1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)

111 170 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

Ở THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn "Năng lực thực thi công vụ của công chức phường ở thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi" là công trình nghiên cứu thực sự của riêng tôi, được thực hiện trên cở sở nghiên cứu lý thuyết, khảo sát tình hình thực tiễn và dưới sự hướng dẫn tận tình của TS Nguyễn Minh Sản Các số liệu sử dụng trong luận văn là trung thực, có trích dẫn nguồn gốc

rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào trước đây

Thừa Thiên Huế, ngày 02 tháng 4 năm 2017

Học viên Nguyễn Thị Ngọc Dung

Trang 4

LỜI CÁM ƠN

Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ, hướng dẫn, động viên quý báu của các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp

Trước hết, với sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin được bày tỏ

lòng cảm ơn chân thành và biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Nguyễn Minh Sản,

người đã hướng dẫn, chỉ bảo nhiệt tình và định hướng cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu, thu thập số liệu, khảo sát thực tế và thực hiện Luận văn Tôi xin trân trọng cảm ơn quý thầy giáo, cô giáo các khoa chuyên ngành, Khoa sau đại học - Học viện Hành chính Quốc gia; Cơ sở Học viện Hành chính khu vực Miền trung đã giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện Luận văn này

Xin chân gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo các Cơ quan, Ban, Ngành có liên quan của Thành phố Quảng Ngãi đã cung cấp thông tin, tài liệu để tôi có thể hoàn thành luận văn Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới bạn bè, đồng nghiệp cùng gia đình đã tạo mọi điều kiện tốt nhất để tôi có thể hoàn thành luận văn này

Trân trọng cám ơn!

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ 7

1.1.Năng lực, công vụ, công chức cấp xã 7

1.1.1.Khái niệm năng lực: 7

1.1.2 Khái niệm công vụ cấp xã 8

1.1.3.Đặc điểm công vụ, công chức cấp xã 12

1.1.4 Vị trí, vai trò của công chức cấp xã 14

1.2 Năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã 16

1.2.1.Khái niệm năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã 16

1.2.2 Đặc điểm năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã 17

1.3 Các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã 23

1.3.1 Về kiến thức công chức cấp xã 24

1.3.2 Về kỹ năng công chức cấp xã 25

1.3.3 Về thái độ công chức cấp xã 26

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã 28

1.4.1 Tuyển dụng công chức cấp xã 29

1.4.2 Quy hoạch, sử dụng và luân chuyển công chức cấp xã 29

1.4.3 Quản lý công chức cấp xã 30

1.4.4 Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã 31

1.4.5 Đánh giá, phân loại công chức cấp xã 32

1.4.6 Thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và kỷ luật công chức cấp xã 34

1.4.7 Chế độ, chính sách đối với công chức cấp xã 35

Tiểu kết chương 1 37

Chương 2 THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, 38

TỈNH QUẢNG NGÃI 38

2.1 Thực trạng công chức phường thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi 38

2.1.1 Số lượng công chức phường 38

2.1.2 Cơ cấu giới tính của công chức phường 40

2.1.3 Sự biến động của công chức phường theo độ tuổi 41

2.2 Phân tích thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức phường thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi 42

2.2.1 Về kiến thức của công chức phường 42

2.2.2 Về kỹ năng của công chức phường 47

2.2.3 Về thái độ của công chức phường: 51

2.2.4 Về kết quả thực thi công vụ của công chức phường 53

Trang 6

2.3 Đánh giá chung thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức

phường thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi 57

2.3.1 Những kết quả đạt được 57

2.3.2 Những hạn chế, bất cập 60

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, bất cập 64

Tiểu kết chương 2 67

Chương 3 QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC PHƯỜNG THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI 68

3.1 Quan điểm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức phường thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi 68

3.1.1 Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức phường phải đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Đảng về công tác cán bộ 69

3.1.2 Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức phường đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước 70

3.1.3 Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức phường đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân 71 3.2 Phương hướng nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức phường thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi 72

3.2.1 Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức phường trên cơ sở phù hợp với thực tiễn nhằm xây dựng đội ngũ công chức phường chính quy, hiện đại 72

3.2.2 Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức phường trên cơ sở tôn trọng, quán triệt đầy đủ các nguyên tắc và nội dung cải cách chế độ công vụ, công chức 75

3.3 Giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức phường thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi 78

3.3.1 Nâng cao chất lượng tuyển dụng công chức 79

3.3.2 Đổi mới quy hoạch, sử dụng và luân chuyển công chức 80

3.3.3 Tăng cường quản lý công chức 82

3.3.4 Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức 83

3.3.5 Đổi mới đánh giá, phân loại công chức 86

3.3.6 Thực hiện thanh tra, kiểm tra, khen thưởng và kỷ luật công chức 89

3.3.7 Đổi mới chế độ, chính sách đối với công chức 91

Tiểu kết chương 3 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 2.1 Thống kê số lượng, công chức phường ở thành phố Quảng Ngãi theo chức danh đảm nhiệm 38 Bảng 2.2 Thống kê số lượng và cơ cấu công chức phường theo giới tính năm 2015………39 Bảng 2.3 Thống kê cơ cấu độ tuổi của đội ngũ công chức phường năm

2015 theo chức danh, vị trí công tác………40 Bảng 2.4 Thống kê trình độ chuyên môn của đội ngũ công chức phường 43

Bảng 2.5 Thống kê trình độ lý luận chính trị của công chức phường 44 Bảng 2.6.Thống kê trình độ Quản lý Nhà nước và trình độ tin học, của công chức phường thành phố Quảng Ngãi 46 Bảng 2.7 Thực trạng về kết quả đánh giá phân loại của công chức

phường thành phố Quảng ngãi năm 2015 53

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ1 8

Trang 10

1

MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài luận văn

Chính quyền xã, phường, thị trấn (hay còn gọi là chính quyền cấp xã)

có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính Là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật

tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, được triển khai thực hiện trong cuộc sống

Đội ngũ cán bộ, công chức (CBCC) cấp xã có vai trò hết sức quan trọng trong xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở, trong hoạt động công vụ, bởi hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước phụ thuộc vào yếu tố chất lượng CBCC Công chức với chức năng là người trực tiếp giải quyết các hoạt động chuyên môn, là người đại diện cho Nhà nước để thực thi nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Công chức cấp phường, xã với đặc thù là người làm việc tại cấp hành chính

cơ sở, trực tiếp triển khai các quy định của pháp luật vào đời sống, triển khai các hoạt động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trực tiếp có quan hệ với cá nhân và tổ chức Vì vậy, một mặt công chức cấp xã là chủ thể thực thi quyền lực nhà nước, mặt khác đây cũng là nơi kết nối Nhà nước với Nhân dân, kịp thời phát hiện các vấn đề phát sinh trong thực tế để đề xuất chính sách đáp ứng yêu cầu của thực tiễn đời sống

Nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của công chức trong hiệu quả quản lý nhà nước, trong những năm qua, Đảng đã ban hành nhiều chủ trương

về công tác cán bộ, trong đó xác định xây dựng đội ngũ cán bộ ở cơ sở có năng lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân… nhằm thực hiện tốt các chức năng: cầu nối giữa Nhà nước với các tổ chức và cá nhân; đại diện

Trang 11

2

cho Nhà nước, nhân danh Nhà nước để thực thi quyền lực nhà nước; trực tiếp triển khai, tổ chức thực hiện các đường lối, chủ trương, chính sách và pháp luật của Đảng và Nhà nước trên địa bàn xã là là một trong ba vấn đề cơ bản, bức xúc nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ sở [17]

Trên cơ sở các chủ trương mà Đảng đã ban hành, Nhà nước không ngừng bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh địa vị pháp lý của công chức nói chung và công chức cấp xã, phường nói riêng Các văn bản quy phạm pháp luật đã hình thành khung khổ pháp lý làm minh bạch hoá các vấn

đề về tuyển dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật, đào tạo, bồi dưỡng công chức đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng, phát triển đội ngũ công chức

và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của bộ máy chính quyền cấp xã

Trong thời gian qua, cùng với sự phát triển chung của đội ngũ công chức cấp xã trong cả nước, đội ngũ công chức cấp xã ở thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi đã có những bước thay đổi căn bản, từng bước được chuẩn hóa về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước Tuy nhiên, trên thực tế chất lượng của đội ngũ công chức cấp xã, phường vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc Một bộ phận không nhỏ công chức xã, phường không chỉ yếu về kiến thức chuyên môn mà còn thiếu

cả kỹ năng nghề nghiệp và đạo đức công vụ làm suy giảm niềm tin của Nhân dân vào cán bộ, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của bộ máy công quyền

Để xây dựng đội ngũ công chức cấp xã ở thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi bảo đảm cả về phẩm chất và năng lực đã đặt ra nhiều vấn đề lý luận, pháp lý cần phải được giải đáp thấu đáo, có căn cứ khoa học và thực tiễn Vì

vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Năng lực thực thi công vụ của công chức phường ở thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi” là yêu cầu khách quan

và cần thiết cả về lý luận và thực tiễn

Trang 12

3

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Chủ đề liên quan đến năng lực thực thi của đội ngũ cán bộ, công chức hành chính nói chung và công chức cấp xã nói riêng là đối tượng nghiên cứu của nhiều nghành khoa học xã hội như: Luật học, Lý luận và lịch sử của nhà nước và pháp luật, quản lý công, v.v… Đến nay, đã có nhiều công trình được công bố dưới những góc độ, mức độ, khía cạnh, hình thức thể hiện khác nhau đã được đăng tải và công bố trên một số sách, báo, tạp chí ở trung ương và địa phương, như:

- PGS.TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm chủ biên:

Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia,

Chí Minh, Hà Nội-2008;

- Phạm Thanh Hải: “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức cấp xã của huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh”, Luận văn thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học

Kinh tế và quản trị kinh doanh, 2013;

- Th.S Dương Hương Sơn, Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở tỉnh Quảng Trị hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Luật

học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2004

Trang 13

Tuy vậy, trên địa bàn một địa phương cụ thể của tỉnh Quảng Ngãi thì

chưa có nghiên cứu nào về “Năng lực thực thi công vụ của công chức phường

ở thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi” dưới góc độ Luật Hiến pháp và

Luật Hành chính để tìm ra giải pháp phù hợp, khả thi cho nâng cao năng lực đội ngũ công chức phường là cần thiết, đảm bảo để đội ngũ này thực thi nhiệm vụ đạt hiệu quả cao nhất

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu:

Luận văn hướng tới làm rõ cơ sở lý luận về năng lực thi công vụ của công chức phường, làm rõ khái niệm, đặc điểm, tính chất công vụ, công chức phường để đưa ra phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực năng lực thực thi công vụ của công chức phường đáp ứng yêu cầu cải cách nền hành chính nhà nước và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân,

do dân, vì dân

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Để thực hiện được mục đích nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ cụ

thể sau đây:

Thứ nhất, luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận về năng lực thực

thi công vụ của CCCX thông qua việc phân tích, làm rõ các khái niệm công

Trang 14

5

vụ, CCCX; các yếu tố cấu thành và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của CCCX

Thứ hai, luận văn phân tích thực trạng năng lực thực thi công vụ của

công chức phường, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi thời gian từ năm

2010 đến nay, trên cơ sở đó đánh giá khách quan về những kết quả đạt được, những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập

Thứ ba, luận văn đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản, có

cơ sở khoa học bảo đảm tính khả thi nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức phường, thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng ngiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là năng lực của công chức phường

ở thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng ngãi

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

Năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là một vấn đề khó khăn và phức tạp Dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Hành chính, luận văn tập trung nghiên cứu năng lực thực thi công vụ của công chức phường trên địa bàn thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian từ năm 2010 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1 Phương pháp luận:

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

5.2 Phương pháp nghiên cứu:

Trang 15

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về năng lực thực thi công vụ của công chức phường ở thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi trên cả phương diện lý luận, pháp lý và thực tiễn Vì vậy, các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ những quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã Đồng thời, nâng cao nhận thức về vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cũng như ý nghĩa, giá trị của việc nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức phường

Bên cạnh đó, luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo trong tham mưu hoạch định chính sách về đổi mới công tác cán bộ ở cấp xã; trong xây dựng, hoàn thiện pháp luật về cán bộ, công chức cấp xã; trong công tác nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo chuyên ngành và liên ngành

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu thành 03 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về năng lực thực thi công vụ của công chức

cấp xã;

Chương 2: Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức

phường thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi;

Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp nâng cao năng lực

thực thi công vụ của công chức phường

Trang 16

7

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC CẤP XÃ

1.1 Năng lực, công vụ, công chức cấp xã

1.1.1 Khái niệm năng lực:

Năng lực của con người nói chung được sử dụng ở nhiều phương diện như: năng lực công tác, năng lực sản xuất, năng lực thực thi công vụ, năng lực quản lý điều hành, năng lực kiểm soát…khi nghiên cứu về năng lực có nhiều cách hiểu khác nhau:

- Theo từ điển Tiếng Việt thông dụng thì năng lực được hiểu là “khả năng làm việc tốt” [36]

- Theo đại từ điển Tiếng Việt nhà xuất bản Văn hóa thông tin thì năng lực hiểu theo hai nghĩa: một là, năng lực là những điều kiện đủ hoặc vốn có

để làm một việc gì (ví dụ: năng lực tư duy của con người); hai là, năng lực là khả năng để thực hiện tốt một công việc (ví dụ, có năng lực chuyên môn, năng lực tổ chức)

- Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: năng lực là tổng hợp các đặc điểm, thuộc tính tâm lý của cá nhân phù hợp với yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định nhằm đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tư chất tự nhiên của cá nhân mới đóng vai trò quan trọng, năng lực của con người không phải hoàn toàn đo

tự nhiên mà có, phần lớn do công tác, do tập luyện mà có [37, tr2]

Các nhà nghiên cứu lí thuyết chia năng lực thành: năng lực chung và năng lực riêng Năng lực chung là năng lực đối với các dạng hoạt động chung của đời sống con người, mọi người đều có ở những mức độ khác nhau Năng lực riêng là năng lực để thực hiện một công việc, nhiệm vụ nhất định nào đó

và thường được gọi là năng lực nghề nghiệp

Trang 17

8

Mặc dù có nhiều cách hiểu về thuật ngữ ''Năng lực'' nhưng một quan niệm chung được nhiều tác giả tán đồng là: ''Tổng hợp những kiến thức, kỹ năng, thái độ cho phép một cá nhân thực hiện các hoạt động gắn với nhiệm vụ của mình ở cấp độ hiệu suất nhất định'' [1] Như vậy có thể định nghĩa năng

lực: ''Năng lực là sự liên kết mang tính tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, mà nó ảnh hưởng đến công việc (vai trò hay trách nhiệm); chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ, và có thể nâng cao được thông qua đào tạo và phát triển'' [30, tr59]

Sơ đồ1

Nguồn: http://www.vietbac.edu.vn/

1.1.2 Khái niệm công vụ cấp xã

Theo Từ điển Tiếng việt, công vụ được hiểu là “việc công”, theo cuốn Thuật ngữ pháp lý dùng trong hoạt động của Quốc hội và Hội đồng nhân dân thì công vụ được hiểu là “hoạt động do cán bộ, viên chức, quân nhân tiến hành nằm thực hiện các nhiệm vụ được giao” Trong một số tài liệu, thuật ngữ công vụ được hiểu theo một số cách sau:

- Công vụ là hoạt động của Nhà nước nhằm thực hiện ý chí của nhân dân

- Công vụ là quy chế, nguyên tắc hoạt động của các cơ quan Nhà nước nhằm thực hiện các chức năng quản lý xã hội theo mục tiêu đã vạch ra

Trang 18

[14, tr17]

Công vụ cũng có thể hiểu theo một cách khác Đó là nhiệm vụ của khu vực công; là nhiệm vụ và là trách nhiệm của Nhà nước.Trước đây rất nhiều nhiệm vụ, trách nhiệm công do Nhà nước đảm nhận, thực hiện việc cung cấp các loại dịch vụ công Trong xu hướng chung, các loại nhiệm vụ, trách nhiệm của Nhà nước đang dần chuyển một phần sang cho các khu vực khác Do đó, công vụ được hiểu theo nghĩa hẹp hơn là chỉ những công việc công do Nhà nước phải đảm nhận thực hiện hoặc có trách nhiệm thực hiện (cung cấp tài chính, chính sách, ) Còn những công việc trước đây do Nhà nước làm nay chuyển cho các khu vực khác, thì không thuộc phạm trù công vụ

Với nhiều nước, quan niệm công vụ của các nước thường không như nhau, nhìn chung thường là cho rằng đó là hoạt động của cơ quan công quyền,

có nơi công vụ không tính đến khu vực lập pháp, tư pháp, quân đội, hay hoạt động của các tổ chức chính trị hay chính trị - xã hội là việc riêng của các tổ chức đó, không nằm trong phạm trù công vụ

Quan niệm chung nhất về hoạt động công vụ nhà nước cho rằng đó là hoạt động đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước để thực hiện nhiệm vụ, chức năng của nhà nước, phục vụ xã hội, công dân, nhà nước [8] Do vậy, quyền lực nhà nước đi vào cuộc sống có hiệu lực, hiệu quả hay không, có

Trang 19

10

đúng đắn, tạo ra được các giá trị to lớn cho xã hội hay không, phụ thuộc rất lớn vào việc hoạt động công vụ nhà nước được thực hiện như thế nào

Ở Việt Nam, công vụ của chúng ta có những khác biệt, hoạt động công

vụ do các cán bộ, công chức, viên chức trong bộ máy của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thực hiện Hoạt động công vụ được thực

hiện trên cơ sở bản chất của Nhà nước ta là “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân Tất cả quyền lực Nhà nước thuộc về Nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai

cấp nông dân và đội ngũ trí thức” [22] Do đó, hoạt động công vụ được định

nghĩa là: "chức năng tổ chức và hoạt động quản lý nhằm ổn định và phát triển

và đời sống nhân dân thông qua các công sở, đơn vị phục vụ và toàn thể cán

bộ công nhân viên nhà nước Theo nghĩa rộng, là toàn thể các công chức làm việc thường xuyên trong bộ máy nhà nước ở Trung ương và các cơ quan chính quyền địa phương Theo nghĩa hẹp, là toàn bộ các quy chế công chức”[33]

Trong pháp luật hiện hành nước ta không có định nghĩa chính thức và thống nhất về "công vụ" Tuy nhiên, trong một số văn bản pháp luật về công

vụ, công chức, khái niệm công vụ thường được hiểu theo nghĩa “công vụ nhà nước” Mặc dù về nhận thức có nhiều những quan niệm khác nhau về công

vụ, nhưng nhìn một cách tổng thể có thể hiểu, mọi hoạt động của cán bộ, công chức đều là hoạt động công vụ Nhà nước là tổ chức công quyền nên phục vụ trong cơ quan và công sở nhà nước là thực hiện công vụ nhà nước Đây là nghĩa đầy đủ nhất của từ 'công vụ", với nghĩa "công vụ" là phục vụ nhà nước-

phục vụ nhân dân

Tóm lại, công vụ là hoạt động của những người làm việc công, là phục

vụ nhà nước, phục vụ Nhân dân, gắn với quyền lực nhà nước, ở đâu có công chức ở đó có công vụ [31] Luật Cán bộ, công chức xác định: Hoạt động công vụ của cán bộ, công chức là việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được

Trang 20

11

giao Nói đến hoạt động công vụ là nói đến trách nhiệm của cán bộ, công chức trong quá trình thực hiện quyền và nghĩa vụ nhằm mục tiêu phục vụ người dân và xã hội [27]

Như vậy từ những khái niệm, đặc điểm của công vụ nhà nước, ta thấy hoạt động công ở vụ cấp xã là hoạt động mang tính quyền lực - pháp lý do cán bộ, công chức cấp xã tiến hành theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước trong quá trình quản lý toàn diện các mặt hoạt động của đời sống xã hội, phục vụ lợi ích nhà nước, nhân dân

trên địa bàn

1.1.2 Khái niệm công chức cấp xã

Khái niệm công chức xã được quy định tại khoản 3, Điều 4 của Luật cán bộ, công chức 2008 như sau: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” Như vậy, theo quy định này thì tiêu chí xác định CCCX là gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch chức danh và phụ trách những lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ cụ thể tại UBND cấp xã, trực tiếp tham mưu cho lãnh đạo UBND cấp xã trong việc điều hành, chỉ đạo công tác, thực hiện các chủ

trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Theo Khoản 3, Điều 61 của Luật cán bộ, công chức 2008, công chức cấp xã có các chức danh sau đây:

a) Trưởng Công an;

b) Chỉ huy trưởng Quân sự;

Trang 21

12

g) Văn hóa - xã hội

Công chức cấp xã do cấp huyện quản lý

Ngoài các chức danh theo quy định trên, công chức cấp xã còn bao gồm

cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã

- Về số lượng cán bộ, công chức cấp xã: Theo quy định tại Khoản 1, Điều 4 của Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định [9]: Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã: cấp xã loại 1 không quá 25 người, cấp xã loại 2 không quá 23 người, cấp

xã loại 3 không quá 21 người (bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã) Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp

xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn

Như vậy ở Việt Nam hiện nay CCCX đã được xác định rõ ràng về địa vị pháp lý là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

1.1.3.Đặc điểm công vụ, công chức cấp xã

Công chức cấp xã có những đặc điểm cơ bản của đội ngũ CBCC trong nền công vụ Việt Nam, họ có có những đặc điểm pháp luật chung là công dân Việt Nam, được hình thành do tuyển dụng thông qua thi tuyển hoặc xét tuyển,

họ là những người đang giữ trọng trách nhất định theo trình độ đào tạo và được xếp vào ngạch bậc tương ứng trong hệ thống hành chính và là những người đang trực tiếp tham gia vào bộ máy công quyền của nền hành chính

quốc gia Hiệu quả hoạt động trong tổ chức, bộ máy phụ thuộc vào đội ngũ

công chức Công chức tốt sẽ làm cho bộ máy hoạt động nhịp nhàng, công chức kém sẽ làm cho bộ máy tê liệt "công chức là cái dây chuyền của bộ máy Nếu dây chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ

Trang 22

Công vụ là lao động đặc thù của công chức trong bộ máy nhà nước, nhân danh quyền lực công để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống và phục vụ nhân dân Người công chức được trao quyền thực thi công vụ tương xứng với nhiệm vụ, đồng thời, họ có bổn phận phục vụ xã hội, công dân và chịu những ràng buộc nhất định do liên quan đến chức trách đang đảm nhiệm Họ có thể bị buộc thôi việc khi không hoàn thành nhiệm vụ được giao, bị truy cứu hoặc phải bồi thường thiệt hại nếu không hoàn thành trách nhiệm, sai phạm do quyết định hành chính làm tổn hại lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức [27]

Thứ hai, đội ngũ CCCX được nhà nước đảm bảo các điều kiện cần thiết, quyền lợi chính đáng để có khả năng và yên tâm thực thi công vụ

Để thực hiện công vụ, CCCX được nhà nước cung cấp các điều kiện cần thiết để bảo đảm thi hành công vụ như trụ sở, phương tiện, trang thiết bị làm việc… [27] Họ được đảm bảo các quyền lợi vật chất và tinh thần như: hưởng lương từ ngân sách nhà nước tương xứng với chức trách và công việc được ,mll lương hưu khi đủ thời gian cống hiến cho nền công vụ, được khen thưởng khi có công lao xứng đáng

Thứ ba, đội ngũ công chức cấp xã hầu hết là người địa phương, sinh sống tại địa phương, có quan hệ và gắn bó mật thiết với nhân dân

Họ là những người cư trú, sinh sống, gắn bó chặt chẽ với nhân dân, do

đó, người CCCX luôn chịu tác động của các mối quan hệ đan xen phức tạp: vừa là người đại diện cho quyền lực của nhà nước tại địa phương, vừa là

Trang 23

Cấp xã là nơi giải quyết trực tiếp các vấn đề của người dân, so với các

cấp quản lý khác (Trung ương, Tỉnh, thành phố) thì quy mô của cấp xã nhỏ

hơn nhưng các vấn đề phải giải quyết thường phức tạp hơn do mỗi người dân

có nhu cầu, hoàn cảnh, lợi ích khác nhau và họ hành động xuất phát từ lợi ích

của họ nhiều hơn lợi ích của hệ thống Bên cạnh đó môi trường hoạt động tiếp xúc với các đối tượng rất rộng, từ những việc đơn giản nhất như cấp giấy khai sinh, khai tử, cho đến những việc quan trọng như việc thực hiện công tác an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, việc thực hiện các chính sách nhà nước cho mục tiêu phát triển các loại hình kinh tế ở địa phương cũng đều cần đến vai trò của công chức chuyên môn Chính vì vậy, CCCX phải được đào tạo ở trình độ nhất định, có chuyên môn, am hiểu thực tế và có kinh nghiệm cùng với vị trí làm việc của mình trong bộ máy công quyền để giải quyết những tình huống khác nhau tại cơ sở

1.1.4 Vị trí, vai trò của công chức cấp xã

Cấp cơ sở là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước Chất lượng và hiệu quả thực thi pháp luật một phần được quyết định bởi sự triển khai ở cơ sở Cấp cơ sở là cấp trực tiếp gắn liền với quần chúng; là nơi tạo dựng phong trào cách mạng quần chúng Cơ sở xã, phường, thị trấn mạnh hay yếu một phần quan trọng phụ thuộc vào năng lực quản lý nhà nước của đội ngũ cán bộ công chức xã, phường, thị trấn [16, tr.21]

Trang 24

Một là người tham mưu, giúp việc cho cán bộ chính quyền trong việc

thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở cơ sở Công chức cấp xã là lực lượng

“nòng cốt” trong quản lý và tổ chức công việc ở xã Thông qua việc trực tiếp

tiếp xúc làm việc với nhân dân, công chức cấp xã là cầu nối trực tiếp giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân trên quan hệ hành chính, giải quyết công việc Công chức cấp xã là những người trực tiếp đem chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước giải thích cho nhân dân hiểu rõ và thi hành; đồng thời nắm bắt tình hình triển khai thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước phản ánh cho Đảng và Nhà nước để có sự điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phần lớn đều do những công chức chuyên môn đề xuất, đồng thời cũng tổ chức hướng dẫn thực hành, thành công hay không đều phụ thuộc vào đội ngũ công chức này Vì vậy, cũng như vị trí của CBCC cấp

xã là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân Hoạt động công

vụ của công chức cấp xã góp phần đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước của chính quyền cấp xã

Hai là, công chức cấp xã là những người gần dân nhất, họ vừa là người

đại diện Nhà nước, vừa là người đại diện cộng đồng, vừa là người gần gũi dân, sát dân nhất cho nên họ là người trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng tình cảm của dân để phản ánh lên đến các cấp chính quyền đặt ra chính sách đúng Bên cạnh đó họ có vai trò trực tiếp đảm bảo kỷ cương phép nước tại cơ

sở, bảo vệ quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật tại địa phương

Trang 25

16

Do tính chất công việc của cấp xã, vừa giải quyết những công việc hàng ngày, vừa phải quán triệt và thực hiện các văn bản của cấp trên, lại phải nắm tình hình thực tiễn ở địa phương để đề ra kế hoạch, chủ trương, biện pháp đúng đắn, nên họ luôn phải là những người đóng vai trò tiên phong, đi đầu trong đấu tranh chống các hiện tượng quan liêu, tham nhũng, cửa quyền và các tiêu cực khác, làm cho tổ chức Đảng, bộ máy chính quyền cấp xã trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả

Như vậy, CCCX là người có vị trí, vai trò quan trọng trong quản lý và tổ chức công việc của chính quyền cơ sở Nhiệm vụ của họ là thực thi công vụ theo pháp luật và bảo toàn tính thống nhất của thực thi quyền lực nhà nước ở

cơ sở thông qua việc giải quyết các công việc hàng ngày có tính chất quản lý,

tự quản mọi mặt ở địa phương Họ còn có vai trò trực tiếp bảo đảm kỷ cương phép nước tại cơ sở, bảo vệ các quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền

và lợi ích hợp pháp của công dân Thông qua hoạt động của đội ngũ CCCX, nhân dân thể hiện được quyền làm chủ và quyền tự quản của mình [20]

1.2 Năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã

1.2.1.Khái niệm năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã

Trong hoạt động công vụ của công chức nói chung, CCCX nói riêng, thuật ngữ “năng lực” được dùng trong đánh giá năng lực công tác, năng lực giải quyết nhiệm vụ, quyền hạn được giao, gồm các năng lực cơ bản như: năng lực tư duy; năng lực hành động; năng lực quan hệ giao tiếp; năng lực học tập tiếp thu, đổi mới sáng tạo… được xây dựng trên nền tảng phẩm chất, thái độ và hành vi nhằm giúp công chức có khả năng hoàn thành nhiệm vụ tương ứng với vị trí chức danh một cách chủ động và tích cực

Như vậy, năng lực thực thi công vụ của CCCX chính là khả năng thực tế của mỗi cán bộ công chức trong việc sử dụng tổng hợp các yếu tố như kiến

thức, kỹ năng, trình độ, thái độ hành vi để thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn

được giao một cách đầy đủ, có chất lượng và có sáng tạo Năng lực thực thi

Trang 26

17

công vụ của CCCX được thực hiện thông qua hành vi, có thể quan sát và đo lường trong điều kiện công tác, làm việc và thông qua công việc của công chức đó đảm nhận Năng lực CCCX là một thuộc tính cá nhân, phụ thuộc vào hoàn cảnh, điều kiện làm việc cụ thể, muốn làm việc có kết quả, hiệu quả, CCCX không chỉ cần phải biết làm việc (có kiến thức, kỹ năng cần thiết) mà cần có điều kiện làm việc (được đơn vị, cơ quan tạo điều kiện cho người đó hiện thực hóa những điều đã biết vào thực tiễn nhiệm vụ công tác)

Từ những phân tích trên, có thể hiểu năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là sự tổng hợp những thuộc tính của từng chức danh công chức, đáp ứng những yêu cầu hoạt động của chính quyền cấp xã và đảm bảo cho

hoạt động đó đạt được những kết quả cao Như vậy, khái niệm về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã là tổng hợp những kiến thức, kỹ năng

và thái độ của công chức được sử dụng trong việc thực thi nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định, đảm bảo cho những hoạt động công vụ được diễn ra nhanh chóng, kịp thời, chính xác, đúng quy định của pháp luật, đáp ứng được yêu cầu quản lý nhà nước của chính quyền địa phương Thước đo cao nhất

đối với năng lực của đội ngũ CCCX là hiệu lực, hiệu quả của chính quyền cơ

sở, là sự phát triển KT-XH, sự hài lòng của người dân đối với cấp ủy Đảng, chính quyền, đoàn thể tại địa phương

1.2.2 Đặc điểm năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã

Trong lịch sử ra đời và phát triển của nền công vụ, có thể thấy bất cứ Nhà nước nào đều cần xây dựng và quản lý một đội ngũ công chức bao gồm những người có năng lực quản lý, có trình độ chuyên môn và phẩm chất đạo đức tốt, làm việc nghiêm túc vì bổn phận của mình trước nhân dân Công vụ

là một loại hoạt động gắn liền với công chức, là một loại lao động đặc thù để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, thi hành pháp luật - đưa pháp luật vào đời sống, quản lý và sử dụng hiệu quả công sản và ngân sách nhà nước phục

vụ nhiệm vụ chính trị

Trang 27

18

Đội ngũ CCCX là những người trực tiếp tiếp xúc với dân, giải quyết công việc phục vụ nhân dân Năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức cấp xã có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xây dựng hình ảnh thân thiện, gần gũi của bộ máy hành chính nhà nước trong con mắt người dân, quyết định đến chất lượng của các chính sách trong quản lý hành chính nhà nước và việc thực thi các quyết định, chính sách đó trong thực tiễn đời sống nhân dân trên địa bàn Một văn bản pháp luật, một chính sách hay quyết định

có thể rất hoàn hảo nhưng muốn đi vào thực tiễn đời sống phải cần đến các công chức có năng lực Trong xu hướng cải cách nền hành chính nhà nước hướng đến hiệu lực, hiệu quả, CCCX giữ vai trò quan trọng vào sự thành công hay thất bại của cải cách, vì vậy, cùng với xu thế cải cách hành chính, nhiều nước tập trung vào phát triển nguồn lực con người trong đó trọng tâm là xây dựng một đội ngũ công chức có đủ năng lực đáp ứng được yêu cầu nhiệm

vụ Ở Việt Nam, chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011- 2020 đã xác định mục tiêu CCHC với trọng tâm là xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ công chức

Năng lực CCCX luôn gắn liền với thực tiễn thực thi công vụ của công chức Thực tế cho thấy, không phải những người có bằng cấp cao đều có năng lực trong thực thi công vụ tốt; số lượng công chức qua các lớp đào tạo, bồi dưỡng ngày càng tăng lên, bằng cấp, chứng chỉ cũng theo đó tăng lên, nhưng nhìn chung năng lực của CCCX vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ Vì vậy, đòi hỏi năng lực công chức cấp xã phải đáp ứng với yêu cầu thực tiễn công việc; khi xác định năng lực CCCX phải gắn liền với các vị trí chức danh, với các tình huống cụ thể Yêu cầu nâng cao năng lực CCCX phải thay đổi theo yêu cầu nhiệm vụ ở từng vị trí chức danh, không thể lấy những thành tích trong quá khứ để chứng minh năng lực của một công chức trong hiện tại

và tương lai

Trang 28

19

Năng lực CCCX chịu ảnh hưởng của bối cảnh công việc hay vị trí việc làm Mỗi vị trí chức danh công chức cấp xã có những yêu cầu đặc thù gắn với công việc và buộc công chức đảm nhiệm công việc phải đáp ứng yêu cầu Với các vị trí công việc khác nhau sẽ đòi hỏi những năng lực khác nhau Năng lực của từng công chức được xác định trên cơ sở các chức năng, nhiệm vụ chủ yếu của một vị trí làm việc Đó là những năng lực thiết yếu để đạt mục tiêu, hiệu quả công việc

Xuất phát từ chức trách nhiệm vụ, quyền hạn của CCCX năng lực thực thi công vụ của công chức chuyên môn cấp xã có những đặc điểm sau đây:

Đối với công chức Tài chính- Kế toán:

Năng lực xây dựng, thực hiện dự toán thu, chi ngân sách, quyết toán ngân sách, kiểm tra hoạt động tài chính khác của xã

Năng lực thực hiện việc quản lý các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, tài sản công tại xã

Năng lực tham mưu cho UBND trong khai thác nguồn thông tin, thực hiện các hoạt động tài chính ngân sách đúng quy định của pháp luật

Năng lực kiểm tra các hoạt động tài chính, ngân sách, năng lực thực hiện chi tiền theo lệnh chi: thực hiện theo quy định về quản lý quỹ tiền mặt và giao dịch với kho bạc nhà nước Năng lực báo cáo tài chính, ngân sách

Đối với công chức Tư pháp- Hộ tịch:

Năng lực giúp UBND cấp xã soạn thảo ban hành văn bản quản lý; lấy ý kiến nhân dân đối với dự án luật, pháp lệnh; năng lực phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân xã, phường, thị trấn

Năng lực giúp UBND cấp xã chỉ đạo cộng đồng dân cư tự quản xây dựng hương ước, quy ước, kiểm tra việc thực hiện hương ước, quy ước; thực hiện trợ giúp pháp lý cho người nghèo và đối tượng chính sách, quản lý tủ sách pháp luật, tổ chức phục vụ nhân dân nghiên cứu pháp luật, phối hợp hướng dẫn hoạt động đối với tổ hòa giải

Trang 29

20

Năng lực thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch, thực hiện chứng thực và thực hiện một số công việc về quốc tịch theo quy định của pháp luật Năng lực quản lý tư pháp, thống kê tư pháp, thi hành án biện pháp giáo dục tại xã theo sự phân công

Năng lực quản lý hồ sơ tài liệu, chế độ báo cáo công tác theo quy định Năng lực thực hiện các nhiệm vụ tư pháp khác theo quy định của pháp luật

Đối với công chức Địa chính- Xây dựng:

Năng lực lập và quản lý hồ sơ địa chính ở xã, phường, thị trấn

Năng lực giải quyết các thủ tục hành chính liên quan đến đất đai theo quy định của pháp luật

Năng lực tham gia xây dựng và kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở xã, phường, thị trấn; tiến hành kiểm kê, thống kê đất đai

ở xã, phường, thị trấn Năng lực tuyên truyền, phổ biến về chính sách pháp luật đất đai cho nhân dân ở xã, phường, thị trấn

Năng lực hòa giải tranh chấp đất đai, tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo của dân về đất đai để giúp UBND cấp có thẩm quyền giải quyết; năng lực kiểm tra phát hiện các trường hợp vi phạm pháp luật đất đai để kiến nghị UBND cấp xã xử lý

Năng lực phối hợp với các cơ quan chuyên môn cấp trên trong việc đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ địa giới hành chính, giải phóng mặt bằng Năng lực tham mưu cho UBND cấp xã quản lý công tác xây dựng, giám sát về kỹ thuật trong việc xây dựng các công trình phúc lợi ở địa phương

Đối với công chức Văn phòng- Thống kê:

Năng lực soạn thảo văn bản, giúp UBND cấp xã xây dựng chương trình công tác, lịch làm việc và theo dõi việc thực hiện chương trình, lịch làm việc đó; năng lực tổng hợp báo cáo tình hình kinh tế- xã hội, tham mưu giúp UBND trong chỉ đạo thực hiện

Trang 30

Năng lực nhận và trả kết quả trong giao dịch công việc giữa UBND với

cơ quan, tổ chức và công dân theo cơ chế “một cửa”

Năng lực của công chức Văn hóa- xã hội:

Năng lực lập chương trình, kế hoạch công tác văn hóa, nghệ thuật, thông tin tuyên truyền, thể dục thể thao, công tác lao động thương binh xã hội và năng lực tổ chức thực hiện chương trình kế hoạch đó

Năng lực tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, tình hình kinh tế- xã hội ở địa phương và đấu tranh chống âm mưu tuyên truyền phá hoại của địch, báo cáo thông tin về dư luận quần chúng và tình hình môi trường văn hóa ở địa phương lên Chủ tịch UBND cấp xã

Năng lực tổ chức các hoạt động thể dục, thể thao, văn hóa nghệ thuật, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hóa

Năng lực thông tin dân số, lao động, tình hình việc làm, ngành nghề trên địa bàn, số lượng người hưởng chính sách lao động- thương binh- xã hội Năng lực theo dõi và đôn đốc việc chi trả trợ cấp cho người hưởng chính sách lao động- thương binh- xã hội

Năng lực theo dõi thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo

Năng lực báo cáo công tác văn hóa, văn nghệ, thông tin tuyên truyền, thể dọc thể thao, công tác lao động- thương binh xã hội ở xã, phường, thị trấn

Đối với công chức Trưởng công an xã:

Năng lực tổ chức lực lượng công an xã, nắm chắc tình hình an ninh trật

tự trên địa bàn; tham mưu đề xuất về chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo

Trang 31

Năng lực tổ chức phòng ngừa, đấu tranh phòng chống tội phạm, các tệ nạn xã hội và xử lý các vi phạm pháp luật khác trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Năng lực tổ chức thực hiện nhiệm vụ phòng cháy, chữa cháy, giữ gìn trật tự công cộng và an toàn giao thông, quản lý vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy, quản lý hộ khẩu, kiểm tra các quy định về an ninh trật tự trên địa bàn theo thẩm quyền

Năng lực xử lý người có hành vi vi phạm pháp luật, tổ chức việc quản

lý, giáo dục đối tượng trên địa bàn theo quy định của pháp luật

Năng lực bảo vệ hiện trường, bắt người phạm tội quả tang, tổ chức bắt

có lệnh truy nã, tiếp nhận và dẫn giải người bị bắt lên công an cấp trên, cấp cứu người bị nạn

Năng lực bảo vệ mục tiêu quan trọng về chính trị, kinh tế, an ninh, quốc phòng ở địa bàn theo hướng dẫn của công an cấp trên

Năng lực xây dựng nội bộ lực lượng công an xã, trong sạch, vững mạnh

và thực hiện một số nhiệm vụ khác do cấp ủy Đảng, UBND xã, công an cấp trên giao

Đối với công chức Chỉ huy trưởng quân sự:

Năng lực tham mưu đề xuất về chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo

và trực tiếp tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng, quân sự, xây dựng lực lượng dân quân, lực lượng dự bị động viên Xây dựng kế hoạch và phối hợp với các đoàn thể triển khai thực hiện các nhiệm vụ liên quan tới công tác quốc phòng, quân sự trên địa bàn

Trang 32

23

Năng lực chỉ đạo dân quân phối hợp với công an và lực lượng khác thường xuyên hoạt động bảo vệ an ninh trật tự sẵn sàng chiến đấu, phục vụ công tác và tổ chức khắc phục thiên tai, sơ tán, cứu hộ, cứu nạn

Năng lực phối hợp với các đoàn thể giáo dục toàn dân ý thức quốc phòng, quân sự và các vi phạm pháp luật liên quan tới quốc phòng, quân sự Năng lực phối hợp với các tổ chức kinh tế, văn hóa và xã hội thực hiện nền quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân

Năng lực thực hiện chính sách hậu phương quân đội, các tiêu chuẩn, chế

độ, chính sách cho dân quân tự vệ, quân nhân dự bị theo quy định

Như vậy, năng lực của đội ngũ công chức nói chung và công chức cấp

xã nói riêng là yếu tố quan trọng, ảnh hưởng có tính quyết định đến kết quả hoạt động công vụ, thể hiện rõ nhất ở năng lực chung đó là: năng lực nhận thức tư duy, năng lực lập kế hoạch, năng lực soạn thảo văn bản, năng lực phối hợp làm việc, năng lực giao tiếp… và năng lực chuyên môn cần có đối với từng chức danh Khi những năng lực này của công chức cấp xã được biểu hiện trên thực tế và đem lại kết quả, hiệu quả mong muốn thì khi đó mới được xem là năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã [21] Hiện nay với việc hình thành nền kinh tế tri thức, sự xuất hiện của Chính phủ điện tử, chính quyền điện tử và thực hiện ứng dụng các thành quả của khoa học-công nghệ vào quản lý thì việc thì việc quan tâm đến năng lực thực thi công vụ để nâng cao chất lượng của đội ngũ công chức là một việc làm rất cần thiết

1.3 Các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã

Như chúng ta đã biết, năng lực là là sự liên kết mang tính tổng hợp giữa kiến thức, kỹ năng và thái độ, có ảnh hưởng đến công việc; chúng tương quan lẫn nhau trong quá trình thực thi nhiệm vụ Năng lực thực thi công vụ của đội ngũ CCCX được cấu thành bởi nhiều yếu tố, như trình độ, kiến thức được đào tạo, kỹ năng, tinh thần, thái độ thực thi công vụ và phẩm chất chất đạo đức

Sự am hiểu và nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, thành

Trang 33

24

thạo nghiệp vụ chuyên môn, kỹ thuật xử lý thông tin góp phần giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý nhà nước một cách khôn khéo, minh bạch, dứt khoát, hợp lòng dân và không trái pháp luật

sự quan sát, học hỏi của cá nhân Kiến thức chịu ảnh hưởng của yếu tố học vấn, kinh nghiệm, định hướng cá nhân Có ba loại kiến thức mà CBCC cần phải tích lũy trong suốt thời gian làm việc là: kiến thức cơ bản (trình độ học vấn), kiến thức chuyên môn và kiến thức cần thiết để xử lý các tình huống xảy

ra Kiến thức cơ bản làm nền tảng cho chuyên môn, hạn chế về trình độ học vấn sẽ hạn chế về khả năng nhận thức và năng lực tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật, cản trở việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của công chức Kiến thức chuyên môn là những kiến thức cần thiết phải có để thực hiện công việc, nếu không có đầy đủ kiến thức chuyên môn thì CBCC khó có thể thực hiện tốt công việc của mình Những kiến thức cần thiết để CBCC xử lý các tình huống xảy ra là kiến thức cần phải có liên quan đến công việc mà CBCC đang đảm nhận để xử lý tình huống một cách tốt đẹp, có tình, có lý Đồng thời, cũng phải trang bị cho mình những kiến thức về quan hệ, giao tiếp, văn hóa, về đặc điểm tổ chức của địa phương nơi công tác Có như thế CBCC mới vững tâm, tự tin thực hiện công việc và xử lý các tình huống xảy

ra một cách hiệu quả Kiến thức cơ bản có được qua các khóa đào tạo, qua thu nhận từ sách vở và từ thực tiễn cuộc sống sinh động [7, tr39-41]

Trang 34

25

1.3.2 Về kỹ năng công chức cấp xã

Hoạt động thực thi công vụ của công chức là công việc phức tạp đòi hỏi

công chức phải biến những kiến thức đã học thành thực tiễn để tổ chức và quản lý công việc Nếu kiến thức là sự hiểu biết về công việc thì kỹ năng chính là cách thức, phương thức, biện pháp tổ chức và thực hiện giải quyết công việc của CCCX Điều này thể hiện ở khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào thực tế, sự thành thạo và nắm vững nghiệp vụ Không có kiến thức thì không thể có kỹ năng, ngược lại không có kỹ năng thì kiến thức không phát triển Chỉ một số ít kỹ năng nghiệp vụ của cá nhân được hình thành trong quá trình đào tạo tại trường, lớp, còn phần lớn các kỹ năng mang tính thực tế cần thiết cho quá trình giải quyết công việc được hình thành trong quá trình công tác, đó là kinh nghiệm thực tế

Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực công chức khi thực thi công vụ Bởi nói đến kỹ năng của một người là nói đến khả năng của người đó ứng dụng tri thức vào hoạt động thực tiễn, kỹ năng của CCCX chính là khả năng vận dụng những kinh nghiệm, kiến thức của bản thân vào thực tiễn công tác Công chức cấp xã là những người trực tiếp tiếp xúc với dân, giải quyết công việc phục vụ nhân dân, cho nên trong hoạt động thực thi công vụ của công chức cấp xã đòi hỏi phải có kỹ năng giao tiếp, ứng

xử tốt, kỹ năng chuyên môn, kỹ năng phân tích, tổng hợp, bao quát vấn đề; có khả năng tìm tòi, giải quyết công việc Tựu chung lại thì kỹ năng của CCCX

có thể phân thành hai nhóm: kỹ năng về chuyên môn, nghiệp vụ và kỹ năng giao tiếp, ứng xử Bên cạnh đó những yêu cầu về kỹ năng lại có thể có sự khác biệt tùy theo tính chất công việc, vị trí công tác mà đòi hỏi mỗi công chức phải có những kỹ năng nhất định, chẳng hạn công chức làm công tác văn phòng- thống kê thì phải có kỹ năng phân tích, tổng hợp, đánh giá sâu sắc

Trang 35

26

Như vậy, kỹ năng là yếu tố quan trọng để đánh giá năng lực CCCX khi thực thi nhiệm vụ Nắm vững và vận dụng linh hoạt các kỹ năng chủ yếu trên, người công chức cấp xã sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao

1.3.3 Về thái độ công chức cấp xã

Thái độ là một trong 3 bộ phận cấu thành nên năng lực công chức Trong nhiều trường hợp chính thái độ là nhân tố quyết định năng lực chuyên môn và kết quả thực thi công vụ của công chức trong thực tế Đánh giá thái độ là một việc khó vì các tiêu chí gần như chỉ định tính mà khó có thể định lượng bằng các con số cụ thể Xuất phát từ đặc điểm thực thi công vụ của CCCX, trong luận văn này việc đánh giá thái độ của công chức cấp xã được thể hiện qua các tiêu chí sau đây:

Thứ nhất, ý thức chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, quy chế của cơ quan

Công chức cấp xã nói riêng, cán bộ, công chức nói chung là những người đem chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vào thực tiễn cuộc sống, giải thích và hướng dẫn cho nhân dân thực hiện, do đó công chức phải là những người đi tiên phong trong việc chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Ý thức chấp hành ở đây cũng có thể được xem là phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trung thành với lý tưởng cách mạng; không được làm những gì mà Đảng và Nhà nước cấm

Tuy nhiên khó khăn hiện nay là công tác quản lý và thông thường chúng

ta chưa thể phát hiện những việc làm sai trái của công chức để đánh giá chính xác Bên cạnh đó công chức cũng được đánh giá bằng ý thức chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan Việc chấp hành tốt nội quy, quy chế của cơ quan khi thực thi công vụ sẽ phản ánh tính chuyên nghiệp của công chức trong việc phục vụ nhân dân

Thứ hai, tinh thần, ý thức trách nhiệm đối với việc thực thi công vụ

Trang 36

27

Với công chức nói chung, việc đánh giá tinh thần trách nhiệm là rất quan trọng, nó phản ánh trạng thái tâm lý tinh thần và hiệu quả thực sự mà công chức thể hiện khi thực thi công vụ Tinh thần trách nhiệm là kết quả đồng thời của sự tự ý thức của công chức và cách thức quản lý của cơ quan chủ quản đối với công chức Nó còn được đánh giá bằng kết quả thực hiện, tỷ lệ hoàn thành so với thời gian quy định

Công chức có thái độ tốt là người luôn chủ động trong các mặt công tác của mình và do đó luôn cố gắng hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao đúng với thời gian quy định, có chất lượng tốt, được cơ quan, đồng nghiệp và nhất

là nhân dân tín nhiệm

Thứ ba, tinh thần thái độ hợp tác, cầu thị, sự cởi mở trong giao tiếp với nhân dân

Tiêu chí này cũng được quy định tại Điều 15,16,17 Luật CBCC 2008 và được phản ánh thông qua một số biểu hiện bên ngoài của công chức như: sự sẵn sàng hợp tác, tinh thần học hỏi nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đạo đức, lối sống nhất là quan hệ giao tiếp với nhân dân Sự đánh giá của nhân dân đối với công chức bao giờ cũng là khách quan và chính xác hơn so với sự đánh giá của chính cơ quan quản lý công chức, bởi cơ sở quan trọng nhất để nhân dân đánh giá đó chính là sản phẩm thực thi công vụ mà công chức đã tạo ra cho họ

Việc đánh giá tinh thần trách nhiệm của công chức cũng không phải dễ dàng vì nó có những tiêu chí mang tính định tính mà khó có thể định lượng được, do đó rất khó khăn để xác định những tiêu chí cụ thể Dư luận xã hội phản ánh tinh thần trách nhiệm của công chức thông qua đánh giá bởi sự tán thành hay không tán thành, đồng tình hay phản đối, mức độ hài lòng, sự khen ngợi, cảm ơn hay những phản ánh gay gắt

Thứ tư, tinh thần, ý thức học tập, rèn luyện về đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ

Trang 37

28

Một công chức có thái độ tốt cũng chính là người có ý chí vươn lên trong công tác, có tinh thần cầu tiến, ham học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng tác nghiệp chuyên môn; tinh thần ý thức trách nhiệm phục

vụ nhân dân chu đáo, tận tình Ý thức học tập, rèn luyện ở đây được đánh giá chủ yếu là tinh thần tự học, tự rèn luyện cả trong công tác và đời sống

Thứ năm, thái độ phục vụ người dân

Đây là một tiêu chí đặc biệt quan trọng đánh giá thái độ của công chức Khi nền hành chính đang chuyển dần từ quản lý sang xu hướng lấy phục vụ làm trọng tâm thì mức độ hài lòng của người dân trở thành tiêu chí quan trọng hàng đầu để đánh giá tính chuyên nghiệp và mức độ phục vụ của nền hành đó Chính thái độ phục vụ người dân của công chức cấp xã là cơ sở quan trọng để đánh giá sự hài lòng của công dân không chỉ đối với công chức trong thực thi công vụ mà còn đối với cả nền hành chính và bản chất của chế độ

Sự hài lòng của người dân đối với CCCX được đánh giá thông qua rất nhiều hình thức khác nhau: thông qua sự phản ánh trực tiếp với công chức về hài lòng hay không hài lòng, thông qua khiếu nại hay tố cáo những hành vi

mà nhân dân cho là công chức đã lạm dụng quyền hạn, thông qua dư luận xã hội…Do đó thái độ của CCCX ân cần, cởi mở, chu đáo, thân thiện hay phiền

hà, sách nhiễu, thiếu thận trọng, thiếu chu đáo đều tác động trực tiếp đến người dân và có ảnh hưởng lớn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước ở xã Giữa các yếu tố cấu thành năng lực thực thi công vụ của CCCX có mối quan hệ hữu cơ và tác động lẫn nhau, do vậy để nâng cao năng lực thực thi công vụ của đội ngũ CCCX cần phải kết hợp chặt chẽ và đồng bộ cả ba yếu tố trên

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến năng lực thực thi công vụ của CCCX, trong đó các quy định về quản lý và và phát triển đội ngũ công chức bao gồm

Trang 38

29

các khâu đào tạo, tuyển dụng, đánh giá, khen thưởng, kỷ luật… là những yếu

tố quan trọng hàng đầu, tác động, thúc đẩy lẫn nhau, bởi vì các quy định pháp luật có chặt chẽ, hợp lý, rõ ràng hay không đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực thi công vụ của công chức trong nền hành chính hiện đại

1.4.1 Tuyển dụng công chức cấp xã

Quy định về tuyển dụng công chức là một trong các chế định pháp luật

có ảnh hưởng rất quan trọng đến chất lượng đầu vào của đội ngũ công chức nói chung và chất lượng việc thực thi, thừa hành công vụ của đội ngũ này

Do vậy, Luật Cán bộ, công chức 2008; Nghị định số 24/2010/NĐ-CP của Chính phủ nêu rõ việc tuyển dụng công chức phải căn cứ vào yêu cầu nhiệm vụ, vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế và thông qua thi tuyển theo nguyên tắc công khai, minh bạch, khách quan, đúng pháp luật, đảm bảo lựa chọn được những người có phẩm chất, trình độ và năng lực đáp ứng yêu cầu tuyển dụng

Như vậy, nếu công tác tuyển dụng được thực hiện tốt thì sẽ tuyển được những người thực sự có năng lực, trình độ, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt bổ sung cho lực lượng cán bộ, công chức cấp xã Ngược lại, nếu việc tuyển dụng không tốt sẽ không tuyển được những người đủ năng lực và phẩm chất đạo đức cần thiết để thực thi hoạt động công vụ Điều này dẫn đến, hiệu quả thực thi hoạt động công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức thấp, đồng thời gây ra nhiều hiện tượng tiêu cực như tham nhũng, cửa quyền, sách nhiễu đối với nhân dân

1.4.2 Quy hoạch, sử dụng và luân chuyển công chức cấp xã

Quy hoạch là việc lựa chọn những người có đủ các tiêu chuẩn về trình

độ chuyên môn, năng lực công tác, đạo đức, sức khỏe, kinh nghiệm công tác, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ của địa phương trong trước mắt và lâu dài, để đưa vào nguồn kế cận, nhằm tạo được tính chủ động trong công tác cán bộ Tuy nhiên, hiện nay việc quy hoạch cán bộ dường như chỉ dừng lại

Trang 39

30

ở các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt mà chưa thực sự chú ý đến đội ngũ công chức làm công tác chuyên môn Bởi vậy, nếu không tiến hành tốt các khâu trong công tác quy hoạch thì không thể tạo ra được đội ngũ công chức tốt, phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ

Bên cạnh đó, làm tốt công tác luân chuyển, điều động công chức theo năng lực sở trường, nhiệm vụ chính trị của địa phương sẽ góp phần tích cực vào việc đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện công chức trong thực tiễn, tạo điều kiện để cán bộ trẻ trưởng thành, phát triển nhanh, toàn diện hơn và tạo sự đồng đều về năng lực cho bộ máy cơ sở hoạt động Đối với công chức còn hạn chế chuyên môn, nghiệp vụ, tác phong thì đây là cơ hội để nâng cao chuyên môn, ý thức chấp hành kỷ luật công vụ; với công chức vững chuyên môn thì tiếp tục phát huy năng lực, chất lượng tham mưu, giúp chính quyền

cơ sở nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động

Tuy nhiên như đã phân tích ở trên thì việc việc luân chuyển chỉ thực hiện đối với công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý còn đối với các chức danh công chức chuyên môn ở cấp xã phường, thị trấn như: Địa chính - xây dựng, LĐ-TB&XH, Tư pháp hộ tịch, Tài chính - kế toán thì thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công tác theo Nghị định 158/CP của Chính phủ

Ưu điểm của việc chuyển đổi vị trí công tác sẽ giúp cho công chức được tiếp xúc với nhiều công việc, địa bàn, môi trường mới, rèn luyện, phát huy tính sáng tạo, tích cực trong công việc nhằm hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và cũng là bước đi quan trọng nhằm tiến đến tính chuyên nghiệp của đội ngũ CCCX, ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, tham nhũng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ của công chức, phục vụ tốt hơn nhu cầu giải quyết công việc cho Nhân dân

1.4.3 Quản lý công chức cấp xã

Một trong những nhân tố quyết định đến sự lớn mạnh của đội ngũ CCCX là việc nâng cao chất lượng quản lý, một trong các yếu tố quyết

Trang 40

31

định đến chất lượng quản lý là hệ thống thể chế quản lý công chức Khoản

2 Điều 67 Luật CBCC năm 2008 đã giao "Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về công chức" Bao gồm từ công việc quản lý biên chế, tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, điều động, biệt phái, bổ nhiệm, miễn nhiệm, từ chức, luân chuyển đến các công việc đánh giá, khen

thưởng, kỷ luật, thôi việc, nghỉ hưu

Như vậy, trong công tác quản lý CCCX thì việc tuyển dụng, bố trí phù hợp với chuyên môn của họ sẽ giúp công chức thấy hứng thú với công việc được giao và phát huy hết được khả năng của mình Ngược lại, việc bố trí không phù hợp với đặc điểm, tính chất và yêu cầu chuyên môn, nghiệp vụ dẫn tới tình trạng trái ngành nghề được đào tạo thì sẽ không tạo được động lực khuyến khích đội ngũ công chức nêu cao trách nhiệm, phấn đấu rèn luyện, nâng cao năng lực công tác Cho nên việc xây dựng thể chế quản lý công chức cần phải được thể hiện rõ ràng và cụ thể trong các quy định về tuyển dụng, nâng ngạch, về đạo đức công vụ, về nghĩa vụ, trách nhiệm, đào tạo bồi dưỡng, khen thưởng, kỷ luật công chức , gắn thẩm quyền tuyển dụng với thẩm quyền sử dụng

1.4.4 Đào tạo, bồi dưỡng công chức cấp xã

Đào tạo, bồi dưỡng quyết định trực tiếp đến chất lượng của đội ngũ cán

bộ, CCCX Đào tạo, bồi dưỡng công chức là quá trình trang bị cho công chức những kiến thức, kỹ năng cần thiết, trước hết là những kiến thức về nhà nước, pháp luật, phương thức quản lý và các quy trình hành chính trong điều hành, phương pháp, kinh nghiệm quản lý, trang bị kiến thức, kỹ năng hoạt động theo chương trình quy định cho ngạch công chức Luật CBCC 2008 quy định việc đào tạo, bồi dưỡng CBCC đều phải căn cứ vào tiêu chuẩn, chức vụ, chức danh, yêu cầu nhiệm mà CBCC đảm nhiệm (điều 25, 47),Nghị định số 18/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức nhấn

Ngày đăng: 18/12/2017, 15:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Chuyên đề “nền công vụ, công chức”, Thông tin khoa học pháp lý, Viện nghiên cứu khoa học pháp lý ấn hành, tr.17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: nền công vụ, công chức
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 18/3/2002 về “Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở xã, phường, thị trấn
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2002
24. Hồ Chí Minh (2002). Toàn tập, tập 5, Nxb. CT quốc gia , Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. CT quốc gia
Năm: 2002
29. Nguyễn Minh Sản (2009), Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb.Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay - Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Minh Sản
Nhà XB: Nxb. Chính trị - Hành chính
Năm: 2009
35. Thủ tướng Chính phủ (2012), Quyết định số 1557/QĐ-TTg của TTCP ngày 18/10/2012 phê duyệt Đề án “Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đẩy mạnh cải cách chế độ công vụ, công chức
Tác giả: Thủ tướng Chính phủ
Năm: 2012
36. Từ điển Tiếng Việt . NXB Khoa học - xã hội HN 1997 37. Từ điển “Năng lực” của đại học Harvard Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực
Nhà XB: NXB Khoa học - xã hội HN 1997 37. Từ điển “Năng lực” của đại học Harvard
21. Vũ Thúy Hiền (2016), Xác định năng lực của công chức cấp xã trong thực thi công vụ http://tcnn.vn/Plus.aspx/vi/News/125/0/1010070/0/ Link
23. Thanh Loan (2017) Về năng lực thực thi công vụ của đội ngũ công chức hành chính, bài đăng trên Tạp chí cộng sản điện tử ngày 24/1/2017 http://www.tapchicongsan.org.vn.aspx Link
31. Ngọc Thành (2016), Cải cách chế độ công vụ, công chức góp phần thực hiện thành công nhiệm vụ CCHC http://www.ninhthuan.gov.vn/.aspx Link
42. Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận (2015), Thực trạng và định hướng văn hóa công vụ trong các cơ quan hành chính Nhà nước tỉnh Ninh Thuận http://www.ninhthuan.gov.vn/chinhquyen/dbqhhdnd/Pages/.aspx Link
10. Chính phủ nước CHXHCNVN (2010), Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng CBCC Khác
11. Chính phủ nước CHXHCNVN (2010), Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 3 năm 2010 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức Khác
12. Chính phủ nước CHXHCNVN (2011), Nghị định số 112/2011/NĐ- CP ngày 05 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ, về công chức ở xã, phường, thị trấn Khác
13. Chính phủ nước CHXHCNVN (2015), Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của CP về đánh giá, phân loại cán bộ,công chức, viên chức Khác
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, trang 133- Nhà XBCT Quốc gia-sự thật 2016 Khác
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (1997), Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2007), Nghị quyết số 03-NQ/TW, khóa VIII ngày 18 tháng 6 năm 2007 về chiến lược cán bộ, công chức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Khác
19. Nguyễn Thị Hồng Hải "Một số vấn đề về phát triển năng lực thực thi công vụ của công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính&#34 Khác
20. Trần Kim Hoàng (2014), Vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong bộ máy chính quyền cơ sở Khác
22. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2013, kỳ họp thứ 6, thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013, Nxb. Thống kê, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm