KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TẠ NGỌC HẢI
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Tạ Ngọc Hải
Luận văn cao học này là sản phẩm của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trình bày của tác giả về đề tài luận văn Mọi số liệu, quan điểm, quan niệm của các tài liệu và các nhà nghiên cứu khác được trích dẫn theo đúng quy định Các số liệu trong luận văn là số liệu trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên Nguyễn Thị Cẩm Giang
Trang 4
Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Tạ Ngọc Hải đã tận tình hướng dẫn bản thân tôi nghiên cứu hoàn thành tốt luận văn này
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Tư pháp Quảng Ngãi đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia chương trình đào tạo cao học và hỗ trợ thông tin, tài liệu giúp hoàn thành luận văn
Trong quá trình thực hiện, luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ của quý thầy giáo, cô giáo và người đọc
Xin chân thành cảm ơn!
Học viên Nguyễn Thị Cẩm Giang
Trang 5
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
3.1 Mục đích nghiên cứu 5
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
4.1 Đối tượng nghiên cứu 6
4.2 Phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7
7 Kết cấu của luận văn 7
CHƯƠNG 1: 9
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 9
1.1 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 9
1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 9
1.1.2 Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 11
1.1.3 Hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 12
1.1.4 Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 13
1.2 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 18
1.2.1 Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 18
1.2.2 Đặc điểm của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện 20
1.2.3 Nguyên tắc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện 21
Trang 61.2.4 Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân,
Ủy ban nhân dân cấp huyện 22
1.2.5 Phương thức, quy trình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện 25
1.2.6 Thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 33
1.2.7 Các dấu hiệu sai phạm, hình thức và thẩm quyền xử lý các văn bản quy phạm pháp luật 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 39
2.1 Giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi 39
2.1.1 Điều kiện tự nhiên 39
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 41
2.2 Những kết quả đạt được trong hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 43
2.2.1 Về mặt tích cực 43
2.2.2 Về mặt hạn chế 57
2.2.3 Nguyên nhân 61
2.3 Các yêu cầu, điều kiện đảm bảo nâng cao chất lượng công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 67
2.3.1 Về chỉ đạo điều hành 67
2.3.2 Về nhân lực phục vụ cho hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 70
2.3.3 Về tài chính phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 72
2.3.4 Các điều kiện khác đảm bảo cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 72
2.4 Kinh nghiệm đúc kết 73
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 76
Trang 73.1 Giải pháp chung về hoàn thiện hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 76 3.2 Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện 78 3.2.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 78 3.2.2 Tạo cơ chế phối hợp đồng bộ, thuận lợi để công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có kết quả thiết thực 82 3.2.3 Kiên quyết xử lý đối với các kiến nghị qua kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 86
3.2.4 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 87 3.3.5 Chuyên môn hóa lĩnh vực kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 94
3.3.6 Giải pháp về bảo đảm các điều kiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 95 KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 81
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xu thế khách quan, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, đây là nhân tố quyết định cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay Một trong những tiêu chí quan trọng để xây dựng nhà nước pháp quyền là phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện, chính vì vậy tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/8/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm
2020 đã đề ra mục tiêu Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ,
thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm
2020 Để có hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, trong thời gian qua nhà
nước đã đề ra nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản
Năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Ban hành văn bản quy pham pháp luật của HĐND và UBND Luật này quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND Đây là một văn bản pháp lý quan trọng giúp cho các cấp chính quyền địa phương ban hành những văn bản QPPL để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước
Trang 92
Kể từ khi triển khai thực hiện Luật 2004, tại tỉnh Quảng Ngãi, HĐND
và UBND các cấp đã ban hành một số lượng văn bản QPPL tương đối lớn Có rất nhiều hoạt động đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất được triển khai trong quá trình ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND như: thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, theo dõi thi hành pháp luật được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì văn bản QPPL của HĐND và UBND các cấp vẫn chưa đáp ứng được với yêu cầu quản lý, những thay đổi hàng ngày của đời sống xã hội và bộc lộ một số vấn đề bất cập
Đối với cấp huyện, qua khảo sát việc kiểm tra văn bản theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và
xử lý văn bản QPPL (sau đây gọi tắt là Nghị định 40) và Chỉ thị số 32/2005/CT-TTg ngày 10/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL (sau đây gọi tắt là Chỉ thị 32)
đã đạt được một số kết quả, góp phần tích cực vào việc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất trong ban hành văn bản cũng như từng bước nâng cao dần chất lượng của hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản của HĐND và UBND cấp huyện Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra văn bản QPPL ở cấp huyện vẫn còn nhiều tồn tại như: Công tác kiểm tra văn bản chưa được cơ quan kiểm tra tiến hành thường xuyên, liên tục; hoạt động kiểm tra còn sơ sài, qua loa, chủ yếu kiểm tra về thể thức và kỹ thuật trình bày mà chưa đi sâu vào nội dung văn bản; nhiều huyện không tuân thủ tính kịp thời trong việc gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện kiểm tra theo đúng quy định; các phương thức kiểm tra chưa triển khai đồng đều; nhiều văn bản có dấu hiệu trái pháp luật chưa được phát hiện xử lý kịp thời hoặc phát hiện chưa đầy đủ; việc theo dõi quá trình xử lý văn bản trái pháp luật của các cơ quan ban hành chưa chặt chẽ Đặc biệt, tình trạng văn bản chưa được cơ quan ban hành tự
Trang 103
kiểm tra, xử lý kịp thời sau khi nhận được thông báo kiến nghị xử lý của cơ quan kiểm tra văn bản còn phổ biến buộc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản phải đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần
Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ việc các cấp, các ngành chưa thực sự quan tâm và đề cao tầm quan trọng của công tác kiểm tra văn bản; lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản chậm được kiện toàn, còn thiếu về số lượng và chưa đáp ứng được trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; việc gửi văn bản QPPL sau khi ban hành đến cơ quan tư pháp cấp trên để kiểm tra chưa thường xuyên, đầy đủ Kinh phí, trang thiết bị làm việc chưa đáp ứng với hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản; cơ sở dữ liệu kiểm tra văn bản, nguồn văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý phục vụ cho hoạt động kiểm tra văn bản chưa được xây dựng, trang bị đầy đủ
Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Kiểm tra văn bản quy
phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn tốt nghiệp khóa học, với mong
muốn được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về cơ sở lý luận, thực trạng của hoạt động này hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, qua đó đề xuất một số giải pháp để tiếp tục góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian đến
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, hội thảo, các bài viết về kiểm tra văn bản QPPL Trong điều kiện của bản thân học viên đã tham khảo các tài liệu sau:
- Đề tài khoa học: “Giải pháp tăng cường năng lực các cơ quan tư
pháp địa phương trong việc giúp UBND các cấp xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật” do cơ quan Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi chủ trì
thực hiện năm 2002, chủ nhiệm đề tài Lê Công Hòa Đề tài khoa học giới
Trang 114
thiệu tổng quan về tình hình, thực trạng xây dựng và ban hành văn QPPL trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, qua đó nêu lên giải pháp để hoàn thiện hoạt động xây dựng, ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
- Đoàn Thị Tố Uyên (2011), Pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản quy
phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Tr.16)
Bài viết nói về thực trạng pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản cũng như kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan trực tiếp đến kiểm tra, xử lý văn bản QPPL
- Sách chuyên khảo: “Sổ tay đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp
luật” của nhóm tác giả, do Hoàng Thế Liên làm chủ biên, Nhà xuất bản Tư
pháp, Hà Nội, 2013 Cuốn sách giới thiệu về tầm quan trọng, quy trình và phương pháp thực hiện đánh giá tác động đối với dự thảo văn bản QPPL
- Sách chuyên khảo: Văn bản quy phạm pháp luật và quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhà xuất bản Thời đại, năm 2009
- Uông Chu Lưu (Chủ biên), Bình luận Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2005
- Tào Thị Quyên (2011), Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra, giám sát
tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
(Tr.16)
- Nguyễn Quốc Sử (2010), Những điểm mới trong công tác kiểm tra, xử
lý văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tr.61)
- Luận văn kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương, năm
2010
Và còn một số đề tài, công trình khác nghiên cứu về vấn đề này
Qua nghiên cứu, tham khảo các sách, đề tài, bài viết nêu trên cho thấy hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã được các tác giả đề cập
Trang 125
nghiên cứu, phản ánh trên nhiều góc độ và thời gian khác nhau Vẫn còn nhiều vấn đề về thực trạng công tác kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND trong thời gian gần đây chưa được đề cập nghiên cứu, đánh giá và kiến nghị một cách đầy đủ, thấu đáo, đặc biệt là hoạt động kiểm tra đối với văn bản của HĐND và UBND cấp huyện Chính vì vậy, việc chọn đề tài về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND cấp huyện để nghiên cứu là cần thiết
Về phía tỉnh Quảng Ngãi, đã có các công trình nghiên cứu về hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh, tuy nhiên, chưa đi sâu đánh giá được cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác kiểm tra văn bản quy QPPL theo thẩm quyền do Sở Tư pháp tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện đối với văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện Do đó, thông qua đề tài này, tác giả sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá một cách sâu sắc về thực trạng hoạt động kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND theo thẩm quyền tại cấp huyện Qua đó, mong muốn có những đề xuất, kiến nghị giải pháp hữu ích nhằm phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động kiểm tra và
xử lý văn bản QPPL của HĐND, UBND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và của cả nước nói chung, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tế, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Trang 13- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghị quyết của HĐND và Quyết định, Chỉ thị của UBND cấp huyện;
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Ngãi với 14 huyện, thành phố
thuộc tỉnh Quảng Ngãi
- Về thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2016
- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu hoạt động kiểm tra và xử lý văn
bản QPPL theo thẩm quyền đối với văn bản của HĐND, UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi do Sở Tư pháp tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện
Vấn đề tập trung nghiên cứu:
+ Hoạt động kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi do Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện;
+ Các nhóm giải pháp về kiến nghị hoàn thiện hoạt động kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng
Trang 147
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về Chính phủ phục vụ nhân dân; quán triệt các quan điểm, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân
và vì Nhân dân
Trong quá trình tiếp cận, xúc tiến nghiên cứu đề tài, tác giả đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, thống kê,
so sánh, quan sát
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Từ việc nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu, luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về kiểm tra văn bản QPPL với tư cách là một hoạt động khoa học pháp lý và khoa học hành chính; đưa ra một số nhận xét đánh giá về hoạt động này đối với xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh; Tăng cường chất lượng, hiệu quả của hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa đối với đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản QPPL hiểu đầy đủ, sâu sắc về bản chất nghiệp vụ của hoạt động kiểm tra, cách lựa chọn và hậu quả pháp lý của từng biện pháp xử lý để tham mưu đúng theo quy định của pháp luật
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được viết thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện
Trang 169
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.1 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện
1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện
Văn bản QPPL của HĐND và UBND lần đầu tiên được khẳng định tại Luật 1996 và điều này một lần nữa đã được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2002 khẳng định tại Khoản 3 Điều 1,
cụ thể như sau: “Văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành
để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc Hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp:
a) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân;
b) Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân”
Từ khi Luật 2004 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày, thì văn bản QPPL của HĐND và UBND được định
nghĩa rõ ràng hơn như sau: “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân
dân, Uỷ ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Khoản 1, Điều 1)
Như vậy nói một cách khái quát, văn bản QPPL của HĐND và UBND
là văn bản do HĐND và UBND ba cấp (tỉnh, huyện, xã) ban hành theo thẩm quyền, trình tự và thủ tục do Luật định nhằm thi hành các văn bản QPPL của
Trang 1710
cấp trên, văn bản QPPL do UBND ban hành còn nhằm để thực hiện Nghị quyết của HĐND cùng cấp
Luật 2008 và Luật 2004 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thiết lập trật tự,
kỷ cương trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản QPPL ở Trung ương
và địa phương, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta Tuy nhiên, việc song song tồn tại cả 2 luật cùng điều chỉnh về hoạt động xây dựng, ban hành văn bản QPPL nhưng nội dung của hai Luật này lại có những quy định không thống nhất, thậm chí mâu thuẫn nhau Để khắc phục tình trạng nêu trên, trên cơ sở kế thừa và phát triển hai luật là Luật 2008 và Luật
2004, Luật 2015 đã hợp nhất thành một Luật áp dụng thống nhất cho việc xây dựng, ban hành văn bản QPPL từ Trung ương đến địa phương Theo Luật này thì văn bản QPPL của HĐND, UBND không còn khái niệm riêng mà quy
định chung Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp
luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản QPPL
Từ những phân tích, theo quan điểm của cá nhân có thể định nghĩa văn
bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện như sau: Văn bản quy phạm pháp
luật của HĐND và UBND cấp huyện là văn bản do HĐND và UBND cấp huyện ban hành, trong đó có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015
Văn bản có chứa quy phạm, pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND
Trang 1811
1.1.2 Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân cấp huyện
Bên cạnh những đặc điểm của văn bản QPPL nói chung như: là văn bản
có chứa các QPPL; do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành; tên gọi, thể thức các loại văn bản QPPL được quy định cụ thể theo quy định của pháp luật; được ban hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định
và được Nhà nước đảm bảo việc thực hiện thì văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện còn có những đặc điểm riêng như sau:
Một là, văn bản QPPL của HĐND và UBND mang tính quyền lực nhà nước tại địa phương Văn bản QPPL của HĐND và UBND là một sự thể hiện
quyền lực nhà nước tại địa phương, văn bản này có chứa các QPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra, thể hiện ý chí nhà nước trong điều chỉnh các quan hệ xã hội Việc thực hiện những văn bản QPPL này được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước
Hai là, văn bản QPPL của HĐND và UBND mang tính cụ thể, thiết thực và kịp thời Hoạt động quản lý nhà nước tại các địa phương luôn phải đối
mặt với những sự kiện, quan hệ xã hội mới phát sinh mà các cơ quan nhà nước cấp trên không thể kiểm soát hết được Chính điều đó, HĐND và UBND cấp huyện dựa trên thẩm quyền quản lý kịp thời điều chỉnh những vấn đề xã hội nảy sinh tại địa phương mình, kịp thời đưa ra những biện pháp điều chỉnh phù hợp
Ba là, văn bản QPPL của HĐND và UBND có hiệu lực pháp luật không lâu dài Với bản chất là ban hành các văn bản QPPL dựa trên Hiến
pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên nên các văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện sẽ phụ thuộc vào hiệu lực của các văn bản của
cơ quan nhà nước cấp trên, nếu các văn bản này bị sửa đổi, bổ sung thì các
Trang 19Năm là, văn bản QPPL của HĐND, UBND là sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Mỗi địa
phương đều có đặc điểm riêng của vùng vì vậy không thể có một hệ thống pháp luật nào phù hợp được hoàn toàn với yêu cầu riêng của từng địa phương Chính vì vậy, để phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương, trên cơ sở các quy định của cơ quan nhà nước ở trung ương, các cơ quan nhà nước ở cấp huyện sẽ ban hành văn bản QPPL để cụ thể hóa các quy định của pháp luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên vào từng hoàn cảnh, điều kiện, lĩnh vực, đặc điểm cụ thể ở địa phương mình
1.1.3 Hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện
Trước đây, theo quy định của Luật 2004, Luật 2008 thì hình thức văn bản QPPL của HĐND là Nghị quyết và UBND là quyết định, chỉ thị
Tuy nhiên, hiện nay với mục tiêu làm cho hệ thống văn bản pháp luật đơn giản, minh bạch, dễ tiếp cận, dễ áp dụng, đáp ứng yêu cầu trong cải cách hành chính Luật 2015 đã giảm được 05 hình thức văn bản, trong đó ở cấp chính quyền địa phương đã giảm đi ba hình thức đó là chỉ thị của UBND cấp tỉnh, chỉ thị của UBND cấp huyện và chỉ thị của UBND cấp xã Do vậy, hiện nay theo Luật 2015 thì HĐND cấp huyện chỉ có hình thức là nghị quyết và UBND cấp huyện chỉ còn lại hình thức là quyết định
Trang 2013
1.1.4 Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện
Tính hợp hiến của văn bản QPPL của HĐND, UBND
Hợp hiến là “đúng với quy định của hiến pháp” Theo đó, tính hợp hiến của văn bản QPPL được hiểu là: mọi văn bản QPPL do HĐND, UBND các cấp ban hành phải phù hợp với Hiến pháp
Tại Điều 119 Hiến pháp năm 2013 có quy định “Hiến pháp nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của nhà nước và có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với hiến pháp”
Vì là luật cơ bản của nhà nước nên ngôn ngữ của hiến pháp thường cô đọng, xúc tích, mang tính định hướng, quy định những nguyên tắc cơ bản về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, các quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Để đảm bảo nguyên tắc hiến pháp là luật cơ bản, có tính pháp lý cao nhất thì các văn bản pháp luật nói chung và văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện nói riêng khi ban hành phải phù hợp với hiến pháp
Tính hợp pháp đối với văn bản QPPL của HĐND, UBND
Theo từ điển Tiếng Việt, hợp pháp là “đúng với pháp luật, không trái với pháp luật” Tiêu chuẩn để đánh giá tính hợp pháp đối với của văn bản QPPL là văn bản phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng nội dung, đúng trình tự, thủ tục và hình thức, kỹ thuật trình bày tuân theo quy định của pháp luật
Thứ nhất, tiêu chuẩn về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL
Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL được hiểu là giới hạn quyền lực
do pháp luật quy định cho chủ thể ban hành văn bản QPPL để giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL bao gồm thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung
Trang 2114
Thẩm quyền hình thức được hiểu là quyền của chủ thể ban hành văn bản QPPL trong việc lựa chọn, sử dụng đúng tên loại văn bản QPPL theo quy định pháp luật Như phân tích trên thì hiện nay hình thức ban hành văn bản QPPL của HĐND là Nghị quyết; UBND là quyết định
Thẩm quyền nội dung được quy định trong Hiến pháp, Luật 2004, Luật
Tổ chức HĐND, UBND, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn…
Thứ hai, tiêu chuẩn về nội dung của văn bản QPPL
Khi xem xét tính hợp pháp về nội dung của văn bản QPPL, bên cạnh việc tôn trọng các quy định của Hiến pháp, các văn bản QPPL phải bảo đảm tuân thủ thứ bậc hiệu lực của văn bản trong hệ thống pháp luật Trước hết, nội dung hợp pháp thể hiện ở việc “nội dung văn bản QPPL do cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với nội dung văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên” Bên cạnh đó, văn bản QPPL của HĐND, UBND còn phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
ký kết hoặc gia nhập
Khi xem xét tiêu chuẩn về thẩm quyền và nội dung trên đây của văn bản QPPL, cần đánh giá cả căn cứ pháp lý là cơ sở bảo đảm tính hợp pháp cho văn bản QPPL đó Căn cứ pháp lý được hiểu là những chuẩn mực pháp luật mà trên cơ sở đó văn bản QPPL được ban hành bảo đảm tính hợp pháp Thông thường, văn bản đóng vai trò là cơ sở pháp lý đảm bảo tính hợp pháp của văn bản QPPL là văn bản quy định trực tiếp về thẩm quyền của chủ thể ban hành văn bản, các văn bản chứa đựng quy định có liên quan trực tiếp đến nội dung văn bản QPPL đang soạn thảo Văn bản được xác định là cơ sở pháp
lý phải là văn bản QPPL đang có hiệu lực pháp luật tại thời điểm ban hành văn bản
Thứ ba, tiêu chuẩn về thủ tục, trình tự ban hành văn bản QPPL
Trang 2215
Theo quy định của Luật 2015 thì quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL của chính quyền địa phương phải trải qua các bước như: Lập đề nghị xây dựng văn bản QPPL (trước đây là lập chương trình xây dựng văn bản); phân công cơ quan chủ trì soạn thảo; soạn thảo; đăng tải, lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến đóng góp; thẩm định hoặc thẩm tra; thảo luận, thông qua, ký ban hành và đăng công báo hoặc niêm yết,… Việc tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL vừa là điều kiện để đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, một nguyên tắc
cơ bản trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, vừa góp phần nâng cao chất lượng văn bản QPPL được soạn thảo
Thứ tư, tiêu chuẩn về thể thức, kỹ thuật trình bày
Trong hoạt động ban hành văn bản QPPL, những quy định về thể thức
và kỹ thuật trình bày đóng vai trò khá quan trọng Thể thức là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản gồm quốc hiệu, tên cơ quan ban hành văn bản,
số, ký hiệu văn bản, tên loại văn bản, trích yếu, nội dung văn bản, chữ ký, con dấu, nơi nhận… Do vậy, để văn bản QPPL ban hành đảm bảo tính hợp pháp, chủ thể có thẩm quyền khi ban hành văn bản cần chú ý cách thức trình bày theo quy định của pháp luật Đồng thời, văn bản còn phải được trình bày theo
bố cục, kết cấu phù hợp giữa hình thức và nội dung văn bản
Tính thống nhất của văn bản QPPL của HĐND, UBND
Theo Từ điển tiếng Việt do Viện Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản thì “thống nhất là làm cho phù hợp với nhau, không mâu thuẫn nhau” [41]
Trên cơ sở này, tính thống nhất của hệ thống pháp luật nói chung và của hệ thống văn bản QPPL nói riêng được hiểu là sự phù hợp, sự đồng bộ trong các quy định của pháp luật
Về mặt nội dung, tính thống nhất được hiểu là các quy phạm cùng điều
chỉnh một lĩnh vực hay cùng một đối tượng điều chỉnh không mâu thuẫn với
Trang 2316
nhau Nội dung trong văn bản QPPL đều được trình bày một cách có hệ thống, cụ thể và rõ ràng; các chính sách, chủ trương, QPPL trong từng điều khoản phải phù hợp với nội dung của điều khoản đó; các điều khoản trong một chương phải thể hiện đúng nội dung những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của chương; nội dung của các chương trong mỗi văn bản phải logic, có
sự liên kết chặt chẽ tạo nên sự thống nhất chung của toàn bộ văn bản QPPL
Về phương diện hình thức, tính thống nhất còn được thể hiện qua cấu
trúc, cách sắp xếp, phân loại thứ bậc, hiệu lực của QPPL Đối với một văn bản QPPL, tính đồng bộ, thống nhất thể hiện ngay trong cơ cấu của văn bản Cơ cấu của văn bản phải thể hiện được mối liên hệ logic giữa các phần, chương, mục, điều, khoản, điểm với cách trình bày, cách đánh số thứ tự Mỗi phần, chương, mục, điều, khoản, điểm đều có nội dung thể hiện chủ đề chính của văn bản, hướng tới mục tiêu chung Vì vậy, các phần cần được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý, phải thể hiện rõ được phần chung, phần riêng, những đặc thù của văn bản Tính thống nhất trong cơ cấu còn thể hiện ở việc các quy định trong cùng một văn bản phải tương quan với nhau, không mâu thuẫn, chồng chéo
