MỞ ĐẦUViệc UNESCO công nhận không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại 2005, được đổi thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Sau quá trình học tập và rèn luyện tại trường, tôi xin chân thành cảm
ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Khoa Di sản văn hóa, Ban đào tạo ngắn hạn,quý thầy cô giáo của trường Đại học Văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đãgiúp đỡ tôi trong quá trình học tập tại trường, đồng thời đã nhiệt tình giúp
đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới quýThầy, Cô chủ nhiệm lớp, quý thầy cô trong nhà trường đã tận tình giúp đỡ,hướng dẫn, chuyển tải những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và độngviên chúng tôi trong quá trình tham gia lớp học
Do có sự hạn chế về thời gian, nên trong quá trình thực hiện đề tài nàytôi cũng không tránh khỏi những thiếu sót, những hạn chế về cả nội dunglẫn hình thức Vì vậy tôi cũng rất mong nhận được những sự góp ý của quýthầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp đối với đề tài để đề tài được hoàn thiệnđầy đủ hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 2MỤC LỤC
Lời cảm ơn 1
Mục lục 2
MỞ ĐẦU 3
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỈNH ĐẮK LẮK 5
1.1 Đặc điểm tự nhiên 5
1.2 Đặc điểm hành chính - Dân số - Dân cư 6
Chương 2 THỰC TRẠNG CÔNG TÁC BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TẠI TỈNH ĐẮK LẮK 7
2.1 Thực trạng công tác bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng tại tỉnh Đắk Lắk 7
2.2 Tồn tại, hạn chế 10
2.3 Nguyên nhân 11
Chương 3 BẢO VỆ VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA CỒNG CHIÊNG TẠI BẢO TÀNG TỈNH ĐẮK LẮK 13
3.1 Đôi nét về Bảo tàng Đắk Lắk 13
3.2 Bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa cồng chiêng tại Bảo tàng tỉnh Đắk Lắk 16
KẾT LUẬN 18
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
PHỤ LỤC 20
Trang 3MỞ ĐẦU
Việc UNESCO công nhận không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên
là Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại (2005), được đổi thành Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại (2008), khiến cho văn
hóa cồng chiêng của các tộc người Tây Nguyên đã chính thức có vị thế ở tầmthế giới Kể từ đó, vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị của di sản văn hóa nàycũng trở nên quan trọng hơn, với ý nghĩa rộng lớn hơn
Trong xã hội còn mang đậm tập tính cộng đồng nơi đây, tiếng cồngchiêng có tác dụng kết nối mọi người lại với nhau Cuộc đời người TâyNguyên nào cũng thấm đượm âm thanh cồng chiêng, từ lúc sơ sinh cho đếnkhi về thế giới bên kia Hơn thế nữa, trong tín ngưỡng, âm nhạc cồng chiêngnhư một phương tiện đặc biệt, có tính thiêng, để con người giao tiếp được vớithần linh, người quá cố và các bậc tổ tiên Âm nhạc cồng chiêng phục vụ chonhững sinh hoạt cộng đồng, dịp lễ hội Không phải ngẫu nhiên mà người tacoi tiếng cồng, tiếng chiêng là tiếng nói, tín hiệu hay biểu tượng của ngườiTây Nguyên Sự quý giá của cồng chiêng bao trùm cả hai lĩnh vực: Vật thể vàphi vật thể Cồng chiêng đứng đầu trong hệ thống nhạc cụ Tây Nguyên Vănhóa cồng chiêng là một hợp phần rất quan trọng tạo nên bản sắc văn hóa củamỗi tộc người nói riêng và của toàn Tây Nguyên nói chung Những giá trị tolớn và đặc biệt của di sản này được các cư dân bản địa Tây Nguyên sở hữu vàtrao truyền trong cộng đồng, được giới nghiên cứu khẳng định, các nhà quản
lý quan tâm, được UNESCO tôn vinh Việc bảo tồn và phát huy văn hóa cồngchiêng Tây Nguyên là tất yếu, song không hề đơn giản
Trong những năm qua, do sự thay đổi về nền kinh tế, sự tác động của cơchế thị trường, sự chi phối mạnh mẽ của các dòng văn hóa tích cực lẫn tiêucực, đã làm xói mòn nền văn hóa truyền thống Nạn mua bán cồng chiêng,
Trang 4đập bỏ cồng chiêng, xóa bỏ lễ hội dân gian cổ truyền… ở các buôn làng đãlàm gần như cạn kiệt vốn văn hóa quý báu này.
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi, những người làm công tác Bảo tồn vàphát huy di sản văn hóa, không khỏi băn khoăn, lo lắng về một di sản văn hóavừa được công nhận là niềm tự hào của một dân tộc lại đang bị mai một dần
Với tất cả những lí do trên, tôi đã chọn vấn đề “Bảo vệ và phát huy giá trị di
sản văn hóa cồng chiêng tại Bảo tàng Đắk Lắk” làm đề tài nghiên cứu của
mình
Trang 5Chương 1
TỔNG QUAN VỀ ĐẮK LẮK
1.1 Đặc điểm tự nhiên
1.1.1 Vị trí địa lý - Địa hình
Vị trí địa lý: Đắk Lắk là một tỉnh nằm ở trung tâm Cao nguyên Nam
Trung Bộ, phía Bắc giáp tỉnh Gia Lai, phía Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phíaTây Nam giáp tỉnh Đắk Nông, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và tỉnh KhánhHòa, phía Tây giáp Vương quốc Campuchia với đường biên giới dài 70 km.Tọa độ địa lí 11045’ - 13025’ vĩ độ Bắc và 107012’ - 108054’ kinh độ Đông.Đắk Lắk có diện tích tự nhiên 13.125,37 km², chiếm 3,9% diện tích tự nhiên
cả nước Việt Nam
Đắk Lắk có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế, chính trị, văn hóa,quân sự và an ninh quốc phòng của khu vực Tây Nguyên và trong cả nước.Đắk Lắk được coi như là cái xương sống, nóc nhà của ba nước Đông Dương
Đó là một vùng đất đỏ basalt rộng lớn với bạt ngàn cây công nghiệp cùngnhiều địa danh lịch sử, thắng cảnh nổi tiếng
Địa hình: Phần lớn địa bàn tỉnh Đắk Lắk thuộc sườn phía Tây Nam dãy
Trường Sơn nên địa hình núi cao chiếm 35% diện tích tự nhiên, tập trung ởphía nam và đông nam tỉnh với độ cao trung bình 1.000 - 1.200m
1.1.2 Khí hậu - Thủy văn
Khí hậu: Đắk Lắk nằm ở trung tâm Cao Nguyên Nam Trung Bộ, phía
Tây Trường Sơn, chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa Có hai mùa
rõ rệt: Mùa khô và mùa mưa Mùa mưa tập trung từ tháng 5 đến tháng 10,lượng mưa trung bình thời kỳ này chiếm trên 75% lượng mưa hàng năm Mùakhô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Trang 6Thủy văn: Đắk Lắk có mạng lưới sông suối rất dày với một số sông
chính như sông Krông H’Năng, sông Ea H’Leo, sông Đồng Nai, sông pốk; lớn nhất là dòng sông Sê-rê-pốk dài 322km, là sông nhánh cấp I củasông Mê Kông
Sê-rê-Với vị trí địa lý đặc biệt, điều kiện khí hậu nhiệt đới gió mùa, với nhiềudạng địa hình có thể nói Đắk Lắk là vùng đất có thiên nhiên tươi đẹp và trùphú bậc nhất khu vực Tây Nguyên
1.2 Đặc điểm hành chính - Dân số - Dân cư
1.2.1 Các đơn vị hành chính
Đắk Lắk có 1 thành phố, 1 thị xã và 13 huyện (với 184 xã, phường và thịtrấn), bao gồm: Thành phố Buôn Ma Thuột, thị xã Buôn Hồ, huyện: BuônĐôn, Cư Kuin, Cư M’gar, Ea H’Leo, Ea Kar, Ea Súp, Krông Bông, KrôngBúk, Krông Pắc, Lắk, M’Đrắk, Krông Ana, Krông Năng
1.2.2 Dân số
Theo Niên giám thống kê năm 2016 của Tổng cục thống kê, dân số của
tỉnh là 1.874.500 người Toàn bộ dân cư sinh sống trên địa bàn rộng13.125,37 km2 Mật độ dân số trung bình của tỉnh là 144 người/km2
Trang 7Sau khi được UNESCO công nhận Không gian Văn hóa Cồng chiêng
Tây Nguyên là “Kiệt tác di sản văn hóa phi vật thể và truyền khẩu của nhân loại” (2005) được đổi là “Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại”
(2008), tỉnh Đắk Lắk đã tổ chức nhiều hoạt động bảo tồn, phát huy giá trị vănhóa Cồng chiêng, đã có nhiều chính sách cho những gia đình, những ngườigìn giữ chiêng, chỉnh chiêng; đồng thời mở nhiều lớp đào tạo bồi dưỡng chocác lớp trẻ học các kỹ thuật đánh và chỉnh chiêng, góp phần phát triển khônggian văn hoá Cồng chiêng, tạo điều kiện để lớp trẻ không quay lưng lại vớibản sắc văn hóa của cộng đồng dân tộc mình
Trang 8Việc bảo vệ và phát huy văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là tất yếu,song không hề đơn giản Văn hóa cồng chiêng bị tác động không nhỏ bởi sựbiến đổi lớn về môi trường tồn tại của nó, về cả tự nhiên và xã hội.
Do tác động của mặt trái kinh tế thị trường và văn hóa hiện đại, nền vănhóa truyền thống và không gian văn hóa cồng chiêng đang bị mất dần trongđời sống cộng đồng các dân tộc thiểu số bản địa ở Đắk Lắk Con người vàcuộc sống của các tộc người Tây Nguyên đã khác trước rất nhiều Việc nhập
cư từ nhiều nơi khác làm cho dân số gia tăng nhanh chóng và thành phần tộcngười cũng nhiều lên rõ rệt; các dân tộc bản địa đã trở thành cư dân thiểu sốtại mỗi tỉnh Quá trình chuyển biến toàn diện về kinh tế, xã hội và văn hóa,đặc biệt trong khoảng 40 năm gần đây, diễn ra rộng khắp ở Tây Nguyên; Sựgiao thoa văn hóa giữa các tộc người, sự thay đổi về cơ cấu sản xuất đã tácđộng đến đời sống kinh tế - xã hội Văn hóa tộc người cũng có những biến đổisâu sắc, nghi lễ cộng đồng có nguy cơ quên lãng, môi trường diễn tấu cồngchiêng, diễn xướng các làn điệu dân ca hầu như vắng bóng Các nghệ nhânbiết đánh chiêng, biết hát Ây rây, hát Kưt ngày càng ít dần, thanh niên không
có cơ hội được học trực tiếp, được nghe các nghệ nhân diễn tấu cồng chiêng,hát Ây ray, kể khan thế hệ trẻ tiếp nối giá trị văn hóa ngày càng mờ nhạt,cho thấy văn hóa truyền thống của cư dân bản địa tại Đắk Lắk đang đứngtrước một thách thức lớn
Nền nông nghiệp nương rẫy giảm thiểu, kinh tế ruộng nước và kinh tếvườn mở mang, cây công nghiệp phát triển, kinh tế hàng hóa thâm nhập, xãhội mở ra, dân trí nâng cao, đời sống vật chất cải thiện Trong bối cảnh đó,quan niệm về tập tục truyền thống dần trở nên không còn nghiêm ngặt nữa.Ngay cả lễ hiến sinh trâu, lễ bỏ mả… là các lễ tục lớn nhất của người TâyNguyên, cũng ít khi được tổ chức Hệ quả là, môi trường lễ hội suy giảmkhiến cho sinh hoạt diễn tấu cồng chiêng hạn hẹp hơn trước
Trang 9Một phần cũng do cuộc sống còn gặp nhiều khó khăn cồng chiêng trởthành thứ hàng hóa bình thường Có những gia đình bán cồng chiêng để lấytiền đầu tư vào sản xuất Vì vậy, nạn "chảy máu" cồng chiêng đã xảy ra trầmtrọng trước việc săn lùng ráo riết của giới buôn cổ vật Số lượng cồng chiêng
ở xứ sở này đã giảm đi rất nhiều, nhất là trong thập niên cuối của thế kỷtrước Mà ai cũng dễ hiểu, mất cồng chiêng ắt dẫn tới mất văn hóa cồngchiêng!
Bên cạnh đó, cồng chiêng hiện nay lại được mở ra cho cả những sinhhoạt đơn thuần là biểu diễn văn nghệ trong các dịp hoạt động kiểu hội hè,được "sân khấu hóa" Thậm chí, có nơi người ta còn can thiệp, biến dàn cồngchiêng từ chỗ được cấu tạo bởi thang 3 âm, 5 âm hay 6 âm thành thang âm 7nốt như âm nhạc phương Tây, và coi đó là "cải tiến"
Cùng với những diễn biến kể trên, số "nghệ nhân" diễn tấu cồng chiêngtrong các buôn làng Tây Nguyên cũng ngày càng vắng bóng dần Thêm nữa,song hành với âm nhạc cồng chiêng, không thể thiếu những người thợ chỉnhchiêng, chuẩn lại âm thanh cho từng bộ cồng chiêng Nhưng ngày nay đội ngũ
"thợ lành nghề" này cũng ít dần đi
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên từ đây đặt ra những vấn đề
to lớn trong công tác bảo vệ, phát huy giá trị của nó Điển hình của sự maimột ấy chính là nạn chảy máu cồng chiêng, sự suy giảm tài nguyên rừng, sựmất dần những ngôi nhà dài truyền thống, những bến nước và những lễ hội…
Cụ thể, theo số liệu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Đắk Lắk cho thấyvăn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk thời điểm cuốinăm 2013, toàn tỉnh còn 2.307 bộ chiêng, trong đó dân tộc Êđê 2.064 bộ, dântộc M’nông 164 bộ, dân tộc Gia rai 62 bộ, dân tộc Xơ Đăng 8 bộ, dân tộc Bru
- Vân Kiều 9 bộ Nếu so với số liệu thống kê năm 1993, thì đến năm 2013,tỉnh Đắk Lắk thất thoát khoảng 2.000 bộ chiêng Hiện nay, tỉnh Đắk Lắk cònkhoảng 3.855 nghệ nhân biết diễn tấu cồng chiêng, 635 nghệ nhân biết dạy
Trang 10diễn tấu cồng chiêng, 393 nghệ nhân biết chỉnh chiêng; còn 2.608 căn nhà dàitruyền thống, 220 bến nước và 155 nghi lễ - lễ hội truyền thống Có nhiều bộchiêng quý được giữ gìn từ nhiều đời nay, giá trị hàng chục con trâu, bònhưng hiện nay còn lại rất ít trong cộng đồng.
2.2 Tồn tại, hạn chế
Một số bọn đội lốt tôn giáo đã xúi giục bà con dân tộc thiểu số: Bỏ các lễhội truyền thống, không được dùng cồng chiêng, không được uống rượu cần,múa hát cộng đồng… Điểm nổi bật của chúng là đã khai thác triệt để đời sốngkhó khăn, trình độ dân trí thấp của đồng bào để xuyên tạc tình hình, muachuộc bằng vật chất, làm tổn hại đến phong tục tập quán, nhằm xóa bỏ đi nềnvăn hóa truyền thống của dân tộc Chính vì thế chúng khuyến khích vật chấtcho gia đình tự đập chiêng, ché, tự mang bán cồng chiêng, từ bỏ sinh hoạtnghi lễ - lễ hội truyền thống dân tộc
Trong những năm gần đây, thực hiện sự phát triển nền kinh tế hàng hóatheo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủnghĩa, lần đầu tiên phương thức sản xuất, nếp sống văn hóa của các dân tộcthiểu số đã phát triển một cách tự giác theo hướng của Đảng Việc thay đổiphương thức sản xuất đã làm thay đổi trong nếp sống, sinh hoạt của mọingười Đồng bào các buôn làng tùy theo điều kiện cụ thể của buôn mình đãbước đầu tách hộ, bỏ nhà dài, làm nhà từng hộ riêng, phát triển kinh tế theohướng sản xuất hàng hóa, nhiều gia đình đã mang bán đi bộ cồng chiêng quýgiá để lấy vốn sản xuất và giải quyết đời sống khó khăn của gia đình mình.Mặt khác một số gia đình cảm thấy những lễ hội văn hóa dân gian không cótác dụng nữa đối với cuộc sống thực tại, nên đã chủ động mang bán đi những
bộ cồng chiêng của cha ông để lại để lo cho cuộc sống đời thường
Trước đây số nghệ nhân biết sử dụng cồng chiêng ở buôn làng khá nhiều(trung bình mỗi buôn từ 30 - 40 người), hiện nay ở hầu hết các buôn làng sốngười biết sử dụng cồng chiêng rất ít (mỗi buôn chừng 7 - 10 người) Số
Trang 11thanh niên sinh ra sau giải phóng, hầu hết không biết đánh cồng chiêng, nênsinh hoạt văn hóa cồng chiêng bị mai một dần Đặc biệt, gần đây sự phát triểncủa nền văn hóa hiện đại như truyền hình, điện ảnh, sân khấu, âm nhạc…,nhất là băng đĩa, âm nhạc phương tây được đưa vào nước ta một cách ào ạt,thiếu chọn lọc, đã ảnh hưởng phần nào đến nền văn hóa truyền thống của dântộc, trong đó có nền văn hóa cồng chiêng của đồng bào Không ít thanh niên
là con em của đồng bào, tuy được giáo dục truyền thống dân tộc nhưng vẫn đềcao văn hóa hiện đại phương tây, coi sinh hoạt văn hóa cồng chiêng của buônlàng mình là lạc hậu, lỗi thời, là không phù hợp với thời đại Do đó, họ vậnđộng người già mang bán đi những bộ cồng chiêng quý để mua thiết bị âmthanh điện tử hiện đại
Từ ngày giải phóng đến nay, mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhữngđường lối, chính sách về giữ gìn, bảo tồn văn hóa dân tộc, như pháp lệnh 14
về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử - văn hóa và Luật Di sản văn hóa nhưngvẫn chung chung, không cụ thể và cũng không được triển khai một cáchnghiêm túc Sự chỉ đạo của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về bảo tồn, pháthuy các lễ hội sinh hoạt văn hóa dân gian đối với các địa phương còn chungchung và còn thiếu các chính sách để thực hiện
Công tác kiểm kê quản lý di tích về hoạt động văn hóa cồng chiêng từtrung ương đến địa phương từ trước đến nay chưa được đặt ra một cách cụthể Chúng ta chỉ coi trọng các hoạt động quản lý văn hóa: Video, âm nhạc,văn hóa phẩm, sách báo… mà còn ít chú trọng đến văn hóa cồng chiêng Do
đó, đội ngũ cán bộ quản lý chuyên trách về công tác này cũng không có Mặtkhác chúng ta không biết dựa vào nhân dân (nhất là các già làng) để tuyêntruyền cho dân hiểu được văn hóa cồng chiêng của dân tộc mình để cùng nhaugiữ gìn bảo vệ, phát huy nó trong nền văn hóa cộng đồng
2.3 Nguyên nhân
Trang 12Nguyên nhân khách quan: Kinh tế - xã hội ở nhiều vùng cư dân bản địa
Đắk Lắk đã phát triển theo hướng hiện đại hóa Môi trường văn hóa biến đổinhanh chóng theo hướng tiếp nhận một chiều nên mất đi những điều kiện cơbản để duy trì các hình thức, loại hình văn hóa truyền thống
Nguyên nhân chủ quan: Nguồn kinh phí đầu tư để thực hiện phát triển sự
nghiệp bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa còn chưa thỏa đáng Sự phốihợp, lồng ghép giữa đề án của một số ngành liên quan và đề án của ngànhVăn hoá, Thể thao và Du lịch chưa thống nhất Nhận thức về thực hiện nhiệm
vụ bảo tồn và phát huy di sản văn hóa của một số cấp ủy, chính quyền địaphương, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể còn chưa đầy đủ, chưa tích cực phốihợp với các ngành chức năng tổ chức thực hiện Trình độ chuyên môn củamột số cán bộ được giao làm công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hoá nóiriêng, phát triển văn hóa nói chung còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu củathực tiễn