Nghiên cứu tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme DAT tham gia tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn(Catharanthus roseus (L.) G. Don) (LA tiến sĩ)Nghiên cứu tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme DAT tham gia tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn(Catharanthus roseus (L.) G. Don) (LA tiến sĩ)Nghiên cứu tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme DAT tham gia tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn(Catharanthus roseus (L.) G. Don) (LA tiến sĩ)Nghiên cứu tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme DAT tham gia tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn(Catharanthus roseus (L.) G. Don) (LA tiến sĩ)Nghiên cứu tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme DAT tham gia tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn(Catharanthus roseus (L.) G. Don) (LA tiến sĩ)Nghiên cứu tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme DAT tham gia tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn(Catharanthus roseus (L.) G. Don) (LA tiến sĩ)Nghiên cứu tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme DAT tham gia tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn(Catharanthus roseus (L.) G. Don) (LA tiến sĩ)Nghiên cứu tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme DAT tham gia tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn(Catharanthus roseus (L.) G. Don) (LA tiến sĩ)Nghiên cứu tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme DAT tham gia tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn(Catharanthus roseus (L.) G. Don) (LA tiến sĩ)
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
BÙI THỊ HÀ
NGHIÊN CỨU TĂNG CƯỜNG BIỂU HIỆN GEN MÃ HÓA ENZYME DAT THAM GIA TỔNG HỢP ALKALOID
Ở CÂY DỪA CẠN (Catharanthus roseus (L.) G Don )
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
THÁI NGUYÊN, 2017
Trang 2LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Nguyễn Thị Tâm
2 GS.TS Chu Hoàng Mậu
Thái Nguyên, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Thị Tâm và GS.TS Chu Hoàng Mậu Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực, một phần đã được công bố trong các tạp chí khoa học công nghệ, phần còn lại chưa được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Mọi trích dẫn đều ghi rõ nguồn gốc
Tác giả
Bùi Thị Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Chu Hoàng Mậu và PGS.TS Nguyễn Thị Tâm đã chỉ bảo, động viên và tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu để tôi có thể hoàn thành luận án này
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Lê Văn Sơn và các cán bộ, nghiên cứu viên Phòng Công nghệ ADN ứng dụng, Viện Công nghệ Sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã giúp đỡ và tạo điều kiện tốt nhất để tôi
có thể hoàn thành một số thí nghiệm nghiên cứu thuộc đề tài luận án
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo thuộc Bộ môn Sinh học hiện đại và Giáo dục Sinh học, Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và có nhiều góp ý sâu sắc cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài nghiên cứu
Tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo và cán bộ Khoa Sinh học, các thầy cô
và các cán bộ phòng Đào tạo, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành khóa học này
Tôi xin trân trọng cảm ơn lãnh đạo Trường Đại học Y Dược, chân thành cảm ơn các đồng nghiệp Khoa Khoa học cơ bản, Trường Đại học Y Dược - Đại học Thái Nguyên đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và công tác
Tôi rất biết ơn những người thân trong gia đình, các bạn bè đã luôn động viên, quan tâm, tạo mọi điều kiện cho tôi học tập và nghiên cứu
Thái Nguyên, tháng 12 năm 2017
TÁC GIẢ
Bùi Thị Hà
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan……… i
Lời cảm ơn……… … ii
Mục lục……… ………… iii
Danh mục những chữ viết tắt trong luận án……… vi
Danh mục bảng trong luận án……… ix
Danh mục hình trong luận án……… xi
MỞ ĐẦU……… ……… 1
1.Đặt vấn đề……… 1
2 Mục tiêu nghiên cứu……… 2
3 Nôi dung nghiên cứu……… 2
4 Những đóng góp mới của luận án……… … 3
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án……… 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU……… 4
1.1.Alkaloid ở cây dừa cạn……… ………… 4
1.1.1 Vai trò của alkaloid thực vật 4
1.1.2 Alkaloid ở cây dừa cạn……… 6
1.2 Sinh tổng hợp alkaloid và hoạt động của enzyme DAT ở cây dừa cạn 10
1.2.1 Quá trình sinh tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn………… …… 10
1.2.2 Hoạt động của enzyme DAT và gen DAT 16
1.3 Nghiên cứu cải thiện hàm lượng alkaloid ở cây dừa cạn 18 1.3.1 Định hướng nghiên cứu nâng cao hàm lượng alkaloid ở cây dừa
Trang 6cạn bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật……… 18
1.3.2 Nâng cao hàm lượng vinblastine và vincristine bằng kỹ thuật chuyển gen……… 20
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……… 26
2.1 Vật liệu nghiên cứu ……… 26
2.1.1 Vật liệu thực vật……… 26
2.1.2 Chủng vi khuẩn và các loại vector……… 26
2.2 Hóa chất, thiết bị và địa điểm nghiên cứu……… 26
2.2.1 Hóa chất, thiết bị nghiên cứu……… 26
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu và hoàn thành luận án……… 27
2.3 Phương pháp nghiên cứu……… 27
2.3.1 Các phương pháp sinh học phân tử……… 28
2.3.2 Phương pháp thiết kế vector chuyển gen mang cấu trúc chứa gen CrDAT 32 2.3.3 Chuyển cấu trúc mang gen CrDAT vào cây thuốc lá 35
2.3.4 Tái sinh và chuyển gen gus ở cây dừa cạn 36
2.3.5 Chuyển gen CrDAT vào cây dừa cạn thông qua A.tumefaciens 41
2.3.6 Phương pháp phân tích cây chuyển gen 43
2.3.7 Phương pháp tính hiệu suất chuyển gen……… 46
2.3.8 Các phương pháp phân tích, xử lý số liệu……… 47
Chương 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN……… 48
3.1 Đặc điểm của gen CrDAT phân lập từ cây dừa cạn 48
3.1.1 Kết quả tách dòng và xác định trình tự nucleotide của gen
Trang 7CrDAT………
3.1.2 So sánh trình tự nucleotite của gen CrDAT
48 50 3.2 Thiết kế vector chuyển gen và biểu hiện gen CrDAT trên cây thuốc lá 55 3.2.1 Thiết kế vector chuyển gen mang cấu trúc chứa gen CrDAT…… 55
3.2.2 Phân tích biểu hiện gen CrDAT trên cây thuốc lá chuyển gen 60
3.2.3 Thảo luận kết quả thiết kế và đánh giá hoạt động của vector chuyển gen pBI121-CrDAT……… 66
3.3 Nghiên cứu hệ thống tái sinh và xây dựng quy trình chuyển gen ở cây dừa cạn 69
3.3.1 Nuôi cấy in vitro cây dừa cạn……… 69
3.3.2 Xây dựng quy trình chuyển gen thông qua gen gus……… 75
3.3.3 Kết quả chuyển gen gus vào cây dừa cạn 81
3.4 Kết quả chuyển gen CrDAT và tạo cây dừa cạn chuyển gen 86
3.4.1 Chuyển cấu trúc mang gen CrDAT và tái sinh cây dừa cạn chuyên gen 86
3.4.2 Xác định sự có mặt và sự hợp nhất của gen chuyển CrDAT trong hệ gen của các cây dừa cạn chuyển gen ở thế hệ T0 88
3.4.3 Phân tích biểu hiện protein DAT tái tổ hợp ở thế hệ T1 91
3.4.4 Thảo luận về kết quả sự tăng cường biểu hiện gen CrDAT ở cây dừa cạn chuyển gen……… 95
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ……… 99
CÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ LIỆN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN… 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 101
PHỤ LỤC……… 118
Trang 8DANH MỤC KÝ HIỆU, CÁC TỪ VÀ CHỮ VIẾT TẮT
AS Acetosyringone
A Tumefaciens Agrobacterium tumefaciens
A Rhizogenes Agrobacterium rhizogenes
BAP Benzylaminopurine
35S Promoter CaMV 35S
CCM Cocultivation medium Môi trường đồng nuôi cấy
DNA Deoxyribonucleic acid
cDNA Complementary DNA DNA bổ sung
CTAB Cetyltrimethyl ammonium
EDTA Ethylene diamine tetraacetic
Trang 9Kb Kilo base
kDa Kilo Dalton
LB Luria Bertami Môi trường dinh dưỡng cơ
bản nuôi cấy vi khuẩn
MS Murashige và Skoog Tên gọi đặt cho môi trường
dinh dưỡng cơ bản nuôi cấy mô thực vật
mRNA Messenger ribonucleic acid
NAA Naphthaleneacetic acid
OD Optical density Mật độ quang
PCR Polymerase chain reaction Phản ứng chuỗi
polymerase RNA Ribonucleic acid
RM Rooting medium Môi trường tạo rễ
rCrDAT Recombinant CrDAT protein Protein DAT tái tổ hợp SDS Sodium dodecyl sulfate
SIM Shoot Induction Medium Môi trường tạo đa chồi SEM Shoot Elongation Medium Môi trường kéo dài chồi TAE Tris Acetate EDTA
chồi trong ống nghiệm
nảy mầm thành cây T1
Trang 10TMB 3,3′,5,5′-Tetramethylbenzidine
X-gal
5-bromo-4-chloro-3-indolyl-β-D-galacto-pyranoside
Trang 11Cây dừa cạn (Catharanthus roseus (L.) G Don) là một trong những loại
cây dược liệu quý Cây dừa cạn có khả năng sản xuất các indole alkaloid có dược tính quan trọng và ứng dụng trong sản xuất các loại thuốc chống ung thư, đặc biệt
là ung thư máu Ngoài ra, cây dừa cạn còn được chỉ dẫn trong điều trị bệnh bạch cầu lympho cấp và một số bệnh ung thư khác Trong dân gian, dừa cạn được sử dụng trị cao huyết áp, bệnh tiểu đường, điều hòa kinh nguyệt, chữa tiêu hóa kém
và chữa lị, lợi tiểu khá mạnh, chữa bệnh đi tiểu đỏ và ít, tẩy giun, chữa sốt cao [12]
Trong tất cả các alkaloid thực vật, terpenoid indole alkaloid (TIA) là một nhóm quan trọng chứa hơn 3000 loại hợp chất có cấu trúc đa dạng và được tìm thấy ở 8 họ thực vật [120] Trong đó, các loài cây có nguồn gốc từ họ mã tiền (Loganiaceae), họ trúc đào (Apocynaceae) và họ cà phê (Rubiaceae) chứa hàm lượng alkaloid cao [40] Dừa cạn có chứa 2 loại alkaloid là vinblastine và vincristine được sử dụng rộng rãi trong điều trị bệnh ung thư [107] Vinblastine và vincristine là những chất ức chế mạnh sự phân chia tế bào và do vậy ngăn cản sự tăng số lượng tế bào Ngoài ra, một số TIA khác như ajmalicine và serpentine
Trang 12được sử dụng để điều trị rối loạn tuần hoàn [107] Quá trình chuyển hóa tổng hợp các TIA ở cây dừa cạn là một quá trình phức tạp, trải qua nhiều phản ứng với sự tham gia của nhiều enzyme, các chất điều hòa và các chất vận chuyển [119]
Hàm lượng vinblastine và vincristine trong cây dừa cạn hoang dại rất thấp [77] Vì vậy, định hướng nghiên cứu nhằm tăng hàm lượng alkaloid ở cây dừa cạn được quan tâm với việc sử dụng kỹ thuật hiện đại, trong đó xác định và tăng cường biểu hiện enzyme chìa khóa là khâu nghiên cứu rất quan trọng
Deacetylvindoline-4-O-acetyltransferase (DAT) là một enzyme chìa khóa trong
chuỗi chuyển hóa tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn Biểu hiện mạnh gen mã hóa enzyme DAT sẽ làm tăng các sản phẩm chuyển hóa thứ cấp và hàm lượng vinblastine và vincristine trong dừa cạn được nâng cao
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã thực hiện đề tài luận án:
“Nghiên cứu tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme DAT tham gia tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn (Catharanthus roseus (L.) G Don)”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định đặc điểm và biểu hiện được gen mã hóa
deacetylvindoline-4-O-acetyltransferase (CrDAT) phân lập từ cây dừa cạn Tạo được cây dừa cạn chuyển gen CrDAT có hàm lượng alkaloid được cải thiện
3 Nội dung nghiên cứu
3.1 Nghiên cứu thu thập thông tin về gen CrDAT, thiết kế cặp mồi PCR nhân bản gen CrDAT, khuếch đại, tách dòng và xác định trình tự gen CrDAT
3.2 Thiết kế vector chuyển gen thực vật chứa gen CrDAT và đánh giá hoạt động
của vector chuyển gen trên cây thuốc lá
3.3 Nghiên cứu hệ thống tái sinh và xây dựng quy trình chuyển gen thông qua
Agrobacterium tumafaciens ở cây dừa cạn
3.4 Nghiên cứu chuyển gen CrDAT vào dừa cạn, phân tích cây chuyển gen và đánh giá sự biểu hiện chức năng sinh học của gen chuyển CrDAT ở cây dừa cạn
Trang 134 Những đóng góp mới của luận án
Luận án là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu có hệ thống từ phân
lập, tách dòng phân tử đến thiết kế vector chuyển gen và biểu hiện gen CrDAT ở
cây thuốc lá và cây dừa cạn, cụ thể là:
1) Đã phân lập được gen CrDAT từ mRNA của cây dừa cạn, gen CrDAT (cDNA)
có kích thước 1320 bp, mã hóa 439 amino acid
2) Xây dựng được quy trình tái sinh, quy trình chuyển gen thông qua
A.tumefaciens và tạo được 4 dòng dừa cạn chuyển gen CrDAT ở thế hệ T1 (T1-1;
T1-3; T1-6; T1-7) có hàm lượng alkaloid tổng số tăng từ 3,16 lần đến 15,17 lần
so với đối chứng không chuyển gen
3) Protein tái tổ hợp rCrDAT được biểu hiện trên cây thuốc lá, cây dừa cạn chuyển gen và kết quả được kiểm chứng bằng Western blot và ELISA
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
Về mặt khoa học
Kết quả nghiên cứu trong luận án góp phần làm sáng tỏ đặc điểm cấu trúc
của gen CrDAT phân lập từ cây dừa cạn màu hoa hồng tím và màu hoa trắng thu
thập tại Thái Nguyên Cơ sở khoa học và hiệu quả của kỹ thuật tăng cường biểu hiện gen mã hóa enzyme chìa khóa trong chuỗi chuyển hóa tổng hợp alkaloid nhằm nâng cao hàm lượng alkaloid của cây dừa cạn
Các bài báo đăng tải trên các tạp chí khoa học cùng với 2 trình tự gen công
bố trên Ngân hàng gen quốc tế là những tư liệu có giá trị tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy sinh học và công nghệ sinh học
Về mặt thực tiễn
Các trình tự gen CrDAT được phân lập, cấu trúc vector chuyển gen, các
dòng cây chuyển gen góp phần giải quyết những vấn đề cụ thể về việc sử dụng
kỹ thuật chuyển gen để cải thiện hàm lượng alkaloid trong cây dược liệu nói chung và cây dừa cạn nói riêng Kết quả nghiên cứu đã mở ra triển vọng ứng dụng kỹ thuật biểu hiện mạnh gen mã hóa enzyme vào việc nâng cao hàm lượng dược chất trong cây dược liệu
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 ALKALOID Ở CÂY DỪA CẠN
1.1.1 Vai trò của alkaloid thực vật
Alkaloid là những hợp chất hữu cơ có chứa nitơ, đa số có nhân dị vòng, có phản ứng kiềm, thường gặp ở thực vật và đôi khi có trong động vật, có dược tính mạnh Ngoài carbon, hydro và nitơ, alkaloid cũng có thể chứa oxy, lưu huỳnh và các yếu tố khác như clo, brom, và phospho [119] Alkaloid được sản xuất bởi một lượng lớn các sinh vật bao gồm vi khuẩn, nấm, thực vật và động vật Trong lĩnh vực y học, alkaloid cung cấp nhiều loại thuốc có giá trị chữa bệnh cao và đặc biệt bao gồm cả thuốc chống sốt rét (quinine), chữa trị bệnh hen suyễn (ephedrine), chống ung thư (homoharringtonine), thuốc an thần (galantamine) [55], giãn mạch (vincamine), chống loạn nhịp (quinidine), giảm đau (morphine), kháng khuẩn (chelerythrine) [38],[39], chữa bệnh Alzemimer [88] và thuốc chữa huyết áp (piperine) [87]
Ranh giới giữa alkaloid và các hợp chất tự nhiên có chứa nitơ khác không
rõ ràng Các hợp chất như amino acid, protein, nucleic acid, amin và các loại thuốc kháng sinh thường không được gọi là alkaloid Các hợp chất tự nhiên có chứa nitơ ở vị trí exocyclic (mescaline, serotonin, dopamine …) được phân loại
là hợp chất amin, không gọi là alkaloid [86]
Các nghiên cứu về alkaloid bắt đầu vào thế kỷ XIX Năm 1804 - 1805, ở Pháp và Đức đã phân lập được morphin và điều chế được dạng muối, đồng thời chứng minh được morphin là hoạt chất chính của cây thuốc phiện có tác dụng sinh lý rõ rệt Năm 1980, từ vỏ cây canhkina (thuộc họ cà phê) người ta đã chiết
và kết tinh được một chất đặt tên là “cinchonino” Sau đó hai nhà hóa học Pháp
đã xác định cinchonino là hỗn hợp của hai alkaloid là quinin và cinchonin Năm
1918, người ta đã phát hiện ra alkaloid của họ mã tiền là strycnin và bruxin và
Trang 15cũng là năm phát hiện cafein trong chè, cà phê, sau đó là nicotin trong thuốc lá, atropin trong cà độc dược, theobromin trong cacao, codein trong thuốc phiện, cocain trong lá coca Giữa năm 1973, người ta đã xác định được 4959 loại alkaloid khác nhau, trong đó có 3293 chất đã xác định được công thức hóa học Hiện nay, số loại alkaloid đã đưa vào ứng dụng trong y học ngày một tăng [75]
So với các thành phần khác của các hợp chất tự nhiên, alkaloid được đặc trưng bởi sự đa dạng về cấu trúc và không có sự phân loại thống nhất Phương pháp phân loại alkaloid đầu tiên trong lịch sử dựa vào nguồn gốc tự nhiên là phổ biến Việc phân loại không dựa vào cấu trúc hóa học của alkaloid, cho nên phương pháp trên được coi là lỗi thời [119] Các alkaloid thông thường được phân loại theo đặc trưng phân tử chung của chúng, dựa theo kiểu trao đổi chất được sử dụng để tạo ra phân tử Khi còn ít thông tin về quá trình sinh tổng hợp alkaloid, các loại alkaloid được gộp lại thành nhóm theo tên của các hợp chất đã biết, hay gọi tên dựa theo nhóm động vật, thực vật mà từ đó người ta chiết xuất ra
các alkaloid Ví dụ các alkaloid chiết từ cây dừa cạn vinca thì được gọi chung là các vinca alkaloid Khi có thông tin và hiểu biết nhiều hơn về một alkaloid cụ
thể, việc gộp nhóm thường lấy theo tên gọi của amin quan trọng về mặt sinh học
và nổi bật nhất trong quá trình tổng hợp
Trong giới thực vật bậc cao, người ta đã xác định được một số cây dược liệu chứa alkaloid như: cây ba chạc, bách bộ, bình vôi, cà độc dược, cà phê, canhkina, cau, lá ngón, chè, cỏ nhọ nồi, dừa cạn, đại, hoàng liên, hoàng liên gai,
hồ tiêu, khổ sâm, kim tiền thảo, ma hoàng, mộc hoa trắng, mộc hương, ớt, ô đầu phụ tử, sen, táo nhân, thuốc lá, thuốc phiện, tỏi độc, trinh nữ hoàng cung, vối Điểm chung của các loài cây dược liệu này là alkaloid có hàm lượng rất thấp và khó tách chiết, nhưng lại có giá trị rất lớn đối với y học và ngành dược phẩm [85] Trong cơ thể thực vật, alkaloid là những chất chuyển hóa thứ cấp, là sản phẩm cuối cùng trong quá trình chuyển hóa ở thực vật Một số các alkaloid thực
Trang 16vật có vai trò bảo vệ như aporphine của cây tulip, bởi khả năng kháng lại nấm ký sinh Một số alkaloid khác có khả năng ngăn ngừa côn trùng và động vật gây hại,
số ít có thể đóng vai trò là các chất điều hòa sự sinh trưởng và quá trình chuyển hóa của thực vật, tương tự như hormone thực vật [27] Đối với con người, nhiều alkaloid thực vật có hoạt tính sinh học mạnh và được sử dụng trong y học Từ thế
kỷ XIX, nhiều alkaloid được phát hiện để sử dụng làm thuốc và được ứng dụng trong y học như morphine, quinine… Một số chất quá độc, không dùng trong y học (Gelsemin trong lá ngón), nhiều chất có thêm tác động nguy hại đến xã hội (gây nghiện, ma túy, ảo giác) [76] Ngoài ra, một số alkaloid còn là các chất dự trữ, có khả năng cung cấp nitơ hoặc các chất khác Việc nghiên cứu các alkaloid
có giá trị rất lớn góp phần vào việc tạo ra nhiều loại dược phẩm ứng dụng trong điều trị các bệnh
1.1.2 Alkaloid ở cây dừa cạn
1.1.2.1 Cây dừa cạn
Theo Đỗ Tất Lợi (1977), cây dừa cạn (Catharanthus roseus (L.) G.Don.)
hay hải đằng, dương giác, bông dừa, trường xuân hoa là một loài thực vật trong
chi Catharanthus thuộc họ La bố ma (Apocynaceae) [12] Dừa cạn là cây bản địa
và đặc hữu của Madagascar (Châu Phi) Ở Việt Nam, dừa cạn là cây hoang dại, phân bố tự nhiên, từ tỉnh Quảng Ninh đến Kiên Giang dọc theo vùng ven biển và tập trung ở các tỉnh miền Trung như Thanh Hóa, Nghệ An, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Ðà Nẵng, Bình Ðịnh và Phú Yên Ở những vùng ven biển, dừa cạn mọc gần như thuần loại trên các bãi cát dưới rừng phi lao, trảng cỏ cây bụi thấp,
có khả năng chịu đựng điều kiện khô cằn của vùng cát ven biển Dừa cạn còn được trồng để làm cảnh và làm thuốc [22]
Dừa cạn là nguồn giàu alkaloid thuộc chủng loại terpenoid indole
alkaloid (TIA) được tách chiết từ ba giống, đó là roseus có cánh hoa màu hồng
Trang 17tím, albus có cánh hoa màu trắng vàng và ocellatus có cánh hoa màu trắng đỏ
Trong đó dừa cạn hoa màu hồng tím có hàm lượng vincristine và vinblastine cao nhất (Hình 1.1) [80]
Hình 1.1 Hoa của ba giống Catharanthus roseus A: Catharanthus roseus var
roseus; B: Catharanthus roseus var ocellatus; C: Catharanthus roseus var albus
[80]
Cây dừa cạn là loài cây thân thảo sống lâu năm, cao 40 - 60 cm, phân nhiều cành, cây có bộ rễ phát triển, thân gỗ ở phía gốc, mềm ở phần trên Mọc thành bụi dày Lá mọc đối, thuôn dài, đầu lá hơi nhọn, cuống lá hẹp nhọn, dài 4 -
6 cm, rộng 2 - 3 cm, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt Cánh hoa màu trắng hoặc cánh hoa màu hồng tím, có mùi thơm Hoa mọc riêng lẻ ở kẽ lá gần ngọn Vòi nhụy dài bằng ống tràng, dạng sợi màu trắng Đầu nhụy hình trụ, màu xanh, đỉnh có 2 thùy nhọn, phía dưới có màng mỏng màu vàng Hai đĩa mật màu vàng, hình tam giác hẹp nằm xen kẽ 2 lá noãn Quả gồm 2 đại, dài 2 - 4 cm, rộng 2 - 3 cm, mọc thẳng đứng, hơi ngả sang hai bên, trên vỏ có vạch dọc, đầu quả hơi tù, trong quả chứa 12 - 20 hạt nhỏ màu nâu nhạt, hình trứng, trên mặt hạt
có các hột nổi thành đường chạy dọc Mùa hoa và quả gần như quanh năm [22]
Tác dụng dược lý của cây dừa cạn
Từ những năm 1950, y học đã phát hiện ra dược tính của dừa cạn Người thử nghiệm đầu tiên về tác dụng của cây dừa cạn là bác sĩ Clark Noble ở Canada
Trang 18Ông đã phát hiện thấy cây dừa cạn không những có tác dụng hạ đường huyết trong máu mà còn có hoạt tính trị bệnh ung thư bạch cầu ở người Dừa cạn đã được đưa vào bệnh viện thử nghiệm và trở thành cây dược liệu chính thức trong y khoa hiện đại [75] Thành phần vincristine có tác dụng với bệnh nhân ung thư nhưng chúng lại là thành phần gây hại cho thai nhi, ức chế hệ thần kinh
Kết quả phân tích thành phần alkaloid chiết xuất từ cây dừa cạn cho thấy, dừa cạn giàu vinblastine, vincristine, tetrahydroalstonine, pirinine, vindoline, catharanthine, ajmalicine… Trong đó, vincristine và vinblastine khi điều chế thành dạng thuốc tiêm sẽ có tác dụng lớn trong ức chế sự phân bào và sinh trưởng của tế bào, cho nên hạn chế được việc hình thành bạch cầu thừa ở bệnh nhân ung thư máu [75]
Ở Việt Nam và một số nước châu Phi, châu Mỹ, dừa cạn được trồng làm cảnh và làm thuốc thông tiểu, điều kinh, trị tăng huyết áp, đái tháo đường, sốt rét, kiết lị, tiêu hoá kém… Bộ phận dùng làm thuốc là rễ, hoặc lá, hoặc cả cây Sử dụng nguyên bụi cây dừa cạn đem phơi khô, chặt nhỏ, sao qua cho thơm trước khi nấu nước uống Tùy vào mục đích trị liệu và kinh nghiệm địa phương, có thể dùng độc vị dừa cạn hoặc phối hợp với những vị thuốc khác [12]
Trong điều trị ung thư, thường sử dụng dạng muối sufat để chế tạo dạng chế phẩm tiêm truyền tĩnh mạch Vincristine sulfat được sử dụng khá rộng rãi để điều trị ung thư máu, đặc biệt là bệnh bạch cầu lympho cấp Trong khi đó, vinblastine sulfat lại có tác dụng tốt trong điều trị ung thư biểu mô tinh hoàn, ung thư nhau, ung thư biểu mô da đầu và ung thư biểu mô thận, u nguyên bào thần kinh, ung thư vú, ung thư cổ tử cung,… Một đặc điểm của vinblastine là chưa phát hiện sự đề kháng chéo với các loại thuốc chống ung thư khác [104]
Bên cạnh việc sử dụng các alkaloid thiên nhiên chiết xuất từ dừa cạn, các chuyên gia dược học đã nghiên cứu bán tổng hợp một số alkaloid để mở rộng
Trang 19phạm vi và hiệu quả của điều trị ung thư Vindesine, navelbine là những sản phẩm phối hợp những tính năng của cả vinblastine và vincristine có nhiều hứa hẹn trong lĩnh vực điều trị u thần kinh đệm mãn tính, u hắc sắc tố, u lympho bào, ung thư biểu mô trực tràng, đại tràng, vú, thực quản [64] Tương tự các loại thuốc kháng ung thư khác, các chế phẩm alkaloid của dừa cạn cũng gây một số phản ứng bất lợi như buồn nôn, nôn, nhức đầu, tiêu chảy, táo bón, tắc ruột, liệt, chán
ăn, viêm miệng, rụng tóc, giảm bạch cầu, viêm thần kinh Sử dụng liều cao và kéo dài có thể gây mù, tử vong Thuốc có thể gây độc cho thai, nên tránh dùng cho thai phụ và người đang nuôi con bằng sữa mẹ [45]
1.1.2.2 Alkaloid ở cây dừa cạn
Trong cây dừa cạn có khoảng 130 loại alkaloid, trong đó vinblastine và vincristine là hai hợp chất quan trọng nhất [107] Alkaloid có nhân indol được tìm thấy trong tất cả các bộ phận của cây, nhiều nhất trong lá và rễ Alkaloid toàn phần có ở lá dừa cạn với hàm lượng 0,37% - 1,15%, thân 0,40%, rễ chính 0,7% - 2,4%, rễ phụ 0,9% - 3,7%, hoa 0,14% - 0,84%, vỏ quả 1,14%, hạt 0,18% Trong các loại alkaloid đã được chiết từ cây dừa cạn, người ta đặc biệt chú ý 20 nhóm alkaloid có hoạt tính chống ung thư bao gồm vincristine và vinblastine
Căn cứ vào cấu tạo hóa học, alkaloid trong cây dừa cạn được chia làm ba nhóm chính: (1) Nhóm alkaloid nhân indole gồm có các loại như perivine, peviridine, perosine, catharanthine, cavicine, ajmalicin (2) Nhóm alkaloid nhân
Trang 20indoline: vindoline, ajmaline, lochnericine, lochneridine, lochrovine (3) Nhóm alkaloid có 2 vòng indole hoặc một vòng indole và một vòng indoline như leurosine, leubcosidine và đặc biệt là các alkaloid có tác dụng chữa bệnh ung thư nhưng có hàm lượng rất thấp như vinblastine (vincaleucoblastine) 0,005– 0,015% trong lá, vincristine (leucocristine) 0,003 – 0,005% trong lá [80]
1.2 SINH TỔNG HỢP ALKALOID VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ENZYME DAT
Ở CÂY DỪA CẠN
1.2.1 Quá trình sinh tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn
Trong những năm gần đây, con đường chuyển hóa tổng hợp các alkaloid ở cây dừa cạn được nghiên cứu khá chi tiết Ở mức độ phân tử, con đường chuyển hóa tổng hợp terpenoid indole alkaloid (TIA) ở cây dừa cạn rất phức tạp, chịu sự chi phối của nhiều nhân tố và với sự tham gia của 30 loại enzyme và trải qua 35 phản ứng trung gian [41], [107] Quá trình chuyển hóa tổng hợp các TIA trong cây dừa cạn trải qua 4 con đường, đó là con đường MEP (methyler-ythritol phosphate), con đường seco-iridoid, con đường shikmate và con đường vindoline (Hình 1.2)
Trong con đường MEP trải qua 7 phản ứng trung gian với sự tham gia của
6 enzyme và tạo nên sản phẩm cuối cùng là geranyl diphosphate (GPP) GPP là tiền chất để tạo các monoterpenoid trong đó có secologanin, sau đó được chuyển vào trong con đường seco - iridoid [33], [48]
Con đường seco - iridoid là con đường quan trọng trong quá trình tổng hợp các TIA Chất đầu tiên là geranyl diphosphate từ con đường seco - iridoid trải qua 9 phản ứng trung gian với sự tham gia của nhiều enzyme, trong đó enzyme SLS (secologanin synthase) là enzyme xúc tác cho phản ứng cuối cùng tạo thành sản phẩm là secologanin [31], [68]
Trang 21Con đường shikimate dẫn đến sự hình thành vòng thơm amino acid tryptophan, nguồn cung cấp vòng indole duy nhất cho sự chuyển hóa của cây bao gồm auxin, glucosinolate, phytoalexin, TIAs [25], [56] Tryptophan được tách cacboxyl để hình thành tryptamin bởi hoạt động xúc tác của enzyme tryptophan
decarboxylase, enzyme này được mã hóa bởi gen TDC (tryptophan decarboxyl)
[46], [76]
Con đường Seco-Iridoid
Con đường ME P
Con đường Shikmate
Geranyl diphosphate
Catharanthine
Dehydrosecodine Tabersonine
Con đường Vindoline
: Phản ứng trực tiếp; : Qua nhiều phản ứng; Khung màu cam : Con
đường chuyển hóa; Các khung màu xanh : Sản phẩm chuyển hóa
Trang 22Khi biểu hiện mạnh gen TDC với mục đích làm tăng tổng hợp các TIA lại không thành công vì sự biểu hiện quá mức của gen TDC phụ thuộc nhiều vào sự
có sẵn của tryptophan [115], [116] Secologanin kết hợp với tryptamine tạo nên phân tử strictosidine trong không bào và được xúc tác bởi enzyme strictosidine synthase [30], [49], [98]
Từ strictosidine trải qua nhiều phản ứng trung gian với sự tham gia của nhiều enzyme tạo nên dehydrosecodine Từ dehydrosecodine một hướng tạo thành tabersonine trong con đường vindoline, một hướng tạo thành catharanthine
để kết hợp với vindoline tạo thành Iminium
Tabersonine chuyển hóa thành vindoline cần có sự tham gia của ánh sáng
và ánh sáng tác động đến các giai đoạn phát triển khác nhau của cây [30], [49], [96], [115] Hầu như mọi nghiên cứu đều tập trung vào con đường tổng hợp vindoline, bởi vì vindoline liên quan trực tiếp đến sự hình thành các alkaloid, trong đó có vinblastine và vincristine Tuy nhiên khi quá trình tích lũy tabersonine ở mức độ cao lại thường không tổng hợp được vindoline [37],[71]
Con đường vindoline được miêu tả khá kỹ, từ tabersonine trải qua 6 phản ứng trung gian với sự tham gia của 6 loại enzyme để tạo nên deacetylvindoline
Từ tabersonine chuyển thành 16 - hydroxytabersonine được xúc tác bởi enzyme tabersonine -16 - hydroxylase (T16H), sau đó được methyl hóa bằng 16-hydroxytabersonine-16-O-methyl transferase (16OMT) tạo nên 16-methoxytabersonine [60] Sau đó trải qua bước oxi hóa để biến đổi từ 16-methoxy tabersonine thành 16 methoxy -2, 3-dihydrotabersonine bởi enzyme tabersonine 3-oxygenase (T3O) Các bước tiếp theo liên quan đến một enzyme N
- methyltransferase (NMT) để tạo nên deacetoxy vindoline [62] Hai phản ứng cuối cùng được xúc tác bởi hai enzyme là deacetoxy vindoline – 4 - hydroxylase (D4H) tạo deacetylvindoline và enzyme deacetylvindoline – 4 – O - acetyltransferase (DAT) tạo nên vindoline
Trang 23Vindoline là một tiền chất quan trọng trong chuỗi chuyển hóa tổng hợp nên vinblastine và vincristine Sau đó vindoline kết hợp với catharanthine tạo nên iminium, từ iminium tạo thành α 3’4’anhydrovinblastine (AVLB) với sự xúc tác của perosidase 1 (Prx1) để hình thành nên vinblastine và sau đó hình thành nên vincristine đánh dấu sự hoàn thiện quá trình sinh tổng hợp các TIA hữu ích ở cây dừa cạn [34], [57]
Prx là loại enzyme thực vật, định vị trong không bào, có khả năng sử dụng
H2O2 để oxy hóa một số hợp chất trung gian trong quá trình chuyển hóa, đặc biệt
là phenol Chức năng sinh hoá của Prx trong cây dừa cạn đã được phát hiện từ nghiên cứu về khả năng oxy hóa các hợp chất phenol khi sử dụng H2O2[51],[57]
Gen mã hoá enzyme Prx đã được phân lập từ hệ gen cây dừa cạn bởi Kumar và cs (2007) có kích thước 1357 bp, vùng mã hoá gồm 993 nucleotide, từ
nucleotide số 41 đến nucleotide số 1034 Protein Prx có 330 amino acid, trong đó
có 21 amino acid của đoạn peptide tín hiệu Khối lượng phân tử của Prx ước tính
khoảng 37,43 kDa và có giá trị pI là 8,68 Phân tử mRNA của gen Prx và enzyme
Prx đã được tìm thấy trong lá dừa cạn bằng phương pháp Northern blot và Western blot [57]
Cả catharanthine và vindoline đều được tổng hợp ở trong thân, rễ và lá của cây dừa cạn [59] Khi phân tích alkaloid bằng phương pháp sắc ký cho thấy, hàm lượng vindoline và catharanthine ở rễ và thân của cây rất thấp, khoảng từ 0,16
lá cao hơn các bộ phận khác của cây, đặc biệt cao nhất ở biểu bì lá cây dừa cạn Các nghiên cứu trước đây cho rằng, sự tích lũy catharanthine phụ thuộc vào sự có mặt của các TIA trên bề mặt của lá [87] Một phần catharanthine kết hợp với vindoline tạo sản phẩm cuối cùng vinblastine và vincristine, một phần catharanthine có trên bề mặt lá được hoạt động như lớp sáp chống lại sự phá
Trang 24hại của côn trùng và nấm mốc Bằng thực nghiệm các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phần hòa tan bằng chloroform bề mặt của lá dừa cạn chứa 100% catharanthine và 3–5% vindoline so với toàn bộ lá Sự tích lũy và chiết xuất catharanthine trên bề mặt lá đã cho thấy con đường sinh tổng hợp catharanthine xảy ra ở biểu bì lá [87]
Roepke và cs (2010) nghiên cứu ảnh hưởng của catharanthine đến loài
nấm Phytopthora nicotianiae cho thấy, catharanthine ức chế sự phát triển của
nấm trong môi trường có nồng độ 10 μg /ml Đây là nồng độ thấp hơn rất nhiều
so với nồng độ trung bình của catharanthine trong lá non và lá già là 14 μg và 23 μg/ml Các tác dụng chống côn trùng xâm hại của catharanthine được thí nghiệm
bằng cách cho các loài côn trùng như Spodoptera littoralis, Spodoptera eridania,
Helicoverpa armigera, Phaedon cochleariaeand Bombyx mori ăn lá cây dừa cạn
Kết quả cho thấy, ấu trùng của S eridania không ăn lá dừa cạn, trong khi hai loài là Spodoptera và B mori ăn lá mà không bị chết Ngược lại, P cochleariae không ăn lá trong vòng 5 ngày và bị chết đói Khi cho ấu trùng B mori ăn với
chế độ ăn trộn lá dừa cạn với lá dâu tằm đã cho thấy tỷ lệ tử vong giảm khi nghiền lá thành bột Mặt khác, khi cho ấu trùng ăn lá dâu tằm trộn với catharanthine tinh khiết thì chúng đã bị chết và tỷ lệ chết phụ thuộc vào liều lượng catharanthine [87]
Vinblastine hay còn gọi là vincaleucoblastine là tinh thể hình kim kết tinh bởi methanol, không tan trong nước và ether dầu hỏa, tan trong alcol, aceton, ethyl acetat, chloroforme [22] Vinblastine có khả năng ức chế sự hình thành các cấu trúc vi ống, được sử dụng trong điều trị các tế bào tiền ung thư, khối u ác tính, u sùi dạng nấm, ung thư phổi, ung thư vú, ung thư tinh hoàn và ung thư nhau thai
Vincristine hay còn gọi là leurocristine là tinh thể hình phiến, sau khi tiêm
Trang 25vincristine nhanh chóng phân bố vào các mô trong cơ thể và gắn với các yếu tố máu đã hình thành, đặc biệt là hồng cầu và tiểu cầu Vincristine thường được dùng để điều trị khối u ác tính ở trẻ em ở liều lượng thích hợp Mặt khác ở cả người lớn và trẻ em, vincristine là một phần cần thiết trong liệu pháp hóa học để chữa viêm bạch cầu cấp tính, bệnh lymphoma Hodgkin… Vincristine cũng đóng vai trò trong liệu pháp điều trị khối u Wilms, u nguyên bào thần kinh, tế bào ung thư phổi ở người lớn
Vinblastine và vincristine được tạo thành từ sự ghép nối của catharanthine (indole) và vindoline (dihydroindole) ở trạng thái tự do trong cây Vincristine cũng có cấu trúc tương tự như vinblastine, nhưng trong cấu tạo của vincristine, trên phân tử nitrogen indole của vindoline là nhóm formyl (CHO), còn ở vinblastine là nhóm methyl (CH3) [81], [121]
Hình 1.3 Công thức cấu tạo của vinblastine và vincristine [121]
Nghiên cứu của Amirjani (2013) cho thấy, khi gây hạn nhẹ cho cây dừa
cạn trong môi trường nuôi cấy in vitro đã làm tăng hàm lượng vinblastine và
vincristine Tuy nhiên, khi cây bị hạn nặng có thể ảnh hưởng đến việc tổng hợp vinblastine và vincristine [24]
Hiện nay, có thể tạo ra sự biến đổi vinblastine thành vincristine bằng
Trang 26phương pháp hóa học hay thông qua sự chuyển hóa của vi sinh vật Vinblastine
và vincristine liên kết đặc hiệu với tubulin là những protein vi ống ở thoi phân bào và ngăn cản sự kết hợp của những cấu trúc hình ống có ở trong nguyên sinh chất của nhiều tế bào di động, ngăn cản sự phân chia tế bào từ giai đoạn kỳ giữa của nguyên phân, do vậy hạn chế sự tăng sinh về số lượng tế bào Vinblastine có tác dụng chống ung thư bởi tác động chuyển hoá glutamate và aspartate, còn vincristine tác dụng chống ung thư do ngăn cản sự tổng hợp mRNA và các protein Ở nồng độ cao vinblastine và vincristine có thể diệt được tế bào, còn ở nồng độ thấp làm ngừng phân chia tế bào ở kỳ giữa Vì thế, chúng được sử dụng làm nguyên liệu bào chế thuốc điều trị ung thư [22]
1.2.2 Hoạt động của enzyme DAT và gen DAT
DAT là enzyme chìa khóa xúc tác cho phản ứng cuối cùng trong chuỗi tổng hợp vindoline từ deacetylvindoline ở cây dừa cạn [96], [82] Trong nghiên cứu của Benoit và cs (1998), sự hoạt động của enzyme DAT được xác định ở những cơ quan khác nhau của cây dừa cạn Enzyme DAT hoạt động cao nhất ở lá non, giảm xuống 76% ở lá già, ở thân là 5%, hoa khoảng 11% và ở rễ không đáng kể [26] Mối quan hệ giữa hoạt động của enzyme và sự tích lũy protein DAT được xác định bằng kết quả phân tích Western blot [26]
Để chứng minh mức độ hoạt động của enzyme DAT và gen CrDAT tương
quan với sự tích lũy các mRNA người ta đã tách chiết mRNA từ các bộ phận khác nhau của cây Sử dụng các kỹ thuật sinh học phân tử phân tích mRNA của
gen CrDAT ở các bộ phận khác nhau của cây dừa cạn cho thấy mRNA của gen
CrDAT có kích thước khoảng 1,3 kb xuất hiện nhiều nhất ở lá non, lá trưởng
thành và giảm dần trong thân cây và hoa, nhưng lại không có trong rễ cây [26] Khảo sát tác động của ánh sáng đến hoạt động của enzyme DAT cho thấy, khi cây dừa cạn non ở trong tối thì enzyme DAT hoạt động kém, nhưng sau khi điều
Trang 27chỉnh ánh sáng thì hoạt động của DAT tăng dần theo thời gian Phân tích Western blot cho thấy, khi cây ở trong tối protein DAT có trọng lượng phân tử khoảng 50 kDa và khi cây ở ngoài sáng trọng lượng phân tử của DAT tăng lên và đạt
khoảng 52 kDa [26],[99] Ánh sáng kích thích quá trình phiên mã gen CrDAT và
cùng với các gen mã hóa enzyme tham gia vào quá trình sinh tổng hợp các
alkaloid khác như deacetoxy vindoline 4 - hydroxylase (D4H) và tryptophan decarboxylase (TDC) [87], [109], [110]
Khi nghiên cứu gen DAT người ta đã xác định được gen DAT có ở 18 loài
thực vật (17-30%), số còn lại chưa biết hết chức năng Trong đó, 13 gen phân lập
từ loài Arabidopsis thaliana, 19 gen phân lập từ hoa cẩm chướng [23] Theo Pierre và cs (1998), gen CrDAT phân lập từ DNA genome cây dừa cạn có kích
St-thước 1320 bp, mã hóa enzyme DAT có 439 amino acid và DAT gồm 9 chuỗi polypeptid tham gia vào bước cuối cùng trong quá trình sinh tổng hợp vindoline
ở cây dừa cạn [96]
Quá trình phiên mã của gen liên quan đến chức năng của các nhân tố khởi đầu phiên mã, trong đó có mã mở đầu Tuy nhiên, sự phiên mã còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: vùng promoter, vùng mã hóa, các protein là nhân tố phiên
mã Các nghiên cứu cũng cho thấy gen CrDAT chỉ được biểu hiện khi có tín
hiệu của ánh sáng hoặc tín hiệu methyl jasmonate [106] Wang và cs (2010), đã
mô tả trình tự của 3 đoạn TGACG liên quan đến con đường tín hiệu methyl
của gen CrDAT có đoạn motif liên quan đến tín hiệu ánh sáng Ngoài ra, một số
motif khác có liên quan đến nhân tố vô sinh và hữu sinh, hormon sinh trưởng
như gibberellin và auxin [114] Gen CrDAT biểu hiện mạnh nhất ở biểu bì lá cây dừa cạn, nhưng ở cây Arabidopsis thaliana có thêm một số các promoter khác liên quan tới việc biểu hiện gen CrDAT trong tế bào biểu bì lá [114 ]
Trang 281.3 NGHIÊN CỨU CẢI THIỆN HÀM LƯỢNG ALKALOID Ở CÂY DỪA CẠN
1.3.1 Nâng cao hàm lượng alkaloid ở cây dừa cạn bằng phương pháp nuôi cấy mô tế bào thực vật
Hướng nghiên cứu thu nhận alkaloid từ nuôi cấy tế bào huyền phù và phương pháp sản xuất catharanthine và ajmalicine trong dịch huyền phù được nuôi cấy trong bình bioreactor đã được thử nghiệm thành công Moreno và cs (1995), đã đánh giá tác động của các chất cảm ứng đến con đường chuyển hóa tổng hợp các hợp chất thứ cấp trong nuôi cấy tế bào huyền phù đối với dừa cạn
[71] Sử dụng dịch chiết tế bào nấm Phytium aphanidermatum đã tiệt trùng để
nghiên cứu ảnh hưởng của chúng đến quá trình chuyển hóa tổng hợp alkaloid của
tế bào dừa cạn Kết quả cho thấy, các tế bào nuôi cấy huyền phù đã phản ứng lại tác động của nấm Zhao và cs (2001), đã thử nghiệm nhiều chất cảm ứng nhận được từ 12 loại nấm và ảnh hưởng của chúng lên việc tăng cường tổng hợp alkaloid ở tế bào huyền phù cây dừa cạn Kết quả nghiên cứu cho thấy, chất chiết
từ nấm đã kích thích sự tích lũy các alkaloid, có thể tăng gấp 2 đến 5 lần so với ở điều kiện nuôi cấy bình thường [118]
Zhao và cs (2001), đã tăng sản phẩm catharanthine trong tế bào nuôi cấy
cây dừa cạn bằng cách kết hợp với chất cảm ứng nuôi trong bình bioreactor Tác
động tổng hợp lên sự tích lũy alkaloid trong tế bào nuôi cấy đã được phân tích khi chúng được xử lý bởi sự kết hợp giữa chất cảm ứng của nấm và hóa chất Sự
kết hợp giữa tetramethyl ammonium bromide và nấm sợi Aspergillum niger đã
cho hiệu suất tổng hợp ajmalicine cao nhất và cải thiện sự tích lũy catharanthine [118] Tương tự, sự kết hợp giữa chất cảm ứng malate và sodium alginate cho hiệu suất tổng hợp catharanthine cao và cũng tạo ra sự tích lũy ajmalicine trong tế bào nuôi cấy Các tác giả sau đó đã phát triển quy trình nuôi cấy trong bình bioreactor nhằm nâng cao hàm lượng catharanthine ở tế bào dừa cạn trong môi
trường nuôi cấy in vitro Sau 10 ngày nuôi cấy đã thu được catharanthine với
Trang 29hiệu suất theo thứ tự là 25 mg/1, 32 mg/1 và 22 mg/1 trong bình lắc có dung tích
500 ml, 1000 ml và bình bioreactor dạng sục khí 20 lít
Nuôi cấy mô sẹo là nguồn sản xuất alkaloid chính Miura và cs (1987) đã
cô lập vinblastine từ mô sẹo cây dừa cạn hình thành từ những đoạn lá non Sử dụng môi trường MS có bổ sung NAA 1.0 mg/1 và kinetin 0.1 mg/1 Các mô sẹo
đã được nuôi cấy trong môi trường tối Sự hiện diện của vinblastine trong mô sẹo của những rễ khác nhau đã được xác định bằng phương pháp sắc lý lỏng cao
áp (HPLC) và phép đo phổ khối lượng Lượng vinblastine (1pg/g chất khô), thấp hơn so với cây mẹ
Năm 1993, nghiên cứu của Marfori và Alejar về khả năng sản xuất alkaloid của những mô sẹo có nguồn gốc từ rễ, thân, lá và hoa của hai giống dừa cạn hoa màu trắng và hoa màu hồng tím Kết quả đã thu được tám dòng
mô sẹo bằng cách sử dụng môi trường MS bổ sung BAP 3.0 mg/1, 2,4-D 0.5 mg/1 và nước dừa Sau khi các mô được hình thành thì được chuyển vào môi trường MS không có chất điều hòa sinh trưởng và được nuôi trồng trong 1 năm Hàm lượng alkaloid cao nhất là trong cây dừa cạn hoa màu hồng tím và trong mô sẹo có nguồn gốc từ rễ
Trong nghiên cứu của Bùi Văn Lệ, Nguyễn Ngọc Hồng thì mô sẹo
xanh được cảm ứng từ lá cây dừa cạn in vitro được nuôi trong môi trường
MS lỏng có bổ sung các chất điều hòa tăng trưởng thực vật khác nhau gồm
có auxin và cytokinin Ở nồng độ NAA: 1,0 mg/l và kenetin 0,5 mg/l thu nhận được sinh khối và alkaloid toàn phần cao nhất trong khi cũng ở môi trường này nhưng thay thế NAA bằng 2,4-dichlorophenoxyacetic acid (2,4-D) ở cùng nồng độ thu được sinh khối và alkaloid toàn phần thấp [9]
Theo cách tiếp cận khác, Allen và cs (2002), đã đề xuất hướng nhân giống
in vitro cây dừa cạn bằng cách nuôi cấy mô phân sinh ngọn và chồi nách từ
những cây được trồng trong nhà kính [23] Các tác giả đã sử dụng môi trường
MS cơ bản có bổ sung BAP và 2,4D ở nồng độ thấp Những chồi nách nuôi cấy
Trang 30sẽ hình thành chồi ngọn sau 4 - 5 tuần nuôi cấy Một phần những cành đã nhân
giống được chuyển vào nuôi cấy tiếp, sau đó chúng được cắt, tạo rễ in vitro trong
môi trường MS được bổ sung với NAA và được trồng, sinh trưởng và phát triển trong nhà kính với độ ẩm tương đối 100%
Trong những năm gần đây, một hướng nghiên cứu tăng sinh khối dừa cạn bằng phương pháp nuôi cấy rễ, chủ yếu là tạo rễ tơ trong ống nghiệm và kết quả
là sinh khối dừa cạn đã tăng lên đáng kể Sự phát triển của kỹ thuật nhân giống
và phương pháp nuôi cấy rễ tơ in vitro là rất đáng chú ý và có thể trở thành giải
pháp quan trọng để giải quyết việc thu nhận các alkaloid từ cây dừa cạn Sự tổng hợp các hợp chất thứ cấp nhiều hơn ở những cây trồng trong tự nhiên, hàm lượng alkaloid trong rễ tơ có thể tương đương hoặc cao hơn so với hàm lượng ở rễ tự nhiên Các alkaloid chiếm ưu thế trong rễ tơ được tìm thấy là ajmalicine, serpentine, vindoline và catharanthine với hàm lượng cao hơn trong rễ cây dừa cạn tự nhiên
Năm 2010, Shihai và cs đã kết hợp các chất kích thích tăng trưởng thực
vật như ethylene (0,1 mM) + chlormequat clorua (0,1 mM), salicylic acid (0,1 mM) + chlormequat clorua (0,1 mM) và salicylic acid (0,1 mM) + ethylene (0,1 mM) + chlormequat clorua (0,1 mM) nhằm tăng hàm lượng vindoline, catharanthine và vinblastine Trong đó, nhóm kết hợp salicylic acid (0,1 mM) + ethylene (0,1mM) + chlormequat clorua (0,01 mM) và salicylic acid (0,1 mM) + ethylene (0,1mM) + chlormequatclorua (1mM) có ảnh hưởng đến hàm lượng vindoline và catharanthine nhưng không có tác dụng với vinblastine Trong số các phương pháp kết hợp thì kết hợp giữa salicylic acid (0,1 mM) + ethylene (0,1 mM), ethylene (0,1 mM) + chlormequat clorua (0,1 mM) và salicylic acid (0,1 mM) + ethylene (0,1 mM) + chlormequat clorua (0,1 mM) có thể làm tăng đáng kể hàm lượng vinblastine tương ứng bằng 209 % ở 48 giờ, 246 % ở 48 giờ và 213 %
ở 24 giờ [91] Như vậy, so với phương pháp sử dụng đơn chất thì phương pháp kết
Trang 31hợp các chất hóa học đã tích lũy alkaloid có hiệu quả hơn Kết quả này có thể ứng dụng vào sản xuất alkaloid ở cây dừa cạn trên quy mô công nghiệp
Cũng theo hướng này, kết quả nghiên cứu của Zhao và cs (2013) đã làm rõ ảnh hưởng của các yếu tố đến quá trình tổng hợp alkaloid và đề xuất con đường chuyển hóa các chất trong quá trình tổng hợp alkaloid ở cây dừa cạn [119]
1.3.2 Nâng cao hàm lƣợng vinblastine và vincristine bằng kỹ thuật chuyển gen
1.3.2.1 Nghiên cứu xây dựng quy trình chuyển gen ở thực vật thông qua chuyển gen gus nhờ A.tumefaciens
Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu ở nước ta đã quan tâm đến xây dựng quy trình chuyển gen ở loài cây lương thực, cây thực phẩm và cây lâm
nghiệp thông qua chuyển gen mã hóa β-glucuronidase (gus) β-glucuronidase được phân lập từ chủng E coli RA201, là một hydrolase xúc tác cho sự phân giải
các β-glucuronide kết quả cho sản phẩm có màu xanh lam đặc trưng, dễ nhận biết Cơ chất của β-glucuronidase thường dùng trong phản ứng để nhận biết sự
tồn tại của gen gus là X-gluc (5-bromo-4-chloro-3-indolyl-β-D-glucuronide)
Dung dịch X-gluc không màu dưới tác động của β-glucuronidase sẽ chuyển sang
màu xanh lam Nhờ đặc tính này mà các nhà khoa học đã thiết kế gen gus vào các
vector chuyển gen để làm chỉ thị nhận biết gen chuyển có mặt ở mô, tế bào thực vật [52]
Trong 10 năm trở lại đây, các nghiên cứu xây dựng quy trình chuyển gen ở
Việt Nam thông qua biểu hiện gen gus đã được quan tâm Đoàn Thu Thủy và cs
(2008), đã nghiên cứu và đánh giá sự hoạt động của 4 promoter (Rd29A, Gt1, RCg2 và CaMV35S) nhằm chọn ra một promoter thích hợp cho quá trình chuyển
gen vào cây lúa thông qua sự biểu hiện của gen gus Tác giả nhận thấy, các
promoter khác nhau không có ảnh hưởng đáng kể đến sự hình thành mô sẹo và
khả năng tái sinh in vitro Sự biểu hiện tạm thời của gen gus ở phôi non của lúa
Trang 32sau khi chuyển gen bằng súng bắn gen cũng không phụ thuộc vào promoter được
thiết kế trong vector Tuy nhiên, gen gus biểu hiện bền vững chỉ quan sát được ở
cây chuyển gen khi sử dụng promoter RCg2 [19] Trong nghiên cứu chuyển gen
ở cây lúa thông qua A.tumefaciens, Lê Trần Bình (2008) đã rút ra nhận xét về
điều kiện tối ưu cho chuyển gen ở lúa là mật độ vi khuẩn thích hợp là OD = 1,6 - 1,9 và nồng độ AS 200µM, phôi non và mô sẹo 3 tuần tuổi là vật liệu nhận gen,
đồng nuôi cấy với A tumefaciens trong 3 ngày, chọn lọc bằng carbenicillin 250
mg/l và cefotaxim 100 mg/l [1] Nghiên cứu cải tiến quy trình chuyển gen ở lúa của Hoàng Thị Giang và cs (2015), theo hướng thao tác đơn giản, giảm thiểu khối lượng công việc, nhưng hiệu suất chuyển gen cao Theo quy trình này, dịch
khuẩn A tumefaciens có mật độ OD600nm = 0,1 là tối ưu với tần số biểu hiện gen
gus ở mô sẹo cao (81,25%) và tỷ lệ mẫu nhiễm thấp Đánh giá sự biểu hiện của
gen gus và phân tích cây chuyển gen ở thế hệ T1 đã chứng minh sự di truyền ổn định của gen chuyển sang thế hệ sau [4] Nghiên cứu chuyển gen gus vào đậu
tương của Đinh Thị Phòng và cs (2007) cho thấy, thời gian nhiễm khuẩn cho hiệu
quả biến nạp gen gus tốt nhất là 2 giờ, biểu hiện qua tỷ lệ mẫu sống sót là 67,5 %,
tỷ lệ mẫu tạo cụm chồi là 47% và hiệu quả biểu hiện gen gus ở cây tái sinh in vitro
đạt 12,8% [15] Ngoài cây lúa, nghiên cứu xây dựng quy trình chuyển gen ở một
số cây trồng khác như khoai lang, sắn, cà chua, dưa dấu cũng được quan tâm Theo Vũ Thị Lan và cs (2013), vật liệu nhận gen là mảnh cấy từ đỉnh ngọn được
nhiễm với A.tumefaciens CV58 ở nồng độ OD600nm = 0,8, bổ sung AS 150µM
trong 20 - 30 phút, thu được tỉ lệ biểu hiện tạm thời gen gus cao nhất (38%) Mô
sẹo chuyển gen được chọn lọc trên môi trường CP3 bổ sung cefotaxim 500 mg/l, kanamycine 50 mg/l trong 3 - 4 tuần Chồi tái sinh từ các mô sẹo sống sót được chọn lọc tiếp trên môi trường ra rễ MS bổ sung kanamycine 100 mg/l Kết quả
ban đầu về chuyển gen gus vào giống khoai lang KB1 là hầu hết các dòng mô sẹo sống sót đều biểu hiện hoạt động gen gus (có màu xanh chàm rất đậm) và thu
Trang 33được 8/21 dòng cây khoai lang chuyển gen gus ra rễ trên môi trường chọn lọc bổ sung kanamycine 50 mg/l [8] Một số nghiên cứu khác như chuyển gen gus ở cây
cà chua của Đỗ Xuân Đồng và cs (2007), ở cây dưa hấu của Nguyễn Thị Thanh Nga và cs (2012), ở cây dầu mè của Võ Thị Thúy Huệ và cs (2011), ở cây thông nhựa của Vương Đình Tuấn và cs (2012), ở cây xoan ta của Bùi Văn Thắng và cs (2013) Ngoài ra, nghiên cứu chuyển gen cũng được tiến hành trên cây lan hồ
điệp (Phalaenopsis amabilis) của Trần Lê Lưu Li và cs (2008) với thí nghiệm lây nhiễm bởi A.tumefaciens CV58 pGV2260 mang vector 35S -GUS-INT chứa gen
uidA và nptII và thu được kết quả biểu hiện gus tối ưu ở nồng độ AS 50μM sau 4
ngày đồng nuôi cấy [3], [6], [11], [14], [18], [21]
1.3.2.2 Thành tựu nghiên cứu chuyển gen ở cây dừa cạn
Trong những năm gần đây, nghiên cứu chuyển gen ở cây dừa cạn nhờ vi
khuẩn Agrobacterium rhizogens (A rhizogens) được nhiều tác giả quan tâm [28],
[47], [50], [78], [101], [102],[ 117] Nghiên cứu của Mohsen Zargar và cs (2010) cho thấy, các dòng cây dừa cạn chuyển gen có hàm lượng alkaloid tăng đáng kể
so với các dòng cây không chuyển gen [70]
Các nghiên cứu chuyển gen tạo rễ tơ ở cây dừa cạn thông qua vi khuẩn A
rhizogens cho thấy kiểu hình của cây chuyển gen thông qua A rhizogens có sự
biểu hiện khác thường như gióng cây ngắn, lá nhăn và khối lượng rễ nhiều [35], [66], [81]
Năm 2010, Wang và cs đã chuyển gen G10H và ORCA3 (một nhân tố của
họ AP2) vào cây dừa cạn thông qua vi khuẩn A rhizogens MSU440 Phân tích
mức độ tích lũy alkaloid cho thấy rằng, tất cả các cây chuyển gen đều tích lũy catharanthine nhiều hơn 6,5 lần so với các cây không chuyển gen và mức độ tích
lũy cao nhất ở các cây chuyển gen OG12 Sau khi xử lý với ABA, mức độ tích lũy catharanthine đạt 1,96 mg/g khối lượng khô ở cây chuyển gen OG12 Các
Trang 34mức độ biểu hiện của các gen liên quan đến quá trình sinh tổng hợp các TIA trong các dòng cây chuyển gen và cây không chuyển gen cũng đã được phân tích
[114] Năm 2012, Mei và cs đã sử dụng A rhizogens A4 để tạo rễ tơ và cho thấy nồng độ kanamycine phù hợp cho chuyển gen là 100 mg/l Gen CrORCA3 được
biểu hiện mạnh bằng phương pháp nhuộm cytohistochemical đã được sử dụng để chứng minh gen đã được chuyển vào tế bào rễ cây dừa cạn [69]
Gần đây, một vài nghiên cứu chuyển gen thông qua A tumefaciens đã
được thực hiện ở cây dừa cạn bằng phương pháp biến nạp qua mô sẹo và các vật liệu nhận gen khác của cây dừa cạn [94], [111] Tuy nhiên, hệ thống chuyển gen chưa được chứng minh thông qua các thí nghiệm phân tích Southern blot và sắc
ký lỏng cao áp HPLC Để giải quyết vấn đề này, nghiên cứu của Wang và cs (2012) đã phát triển hệ thống tái sinh và chuyển gen thành công vào cây dừa cạn
thông qua A tumefaciens Kết quả chuyển gen được chứng minh bằng các phân tích sinh học phân tử, xác định được sự hoạt động của gen chuyển CrDAT trong
quá trình sinh tổng hợp các TIA và kiểm tra sự tăng tích lũy vindoline ở cây chuyển gen bằng phân tích sắc ký lỏng HPLC [113]
Chuyển gen qua nuôi cấy dịch huyền phù tế bào được lây nhiễm bởi vi
khuẩn Agrobacterium được nghiên cứu sâu hơn [31], [66], [108] Nhưng các
dòng tế bào chuyển gen có sự tổng hợp alkaloid không ổn định và khả năng tích lũy các TIA giảm dần qua các lần cấy chuyển [115] Mohsen Zargar và cs (2010), nghiên cứu chuyển gen vào rễ cây dừa cạn khi sử dụng lá mầm trên môi trường
MS cơ bản có bổ sung BAP và NAA Sau 10 ngày ra rễ trên môi trường MS cơ bản, rễ có chiều dài 8-9 cm và hình thái cây dừa cạn chuyển gen không có gì khác so với cây không chuyển gen [70] Alkaloid tạo ra được chiết suất và phân tích bằng sắc ký lỏng (HPLC) đã xác định được hai loại alkaloid quan trọng là vinblastine và vincristine
Trang 35Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu chuyển gen thông qua
A.tumefaciens ở dừa cạn đã thu được kết quả đáng khích lệ Verma và Mathur
(2011), đã chuyển gen uidA vào dừa cạn sử dụng vector chuyển gen pBI121 có chứa gen gus và gen kháng kanamycine nptII Hiệu quả chuyển gen cao nhất đạt
1,4 chồi/ mẫu biến nạp khi gây cảm ứng với lá trước 10 ngày Các tác giả sử
dụng kỹ thuật PCR để chứng minh gen uidA đã được chuyển vào cây dừa cạn
[114]
Năm 2012, Wang và cs đã đề xuất quy trình chuyển gen thông qua A
tumefaciens EHA105 sử dụng gen chỉ thị gus Trong nghiên cứu này, các tác giả
đã sử dụng vật liệu chuyển gen là lá mầm, nuôi cấy trên môi trường MS có chứa
AS 100 µM, thời gian nhiễm khuẩn là 30 phút có bổ sung kanamycine [81] Sau
khi chuyển thành công gen gus vào cây dừa cạn Tác giả dựa trên quy trình đó và
đã chuyển gen CrDAT vào cây dừa cạn Đây là báo cáo đầu tiên tính đến thời điểm công bố chuyển gen qua A tumefaciens ở cây dừa cạn Quan trọng hơn, việc chuyển thành công gen CrDAT vào cây dừa cạn đã khẳng định việc ứng
dụng kĩ thuật chuyển gen ở cây dừa cạn được phát triển hoàn thiện và nâng cao tích lũy vindoline trong cây chuyển gen [112]
Các nghiên cứu chuyển gen ở cây dừa cạn hiện nay trên thế giới mới chỉ công bố thành công ở mức độ nuôi cấy mô trong phòng thí nghiệm Song các kết quả nghiên cứu này đã khẳng định tính khả thi của hướng nghiên cứu tạo cây dừa cạn chuyển gen nâng cao khả năng tổng hợp vinblastine và vincristine phục vụ
điều chế thuốc chữa trị ung thư hiệu quả
Ở Việt Nam nhiều tác giả cũng quan tâm nhiều đến giá trị dược học của cây dừa cạn và đã có một số nghiên cứu tách chiết, xác định hàm lượng và thu nhận
alkaloid từ cây dừa cạn trong nuôi cấy in vitro Năm 2006, với công trình của Bùi
Văn Lệ, Nguyễn Ngọc Hồng nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa tăng trưởng thực vật và đường saccarozơ lên dịch nuôi cấy huyền phù tế bào dừa cạn
Trang 36Catharanthus roseus [9] Đào Hùng Cường và Lê Xuân Văn (2011) đã tiến hành
nghiên cứu thành phần hóa học của cây dừa cạn bằng phương pháp tách chiết alkaloid Bằng việc sử dụng phương pháp sắc kí lỏng khối phổ (LC – MS) đã xác định được 2 alkaloid quan trọng là vinblastine và vincristine từ rễ cây dừa cạn hoa màu hồng tím [2] Tuy nhiên, cho đến nay ở nước ta chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu nâng cao hàm lượng alkaloid ở cây dừa cạn bằng kỹ thuật chuyển gen
Trang 37Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
2.1.1 Vật liệu thực vật
Hạt của giống dừa cạn màu hoa hồng tím (TN1) và màu hoa trắng (TN2) thu thập tại tỉnh Thái Nguyên
Giống thuốc lá Nicotinana tabacum K326 có nguồn gốc từ Viện kinh tế kỹ
thuật thuốc lá, do Phòng tế bào Thực vật, Viện Công nghệ Sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cung cấp
2.1.2 Chủng vi khuẩn và các loại vector
Các chủng vi khuẩn E Coli (DH5α), chủng A tumefaciens CV58 do
Phòng Công nghệ tế bào thực vật, Viện Công nghệ Sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cung cấp
Các loại vector tách dòng pBT, vector pCB-gusplus, vector pRTRA7/3, vector chuyển gen pBI121 (Phụ lục 1) do Phòng Công nghệ ADN ứng dụng, Viện Công nghệ Sinh học - Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam cung cấp
2.2 HÓA CHẤT, THIẾT BỊ VÀ ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
2.2.1 Hóa chất, thiết bị nghiên cứu
Hóa chất
Hóa chất tinh khiết sử dụng trong phân tích sinh học phân tử có nguồn gốc
từ các hãng Fermentas, Bio-Neer, Invitrogen, như Trizol Reagents, kít Maxima® First Strand cDNA Synthesis, kít GenJET PCR Purification, kít Plasmid
Extraction, taq-polymerase, buffer PCR, EDTA, Tris, agarose, enzyme giới hạn như BamHI, NotI, NcoI, HindIII, T4 ligase, kháng sinh kanamycine, rifamycine,
Trang 38cefotaxime, carbenicillin và một số hóa chất khác có nguồn gốc từ các hãng Fermentas, Invitrogen, Sigma, Amersham và một số hãng khác
Thang chuẩn 1 kb của hãng Guangzhou Genshun Biotech Ltd Kháng thể
1 (anti-cmyc từ chuột), kháng thể 2 (anti-mouse-Ig, Horseradish peroxidase) được đặt tổng hợp từ hãng GE Health UK Limited
Thiết bị
Máy PCR System 9700 (Appied Biosystem, Mỹ), máy điện di Powerpac
300 (Bio-Rad, Mỹ), máy soi DNA (Mini-transllumminatior, Bio-Rad, Mỹ), máy chụp ảnh (Amersham Pharmacia Biotech, Thuỵ Điển), máy Vortex (Mimishaker, IKA, Đức), máy hút chân không Speed-Vac 110A (Savant, Mỹ), máy ly tâm, máy xung điện Gen Plulser,… cùng một số các thiết bị khác phục vụ cho nghiên cứu
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu và hoàn thành luận án
Các thí nghiệm phân lập gen, chuyển gen được thực hiện tại Phòng công nghệ gen và Phòng thí nghiệm Công nghệ tế bào thực vật, Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên Các thí nghiệm thiết kế vector chuyển gen, phân tích cây chuyển gen được thực hiện tại Phòng thí nghiệm trọng điểm công nghệ gen, Phòng Công nghệ ADN ứng dụng và Phòng công nghệ tế bào thực vật thuộc Viện công nghệ sinh học, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Luận án được hoàn thành tại Bộ môn Sinh học hiện đại&Giáo dục sinh học, Khoa Sinh học, Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
2.3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Các thí nghiệm trong đề tài luận án được tiến hành theo sơ đồ khái quát ở hình 2.1
Trang 39Chuyển cấu trúc mang gen
CrDATvào cây thuốc lá
Phân tích cây thuốc lá
chuyển gen ở T0 bằng PCR,
Southern blot, Western blot
Chuyển cấu trúc mang gen
CrDAT vào cây dừa cạn
Phân tích cây dừa cạn
chuyển gen CrDAT ở T0, T1
Đánh giá chức năng sinh học của gen chuyển ở T1
Khảo sát điều kiện tối ưu tái
sinh in vitro cây dừa cạn từ
đoạn thân và nách lá mầm
Xây dựng quy trình chuyển gen qua nách lá mầm nhờ
A.tumefaciensthông qua
chuyển gen gus
Phân lập, nghiên cứu đặc điểm
gen CrDATcủa cây dừa cạn
Thiếtkế vector chuyển gen thực
vật mang gen CrDAT
Hình 2.1 Sơ đồ thí nghiệm tổng quát
2.3.1 Các phương pháp sinh học phân tử
2.3.1.1 Nghiên cứu thông tin về gen và thiết kế cặp mồi nhân gen
Dựa trên những thông tin về trình tự gen CrDAT của cây dừa cạn đã công
bố trên Ngân hàng gen quốc tế mang mã số AF053307 [97] cặp mồi đặc hiệu
DAT- NcoI/DATR-NotI đã được thiết kế để khuếch đại đoạn mã hoá enzyme DAT từ cDNA và dự kiến kích thước đoạn cDNA được nhân bản là 1320 bp
Cặp mồi XbaI-DAT-F/cmyc-KDEL-SacI-R sử dụng cho PCR để kiểm tra cây
chuyển gen dự kiến có kích thước là 1383 bp (Bảng 2.1)
Trang 402.3.1.2 Phân lập gen
Tách chiết RNA tổng số và tổng hợp cDNA
RNA tổng số được tách chiết bằng Trizol Reagent Kit cDNA được tổng hợp theo quy trình Maxima® First Strand cDNA Synthesis Kit và được tách chiết theo quy trình hướng dẫn của nhà sản xuất
Bảng 2.1 Các cặp mồi sử dụng trong nghiên cứu
Ký hiệu Trình tự nucleotide (5’-3’)
Sản phẩm
dự kiến (bp)
DAT-NcoI-F/
DAT-NotI-R
CATGCCATGGATGGAGTCAGGAAAAATATC
1320 TTGCGGCCGCATTAGAAACAAATTGAAGTA
XbaI-DAT-F/
cmyc-KDEL-SacI-R
CGTCTAGAATGGAGTCAGGAAAAATATCGG
1383 CCGAGCTCCTAGAGTTCGTCTTTGGAACC
Kỹ thuật PCR khuếch đại gen CrDAT
Gen CrDAT được khuếch đại bằng kỹ thuật PCR với cặp mồi đặc hiệu