nêu trên đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa con người, môi trường và phát triển bền vững Trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ đó, cùng với việc đánh giá thực trạng chất lượng môi trường của cả nước nói chung và của
Trang 12các KCN nói riêng, các tài liệu đã đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về môi trường nói chung và môi trường KCN nói riêng Tuy vậy, các tài liệu này chủ yếu nhấn mạnh việc áp dụng các công cụ pháp luật trong quá trình quản lý Vai trò, chức năng của con người trong hệ thống các tổ chức quản lý chưa được trú trọng nghiên cứu và chưa có giải pháp đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực này
Luận văn thạc sỹ “Quản lý chất thải tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh - Nghệ An“ năm 2013 của tác giả Phan Thị Hằng thuộc
khoa Môi trường, trường Đại học khoa học tự nhiên, Đại học quốc gia Hà Nội
đã đánh giá thực trạng quản lý chất thải tại các khu, cụm công nghiệp trên địa bàn thành phố Vinh - Nghệ An Luận văn đã đưa ra một số giải pháp quản lý chất thải tại các khu, cụm công nghiệp bằng các công cụ pháp luật, công cụ kinh
tế Luận văn chưa xác định được hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về chất thải các khu, cụm công nghiệp do đó chưa đưa ra giải pháp về vấn đề này
Luận văn thạc sỹ “QLNN về môi trường KCN tỉnh Hải Dương“ năm 2011
của tác giả Nguyễn Thị Lan Anh chuyên ngành Quản lý công, Học viện hành chính quốc gia đi sâu phân tích vai trò, ý nghĩa của QLNN về môi trường KCN Trên cơ sở phân tích thực trạng QLNN về môi trường các KCN của tỉnh Hải Dương, luận văn đã xác định được các nguyên nhân của các hạn chế trong quá trình quản lý để từ đó đưa ra được một số nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về môi trường các KCN tỉnh Hải Dương Tuy nhiên, với trình độ phát triển khoa học công nghệ như hiện nay, xã hội hóa hoạt động QLNN về chất thải
và mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế là một xu thế tăng cường hiệu quả của QLNN về chất lượng nước thải các KCN Luận văn chưa đề cập đến nội dung này và vì vậy chưa đưa ra giải pháp cho vấn đề này
Nghiên cứu hoạt động QLNN về chất lượng nước thải ở các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định, chúng tôi mong muốn, luận văn sẽ góp phần đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về chất lượng nước thải các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định và khắc phục được những hạn chế của
Trang 133 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.2 Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn tập trung vào những nhiệm vụ sau đây:
+ Hệ thống hóa các kiến thức về chất lượng nước thải các KCN và QLNN
về chất lượng nước thải các KCN
+ Phân tích thực trạng QLNN về chất lượng nước thải các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định
+ Đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả QLNN về chất lượng nước thải các KCN tỉnh Nam Định trong thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hoạt động QLNN về chất lượng
nước thải các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi không gian: Các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định bao gồm KCN Hòa Xá, KCN Mỹ Trung, KCN Bảo Minh
+ Phạm vi thời gian: Từ năm 2003 - 2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Phương pháp luận
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chất lượng môi trường các KCN
Trang 145.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp thu thập, thống kê
+ Phương pháp tổng hợp, phân tích, đánh giá
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp tổng hợp rút kinh nghiệm
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn là tài liệu tham khảo nhằm cung cấp các thông tin, dữ liệu mà các bạn sinh viên, các nhà quản lý có thể tham khảo trong quá trình nghiên cứu, QLNN đối với chất lượng nước thải các KCN
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài, luận văn góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về chất lượng nước thải ở các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định Góp phần nâng cao nhận thức, ý thức của chủ doanh nghiệp, người lao động trong việc BVMT môi trường và phát triển bền vững
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học QLNN về chất lượng nước thải các KCN Chương 2: Thực trạng nước thải và QLNN về chất lượng nước thải các KCN trên địa bàn tỉnh Nam Định
Chương 3: Quan điểm của Đảng và một số giải pháp QLNN về chất lượng nước thải các KCN tỉnh Nam Định trong thời gian tới
Tài liệu tham khảo
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI CÁC KHU CÔNG NGHIỆP
1.1 Một số khái niệm liên quan đến đề tài luận văn
1.1.1 Nước thải
Theo cách hiểu thông thường, chất thải là những chất con người bỏ đi, không tiếp tục sử dụng nữa Khi bị thải bỏ, những chất này tồn tại trong môi trường dưới những trạng thái nhất định và có thể gây ra rất nhiều những tác động bất lợi cho môi trường cũng như sức khỏe con người Chất thải được sản sinh ra trong những hoạt động khác nhau của con người thì được gọi với những thuật ngữ khác nhau Chất thải phát sinh sau quá trình sử dụng nước thì được gọi
là nước thải Như vậy, xét về nguồn gốc, nước thải phát sinh sau quá trình sử dụng của con người vào các mục đích khác nhau trong quá trình hoạt động sống
Nghị định số 80/2014/NĐ-CP ngày 06/8/2014 của Chính phủ về thoát nước và XLNT Điều 2 Khoản 7 [13, tr.6] đưa ra khái niệm về nước thải như sau:
Nước thải là nước đã bị thay đổi đặc điểm, tính chất do sử dụng hoặc do các hoạt động của con người
Do nguồn gốc phát sinh nước thải là từ quá trình hoạt động sống của con người Các hoạt động sống của con người rất đa dạng và phong phú với nhiều mục đích, ý nghĩa khác nhau Vì vậy, khái niệm nước thải là một khái niệm tương đối rộng Để tìm hiểu về nước thải, người ta tìm cách phân loại nước thải
ra thành nhiều nhóm khác nhau dựa vào nguồn gốc phát sinh: nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, nước ngấm qua, nước thải đô thị, nước thải tự nhiên Từ việc phân loại nước thải theo nguồn gốc phát sinh, người ta đi sâu vào nghiên cứu, phân tích đặc điểm, tính chất của các loại nước thải đó, để từ đó đánh giá ảnh hưởng tác động của các loại nước thải đối với môi trường và sức khỏe con người và đưa ra biện pháp phòng ngừa, ngăn chặn các ảnh hướng tác động đó Trong thực tế hiện nay, khi nghiên cứu về nước thải thông thường người ta phân chia nước thải thành hai loại khác nhau bao gồm: nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp
Trang 16Nước thải sinh hoạt là nước thải ra từ các hoạt động sinh hoạt của con người như ăn uống, tắm giặt, vệ sinh cá nhân Nước thải loại này thường phát sinh từ các cá nhân; hộ gia đình; bệnh viện; trường học; các khu dân cư không có hoạt động sản xuất công nghiệp; các trụ sở cơ quan hành chính, sự nghiệp công lập, các xí nghiệp dịch vụ, thương mại không có hoạt động sản xuất công nghiệp, …
Nước thải công nghiệp là nước thải ra từ các nhà máy, xí nghiệp sản xuất công nghiệp (bao gồm cả nước thải từ vệ sinh cá nhân, ăn uống tắm giặt của công nhân sản xuất trong các xí nghiệp này) Trong ngành công nghiệp với đa dạng các loại hình sản xuất kinh doanh, đồng nghĩa với việc cũng có nhiều loại nước thải công nghiệp được thải ra hàng ngày Một số loại nước thải của các ngành công nghiệp thường gặp và gây không ít đau đầu cho người dân cũng như các nhà chức trách trong việc kiểm soát như: nước thải sản xuất bột ngọt, nước thải sản xuất Cà phê, nước thải sản xuất Bia, nước thải sản xuất Đường, nước thải sản xuất Giấy, nước thải sản xuất Cao su, nước thải ngành Xi mạ, nước thải ngành Khoáng sản, nước thải ngành Dệt nhuộm Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu về nước thải phát sinh từ các xí nghiệp sản xuất công nghiệp trong các KCN
- Tính chất của nước thải KCN: Tính chất của nước thải KCN được đánh giá thông qua các chỉ số vật lý, chỉ số hóa học và sinh học cụ thể như sau:
+ Nhiệt độ (0C): Nhiệt độ nước thải KCN thông thường cao hơn từ 5 -
25oC so với nước thường do có sự gia nhiệt vào nước từ các dụng cụ và máy móc sản xuất Nhiệt độ cao của nước thải ảnh hưởng đến nhiệt độ sông hồ làm thay đổi quá trình sinh, hóa, lý học bình thường của hệ sinh thái nước, làm giảm lượng ôxy hòa tan.
+ Màu sắc (Pt/Co): Nước thải KCN thường có màu nâu đen hoặc đỏ nâu
do các chất hữu cơ phân hủy; sắt, crom và mangan ở dạng keo hoặc hòa tan, tanin, lignin tạo thành Màu của nước thải KCN thường được phân thành hai dạng; màu thực do các chất hòa tan hoặc dạng hạt keo; màu biểu kiến là màu của
Trang 17các chất lơ lửng trong nước tạo nên
+ Mùi: Trong nước thải KCN, mùi xuất hiện do các khí sinh ra trong quá trình phân hủy các hợp chất hữu cơ hay do một số chất được đưa thêm vào
+ pH: Nồng độ ion H+ có trong nước và có thang giá trị từ 0 đến 14 pH là một trong những thông số quan trọng và được sử dụng để đánh giá tính chất nước thải KCN Khi chỉ số pH < 7 thì nước có môi trường axít; pH > 7 thì nước
có môi trường kiềm, pH =7 thì nước có môi trường trung tính, điều này thể hiện ảnh hưởng của hoá chất khi xâm nhập vào môi trường nước Giá trị pH thấp hay
cao đều có ảnh hưởng nguy hại đến thuỷ sinh
+ SS (mg/l): Hàm lượng các chất lơ lửng là lượng khô của phần chất rắn còn lại trên giấy lọc sợi thủy tinh khi lọc 1 lít nước mẫu qua phễu lọc rồi sấy khô
ở 105oC cho tới khi khối lượng không đổi Một số ngành sản xuất phát sinh nước thải có hàm lượng SS cao như: nước thải của quá trình sinh hoạt; nước thải của các nhà máy sản xuất bia, rượu; nước thải công nghiệp giấy; nước thải nhà máy tẩy nhuộm
+ COD (mg/l): Khối lượng oxy tương đương với khối lượng hóa chất dùng để oxy hóa hết các chất có thể bị oxy hóa trong 1 lít nước thải Chỉ số COD biểu hiện sự ô nhiễm của nước nhưng ở mức cao hơn BOD vì dùng phương
Trang 18pháp hóa học cưỡng bức để oxy hóa các chất trong nước thải Một số ngành sản xuất phát sinh nước thải có hàm lượng COD cao như: nước thải của quá trình sinh hoạt; nước thải của các nhà máy sản xuất bia, rượu; nước thải công nghiệp giấy; nước thải nhà máy hồ sợi, nước thải của các nhà máy sản xuất phân hữu
cơ, nước rỉ rác,
+ BOD (mg/l): Khối lượng oxy cần thiết cung cấp cho các vi sinh vật chuyển hóa sinh học các chất hữu cơ trong 1 lít nước thải thành CO2 và nước dưới điều kiện 200C trong 5 ngày hoặc 20 ngày tương ứng có ký hiệu BOD5 hoặc BOD20 Chỉ số BOD đặc trưng cho mức độ ô nhiễm của nước thải, BOD càng cao nước càng bị ô nhiễm Một số nhà máy sản xuất phát sinh nước thải có hàm lượng BOD cao như: nước thải của quá trình sinh hoạt; nước thải của các nhà máy sản xuất bia, rượu; nước thải công nghiệp giấy; nước thải nhà máy hồ sợi, nước thải của các nhà máy sản xuất phân hữu cơ, nước rỉ rác, nhà máy sản xuất sữa, chế biến thức ăn chăn nuôi
+ Amoniac (mg/l): Khối lượng ion NH4
+
có trong 1 lít nước Thông thường amoniac được phát sinh từ sinh hoạt, các nhà máy hoá chất, chế biến thực phẩm, sữa Amoniac có mặt trong nước cao sẽ gây nhiễm độc tới cá và các sinh vật
+ Nitrat (mg/l) Khối lượng ion NO3- có trong 1 lít nước và là sản phẩm cuối cùng của sự phân huỷ các chất chứa nitơ có trong chất thải của người và động vật Thông thường amoniac phát sinh từ sinh hoạt của công nhân, các nhà máy hoá chất, chế biến thực phẩm, sữa Hàm lượng nitrat cao là môi trường dinh dưỡng tốt cho phát triển tảo, rong, gây hiện tượng phú dưỡng thủy vực
+ Photphat (mg/l) Khối lượng ion PO4
có trong 1 lít nước Nguồn photphat đưa vào môi trường là từ phân người, phân súc vật và nước thải một số ngành công nghiệp sản xuất phân lân, công nghiệp thực phẩm
+ Ion kim loại nặng (mg/l): Khối lượng các ion kim loại nặng có mặt trong 1 lít nước như As2+
, Pb2+, Cr3+, Cr6+, Cd2+, Mn2+, Cu2+, Hg2+ Các ion kim loại nặng thường phát sinh trong quá trình sản xuất một số ngành nghề cơ
Trang 19khí mạ, dệt nhuộm, khai khoáng Ảnh hưởng của kim loại nặng thay đổi tuỳ thuộc vào nồng độ của chúng
+ Coliform (MPN/100ml) số lượng vi khuẩn nhóm coliform (coliform, fecal coliform, fecal streptococci, escherichia coli ) có mặt trong 100ml nước thải Vi khuẩn nhóm coliform có mặt trong phân của động vật máu nóng Số liệu Coliform cung cấp cho chúng ta thông tin về mức độ vệ sinh của nước và điều kiện vệ sinh môi trường xung quanh
- Đặc điểm của nước thải KCN
+ Nước thải từ sinh hoạt của công nhân: Đặc trưng của nước thải sinh hoạt thường chứa nhiều tạp chất khác nhau, trong đó khoảng 52% là các chất hữu cơ, 48% là các chất vô cơ và một số lớn vi sinh vật Phần lớn các vi sinh vật trong nước thải thường ở dạng các virut và vi khuẩn gây bệnh như tả, lị, thương hàn… Đồng thời trong nước thải chứa các vị khuẩn không có hại có tác dụng phân hủy các chất thải
+ Nước thải từ các quá trình sản xuất: Thành phần nước thải công nghiệp rất đa dạng và phụ thuộc vào quá trình tạo ra chúng Mỗi loại nước thải của mỗi ngành công nghiệp có một đặc tính riêng, các thành phần này không những khó xử lý mà còn độc hại đối với con người và môi trường sinh thái Quy mô hoạt động sản xuất càng lớn thì lượng nước càng nhiều kéo theo lượng xả thải cũng càng nhiều Các thành phần khác nhau trong nước thải công nghiệp nếu không được xử lý đúng cách là mối đe dọa lớn đối với nguồn nước và môi trường Nước thải từ các loại hình công nghiệp như hóa dầu, chế biến thực phẩm, bia rượu và hóa chất thường có hàm lượng các hợp chất hữu cơ lớn, chỉ
số BOD, chất rắn lơ lửng và chất rắn hòa tan cao, độ pH, mùi và các hợp chất sunfua thường hay biến đổi Nước thải của các nhà máy hóa chất thường chứa nhiều các hóa chất độc hại, có hại đối với các vi sinh vật trong nước, ngay cả khi các loại chất độc này tồn tại với nồng độ nhỏ trong nước
Trang 20Bảng 2: Thành phần nước thải của một số ngành công nghiệp [25, tr.27]
2 Chế biến nước uống có cồn,
-, PO4 3-
, màu
3 Chế biến thịt BOD, pH, SS, NH4
+
, PO4 3-
, màu
4 Sản xuất bột ngọt BOD, SS, pH, NH 4
+
, NO3 -
, PO4 3-
5 Cơ khí COD, dầu mỡ, SS, CN -, Ni2+, Zn2+, Pb2+,
Cd2+
6 Thuộc da BOD5, COD, SS, Cr3+, NH4
+
, dầu mỡ, phenol, sunfua, NO3
-, PO4 3-
, Coliform
7 Dệt nhuộm SS, BOD, ion kim loại nặng, dầu mỡ
8 Sản xuất phân hóa học NH4
+
, NO3 -
, u rê, pH, hợp chất hữu cơ
9 Sản xuất hóa chất pH, SS, Cl-, SO4
2-, pH2-, COD2-, phenol2-, F-, ion kim loại nặng
10 Sản xuất giấy SS, BOD, COD, phenol, lignin, tannin,
pH, màu
1.1.2 Khái niệm chất lượng nước thải
Theo từ điển tiếng Việt [42, tr.197] chất lượng được hiểu là cái tạo nên phẩm chất, giá trị của một sự vật, sự việc Đối với nước thải, như trên đã phân tích, nước thải phát sinh từ các hoạt động sống của con người, vì vậy, thành phần, tính chất, đặc điểm của nước thải rất khác nhau Các loại nước thải phát sinh từ sinh hoạt có đặc điểm, tính chất và thành phần khác với nước thải phát sinh từ quá trình sản xuất công nghiệp Hơn nữa, mỗi loại nước thải đều không chỉ có một hay vài đặc điểm, tính chất mà bao gồm nhiều đặc điểm và tính chất khác nhau (chi tiết tại bảng 2 thành phần nước thải một số ngành công nghiệp)
Để phân biệt được các loại nước thải này với nhau cần phải dựa vào những đặc điểm riêng, những thuộc tính cơ bản, những tính chất đặc trưng của từng loại nước thải khác nhau đó Trên thực tế, để đánh giá chất lượng nước thải người ta dựa vào giá trị các thông số đặc trưng của từng loại nước thải đó và các quy chuẩn quy định cho giá trị của các thông số theo mỗi ngành nghề khác nhau Cụ thể: đối với nước thải sinh hoạt dựa việc đánh giá chất lượng vào giá trị các thông số BOD, SS, Coliform; nước thải xi mạ dựa vào giá trị các thông số Cr3+
,
Trang 213 giá trị các thông số đặc trưng nước thải một số ngành dưới đây sẽ mô tả cụ thể hơn về chất lượng nước thải một số ngành sản xuất công nghiệp
Như vậy để đánh giá được chất lượng của nước thải là tốt hay xấu trước tiên ta cần phải xác định các thông số để đánh giá và quy chuẩn quy định cho mỗi thông số đó theo mỗi ngành nghề Nếu nước thải có giá trị một hoặc nhiều thông số vượt quy chuẩn nghĩa là nước thải có chất lượng kém và ngược lại nước thải có chất lượng tốt Từ những phân tích như vậy chúng tôi đưa ra khái niệm chất lượng nước thải như sau:
Chất lượng nước thải là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của nước thải làm nên giá trị của nó
Bảng 3: Giá trị các thông số đặc trưng nước thải một số ngành công nghiệp [27, tr.9]
1 Chế biến đồ
hộp, thủy sản
mg/l Tổng nitơ 2500-2700
Nghị định số 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về
Trang 22KCN, khu chế xuất, khu kinh tế đưa ra khái niệm KCN như sau:
KCN là khu chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định [9, tr.2]
Theo khái niệm này, các KCN được hình thành và phát triển trên cơ sở quy hoạch tổng thể phát triển được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Các quy hoạch tổng thể phát triển các KCN được phê duyệt đảm bảo phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng, tỉnh, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội cả nước Các KCN được thành lập theo trình tự, thủ tục của pháp luật quy định Cơ sở hạ tầng của các KCN được đầu tư đồng bộ như: Hệ thống giao thông, hệ thống thông tin liên lạc, hệ thống cung cấp điện, nước, hệ thống thu gom và xử lý chất thải đảm bảo có sự kết nối thuận tiện với khu vực Các dự
án được thu hút đầu tư vào các KCN là các dự án sử dụng công nghệ, kỹ thuật hiện đại, được thẩm định trước khi phê duyệt đầu tư
1.1.4 Khái niệm chất lượng nước thải KCN
Như trên đã phân tích, KCN là khu tập trung nhiều doanh nghiệp, xí nghiệp sản xuất, kinh doanh các mặt hàng công nghiệp, được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập theo những yêu cầu, điều kiện khác nhau Thủ tục thành lập theo quy định của pháp luật Đối với mỗi KCN được phê duyệt quy hoạch chi tiết sẽ bao gồm một số ngành nghề sản xuất đặc trưng khác nhau Có KCN chỉ chuyên sản xuất các mặt hàng linh kiện điện tử, có KCN chuyên sản xuất các mặt hàng may mặc, có KCN chỉ sản xuất các mặt hàng cơ khí phụ trợ Mỗi KCN có ngành nghề sản xuất khác nhau, nguyên liệu sử dụng cho quá trình sản xuất khác nhau vì vậy thành phần các chất ô nhiễm trong nước thải phát sinh
từ các quá trình sản xuất đó cũng khác nhau Có những khu công nghiệp nước thải phát sinh chủ yếu là từ sinh hoạt của người lao động do các doanh nghiệp trong KCN này không sử dụng nước làm nguyên liệu sản xuất như: KCN sản xuất linh kiện điện tử, KCN lắp ráp xe máy, KCN sản xuất hàng may mặc Bên cạnh đó có những KCN phát sinh nước thải có chứa nhiều các chất gây ô nhiễm
Trang 23như: KCN dệt nhuộm, KCN sản xuất và chế biến giấy, KCN khai khoáng Để đánh giá chất lượng nước thải các KCN phải căn cứ vào các ngành nghề chủ yếu sản xuất trong các KCN; giá trị các thông số đặc trưng cho nước thải ngành sản xuất đó và các quy chuẩn quy định cho giá trị các thông số đó Nếu nước thải KCN có giá trị một hoặc nhiều thông số đặc trưng vượt quy chuẩn quy định thì nước thải KCN đó có chất lượng kém và ngược lại Hiện nay, chất lượng nước thải từ các KCN là tốt hay kém được đánh giá theo quy chuẩn QCVN 40:2011/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp (chi tiết xem phụ lục bảng Giá trị cho phép các thông số nước thải).Từ những phân tích nêu trên chúng tôi đưa ra khái niệm chất lượng nước thải KCN như sau:
Chất lượng nước thải KCN là tổng thể những tính chất, thuộc tính cơ bản của nước thải phát sinh từ các KCN làm nên giá trị của nó
1.1.5 Khái niệm QLNN về chất lượng nước thải các KCN
QLNN là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (Chính phủ và Uỷ ban nhân dân các cấp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật QLNN là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước QLNN là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản
lý lên đối tượng quản lý
Môi trường KCN là bộ phận hợp thành môi trường quốc gia và cũng là một lĩnh vực của đời sống xã hội chịu sự quản lý của Nhà nước Nhà nước có chức năng quản lý chất lượng nước thải các KCN Chủ thể của QLNN về chất lượng nước thải các KCN là Nhà nước, đối tượng quản lý là các hoạt động sản xuất phát sinh nước thải của các doanh nghiệp nằm trong các KCN Để thực hiện chức năng QLNN sử dụng các công cụ pháp luật, chính sách nhằm hạn chế tác động có hại của nước thải từ các KCN đến môi trường chung, đảm bảo phát triển bền vững
Trang 24Vậy, QLNN về chất lượng nước thải các KCN được hiểu là tổng thể các giải pháp luật pháp, chính sách, kinh tế, kỹ thuật của Nhà nước đối với các hoạt động phát sinh nước thải của các doanh nghiệp trong các KCN nhằm đảm bảo chất lượng nước thải của các KCN được duy trì theo đúng một chuẩn mực nhất định
Các cơ quan QLNN thực hiện trách nhiệm quản lý chất lượng nước thải các KCN theo luật định bằng chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình đưa
ra các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, chính sách kỹ thuật, chính sách
xã hội thích hợp nhằm duy trì chất lượng nước thải các KCN đạt một chuẩn mực nhất định đã được đặt ra nhằm đáp ứng đòi hỏi trong từng giai đoạn phát triển
Đồng thời, các cơ quan này cũng quy định các khuôn mẫu hành vi của các chủ thể trong quá trình hoạt động sản xuất phát sinh nước thải trong các KCN Các cơ quan QLNN có trách nhiệm hướng dẫn các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện các quy định như: Lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, lập kế hoạch BVMT, lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố Đồng thời, thanh tra, kiểm tra phát hiện và xử lý hành vi vi phạm
Các doanh nghiệp trong KCN là chủ thể của các hoạt động phát sinh nước thải trong KCN có trách nhiệm tuân thủ theo các quy định của pháp luật Đồng thời, áp dụng các biện pháp nhằm duy trì chất lượng nước thải theo chuẩn mực
đã được quy định và đảm bảo mục tiêu sản xuất, kinh doanh như: tối ưu hóa việc
sử dụng nước nguyên liệu giảm thiểu khối lượng nước thải phát sinh, giảm thiểu nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải đó bằng cách áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn, cải tạo, nâng cấp trang thiết bị sản xuất; thu gom, xử lý, tái sử dụng nước thải
Hiện nay, quy định chung về chất lượng nước thải các KCN trong cả nước theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về nước thải công nghiệp QCVN 40:2011/BTNMT với các thông số đánh giá cụ thể trong phần phụ lục bảng Giá trị cho phép của các thông số nước thải
Trang 251.1.6 Khái niệm chính sách QLNN
Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính [47, tr.99], chính sách được hiểu là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định
Nhà nước có một vị trí và vai trò vô cùng quan trọng, là chủ thể đại diện cho quyền lực của nhân dân, ban hành chính sách công để mưu cầu lợi ích cho
xã hội Hoạt động của nhà nước tác động đến nhiều khu vực và bộ phận nhân dân rộng khắp trên phạm vi quốc gia Tác động của Nhà nước đến các đối tượng
có thể mang tính chính trị, hành chính hay kinh tế hay kỹ thuật được lồng ghép vào các cơ chế quản lý điều hành thống nhất Đồng thời trong những thời kỳ phát triển khác nhau, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước cũng có sự thay đổi một cách thích hợp
Từ đó ta có thể hiểu, chính sách QLNN là sách lược và kế hoạch cụ thể của Nhà nước đối với các hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống
xã hội nhằm đạt được các mục tiêu đề ra trong khoảng thời gian nhất định
Có thể nói, chính sách QLNN về chất lượng nước thải các KCN là những hành động có tính toán của Nhà nước để đối phó với đối tượng quản lý theo hướng đồng tình hay phản đối Hoặc xuất phát từ ý chí của Nhà nước trong hoạt động quản lý xã hội
Chính sách QLNN về chất lượng nước thải các KCN vừa củng cố niềm tin của nhân dân vào Nhà nước vừa thể hiện sự thống nhất giữa nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân với ý chí quản lý của Nhà nước (thể hiện qua mục tiêu chính sách) Yêu cầu của con người cũng như của xã hội luôn thay đổi trong từng giai đoạn khác nhau, khi nhu cầu thay đổi thì mục tiêu cũng thay đổi từ đó dẫn đến các chính sách QLNN về chất lượng nước thải các KCN cũng phải thay đổi theo để phù hợp với điều kiện thực tế
Trang 261.1.7 Tổ chức bộ máy QLNN
Theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính [47, tr.721], tổ chức là một
hệ thống gồm nhiều phân hệ có những mối quan hệ hữu cơ hợp lý, rõ ràng, hợp tác và phối hợp chặt chẽ, tác động lẫn nhau trong một tổng thể, phát sinh một lực tổng hợp tác động cùng chiều lên một đối tượng nhằm đạt những mục tiêu đã định
Cũng theo từ điển giải thích thuật ngữ hành chính [47, tr.51] bộ máy QLNN gồm tổng thể các cơ quan có tư cách pháp nhân công quyền do quốc hội
và Hội đồng nhân dân các cấp lập ra, có trách nhiệm quản lý công việc hàng ngày của Nhà nước nhằm giữ gìn trật tự công, bảo vệ quyền lợi công và phục vụ nhu cầu hàng ngày của công dân Là hệ thống bảo đảm thực thi quyền hành pháp
và hoạt động liên tục của các công sở
Như vậy, tổ chức bộ máy QLNN là hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến địa phương, có những mối quan hệ hữu cơ hợp lý, rõ ràng, hợp tác và phối hợp chặt chẽ, tác động lẫn nhau nhằm đạt được mục tiêu đã định
Nhà nước thực hiện chức năng duy trì trật tự và ổn định xã hội Để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình, Nhà nước xác lập hệ thống các cơ quan từ trung ương đến địa phương, mỗi cơ quan có chức năng, nhiệm vụ khác nhau để quản lý các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Quản lý môi trường
là một lĩnh vực của quản lý đời sống xã hội Trong đó, quản lý chất lượng nước thải là một bộ phận của quản lý môi trường Trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội, các KCN đã được hình thành như một nhân tố có đóng góp tích cực Tuy vậy, để việc phát triển của các KCN không gây ảnh hưởng đến môi trường và đời sống xã hội, Nhà nước xác lập hệ thống các cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương để quản lý các vấn môi trường trong KCN trong đó có nhiệm vụ QLNN về chất lượng nước thải Hệ thống các cơ quan này được giao chức năng, nhiệm vụ cụ thể, số lượng công chức phù hợp, kinh phí hoạt động, có trách nhiệm đảm bảo luật pháp QLNN về chất lượng nước thải các KCN được thi hành, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp trong KCN, đảm bảo chất lượng nước thải các KCN được duy trì ổn định theo một chuẩn mực được quy định
Trang 271.2 Sự cần thiết, đặc điểm, các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về chất lượng nước thải KCN
1.2.1.2 Đảm bảo đa dạng sinh học của môi trường tự nhiên và sức khỏe con người
Nước thải của các doanh nghiệp sản xuất trong các KCN có chứa các chất gây ô nhiễm là các hợp chất hóa học khác nhau Mỗi hợp chất hóa học khi xâm nhập vào cơ thể con người, các loài động, thực vật được tích tụ trong cơ thể và
có thể gây ra những ảnh hưởng đối với sức khỏe hoặc sự sinh tồn Cụ thể: Khi bị nhiễm độc ion thủy ngân (Hg2+) các loài giáp xác sẽ bị ức chế quá trình chuyển giai đoạn, giảm hô hấp, ngưng hoạt động bơi lội Đối với con người, các muối
vô cơ của thủy ngân có thể phá hủy da, mắt, đường tiêu hóa và gây ra sự tổn hại thận Khi bị nhiễm độc ion asen (As2+) cá da trơn có thể bị biến dạng thận trên
và tùy tạng, tích lũy trong võng mạc mắt, gan, thận làm biến đổi các chỉ tiêu huyết học và chậm sinh trưởng Con người bị nhiễm độc asen lâu dài dẫn đến bệnh tim mạch, rối loạn hệ thần kinh, rối loạn tuần hoàn máu, rối loạn chức năng gan, thận Khi bị nhiễm độc ion crôm (Cr6+) cá lờ đờ không bơi lội do bị biến đổi tế bào mô của mang, thận và gan Đối với người khi bị nhiễm độc ion crom
Trang 28có thể bị loét dạ dày, ruột non, viêm gan, viêm thận, ung thư phổi Nếu nước thải
có chứa các chất gây ô nhiễm không được xử lý thải vào môi trường Các chất gây ô nhiễm sẽ xâm nhập vào cơ thể con người và các loài động thực vật qua quá trình tiêu hoặc chuỗi thức ăn gây ảnh hưởng đến đa dạng sinh học của môi trường tự nhiên và sức khỏe con người QLNN về chất lượng nước thải các KCN đảm bảo chất lượng nước thải của các KCN được duy trì ở một chuẩn mực nhất định không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người và đa dạng sinh học của môi trường tự nhiên
1.2.1.3 Đảm bảo chất lượng nước thải KCN theo đúng quy định
Các doanh nghiệp KCN trong quá trình sản xuất thải vào môi trường các chất ô nhiễm gây nên các mâu thuẫn nghiêm trọng giữa xã hội và môi trường Hậu quả dẫn đến mất cân bằng môi trường tự nhiên, ô nhiễm môi trường QLNN
về chất lượng nước thải các KCN định ra các quy định để điều khiển hành vi của các đối tượng mà nó quản lý, nhằm tác động một cách đúng hướng các hoạt động sản xuất đảm bảo nước thải phát sinh đúng theo các chuẩn mực mà Nhà nước đã định ra và hướng các doanh nghiệp tuân thủ Nếu QLNN về chất lượng nước thải các KCN không thực hiện được nhiệm vụ của mình bằng việc sử dụng
hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ của con người tác động lên môi trường theo ý chí của Nhà nước thì môi trường sẽ bị ô nhiễm nặng
nề, nền sản xuất xã hội bị đình trệ, ảnh hưởng đến hiện tại và tương lai phát triển của con người và đời sống xã hội Nếu QLNN về chất lượng nước thải các KCN được thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả sẽ đảm bảo phát triển bền vững, duy trì mối quan hệ hài hòa giữa con người và môi trường Như vậy, QLNN mang lại
sự công bằng đối với tất cả các đối tượng quản lý, đảm bảo sự phát triển mang tính bền vững
1.2.1.4 Quyết định chiến lược phát triển bền vững
Nhà nước đóng vai trò quyết định trong việc hoạch định và tổ chức thực hiện chiến lược quốc gia về BVMT, gắn nó với chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước và địa phương Ngày nay, tăng trưởng kinh tế không còn là
Trang 29mục tiêu duy nhất của sự phát triển Các vấn đề mới nảy sinh trong xã hội hiện nay gồm ô nhiễm môi trường đang gia tăng, mất cân bằng sinh thái, biến đổi khí hậu đòi hỏi phải xây dựng và thực hiện chiến lược phát triển kinh tế xã hội bền vững Song hành với các chiến lược phát triển của cả nước và từng địa phương
là một hệ thống VBQPPL ngày càng hoàn thiện để tạo hành lang pháp lý cho hoạt động sản xuất của các doanh nghiệp trong các KCN phù hợp với mục tiêu phát triển Hệ thống các văn bản pháp luật về BVMT các KCN là công cụ pháp
lý của các cấp chính quyền, các cơ quan thực hiện chức năng quản lý Các cơ quan QLNN về chất lượng nước thải các KCN có trách nhiệm hướng dẫn các đơn vị sản xuất kinh doanh thực hiện các quy định về BVMT đối với chất lượng nước thải các KCN, đồng thời, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành các quy định pháp luật, kịp thời phát hiện ngăn chặn và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật gây ảnh hưởng xấu đến lợi ích chung
Bên cạnh đó, Nhà nước sử dụng các chính sách như các đòn bẩy khuyến khích các doanh nghiệp thay đổi công nghệ, chuyển giao công nghệ hiện đại, công nghệ xanh sạch để giảm thiểu lượng phát thải nước thải từ các KCN ra môi trường phục vụ cho chiến lược phát triển bền vững của đất nước và của từng địa phương
1.2.2 Đặc điểm QLNN về chất lượng nước thải KCN
1.2.2.1 QLNN về chất lượng nước thải các KCN khó khăn và phức tạp
Ở Việt Nam ta hiện nay, hầu hết các KCN phát triển đa ngành, đa lĩnh vực Mỗi ngành nghề sản xuất khác nhau có khối lượng nước thải phụ thuộc vào quy mô sản xuất, tải lượng và thành phần các chất ô nhiễm phụ thuộc vào nguyên liệu sử dụng và quy trình công nghệ sản xuất Với mỗi ngành nghề, mỗi doanh nghiệp sản xuất khác nhau có thành phần chất gây ô nhiễm trong nước thải khác nhau Với mỗi thành phần chất gây ô nhiễm khác nhau trong nước thải đòi hỏi quy trình công nghệ xử lý khác nhau, cụ thể: Đối với nước thải có hàm lượng các chất hữu cơ cao quy trình xử lý phải áp dụng công nghệ xử lý sinh học Nhưng đối với nước thải có hàm lượng ion kim loại nặng cao (Cr3+, Cr6+,
Ni2+, ) đòi hỏi quy trình xử lý phải áp dụng công nghệ hóa lý kết hợp sinh học
Trang 30Nước thải của các doanh nghiệp trong các KCN đều xả thải vào chung một hệ thống thu gom và xử lý, vì vậy, việc quản lý là khó khăn
Ngoài ra, QLNN về chất lượng nước thải các KCN điều kiện đầu tiên phải
có bộ quy chuẩn chung thống nhất Nhưng do tính chất đa ngành, đa lĩnh vực trong các KCN ở nước ta hiện nay, để xây dựng một bộ quy chuẩn chung áp dụng phù hợp cho tất cả các ngành, các lĩnh vực sản xuất không phải là dễ dàng Quy định về giá trị nồng độ các thông số ô nhiễm trong nước thải được phép cũng phải phù hợp với từng ngành, từng lĩnh vực, không thể lấy tiêu chí của ngành này áp dụng cho ngành khác
Bên cạnh đó, ý thức chấp hành pháp luật BVMT của chủ doanh nghiệp, người lao động cũng như trình độ chủ các doanh nghiệp, người lao động không đồng đều Chính các yếu tố đó đòi hỏi các nhà quản lý trong quá trình quản lý phải hết sức linh hoạt và chủ động nhận diện, nắm bắt được thực tế để từ đó đưa
ra được các phương pháp quản lý phù hợp với điều kiện cho phép
Với điều kiện thực tế các KCN Việt Nam phương pháp kiểm tra, thanh tra định kỳ và đột xuất khi có dấu hiệu vi phạm là hoàn toàn chưa đủ đáp ứng yêu cầu đặt ra Với phương thức kiểm tra như trên sẽ bỏ sót rất nhiều các hành vi vi phạm pháp luật BVMT đối với nước thải Việc kiểm soát chất lượng nước thải các KCN đòi hỏi phải được thực hiện 24/24 giờ trong ngày Hiện nay, hầu hết các cơ quan quản lý nhà nước ở các địa phương chưa có đủ hạ tầng đáp ứng việc kết nối với hệ thống quan trắc nước thải tự động liên tục của các KCN Chưa một KCN nào trong cả nước được lắp đặt trạm quan trắc tự động liên tục nằm trong hệ thống các trạm quan trắc quốc gia
Các trang thiết bị phục vụ hoạt động kiểm tra, thanh tra phải là các trang thiết bị hiện đại đảm bảo phát hiện đầy đủ chất gây ô nhiễm có trong nước thải của các KCN Hầu hết các thiết bị này trong nước chưa sản xuất được Kinh phí đầu tư mua sắm các trang thiết bị rất tốn kém Hầu hết các cơ quan quản lý nhà nước ở địa phương chưa quan tâm bố trí kinh phí mua sắm các trang thiết bị này Việc thanh tra, kiểm tra chủ yếu thực hiện bằng biện pháp hành chính chủ yếu
Trang 311.2.2.2 Là hoạt động có tính đa ngành và liên ngành
Đối tượng QLNN về chất lượng nước thải các KCN là chủ thể các hoạt động sản xuất phát sinh nước thải trong các KCN Các hoạt động sản xuất rất đa dạng và phức tạp như: chế biến nông sản, dệt nhuộm, xi mạ, sản xuất phân bón, chế tạo máy móc, .Đồng thời trải rộng khắp các vùng, miền trên cả nước và liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội Do đó, đòi hỏi hoạt động quản lý về chất lượng nước thải các KCN phải thiết lập sự liên kết, phối hợp đa ngành và liên ngành giữa các cơ quan chuyên trách về quản lý môi trường các KCN với các ngành, lĩnh vực khác nhau Hệ thống này bao gồm các
cơ quan từ trung ương đến địa phương Quốc hội ban hành Hiến pháp, các văn bản Luật; Chính phủ ban hành các văn bản dưới luật và chỉ đạo thực hiện các VBQPPL; các cấp chính quyền địa phương hướng dẫn, tổ chức thực hiện các VBQPPL; các ngành, cấp tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ được giao (ở trung ương có Bộ TN & MT, Bộ Công thương, Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ
Kế hoạch Đầu tư, Bộ Công an, .ở địa phương có Sở TN & MT, Sở Công thương, Sở Khoa học Công nghệ, Sở Kế hoạch Đầu tư, Công an tỉnh, )
Sự đa ngành thể hiện ở việc lĩnh vực hoạt động của các ngành đó có liên quan đến chất lượng nước thải các KCN Do đó trong quá trình quản lý cần phải
có sự phối hợp liên ngành để tạo ra sự đồng bộ và thống nhất nhằm mang lại hiệu quả quản lý cao nhất
1.2.2.3 QLNN về chất lượng nước thải các KCN đòi hỏi chuyên môn, nghiệp vụ kỹ thuật cao
Ngày nay, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các hoạt động sản xuất không ngừng biến đổi với công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại Nhiều loại chất mới, vật liệu mới được nghiên cứu và ứng dụng trong sản xuất Do đó, chất lượng nước thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất ngày càng đa dạng và phức tạp Muốn quản lý tốt chất lượng nước thải từ các KCN trước hết phải nhận diện được một cách đầy đủ các tính chất và thành phần của nước thải phát sinh Điều này đòi hỏi các cơ quan quản lý, các nhà quản lý chất lượng nước thải các KCN
Trang 32phải được hỗ trợ về mặt kỹ thuật các trang thiết bị, phương tiện hiện đại để đo lường, đánh giá và đặt ra các quy chuẩn để quản lý Các trang thiết bị hiện đại cũng là công cụ hữu hiệu nhằm giúp các nhà quản lý phát hiện, đánh giá và là cơ
sở để kết luận các hành vi vi phạm của các doanh nghiệp trên cơ sở đó có quyết định xử lý một cách thuyết phục
1.2.2.4 Là cơ sở đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa con người - tự nhiên
Trong lĩnh vực QLNN về nước thải các KCN, xét trong mối quan hệ giữa con người, xã hội và tự nhiên, Nhà nước đại diện cho con người, xã hội, là khâu trung gian giữa xã hội và tự nhiên QLNN về chất lượng nước thải các KCN là
cơ sở để đảm bảo mối quan hệ bền vững giữa con người và tự nhiên Nhu cầu sống của con người ngày càng tăng, để thỏa mãn nhu cầu đó, con người tiến hành các hoạt động sản xuất xã hội Trong quá trình sản xuất đó, con người xả thải vào môi trường tự nhiên nước thải chứa các chất ô nhiễm gây mất cân bằng hoặc nghiêm trọng hơn là hủy hoại môi trường tự nhiên Hoạt động QLNN về chất lượng nước thải các KCN điều chỉnh các hoạt động sản xuất, không để xả nước thải có chứa các chất ô nhiễm vượt ngưỡng quy định ra môi trường, không gây mất cân bằng sinh thái hoặc hủy hoại môi trường Như vậy, Hoạt động QLNN về chất lượng nước thải đảm bảo mối quan hệ hài hòa giữa con người và
tự nhiên
1.2.3 Các yếu tố ảnh hưởng QLNN về chất lượng nước thải KCN
Để QLNN về chất lượng nước thải các KCN có hiệu quả thì chúng ta phải làm rõ các yếu ảnh hưởng cụ thể như sau:
Thứ nhất, cơ chế, chính sách của Nhà nước
Cơ chế, chính sách là yếu tố đầu tiên có ảnh hưởng đến QLNN về chất lượng nước thải các KCN Một cơ chế, chính sách tốt sẽ khiến cho toàn bộ hệ thống QLNN từ trung ương đến địa phương vận hành ổn định, đảm bảo hài hòa giữa phát triển kinh tế và BVMT trong các KCN Một cơ chế chính sách tốt sẽ tạo ra sự đồng thuận giữa các nhà quản lý, các doanh nghiệp sản xuất, người dân Đảm bảo nhà quản lý thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ, doanh nghiệp sản
Trang 33xuất có lợi nhuận, người dân được hưởng môi trường sống an toàn và đảm bảo phúc lợi xã hội Ngược lại, nếu cơ chế, chính sách không tốt, hậu quả càng phát triển kinh tế môi trường càng bị phá hủy nghiêm trọng Để có cơ chế, chính sách tốt đòi hỏi trước hết việc ban hành VBQPPL phải đồng bộ, chặt chẽ và bao trùm toàn bộ lĩnh vực Việc tổ chức thực thi các VBQPPL nghiêm túc, nhanh chóng
và rộng khắp Hệ thống các cơ quan QLNN tinh gọn, chức năng, nhiệm vụ rõ ràng không chồng chéo Cán bộ quản lý có đủ phẩm chất đạo đức, năng lực
chuyên môn
Thứ hai, ý thức chính trị của các cán bộ, công chức
Yếu tố thứ hai có ảnh hưởng đến QLNN về chất lượng nước thải các KCN là phẩm chất, đạo đức hay chính là ý thức chính trị của các cán bộ, công chức làm việc trong các cơ quan QLNN Có thể nói, các VBQPPL có được thực
sự đi vào cuộc sống hay không phần nhiều dựa vào đội ngũ cán bộ, công chức này Họ chính là cầu nối triển khai thực hiện các quy định của pháp luật đến người lao động, chủ cá doanh nghiệp cũng như là cầu nối phản ánh những ý kiến, kiến nghị của người lao động, chủ doanh nghiệp về sự bất cập, bất hợp lý trong quá trình triển khai thực hiện các quy định của pháp luật
Thứ ba, năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ, công chức
Các cán bộ công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước đóng vai trò rất quan trọng trong QLNN về chất lượng nước thải các KCN Họ là những người trực tiếp soạn thảo, ban hành hệ thống VBQPPL trong lĩnh vực này Đồng thời họ cũng là những người trực tiếp thực thi các chính sách đó và kiểm tra, thanh tra việc thực thi các chính sách đã ban hành một cách chính xác nhất Như vậy, năng lực, trình độ của cán bộ công chức có ảnh hưởng tác động mạnh mẽ trong QLNN về chất lượng nước thải các KCN Trình độ chuyên môn của các cán bộ quản lý phải được thường xuyên trau dồi và cập nhật kiến thức mới để bắt kịp sự thay đổi của khoa học công nghệ tiến tiến Một mặt là để hướng dẫn, một mặt là để nhận diện một cách đầy đủ và chính xác các ảnh hưởng của nước thải phát sinh từ các doanh nghiệp trong KCN từ đó đưa ra được các phương
Trang 34pháp cũng như dự báo được các tình huống có thể xảy ra trong thực tế để phòng ngừa, ngăn chặn Tuy nhiên, thực tế hiện nay hầu hết các cán bộ quản lý các KCN ở địa phương chủ yếu được tham gia các khóa đào tạo ngắn hạn (1-3 ngày) nội dung chủ yếu hưỡng dẫn triển khai các VBQPPL Nội dung đào tạo chưa trú trọng đến nâng cao trình độ chuyên sâu về khoa học, công nghệ
Thứ tư, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
Để đảm bảo hiệu lực, hiệu quả QLNN về chất lượng nước thải các KCN thì hoạt động thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ các quy định và xử lý vi phạm vi phạm các quy định của pháp luật về chất lượng nước thải các KCN là một khâu quan trọng và xuyên suốt quá trình quản lý Nếu thiếu hoạt động này sẽ dẫn đến tình trạng nhiều quy định của pháp luật, chính sách, biện pháp quản lý có tính chất bắt buộc nhằm duy trì chất lượng nước thải các KCN có thể sẽ không được thực hiện nghiêm túc Thông qua kiểm tra, thanh tra ở các cơ sở và qua thực tiễn
áp dụng phát hiện những bất cập trong các VBQPPL để đưa ra những kiến nghị,
bổ sung và hoàn thiện các chính sách, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quản QLNN về chất lượng nước thải các KCN
Thứ năm, điều kiện kinh tế
Có thể nói, điều kiện kinh tế là một trong các yếu tố có sự ảnh hưởng mạnh mẽ đến QLNN về chất lượng nước thải các KCN Sự ảnh hưởng tác động của điều kiện kinh tế trong QLNN về chất lượng nước thải các KCN không chỉ tồn tại ở một khía cạnh mà nó tác động lên rất nhiều yếu tố: Việc ban hành các quy chuẩn quy định chất lượng nước thải phải căn cứ vào khả năng thực tế có thể đáp ứng được của các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh; số lượng, trình độ của cán bộ, công chức làm việc tại các cơ quan QLNN về chất lượng nước thải các KCN phụ thuộc điều kiện kinh tế; nguồn tài chính dành cho các dự án XLNT; …
Thứ sáu, văn hóa, phong tục của các địa phương
Mỗi dân tộc, vùng miền trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài đều có những đặc điểm truyền thống, văn hóa riêng, không giống với các dân
Trang 35tộc, vùng miền khác trong cả nước Do đặc tính này mà mọi quy định để điều tiết hành vi của các đối tượng trong xã hội phải được xây dựng phù hợp với các chuẩn mực chung được thừa nhận trong truyền thống, văn hóa Một hệ thống thể chế chỉ tốt và được tự nguyện áp dụng khi nó phát huy được những ưu điểm của các giá trị truyền thống, nhưng đồng thời cũng phải loại bỏ đi những nhược điểm của truyền thống như những hủ tục lạc hậu, tư duy bảo thủ Để thực hiện tốt QLNN về chất lượng nước thải các KCN, ngay từ khi thành lập các KCN đã phải tính toán đến sự phù hợp để phát triển các KCN trong bối cảnh văn hóa, tín ngưỡng của địa phương Chúng ta không thể thành lập và quản lý tốt một KCN khi tất cả lượng nước thải phát sinh của KCN đó sẽ xả thải ra một địa điểm gần nơi diễn ra các hoạt động tín ngưỡng của người dân trong vùng…
Thứ bảy, ý thức của các doanh nghiệp sản xuất trong các KCN
Ý thức chấp hành pháp luật của các doanh nghiệp có ảnh hưởng sâu sắc đến QLNN về chất lượng nước thải Nếu một doanh nghiệp có ý thức trách nhiệm cao trong BVMT, doanh nghiệp đó sẽ tự giác chấp hành các quy định của pháp luật nước thải sẽ được xử lý đảm bảo trước khi xả thải Ngược lại, một doanh nghiệp ý thức chấp hành pháp luật kém không tự giác chấp hành pháp luật QLNN
về chất lượng nước thải, họ luôn tìm cách thậm chí là tìm khe hở của luật pháp để
xả nước thải chưa xử lý để tiết kiệm chi phí
Thứ tám, trình độ học vấn của người lao động
Người lao động trong các doanh nghiệp KCN là những người trực tiếp tham gia sản xuất tạo thành sản phẩm Chính vì vậy, họ là những người trực tiếp làm phát sinh nước thải Nếu người lao động có trình độ học vấn cao, có sự hiểu biết nhất định về khoa học kỹ thuật cũng như về các nguy cơ ô nhiễm nếu nước thải do họ trực tiếp phát sinh ra có chứa các chất độc hại Bản thân người lao động có trình độ có ý thức cao trong việc tuân thủ đúng các quy trình vận hành thiết bị Ngoài ra, trong một số trường hợp họ biết vận dụng khéo léo và linh hoạt khi vận hành các trang thiết bị máy móc không phải là sự dập khuôn đặc biệt là việc xử lý các tình huống sự cố nghiệm trọng có thể phát tán nước thải ô
Trang 36nhiễm ra môi trường: rò rỉ hóa chất trong quá trình vận hành, …Hạn chế tối đa việc phát sinh nước thải trong quá trình sản xuất
Thứ chín, hội nhập và hợp tác quốc tế
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, mỗi quốc gia nếu muốn phát triển không thể nằm ngoài mối liên hệ với các quốc gia khác Sự ràng buộc pháp lý đối với một quốc gia chấp nhận khi tham gia các cấu trúc quốc tế có ảnh hưởng
to lớn tới hệ thống thể chế của quốc gia đó Ví dụ, việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) có ảnh hưởng lớn tới hệ thống các chỉ tiêu về chất lượng sản phẩm xuất khẩu trong đó có các chỉ tiêu về chất lượng môi trường Một sản phẩm may mặc nằm trong KCN muốn được xuất khẩu sang thị trường Mỹ và Châu Âu thì cần phải có đầy đủ các loại giấy tờ công nhận đã đảm bảo các hoạt động về môi trường như: Kết quả quan trắc môi trường nước, không khí, lao động; giấy phép xả nước thải vào nguồn nước, biên bản xác nhận
đã đấu nối đúng vào hệ thống hạ tầng trong các KCN và không vi phạm các quy định hiện hành của pháp luật về BVMT
1.3 Chủ thể, nội dung QLNN về chất lượng nước thải các KCN
1.3.1 Chủ thể quản lý
Chính phủ thống nhất QLNN về chất lượng nước thải trong các KCN
- Chính phủ giao Bộ TN & MT tham mưu về chất lượng nước thải các KCN Nghị định số 25/2008/NĐ-CP của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm
vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ TN&MT, Bộ TN&MT thực hiện chức năng QLNN về BVMT trong đó có lĩnh vực quản lý chất lượng nước thải, gồm những nhiệm vụ cụ thể như sau: trình Chính phủ dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm, các dự án, đề án theo phân công của Chính phủ; trình Thủ tướng Chính phủ chiến lược, quy hoạch phát triển, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm, các chương trình, dự án quốc gia, các dự thảo quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; xây dựng, ban hành quy chuẩn kỹ thuật
Trang 37quốc gia; chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra và chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện các VBQPPL, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất thải; hướng dẫn, kiểm tra việc thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường; hướng dẫn việc kiểm tra, đánh giá và thẩm định thiết bị, công trình xử lý chất thải trước khi đưa vào hoạt động; cấp giấy phép về môi trường
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan trực thuộc Chính phủ theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình phối hợp với Bộ TN & MT quản lý chất lượng nước thải các KCN
+ Bộ Công Thương chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BVMT và các quy định khác của pháp luật có liên quan đối với lĩnh vực công nghiệp
+ Bộ Xây dựng chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về BVMT và các quy định khác của pháp luật có liên quan đối với các hoạt động xây dựng kết cấu hạ tầng KCN
+ Bộ Công an có trách nhiệm huy động lực lượng ứng phó, khắc phục sự
cố môi trường; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra công tác BVMT, trong đó
có quản lý chất thải, trong lực lượng vũ trang thuộc thẩm quyền quản lý; phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về môi trường, trong đó có quản lý chất lượng nước thải KCN
UBND cấp tỉnh thống nhất QLNN về mọi vấn đề có liên quan đối với chất lượng nước thải của các KCN thuộc phạm vi lãnh thổ tỉnh Các Sở Tài nguyên
và Môi trường, Sở Công thương, Công an tỉnh, Ban Quản lý các KCN là các cơ quan tham mưu giúp việc cho UBND tỉnh trong hoạt động QLNN về chất lượng nước thải các KCN
UBND các cấp huyện, xã, phường, thị trấn là cơ quan QLNN chịu trách nhiệm chung về các vấn đề môi trường có liên quan thuộc phạm vi lãnh thổ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện, các cán bộ địa chính môi trường xã,
Trang 38phường, thị trấn có trách nhiệm tham mưu giúp việc cho UBND huyện, xã, phường, thị trấn trong hoạt động QLNN chung về các vấn đề môi trường thuộc phạm vi lãnh thổ
1.3.2 Nội dung quản lý
Để chủ thể QLNN về chất lượng nước thải các KCN thực hiện tốt các nhiệm vụ, cần phải đặt ra các công việc sẽ phải thực hiện trong quá trình quản
lý Các công việc đó chính là nội dung QLNN về chất lượng nước thải các KCN
1.3.2.1 Ban hành, hướng dẫn, tổ chức, thực hiện các VBQPPL về BVMT đối với chất lượng nước thải các KCN
Nhà nước xây dựng và ban hành theo thẩm quyền hệ thống VBQPPL làm công cụ quản lý chất lượng nước thải các KCN, nhằm tác động vào chủ thể của các hoạt động phát sinh nước thải trong các KCN để định hướng, điều chỉnh, kiểm soát chất lượng của nước thải các KCN đảm bảo sự phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững Tạo hành lang pháp lý cho các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc, đi đúng hướng trong việc XLNT phát sinh trong quá trình sản xuất Việc ban hành và hướng dẫn, tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật hướng vào các nội dung chính sau đây:
- Rà soát và ban hành đồng bộ các văn bản dưới luật, các quy định pháp luật khác để nâng cao hiệu quả của Luật BVMT
- Ban hành các chính sách về thuế, tín dụng nhằm khuyến khích áp dụng các công nghệ sản xuất sạch hơn trong hoạt động sản xuất kinh doanh
- Thống nhất quy định đóng góp phí BVMT đối với nước thải
- Thể chế hóa việc việc giải quyết các vấn đề phát triển kinh tế và BVMT đối với nước thải các KCN trong kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và trong cả nước
- Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn BVMT đối với chất lượng nước thải các KCN
Trang 391.3.2.2 Xây dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách QLNN về chất lượng nước thải các KCN, kế hoạch phòng ngừa, ứng phó với các sự cố môi trường
Chiến lược, chính sách, kế hoạch về BVMT các KCN là các công cụ quản
lý do Đảng và Nhà nước ta ban hành Các chính sách, chiến lược là những văn bản mang tầm vĩ mô, có tính bao quát, bao trùm về không gian và thời gian, có phạm vi điều chỉnh rộng lớn và tác động đến tất cả các mối quan hệ xã hội Trong những năm gần đây, chúng ta đã ban hành nhiều chiến lược, chính sách,
kế hoạch nhằm điều chỉnh các hoạt động sản xuất phát sinh nước thải trong các KCN đi đúng hướng, đúng mục đích
1.3.2.3 Tổ chức bộ máy QLNN về chất lượng nước thải các KCN
Để thực hiện thống nhất QLNN về chất lượng nước thải các KCN trên cả nước cần có một hệ thống cơ quan QLNN tương ứng từ trung ương tới địa phương Cần có sự phân công, phân cấp cụ thể giữa trung ương và địa phương, giữa các bộ, ngành và các cơ quan, đơn vị có liên quan để tránh chồng chéo, bỏ sót nhiệm vụ Mặt khác, công việc này không chỉ có một cơ quan nào đó làm được mà đòi hỏi có nhiều ngành, nhiều đơn vị cùng tham gia, phối hợp Luật BVMT năm 2014 đã quy định trách nhiệm QLNN về BVMT trong đó có trách nhiệm quản lý môi trường KCN thống nhất từ trung ương tới địa phương
1.3.2.4 Đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức
Nhà nước tập trung ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực BVMT, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân tham gia đào tạo nguồn nhân lực BVMT trong đó có nguồn nhân lực BVMT các KCN Hiện nay, việc đào tạo nguồn nhân lực được tập trung vào các đối tượng cán bộ, công chức có chuyên môn về môi trường, đội ngũ sinh viên được đào tạo chuyên ngành môi trường
Bên cạnh đó, công chức làm việc trong các cơ quan nhà nước liên quan đến quản lý chất lượng môi trường các KCN được trú trọng bồi dưỡng nâng cao trình độ năng lực chuyên môn bằng việc tham gia các lớp đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ
Trang 401.3.2.5 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm
Việc thanh tra, kiểm tra giữ vai trò kiểm định, đánh giá tính chính xác của các số liệu, thông tin về chất lượng nước thải các KCN đã thu thập được; phát hiện, ngăn chặn và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT đối với chất lượng nước thải các KCN Theo quy định, số lần kiểm tra, thanh tra việc chấp hành các quy định về BVMT đối với một doanh nghiệp không quá hai lần một năm, trừ trường hợp doanh nghiệp đó bị tố cáo vi phạm hoặc có dấu hiệu vi phạm pháp luật về BVMT
Ngoài ra, cơ quan QLNN còn có trách nhiệm giải quyết các tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về BVMT đối với nước thải của các KCN Mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền khiếu nại, tố cáo hoặc khởi kiện ra tòa án khi phát hiện hành
vi vi phạm
1.3.2.6 Xã hội hóa trong hoạt động BVMT về chất lượng nước thải KCN
Xã hội hóa hoạt động BVMT đối với chất lượng nước thải các KCN về mặt hình thức là hoạt động chuyển giao một phần công việc quản lý từ phía nhà nước sang xã hội, huy động mọi thành phần, nguồn lực để tham gia BVMT Việc xã hội hóa sẽ làm giảm gánh nặng cho Nhà nước, nhưng không giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước Nhà nước vẫn là chủ thể quản lý chất lượng nước thải các KCN
Ngày 30/5/2008, Chính phủ ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường Theo đó, các tổ chức, cá nhân
có thể tham gia vào các hoạt động giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành
1.3.2.7 Hợp tác quốc tế trong QLNN về chất lượng nước thải KCN
Trong thời gian qua, Việt Nam đã tích cực hội nhập quốc tế và mở rộng hợp tác quốc tế, tham gia trên 20 Điều ước quốc tế về môi trường; đồng thời