Bên cạnh tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất thì tính hợp lý của văn bản QPPL cũng là một điều cần lưu ý khi kiểm tra và đánh giá văn bản QPPL vì tính hợp lý thể hiện “tính khả thi” của văn bản QPPL trên thực tế Nếu thiếu đi tính hợp lý thì văn bản dù hợp pháp nhưng cũng không thể nào phát huy hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội Có thể đưa ra những tiêu chí
để đánh giá tính hợp lý của văn bản pháp luật sau: [46]
Thứ nhất, đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước và nhân dân Nhà nước
là người đại diện cho quyền lực của nhân dân, nhà nước ta là “Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, vì vậy những chính sách quản lý của nhà nước đưa ra chính là thể hiện cho ý chí và quyền lợi của nhân dân trên cơ
sở phù hợp với chức năng quản lý đặc thù của các cơ quan nhà nước Nhiệm
Trang 2417
vụ quản lý của nhà nước và lợi ích chính đáng của nhân dân phải là tiêu chí hàng đầu khi thực hiện ban hành văn bản QPPL
Thứ hai, không chỉ đảm bảo hiệu quả kinh tế mà còn cả về chính trị,
văn hóa xã hội; không chỉ quan tâm mục đích trước mắt mà còn quan tâm đến mục tiêu lâu dài Xã hội phát triển không chỉ bó gọn trong một lĩnh vực mà có
sự “kéo theo” các lĩnh vực khác, khi đưa ra một quyết sách không nên thiển cận chỉ nhìn thấy lợi ích của một lĩnh vực mà quên đi các lĩnh vực khác, điều
đó đôi khi chính là một bước tạo sự thụt lùi trong quản lý, vai trò của người quản lý đất nước là phải có cái nhìn “rộng” giúp cho đất nước phát triển toàn diện và lâu dài Chính vì lẽ đó, trong công tác ban hành văn bản luôn chú ý đến sự “ảnh hưởng đa chiều” của văn bản QPPL với xã hội
Thứ ba, tính cụ thể và phù hợp với từng vấn đề và đối tượng thực hiện
Văn bản QPPL để thực hiện hiệu quả trong thực tế trước hết phải cụ thể, phải quy định rõ các đối tượng nằm trong sự điều chỉnh của văn bản QPPL được
và không được làm gì Văn bản quy phạm đề ra phải có sự phù hợp, phải tính đến việc “có thể thực hiện được” của các đối tượng mà văn bản QPPL hướng tới trong vấn đề đã được xác định trong văn bản
Thứ tư, đảm bảo kỹ thuật lập quy, ngôn ngữ, văn phong, cách trình bày
rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, chính xác không đa nghĩa, không bao hàm sự mâu thuẫn hay phủ định lẫn nhau giữa các chương, điều và được thể hiện trong một chỉnh thể thống nhất, sự mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau giữa các quy định pháp luật chính là một nguy cơ làm “gãy đổ” hệ thống Do đó cần hạn chế tối
đa sự mâu thuẫn, chồng chéo và loại bỏ sự tiêu cực này
Trang 2518
1.2 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân
và Ủy ban nhân dân cấp huyện
1.2.1 Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện
Kiểm tra văn bản QPPL là nhiệm vụ mới được chuyển giao từ Viện kiểm sát nhân dân sang hệ thống cơ quan hành pháp theo Nghị quyết 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Theo đó Viện kiểm sát nhân dân không còn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc ban hành văn bản QPPL mà nhiệm vụ này được chuyển sang cho các cơ quan hành pháp
Kiểm tra, theo nghĩa chung nhất trong nghiên cứu về luật học, là “một chức năng quản lý, có chức năng xem xét tình hình và kết luận thực tế thi hành pháp luật, chính sách chủ trương của nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội được giao” [42, tr565]
Trong khoa học quản lý, “công việc kiểm tra bao gồm việc đo lường và chấn chỉnh sự hoạt động của các bộ phận cấp dưới để tin chắc rằng các mục tiêu và các kế hoạch để đạt được các mục tiêu này đã đang được hoàn thành” [16, tr540]
Trước đây, khái niệm kiểm tra văn bản QPPL chưa được định nghĩa ở bất cứ một văn bản nào Hiện nay, tại Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều
và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL (gọi tắt là Nghị định 34) thì kiểm tra văn bản QPPL được định nghĩa khái quát như sau: Kiểm tra văn
bản QPPL là việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản QPPL được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật
Trang 2619
Qua phân tích trên, theo ý kiến cá nhân có thể nêu khái niệm kiểm tra
văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện như sau: Kiểm tra văn bản
QPPL của HĐND, UBND cấp huyện là hoạt động được tiến hành thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các văn bản QPPL do HĐND, UBND cấp huyện ban hành theo quy định của pháp luật, qua đó xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật
Cần phân biệt hoạt động kiểm tra với các hoạt động tương tự như: hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản QPPL (hoạt động diễn ra trước khi ban hành văn bản) và hoạt động rà soát văn bản QPPL (hoạt động diễn ra sau khi ban hành văn bản) Các hoạt động này đều do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện, có mục tiêu chung là đảm bảo sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật Tuy nhiên giữa chúng vẫn có sự khác biệt, không thể nhầm lẫn với nhau được
So sánh hoạt động thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản QPPL với hoạt động kiểm tra văn bản QPPL thì hoạt động thẩm định, thẩm tra chỉ được thực hiện trước khi văn bản QPPL được ban hành Hai hoạt động này có sự khác
nhau cơ bản về đối tượng, thời điểm, giá trị pháp lý: Một là, về đối tượng,
thẩm định, thẩm tra được áp dụng với dự thảo văn bản QPPL còn hoạt động
kiểm tra được áp dụng với văn bản QPPL đã được ban hành; Hai là, về thời
điểm thực hiện, thẩm định, thẩm tra được thực hiện trước khi ban hành văn bản QPPL còn hoạt động kiểm tra áp dụng sau khi văn bản QPPL được ban
hành; Ba là, về giá trị pháp lý ý kiến của thẩm định, thẩm tra không có giá trị
bắt buộc mà chỉ có tính chất tham mưu, tư vấn cho các chủ thể có thẩm quyền trước khi quyết định thông qua một dự thảo văn bản QPPL Trong khi đó, cơ quan kiểm tra khi đã có kết luận về tính trái pháp luật của văn bản QPPL thì
sẽ căn cứ vào kết quả đó mà đưa ra biện pháp xử lý hoặc đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành xử lý
Trang 2720
So sánh hoạt động rà soát văn bản QPPL và hoạt động kiểm tra văn bản QPPL nhận thấy rằng đây đều là hoạt động được thực hiện sau khi văn bản được ban hành Tuy nhiên, hoạt động rà soát văn bản QPPL do nhiều chủ thể thực hiện bao gồm cả chủ thể cơ quan nhà nước và cả công dân, các cơ quan,
tổ chức xã hội trong khi đó kiểm tra được thực hiện bởi các cơ quan, người có thẩm quyền trong nội bộ hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ cấp Bộ trở xuống sau khi văn bản đã được ban hành Hai hoạt động này dù chung mục đích là tìm ra những quy định mâu thuẫn, trái pháp luật nhưng rà soát còn xem xét về cả hiệu lực pháp lý của văn bản làm cơ sở cho việc hệ thống hóa
Rà soát còn giúp cho việc tìm hiểu, sử dụng, áp dụng dễ dàng các văn bản QPPL Còn kiểm tra văn bản chỉ với mục đích phát hiện những sai sót, khiếm khuyết hay tính trái pháp luật của các văn bản QPPL để kịp thời xử lý nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật
1.2.2 Đặc điểm của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện
Một là, nội dung của kiểm tra văn bản QPPL là xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản QPPL
So sánh với hoạt động kiểm tra nói chung có thể thấy, với hoạt động kiểm tra văn bản QPPL có sự khác biệt bởi chính đối tượng và nội dung của hoạt động này Đối tượng của kiểm tra văn bản QPPL chính là văn bản QPPL, bao gồm nghị quyết của HĐND các cấp và quyết định, chỉ thị của UBND các cấp Về nội dung của kiểm tra văn bản QPPL đó là phải xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản QPPL Điều này rất quan trọng bởi nếu cơ quan kiểm tra kết luận văn bản QPPL bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất thì văn bản QPPL đó sẽ được triển khai và phát huy hiệu lực trên thực tế, ngược lại nếu cơ quan kiểm tra kết luận văn bản QPPL có dấu hiệu bất hợp hiến, bất hợp pháp và không
Trang 28kiểm tra thực hiện nhiệm vụ
Ba là, Mục đích của kiểm tra văn bản QPPL là kịp thời phát hiện những văn bản đã ban hành có nội dung không phù hợp, trái với quy định của pháp luật để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý Thông qua đó
sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác soạn thảo, ban hành
và quản lý văn bản
Bốn là, Kiểm tra văn bản QPPL là hoạt động có tính chất phòng ngừa
Hoạt động kiểm tra được tiến hành thường xuyên, có thể là kiểm tra đột xuất theo vụ việc hoặc theo chuyên đề, theo ngành, lĩnh vực ngay cả khi chưa biết rõ văn bản có dấu hiệu trái pháp luật thì cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm kiểm tra văn bản vẫn phải thực hiện nhiệm vụ kiểm tra (hay tự kiểm tra văn bản do mình ban hành)
1.2.3 Nguyên tắc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện
Kiểm tra văn bản QPPL nói chung và văn bản của HĐND, UBND nói riêng cần đảm bảo các nguyên tắc sau :
Nguyên tắc thường xuyên, toàn diện, kịp thời: Hoạt động kiểm tra phải
được tiến hành thường xuyên, toàn diện, kịp thời;
Trang 2922
Nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch: Hoạt động kiểm tra phải
được tiến hành trên cơ sở quy định khách quan, diễn biến và kết quả kiểm tra được phổ biến bằng các hình thức thông tin đến với các cơ quan liên quan, công dân trừ những văn bản thuộc bí mật nhà nước;
Nguyên tắc pháp chế: Hoạt động kiểm tra, phải được tiến hành đúng
thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định;
Nguyên tắc phối hợp giữa các cơ quan: Kết hợp nhịp nhàng đồng bộ
giữa cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản với các cơ quan ban hành văn bản
Nguyên tắc không vụ lợi: Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được lợi
dụng việc kiểm tra, xử lý văn bản vì mục đích vụ lợi, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và can thiệp vào quá trình xử lý văn bản trái pháp luật;
Nguyên tắc thông tin đầy đủ, chính thức về kết quả kiểm tra: Sau khi
tiến hành công tác kiểm tra, cơ quan chịu trách nhiệm kiểm tra phải có kết luận và cung cấp thông tin về kết quả kiểm tra văn bản cho cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản QPPL;
Nguyên tắc chịu trách nhiệm: Cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra,
xử lý văn bản chịu trách nhiệm về kết luận kiểm tra và quyết định xử lý văn bản
1.2.4 Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện
Nội dung kiểm tra văn bản là việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản QPPL theo các nội dung được quy định tại các văn bản hiện hành về hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL Nội dung kiểm tra văn bản được mô phỏng như sau:
Trang 3023
Xác định văn bản QPPL được ban hành đúng thẩm quyền
Văn bản QPPL được ban hành đúng thẩm quyền là văn bản tuân thủ đúng quy định của pháp luật đối với thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền
về nội dung
Đúng thẩm quyền về hình thức là việc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản theo đúng hình thức (tên loại văn bản) được quy định cho
cơ quan, người có thẩm quyền đó theo quy định của pháp luật
Đúng thẩm quyền về nội dung là việc cơ quan, người có thẩm quyền chỉ ban hành các văn bản có nội dung phù hợp với thẩm quyền của mình đã được pháp luật cho phép hoặc đã được phân công, phân cấp Thẩm quyền này được xác định trong các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn quy định về phân công, phân cấp, văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước cụ thể của từng cơ quan, từng cấp, từng ngành, từng lĩnh vực
Xác định nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành
Đó là Nghị quyết của HĐND cấp huyện phải phù hợp với văn bản của các cơ quan nhà nước trung ương và văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh; Quyết định, Chỉ thị của UBND cấp huyện phải phù hợp với văn bản của
Nội dung kiểm tra
Căn cứ ban hành
Thể thức, kỹ thuật trình bày
Nội dung văn bản
Thẩm
quyền
Trình tự, thủ tục
Trang 31Xác định văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đúng căn cứ pháp lý
Căn cứ pháp lý cho việc ban hành văn bản bao gồm: Văn bản QPPL của các cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền quy định về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ban hành văn bản; Văn bản pháp lý cao hơn quy định
về vấn đề thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung của văn bản Các căn
cứ pháp lý làm cơ sở ban hành văn bản QPPP là văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực hoặc đã công bố hoặc ký ban hành chưa có hiệu lực nhưng phải có hiệu lực trước hoặc cùng thời điểm với văn bản đó
Xác định văn bản QPPL được ban hành phải được trình bày đúng thể thức và kỹ thuật
Thể thức là cách thức thể hiện văn bản Hay nói cách khác đó là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết thúc Thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản QPPL hiện nay phải tuân theo quy định tại Luật 2015, Chương V Nghị định 34/2016/NĐ-CP; Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư; Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư
Văn bản được ban hành phải tuân thủ đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành theo quy định của pháp luật
Trang 3225
Kiểm tra trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành văn bản QPPL làm cơ
sở cho việc xử lý văn bản và xem xét, xử lý trách nhiệm cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản Đồng thời, qua đó xem xét trách nhiệm của cơ quan, người có trách nhiệm tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua văn bản và kiến nghị xử lý theo quy định
Văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục là văn bản được xây dựng, ban hành tuân thủ đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành theo quy định của Luật 2015, Nghị định 34 (Trước đây là Luật
2004, Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật 2004) Các nội dung trên sẽ được kiểm tra khi phát hiện văn bản có nội dung trái pháp luật và kiến nghị xử lý theo thẩm quyền
1.2.5 Phương thức, quy trình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện
Gồm có hai phương thức tự kiểm tra văn bản và kiểm tra văn bản theo thẩm quyền Đối với phương thức kiểm tra theo thẩm quyền gồm có kiểm tra văn bản do cơ quan, người ban hành văn bản gửi đến; Kiểm tra văn bản khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; Kiểm tra văn bản theo địa bàn tại cơ quan ban hành văn bản, chuyên đề, ngành, lĩnh vực
Quy trình kiểm tra văn bản QPPL có thể được hiểu là trình tự, các giai đoạn và các thao tác cụ thể trong kiểm tra văn bản QPPL được quy định chi tiết và thực hiện thống nhất
Quy trình tự kiểm tra văn bản QPPL gồm các công đoạn sau:
Bước 1 Gửi văn bản kiểm tra:
Đối với văn bản QPPL đã được cơ quan, người có thẩm quyền ký ban hành, khi phát hành văn bản, cơ quan, đơn vị làm nhiệm vụ phát hành văn bản
Trang 3326
có trách nhiệm đồng gửi văn bản cho đơn vị được phân công làm đầu mối tự kiểm tra văn bản đó để thực hiện việc tự kiểm tra
Bước 2 Nhận văn bản kiểm tra:
Cơ quan được phân công làm đầu mối kiểm tra văn bản phải vào sổ để theo dõi việc gửi văn bản và nhận văn bản tự kiểm tra Việc vào sổ theo dõi là
để kiểm tra được số văn bản đã phát hành được kiểm tra, theo dõi thời gian kiểm tra văn bản
Bước 3 Phân công kiểm tra:
Cơ quan, đơn vị được phân công làm đầu mối kiểm tra, khi nhận văn bản tự kiểm tra, phân công chuyên viên hoặc cộng tác viên nghiên cứu, kiểm tra toàn bộ văn bản
Bước 4 Thực hiện kiểm tra văn bản:
Chuyên viên hoặc cộng tác viên thực hiện việc kiểm tra văn bản theo tiêu chí về căn cứ pháp lý ban hành văn bản; thẩm quyền ban hành văn bản; nội dung văn bản; thể thức và kỹ thuật trình bày; thủ tục, xây dựng và ban hành
+ Trường hợp không phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, chuyên viên kiểm tra phải ký tên và ghi rõ ngày, tháng, năm kiểm tra vào góc trên bên phải của văn bản mà mình đã kiểm tra để xác nhận việc kiểm tra, thời điểm kiểm tra và lập Bản báo cáo tóm tắt (tên văn bản, căn cứ đối chiếu, kiểm tra, kết luận của người kiểm tra về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản ) để báo cáo Thủ trưởng đơn vị được phân công làm đầu mối tự kiểm tra
+ Trường hợp phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, chuyên viên kiểm tra văn bản phải ký tên, ghi rõ ngày, tháng, năm kiểm tra; đồng thời lập Phiếu Kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật theo mẫu và Hồ sơ kiểm tra văn bản theo quy định trình Thủ trưởng đơn vị được phân công làm đầu mối
tự kiểm tra văn bản xem xét, quyết định
Trang 3427
Bước 5 Báo cáo kết quả tự kiểm tra
Đối với văn bản có nội dung trái pháp luật, đơn vị được phân công tự
kiểm tra có trách nhiệm phối hợp trao đổi làm rõ những nội dung trái pháp
luật, thống nhất các biện pháp xử lý và chuẩn bị báo cáo với cơ quan, người
đã ban hành văn bản đó để kịp thời xử lý theo quy định Báo cáo kết quả tự
kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật gồm những nội dung cơ bản: Đánh
giá nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản và đề xuất hướng xử lý,
thời hạn xử lý, biện pháp khắc phục hậu quả do văn bản gây ra (nếu có); Xác
định trách nhiệm của cán bộ, công chức tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm
tra và ban hành văn bản
Bước 6 Xử lý văn bản trái pháp luật đã ban hành
Trên cơ sở báo cáo kết quả tự kiểm tra, cơ quan, người có thẩm quyền
có trách nhiệm xử lý kịp thời văn bản trái pháp luật đã ban hành
Bước 7 Công bố, lưu trữ kết quả tự kiểm tra:
Kết quả tự xử lý văn bản QPPL trái pháp luật phải được công bố công
khai, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được đăng công
báo, đăng trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành hoặc niên yết tại
trụ sở cơ quan ban hành hoặc các địa điểm khác có liên quan, đồng thời gửi
cho cơ quan, tổ chức, cá nhân mà trước đó văn bản đã được gửi
Kết thúc quá trình kiểm tra, người kiểm tra phải lập hồ sơ về văn bản có
nội dung trái pháp luật, chuyển bộ phận cơ sở dữ liệu nhằm xây dựng hệ
thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác này, chuyển bộ phận văn thư lưu trữ hồ sơ
Hình 1.1: Sơ đồ quy trình tự kiểm tra và xử lý văn bản
quy phạm pháp luật
(4) Tiến hành kiểm tra
(3)
Chuyên viên/Công tác viên
Thủ trưởng cơ quan kiểm tra
Cơ quan/người có thẩm quyền
Xử lý- Đưa tin
(6) (7)
Phát hiện
Không phát hiện
Lập báo cáo
Lập phiếu
(5)
Phân công
Trang 3528
Quy trình kiểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền:
Quy trình kiểm tra văn bản theo thẩm quyền cũng tương tự như quy
trình tự kiểm tra, gồm các bước gửi văn bản kiểm tra, nhận văn bản, tổ chức kiểm tra và xử lý kết quả Tuy nhiên trong từng bước, nội dung công việc có
sự khác biệt Cụ thể quy trình gồm các bước như sau:
Bước 1 Gửi văn bản kiểm tra:
Trong văn bản QPPL, ở phần “Nơi nhận” của văn bản phải ghi rõ cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản Sau khi ký, văn bản QPPL phải được gửi cho cơ quan kiểm tra theo thời gian quy định, cụ thể: văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh gửi đến Cục Kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp và tổ chức pháp chế của bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra theo ngành, theo lĩnh vực Văn bản của HĐND, UBND cấp huyện gửi đến Sở Tư pháp; văn bản của HĐND, UBND cấp xã gửi đến Phòng Tư pháp để kiểm tra
Bước 2 Tiếp nhận văn bản thuộc đối tượng kiểm tra:
Cơ quan có trách nhiệm kiểm tra văn bản theo thẩm quyền nhận văn bản do các cơ quan gửi tới, mở Sổ văn bản đến để theo dõi việc gửi và tiếp nhận văn bản thuộc đối tượng kiểm tra
Bước 3 Phân công người kiểm tra:
Thủ trưởng cơ quan kiểm tra phân công người kiểm tra (chuyên viên kiểm tra hoặc cộng tác viên kiểm tra)
Bước 4 Tiến hành kiểm tra:
Người kiểm tra văn bản tiến hành xem xét, đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản được kiểm tra
Để có thể xem xét, đánh giá về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản được kiểm tra, người kiểm tra văn bản cần tập hợp căn cứ pháp lý
để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra, đánh giá và kết luận về tính hợp pháp của văn bản căn cứ theo 5 tiêu chí: có căn cứ pháp lý;
Trang 3629
đúng thẩm quyền; nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật; trình bày đúng thể thức và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thủ tục xây dựng, ban hành và đăng công báo
Bước 5 Báo cáo kết quả kiểm tra văn bản và đề xuất hướng xử lý:
Khi phát hiện văn bản được kiểm tra có dấu hiệu trái pháp luật, người kiểm tra văn bản lập Phiếu kiểm tra văn bản, báo cáo Thủ trưởng cơ quan kiểm tra về kết quả kiểm tra và đề xuất hướng xử lý
Căn cứ vào tính chất, mức độ trái pháp luật của văn bản và hậu quả gây
ra, người kiểm tra văn bản có thể đề xuất hình thức xử lý văn bản trái pháp luật; xử lý trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật; xử lý trách nhiệm đối với cán bộ, công chức đã tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành văn bản trái pháp luật trong trường hợp người đó có lỗi
Bước 6: Kết luận kiểm tra văn bản trái pháp luật:
Thủ trưởng cơ quan kiểm tra văn bản xem xét, kết luận theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, kết luận về nội dung trái pháp luật của văn bản Kết luận kiểm tra phải có các nội dung cơ bản như: tên văn bản được kiểm tra; tên và nội dung văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; ý kiến về nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; yêu cầu cơ quan, người đã ban hành văn bản xem xét, xử lý và thông báo kết quả xử lý văn bản theo quy định của pháp luật, đồng thời kiến nghị việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã tham mưu xây dựng, ban hành văn bản trái pháp luật Kết luận kiểm tra được gửi cho cơ quan, người đã ban hành văn bản để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật
Bước 7: Cơ quan, người đã ban hành văn bản phải tổ chức xem xét, xử
lý văn bản đó và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản Trong
Trang 37xử lý văn bản đã được đã được kết luận trái pháp luật
Trang 3831
Hình 1.2: Sơ đồ quy trình kiểm tra xử lý văn bản QPPL theo thẩm quyền
Trách nhiệm
thực hiện Nội dung công việc và quy trình thực hiện
Cơ quan kiểm tra
văn bản
Người kiểm tra
Thủ trưởng cơ
quan kiểm tra văn
bản/cơ quan, người
Tiếp nhận văn bản thuộc đối tượng kiểm tra
Phân công người kiểm tra
Tập hợp căn cứ pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra
Thực hiện kiểm tra văn bản theo các nội dung kiểm tra
Lập Phiếu kiểm tra văn bản (đối với trường hợp văn bản được kiểm tra
có dấu hiệu trái pháp luật)
Báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất hướng xử lý (Hồ sơ trình: Văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; Phiếu kiểm tra văn bản; Báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất hướng xử lý)
Trình Thủ trưởng cơ quan kiểm tra
- Kết luận về nội dung trái pháp luật của văn bản (Trường hợp cần thiết có thể tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, đơn
vị liên quan trước khi kết luận kiểm tra văn bản)
- Chỉ đạo việc gửi kết luận kiểm tra văn bản cho cơ quan, người đã ban hành văn bản để xem xét xử lý theo quy định
Trang 3932
Cơ quan, người đã ban hành văn
bản được kiểm tra (có văn bản
được kiểm tra)
Cơ quan, người đã ban hành văn
bản được kiểm tra (có văn bản
được kiểm tra)
Cơ quan kiểm tra/cơ quan,
người có thẩm quyền đã kết
luận kiểm tra văn bản
Cơ quan, người có thẩm
quyền xử lý văn bản
Cơ quan, người đã ban hành
văn bản được kiểm tra (có văn
bản được kiểm tra)
Không nhất trí với kết quả xử lý
Không nhất trí với nội dung kết luận kiểm tra
Nhất trí với nội dung kết luận kiểm tra
- Tổ chức xem xét,
xử lý văn bản trái pháp luật;
- Thông báo kết quả
xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản;
- Thời gian thực hiện 30 ngày kể từ ngày nhận được kết luận kiểm tra
Giải trình và đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản xem xét lại kết luận kiểm tra văn bản trái pháp luật
Báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý
Xem xét lại kiểm tra văn bản trái pháp luật
Cơ quan, người đã ban hành văn bản được kiểm tra (có văn bản được kiểm tra)
Xem xét, quyết định việc
xử lý văn bản
- Báo cáo Thủ tướng Chính phủ nếu cơ quan, người đã
xử lý văn bản là HĐND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh
- Báo cáo Chủ tịch UBND cấp tỉnh nếu cơ quan, người
đã xử lý văn bản là HĐND, Chủ tịch UBND cấp huyện
Không thay đổi
Trang 4033
1.2.6 Thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân
Tự kiểm tra của cơ quan ban hành văn bản:
Tự kiểm tra là hoạt động kiểm tra văn bản được thực hiện thường xuyên bởi cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hoặc liên tịch ban hành văn bản được kiểm tra với tinh thần là xem xét, đánh giá tính hợp pháp của văn bản do mình ban hành
Đối với văn bản QPPL ở địa phương thì trách nhiệm thực hiện tự kiểm tra đối với các văn bản của chính quyền địa phương thuộc về Trưởng Ban pháp chế của HĐND giúp HĐND thực hiện việc tự kiểm tra văn bản của HĐND; Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp, công chức tư pháp -
hộ tịch cấp xã là đầu mối giúp HĐND và UBND cùng cấp thực hiện việc tự kiểm tra văn bản do mình ban hành
Kiểm tra theo thẩm quyền:
Kiểm tra văn bản theo thẩm quyền là quá trình kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền theo nhiệm vụ được Hiến pháp và các Luật liên quan quy định và được phân công, phân cấp rõ hơn về thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan của Chính phủ và UBND các cấp
Kiểm tra văn bản theo thẩm quyền đối với văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện được thực hiện như sau:
- Thủ tướng Chính phủ kiểm tra nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, quyết định của UBND cấp tỉnh
- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ kiểm tra văn bản do HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực
do mình phụ trách
- Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện thẩm quyền kiểm tra như các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác và giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm