1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)

115 261 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số: 60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TẠ NGỌC HẢI

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Tạ Ngọc Hải

Luận văn cao học này là sản phẩm của quá trình tìm tòi, nghiên cứu và trình bày của tác giả về đề tài luận văn Mọi số liệu, quan điểm, quan niệm của các tài liệu và các nhà nghiên cứu khác được trích dẫn theo đúng quy định Các số liệu trong luận văn là số liệu trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Học viên Nguyễn Thị Cẩm Giang

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn tiến sĩ Tạ Ngọc Hải đã tận tình hướng dẫn bản thân tôi nghiên cứu hoàn thành tốt luận văn này

Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Sở Tư pháp Quảng Ngãi đã tạo điều kiện cho tôi được tham gia chương trình đào tạo cao học và hỗ trợ thông tin, tài liệu giúp hoàn thành luận văn

Trong quá trình thực hiện, luận văn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định, rất mong nhận được sự thông cảm và chia sẻ của quý thầy giáo, cô giáo và người đọc

Xin chân thành cảm ơn!

Học viên Nguyễn Thị Cẩm Giang

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5

3.1 Mục đích nghiên cứu 5

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

4.1 Đối tượng nghiên cứu 6

4.2 Phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 7

CHƯƠNG 1: 9

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 9

1.1 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 9

1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 9

1.1.2 Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 11

1.1.3 Hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 12

1.1.4 Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 13

1.2 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 18

1.2.1 Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 18

1.2.2 Đặc điểm của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện 20

1.2.3 Nguyên tắc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện 21

Trang 6

1.2.4 Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân,

Ủy ban nhân dân cấp huyện 22

1.2.5 Phương thức, quy trình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện 25

1.2.6 Thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân 33

1.2.7 Các dấu hiệu sai phạm, hình thức và thẩm quyền xử lý các văn bản quy phạm pháp luật 34

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 39

2.1 Giới thiệu khái quát về điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi 39

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 39

2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 41

2.2 Những kết quả đạt được trong hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi 43

2.2.1 Về mặt tích cực 43

2.2.2 Về mặt hạn chế 57

2.2.3 Nguyên nhân 61

2.3 Các yêu cầu, điều kiện đảm bảo nâng cao chất lượng công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 67

2.3.1 Về chỉ đạo điều hành 67

2.3.2 Về nhân lực phục vụ cho hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 70

2.3.3 Về tài chính phục vụ cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân 72

2.3.4 Các điều kiện khác đảm bảo cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 72

2.4 Kinh nghiệm đúc kết 73

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN, ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI 76

Trang 7

3.1 Giải pháp chung về hoàn thiện hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 76 3.2 Các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện 78 3.2.1 Hoàn thiện quy định của pháp luật tạo cơ sở pháp lý đồng bộ cho công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 78 3.2.2 Tạo cơ chế phối hợp đồng bộ, thuận lợi để công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật có kết quả thiết thực 82 3.2.3 Kiên quyết xử lý đối với các kiến nghị qua kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 86

3.2.4 Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 87 3.3.5 Chuyên môn hóa lĩnh vực kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật 94

3.3.6 Giải pháp về bảo đảm các điều kiện kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện 95 KẾT LUẬN 100 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là xu thế khách quan, mang tính quy luật của quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội, đây là nhân tố quyết định cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn hiện nay Một trong những tiêu chí quan trọng để xây dựng nhà nước pháp quyền là phải có hệ thống pháp luật hoàn thiện, chính vì vậy tại Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/8/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm

2020 đã đề ra mục tiêu Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ,

thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm

2020 Để có hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, trong thời gian qua nhà

nước đã đề ra nhiều giải pháp để nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành văn bản

Năm 2004, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Ban hành văn bản quy pham pháp luật của HĐND và UBND Luật này quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND Đây là một văn bản pháp lý quan trọng giúp cho các cấp chính quyền địa phương ban hành những văn bản QPPL để cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, từng bước nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước

Trang 9

2

Kể từ khi triển khai thực hiện Luật 2004, tại tỉnh Quảng Ngãi, HĐND

và UBND các cấp đã ban hành một số lượng văn bản QPPL tương đối lớn Có rất nhiều hoạt động đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất được triển khai trong quá trình ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND như: thẩm định, kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa, theo dõi thi hành pháp luật được các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì văn bản QPPL của HĐND và UBND các cấp vẫn chưa đáp ứng được với yêu cầu quản lý, những thay đổi hàng ngày của đời sống xã hội và bộc lộ một số vấn đề bất cập

Đối với cấp huyện, qua khảo sát việc kiểm tra văn bản theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và

xử lý văn bản QPPL (sau đây gọi tắt là Nghị định 40) và Chỉ thị số 32/2005/CT-TTg ngày 10/10/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác kiểm tra, xử lý văn bản QPPL (sau đây gọi tắt là Chỉ thị 32)

đã đạt được một số kết quả, góp phần tích cực vào việc đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất trong ban hành văn bản cũng như từng bước nâng cao dần chất lượng của hoạt động soạn thảo, ban hành văn bản của HĐND và UBND cấp huyện Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra văn bản QPPL ở cấp huyện vẫn còn nhiều tồn tại như: Công tác kiểm tra văn bản chưa được cơ quan kiểm tra tiến hành thường xuyên, liên tục; hoạt động kiểm tra còn sơ sài, qua loa, chủ yếu kiểm tra về thể thức và kỹ thuật trình bày mà chưa đi sâu vào nội dung văn bản; nhiều huyện không tuân thủ tính kịp thời trong việc gửi văn bản đến cơ quan có thẩm quyền để thực hiện kiểm tra theo đúng quy định; các phương thức kiểm tra chưa triển khai đồng đều; nhiều văn bản có dấu hiệu trái pháp luật chưa được phát hiện xử lý kịp thời hoặc phát hiện chưa đầy đủ; việc theo dõi quá trình xử lý văn bản trái pháp luật của các cơ quan ban hành chưa chặt chẽ Đặc biệt, tình trạng văn bản chưa được cơ quan ban hành tự

Trang 10

3

kiểm tra, xử lý kịp thời sau khi nhận được thông báo kiến nghị xử lý của cơ quan kiểm tra văn bản còn phổ biến buộc cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản phải đôn đốc, nhắc nhở nhiều lần

Nguyên nhân của tình trạng trên xuất phát từ việc các cấp, các ngành chưa thực sự quan tâm và đề cao tầm quan trọng của công tác kiểm tra văn bản; lực lượng cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản chậm được kiện toàn, còn thiếu về số lượng và chưa đáp ứng được trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; việc gửi văn bản QPPL sau khi ban hành đến cơ quan tư pháp cấp trên để kiểm tra chưa thường xuyên, đầy đủ Kinh phí, trang thiết bị làm việc chưa đáp ứng với hoạt động kiểm tra, xử lý văn bản; cơ sở dữ liệu kiểm tra văn bản, nguồn văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý phục vụ cho hoạt động kiểm tra văn bản chưa được xây dựng, trang bị đầy đủ

Từ những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: "Kiểm tra văn bản quy

phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi” làm luận văn tốt nghiệp khóa học, với mong

muốn được nghiên cứu một cách có hệ thống và đầy đủ về cơ sở lý luận, thực trạng của hoạt động này hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, qua đó đề xuất một số giải pháp để tiếp tục góp phần hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động này trong thời gian đến

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Trong thời gian qua, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, hội thảo, các bài viết về kiểm tra văn bản QPPL Trong điều kiện của bản thân học viên đã tham khảo các tài liệu sau:

- Đề tài khoa học: “Giải pháp tăng cường năng lực các cơ quan tư

pháp địa phương trong việc giúp UBND các cấp xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật” do cơ quan Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi chủ trì

thực hiện năm 2002, chủ nhiệm đề tài Lê Công Hòa Đề tài khoa học giới

Trang 11

4

thiệu tổng quan về tình hình, thực trạng xây dựng và ban hành văn QPPL trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi, qua đó nêu lên giải pháp để hoàn thiện hoạt động xây dựng, ban hành văn bản QPPL trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

- Đoàn Thị Tố Uyên (2011), Pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản quy

phạm pháp luật ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật (Tr.16)

Bài viết nói về thực trạng pháp luật về kiểm tra và xử lý văn bản cũng như kiến nghị một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật có liên quan trực tiếp đến kiểm tra, xử lý văn bản QPPL

- Sách chuyên khảo: “Sổ tay đánh giá tác động văn bản quy phạm pháp

luật” của nhóm tác giả, do Hoàng Thế Liên làm chủ biên, Nhà xuất bản Tư

pháp, Hà Nội, 2013 Cuốn sách giới thiệu về tầm quan trọng, quy trình và phương pháp thực hiện đánh giá tác động đối với dự thảo văn bản QPPL

- Sách chuyên khảo: Văn bản quy phạm pháp luật và quy trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật, nhà xuất bản Thời đại, năm 2009

- Uông Chu Lưu (Chủ biên), Bình luận Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, Nhà xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2005

- Tào Thị Quyên (2011), Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra, giám sát

tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật

(Tr.16)

- Nguyễn Quốc Sử (2010), Những điểm mới trong công tác kiểm tra, xử

lý văn bản quy phạm pháp luật, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật (Tr.61)

- Luận văn kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương, năm

2010

Và còn một số đề tài, công trình khác nghiên cứu về vấn đề này

Qua nghiên cứu, tham khảo các sách, đề tài, bài viết nêu trên cho thấy hoạt động kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật đã được các tác giả đề cập

Trang 12

5

nghiên cứu, phản ánh trên nhiều góc độ và thời gian khác nhau Vẫn còn nhiều vấn đề về thực trạng công tác kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND trong thời gian gần đây chưa được đề cập nghiên cứu, đánh giá và kiến nghị một cách đầy đủ, thấu đáo, đặc biệt là hoạt động kiểm tra đối với văn bản của HĐND và UBND cấp huyện Chính vì vậy, việc chọn đề tài về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND cấp huyện để nghiên cứu là cần thiết

Về phía tỉnh Quảng Ngãi, đã có các công trình nghiên cứu về hoạt động kiểm tra và xử lý văn bản của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh, tuy nhiên, chưa đi sâu đánh giá được cơ sở lý luận và thực tiễn của công tác kiểm tra văn bản quy QPPL theo thẩm quyền do Sở Tư pháp tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện đối với văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện Do đó, thông qua đề tài này, tác giả sẽ tập trung đi sâu nghiên cứu, đánh giá một cách sâu sắc về thực trạng hoạt động kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND theo thẩm quyền tại cấp huyện Qua đó, mong muốn có những đề xuất, kiến nghị giải pháp hữu ích nhằm phát huy vai trò, hiệu quả hoạt động kiểm tra và

xử lý văn bản QPPL của HĐND, UBND trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và của cả nước nói chung, góp phần vào việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật trong giai đoạn hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và thực tế, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Trang 13

- Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghị quyết của HĐND và Quyết định, Chỉ thị của UBND cấp huyện;

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Địa bàn tỉnh Quảng Ngãi với 14 huyện, thành phố

thuộc tỉnh Quảng Ngãi

- Về thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2016

- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu hoạt động kiểm tra và xử lý văn

bản QPPL theo thẩm quyền đối với văn bản của HĐND, UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi do Sở Tư pháp tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện

Vấn đề tập trung nghiên cứu:

+ Hoạt động kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi do Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi tham mưu Chủ tịch UBND tỉnh thực hiện;

+ Các nhóm giải pháp về kiến nghị hoàn thiện hoạt động kiểm tra văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện nói chung và trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nói riêng

Trang 14

7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật, về Chính phủ phục vụ nhân dân; quán triệt các quan điểm, chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân

và vì Nhân dân

Trong quá trình tiếp cận, xúc tiến nghiên cứu đề tài, tác giả đồng thời sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu như: phân tích, tổng hợp, thống kê,

so sánh, quan sát

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Ý nghĩa lý luận: Từ việc nghiên cứu có hệ thống và chuyên sâu, luận văn làm rõ một số vấn đề lý luận về kiểm tra văn bản QPPL với tư cách là một hoạt động khoa học pháp lý và khoa học hành chính; đưa ra một số nhận xét đánh giá về hoạt động này đối với xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật

- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần nâng cao chất lượng công tác kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND cấp huyện trên địa bàn tỉnh; Tăng cường chất lượng, hiệu quả của hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện Ngoài ra, luận văn còn có ý nghĩa đối với đội ngũ cán bộ làm công tác kiểm tra văn bản QPPL hiểu đầy đủ, sâu sắc về bản chất nghiệp vụ của hoạt động kiểm tra, cách lựa chọn và hậu quả pháp lý của từng biện pháp xử lý để tham mưu đúng theo quy định của pháp luật

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được viết thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện

Trang 16

9

Chương 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1.1 Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.1.1 Khái niệm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện

Văn bản QPPL của HĐND và UBND lần đầu tiên được khẳng định tại Luật 1996 và điều này một lần nữa đã được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật ban hành văn bản QPPL năm 2002 khẳng định tại Khoản 3 Điều 1,

cụ thể như sau: “Văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành

để thi hành văn bản quy phạm pháp luật của Quốc Hội, Uỷ ban thường vụ quốc hội và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; văn bản do Uỷ ban nhân dân ban hành còn để thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp:

a) Nghị quyết của Hội đồng nhân dân;

b) Quyết định, chỉ thị của Uỷ ban nhân dân”

Từ khi Luật 2004 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày, thì văn bản QPPL của HĐND và UBND được định

nghĩa rõ ràng hơn như sau: “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân

dân, Uỷ ban nhân dân là văn bản do Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục do Luật này quy định, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực trong phạm vi địa phương, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội ở địa phương theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Khoản 1, Điều 1)

Như vậy nói một cách khái quát, văn bản QPPL của HĐND và UBND

là văn bản do HĐND và UBND ba cấp (tỉnh, huyện, xã) ban hành theo thẩm quyền, trình tự và thủ tục do Luật định nhằm thi hành các văn bản QPPL của

Trang 17

10

cấp trên, văn bản QPPL do UBND ban hành còn nhằm để thực hiện Nghị quyết của HĐND cùng cấp

Luật 2008 và Luật 2004 đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thiết lập trật tự,

kỷ cương trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản QPPL ở Trung ương

và địa phương, góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nước ta Tuy nhiên, việc song song tồn tại cả 2 luật cùng điều chỉnh về hoạt động xây dựng, ban hành văn bản QPPL nhưng nội dung của hai Luật này lại có những quy định không thống nhất, thậm chí mâu thuẫn nhau Để khắc phục tình trạng nêu trên, trên cơ sở kế thừa và phát triển hai luật là Luật 2008 và Luật

2004, Luật 2015 đã hợp nhất thành một Luật áp dụng thống nhất cho việc xây dựng, ban hành văn bản QPPL từ Trung ương đến địa phương Theo Luật này thì văn bản QPPL của HĐND, UBND không còn khái niệm riêng mà quy

định chung Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản có chứa quy phạm pháp

luật, được ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này Văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản QPPL

Từ những phân tích, theo quan điểm của cá nhân có thể định nghĩa văn

bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện như sau: Văn bản quy phạm pháp

luật của HĐND và UBND cấp huyện là văn bản do HĐND và UBND cấp huyện ban hành, trong đó có chứa quy phạm pháp luật, được ban hành theo đúng hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015

Văn bản có chứa quy phạm, pháp luật nhưng được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND

Trang 18

11

1.1.2 Đặc điểm văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân cấp huyện

Bên cạnh những đặc điểm của văn bản QPPL nói chung như: là văn bản

có chứa các QPPL; do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành; tên gọi, thể thức các loại văn bản QPPL được quy định cụ thể theo quy định của pháp luật; được ban hành theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định

và được Nhà nước đảm bảo việc thực hiện thì văn bản QPPL của HĐND và UBND cấp huyện còn có những đặc điểm riêng như sau:

Một là, văn bản QPPL của HĐND và UBND mang tính quyền lực nhà nước tại địa phương Văn bản QPPL của HĐND và UBND là một sự thể hiện

quyền lực nhà nước tại địa phương, văn bản này có chứa các QPPL do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt ra, thể hiện ý chí nhà nước trong điều chỉnh các quan hệ xã hội Việc thực hiện những văn bản QPPL này được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước

Hai là, văn bản QPPL của HĐND và UBND mang tính cụ thể, thiết thực và kịp thời Hoạt động quản lý nhà nước tại các địa phương luôn phải đối

mặt với những sự kiện, quan hệ xã hội mới phát sinh mà các cơ quan nhà nước cấp trên không thể kiểm soát hết được Chính điều đó, HĐND và UBND cấp huyện dựa trên thẩm quyền quản lý kịp thời điều chỉnh những vấn đề xã hội nảy sinh tại địa phương mình, kịp thời đưa ra những biện pháp điều chỉnh phù hợp

Ba là, văn bản QPPL của HĐND và UBND có hiệu lực pháp luật không lâu dài Với bản chất là ban hành các văn bản QPPL dựa trên Hiến

pháp, luật, các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên nên các văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện sẽ phụ thuộc vào hiệu lực của các văn bản của

cơ quan nhà nước cấp trên, nếu các văn bản này bị sửa đổi, bổ sung thì các

Trang 19

Năm là, văn bản QPPL của HĐND, UBND là sự cụ thể hóa các quy định của pháp luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên Mỗi địa

phương đều có đặc điểm riêng của vùng vì vậy không thể có một hệ thống pháp luật nào phù hợp được hoàn toàn với yêu cầu riêng của từng địa phương Chính vì vậy, để phù hợp với tình hình thực tế ở địa phương, trên cơ sở các quy định của cơ quan nhà nước ở trung ương, các cơ quan nhà nước ở cấp huyện sẽ ban hành văn bản QPPL để cụ thể hóa các quy định của pháp luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên vào từng hoàn cảnh, điều kiện, lĩnh vực, đặc điểm cụ thể ở địa phương mình

1.1.3 Hình thức văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện

Trước đây, theo quy định của Luật 2004, Luật 2008 thì hình thức văn bản QPPL của HĐND là Nghị quyết và UBND là quyết định, chỉ thị

Tuy nhiên, hiện nay với mục tiêu làm cho hệ thống văn bản pháp luật đơn giản, minh bạch, dễ tiếp cận, dễ áp dụng, đáp ứng yêu cầu trong cải cách hành chính Luật 2015 đã giảm được 05 hình thức văn bản, trong đó ở cấp chính quyền địa phương đã giảm đi ba hình thức đó là chỉ thị của UBND cấp tỉnh, chỉ thị của UBND cấp huyện và chỉ thị của UBND cấp xã Do vậy, hiện nay theo Luật 2015 thì HĐND cấp huyện chỉ có hình thức là nghị quyết và UBND cấp huyện chỉ còn lại hình thức là quyết định

Trang 20

13

1.1.4 Tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện

Tính hợp hiến của văn bản QPPL của HĐND, UBND

Hợp hiến là “đúng với quy định của hiến pháp” Theo đó, tính hợp hiến của văn bản QPPL được hiểu là: mọi văn bản QPPL do HĐND, UBND các cấp ban hành phải phù hợp với Hiến pháp

Tại Điều 119 Hiến pháp năm 2013 có quy định “Hiến pháp nước Cộng

hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là luật cơ bản của nhà nước và có hiệu lực pháp lý cao nhất Mọi văn bản pháp luật khác phải phù hợp với hiến pháp”

Vì là luật cơ bản của nhà nước nên ngôn ngữ của hiến pháp thường cô đọng, xúc tích, mang tính định hướng, quy định những nguyên tắc cơ bản về chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, các quyền và nghĩa

vụ cơ bản của công dân, các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước Để đảm bảo nguyên tắc hiến pháp là luật cơ bản, có tính pháp lý cao nhất thì các văn bản pháp luật nói chung và văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện nói riêng khi ban hành phải phù hợp với hiến pháp

Tính hợp pháp đối với văn bản QPPL của HĐND, UBND

Theo từ điển Tiếng Việt, hợp pháp là “đúng với pháp luật, không trái với pháp luật” Tiêu chuẩn để đánh giá tính hợp pháp đối với của văn bản QPPL là văn bản phải được ban hành đúng thẩm quyền, đúng nội dung, đúng trình tự, thủ tục và hình thức, kỹ thuật trình bày tuân theo quy định của pháp luật

Thứ nhất, tiêu chuẩn về thẩm quyền ban hành văn bản QPPL

Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL được hiểu là giới hạn quyền lực

do pháp luật quy định cho chủ thể ban hành văn bản QPPL để giải quyết những vấn đề thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn Thẩm quyền ban hành văn bản QPPL bao gồm thẩm quyền hình thức và thẩm quyền nội dung

Trang 21

14

Thẩm quyền hình thức được hiểu là quyền của chủ thể ban hành văn bản QPPL trong việc lựa chọn, sử dụng đúng tên loại văn bản QPPL theo quy định pháp luật Như phân tích trên thì hiện nay hình thức ban hành văn bản QPPL của HĐND là Nghị quyết; UBND là quyết định

Thẩm quyền nội dung được quy định trong Hiến pháp, Luật 2004, Luật

Tổ chức HĐND, UBND, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và các văn bản quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn…

Thứ hai, tiêu chuẩn về nội dung của văn bản QPPL

Khi xem xét tính hợp pháp về nội dung của văn bản QPPL, bên cạnh việc tôn trọng các quy định của Hiến pháp, các văn bản QPPL phải bảo đảm tuân thủ thứ bậc hiệu lực của văn bản trong hệ thống pháp luật Trước hết, nội dung hợp pháp thể hiện ở việc “nội dung văn bản QPPL do cơ quan nhà nước cấp dưới ban hành phải phù hợp với nội dung văn bản QPPL của cơ quan nhà nước cấp trên” Bên cạnh đó, văn bản QPPL của HĐND, UBND còn phải phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

ký kết hoặc gia nhập

Khi xem xét tiêu chuẩn về thẩm quyền và nội dung trên đây của văn bản QPPL, cần đánh giá cả căn cứ pháp lý là cơ sở bảo đảm tính hợp pháp cho văn bản QPPL đó Căn cứ pháp lý được hiểu là những chuẩn mực pháp luật mà trên cơ sở đó văn bản QPPL được ban hành bảo đảm tính hợp pháp Thông thường, văn bản đóng vai trò là cơ sở pháp lý đảm bảo tính hợp pháp của văn bản QPPL là văn bản quy định trực tiếp về thẩm quyền của chủ thể ban hành văn bản, các văn bản chứa đựng quy định có liên quan trực tiếp đến nội dung văn bản QPPL đang soạn thảo Văn bản được xác định là cơ sở pháp

lý phải là văn bản QPPL đang có hiệu lực pháp luật tại thời điểm ban hành văn bản

Thứ ba, tiêu chuẩn về thủ tục, trình tự ban hành văn bản QPPL

Trang 22

15

Theo quy định của Luật 2015 thì quy trình xây dựng, ban hành văn bản QPPL của chính quyền địa phương phải trải qua các bước như: Lập đề nghị xây dựng văn bản QPPL (trước đây là lập chương trình xây dựng văn bản); phân công cơ quan chủ trì soạn thảo; soạn thảo; đăng tải, lấy ý kiến và tiếp thu ý kiến đóng góp; thẩm định hoặc thẩm tra; thảo luận, thông qua, ký ban hành và đăng công báo hoặc niêm yết,… Việc tuân thủ những quy định về trình tự, thủ tục trong hoạt động xây dựng và ban hành văn bản QPPL vừa là điều kiện để đảm bảo nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, một nguyên tắc

cơ bản trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền, vừa góp phần nâng cao chất lượng văn bản QPPL được soạn thảo

Thứ tư, tiêu chuẩn về thể thức, kỹ thuật trình bày

Trong hoạt động ban hành văn bản QPPL, những quy định về thể thức

và kỹ thuật trình bày đóng vai trò khá quan trọng Thể thức là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản gồm quốc hiệu, tên cơ quan ban hành văn bản,

số, ký hiệu văn bản, tên loại văn bản, trích yếu, nội dung văn bản, chữ ký, con dấu, nơi nhận… Do vậy, để văn bản QPPL ban hành đảm bảo tính hợp pháp, chủ thể có thẩm quyền khi ban hành văn bản cần chú ý cách thức trình bày theo quy định của pháp luật Đồng thời, văn bản còn phải được trình bày theo

bố cục, kết cấu phù hợp giữa hình thức và nội dung văn bản

Tính thống nhất của văn bản QPPL của HĐND, UBND

Theo Từ điển tiếng Việt do Viện Khoa học xã hội Việt Nam xuất bản thì “thống nhất là làm cho phù hợp với nhau, không mâu thuẫn nhau” [41]

Trên cơ sở này, tính thống nhất của hệ thống pháp luật nói chung và của hệ thống văn bản QPPL nói riêng được hiểu là sự phù hợp, sự đồng bộ trong các quy định của pháp luật

Về mặt nội dung, tính thống nhất được hiểu là các quy phạm cùng điều

chỉnh một lĩnh vực hay cùng một đối tượng điều chỉnh không mâu thuẫn với

Trang 23

16

nhau Nội dung trong văn bản QPPL đều được trình bày một cách có hệ thống, cụ thể và rõ ràng; các chính sách, chủ trương, QPPL trong từng điều khoản phải phù hợp với nội dung của điều khoản đó; các điều khoản trong một chương phải thể hiện đúng nội dung những vấn đề thuộc phạm vi điều chỉnh của chương; nội dung của các chương trong mỗi văn bản phải logic, có

sự liên kết chặt chẽ tạo nên sự thống nhất chung của toàn bộ văn bản QPPL

Về phương diện hình thức, tính thống nhất còn được thể hiện qua cấu

trúc, cách sắp xếp, phân loại thứ bậc, hiệu lực của QPPL Đối với một văn bản QPPL, tính đồng bộ, thống nhất thể hiện ngay trong cơ cấu của văn bản Cơ cấu của văn bản phải thể hiện được mối liên hệ logic giữa các phần, chương, mục, điều, khoản, điểm với cách trình bày, cách đánh số thứ tự Mỗi phần, chương, mục, điều, khoản, điểm đều có nội dung thể hiện chủ đề chính của văn bản, hướng tới mục tiêu chung Vì vậy, các phần cần được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý, phải thể hiện rõ được phần chung, phần riêng, những đặc thù của văn bản Tính thống nhất trong cơ cấu còn thể hiện ở việc các quy định trong cùng một văn bản phải tương quan với nhau, không mâu thuẫn, chồng chéo

Bên cạnh tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất thì tính hợp lý của văn bản QPPL cũng là một điều cần lưu ý khi kiểm tra và đánh giá văn bản QPPL vì tính hợp lý thể hiện “tính khả thi” của văn bản QPPL trên thực tế Nếu thiếu đi tính hợp lý thì văn bản dù hợp pháp nhưng cũng không thể nào phát huy hiệu quả điều chỉnh các quan hệ xã hội Có thể đưa ra những tiêu chí

để đánh giá tính hợp lý của văn bản pháp luật sau: [46]

Thứ nhất, đảm bảo hài hòa lợi ích của nhà nước và nhân dân Nhà nước

là người đại diện cho quyền lực của nhân dân, nhà nước ta là “Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân”, vì vậy những chính sách quản lý của nhà nước đưa ra chính là thể hiện cho ý chí và quyền lợi của nhân dân trên cơ

sở phù hợp với chức năng quản lý đặc thù của các cơ quan nhà nước Nhiệm

Trang 24

17

vụ quản lý của nhà nước và lợi ích chính đáng của nhân dân phải là tiêu chí hàng đầu khi thực hiện ban hành văn bản QPPL

Thứ hai, không chỉ đảm bảo hiệu quả kinh tế mà còn cả về chính trị,

văn hóa xã hội; không chỉ quan tâm mục đích trước mắt mà còn quan tâm đến mục tiêu lâu dài Xã hội phát triển không chỉ bó gọn trong một lĩnh vực mà có

sự “kéo theo” các lĩnh vực khác, khi đưa ra một quyết sách không nên thiển cận chỉ nhìn thấy lợi ích của một lĩnh vực mà quên đi các lĩnh vực khác, điều

đó đôi khi chính là một bước tạo sự thụt lùi trong quản lý, vai trò của người quản lý đất nước là phải có cái nhìn “rộng” giúp cho đất nước phát triển toàn diện và lâu dài Chính vì lẽ đó, trong công tác ban hành văn bản luôn chú ý đến sự “ảnh hưởng đa chiều” của văn bản QPPL với xã hội

Thứ ba, tính cụ thể và phù hợp với từng vấn đề và đối tượng thực hiện

Văn bản QPPL để thực hiện hiệu quả trong thực tế trước hết phải cụ thể, phải quy định rõ các đối tượng nằm trong sự điều chỉnh của văn bản QPPL được

và không được làm gì Văn bản quy phạm đề ra phải có sự phù hợp, phải tính đến việc “có thể thực hiện được” của các đối tượng mà văn bản QPPL hướng tới trong vấn đề đã được xác định trong văn bản

Thứ tư, đảm bảo kỹ thuật lập quy, ngôn ngữ, văn phong, cách trình bày

rõ ràng, dễ hiểu, ngắn gọn, chính xác không đa nghĩa, không bao hàm sự mâu thuẫn hay phủ định lẫn nhau giữa các chương, điều và được thể hiện trong một chỉnh thể thống nhất, sự mâu thuẫn, phủ định lẫn nhau giữa các quy định pháp luật chính là một nguy cơ làm “gãy đổ” hệ thống Do đó cần hạn chế tối

đa sự mâu thuẫn, chồng chéo và loại bỏ sự tiêu cực này

Trang 25

18

1.2 Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân

và Ủy ban nhân dân cấp huyện

1.2.1 Khái niệm kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp huyện

Kiểm tra văn bản QPPL là nhiệm vụ mới được chuyển giao từ Viện kiểm sát nhân dân sang hệ thống cơ quan hành pháp theo Nghị quyết 51/2001/QH10 ngày 25/12/2001 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Theo đó Viện kiểm sát nhân dân không còn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc ban hành văn bản QPPL mà nhiệm vụ này được chuyển sang cho các cơ quan hành pháp

Kiểm tra, theo nghĩa chung nhất trong nghiên cứu về luật học, là “một chức năng quản lý, có chức năng xem xét tình hình và kết luận thực tế thi hành pháp luật, chính sách chủ trương của nhà nước, thực hiện nhiệm vụ chính trị - kinh tế - xã hội được giao” [42, tr565]

Trong khoa học quản lý, “công việc kiểm tra bao gồm việc đo lường và chấn chỉnh sự hoạt động của các bộ phận cấp dưới để tin chắc rằng các mục tiêu và các kế hoạch để đạt được các mục tiêu này đã đang được hoàn thành” [16, tr540]

Trước đây, khái niệm kiểm tra văn bản QPPL chưa được định nghĩa ở bất cứ một văn bản nào Hiện nay, tại Khoản 4 Điều 2 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/5/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều

và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản QPPL (gọi tắt là Nghị định 34) thì kiểm tra văn bản QPPL được định nghĩa khái quát như sau: Kiểm tra văn

bản QPPL là việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản QPPL được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật

Trang 26

19

Qua phân tích trên, theo ý kiến cá nhân có thể nêu khái niệm kiểm tra

văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện như sau: Kiểm tra văn bản

QPPL của HĐND, UBND cấp huyện là hoạt động được tiến hành thường xuyên của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với các văn bản QPPL do HĐND, UBND cấp huyện ban hành theo quy định của pháp luật, qua đó xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất của văn bản quy phạm pháp luật được kiểm tra và xử lý văn bản trái pháp luật

Cần phân biệt hoạt động kiểm tra với các hoạt động tương tự như: hoạt động thẩm định, thẩm tra dự thảo văn bản QPPL (hoạt động diễn ra trước khi ban hành văn bản) và hoạt động rà soát văn bản QPPL (hoạt động diễn ra sau khi ban hành văn bản) Các hoạt động này đều do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện, có mục tiêu chung là đảm bảo sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật Tuy nhiên giữa chúng vẫn có sự khác biệt, không thể nhầm lẫn với nhau được

So sánh hoạt động thẩm tra, thẩm định dự thảo văn bản QPPL với hoạt động kiểm tra văn bản QPPL thì hoạt động thẩm định, thẩm tra chỉ được thực hiện trước khi văn bản QPPL được ban hành Hai hoạt động này có sự khác

nhau cơ bản về đối tượng, thời điểm, giá trị pháp lý: Một là, về đối tượng,

thẩm định, thẩm tra được áp dụng với dự thảo văn bản QPPL còn hoạt động

kiểm tra được áp dụng với văn bản QPPL đã được ban hành; Hai là, về thời

điểm thực hiện, thẩm định, thẩm tra được thực hiện trước khi ban hành văn bản QPPL còn hoạt động kiểm tra áp dụng sau khi văn bản QPPL được ban

hành; Ba là, về giá trị pháp lý ý kiến của thẩm định, thẩm tra không có giá trị

bắt buộc mà chỉ có tính chất tham mưu, tư vấn cho các chủ thể có thẩm quyền trước khi quyết định thông qua một dự thảo văn bản QPPL Trong khi đó, cơ quan kiểm tra khi đã có kết luận về tính trái pháp luật của văn bản QPPL thì

sẽ căn cứ vào kết quả đó mà đưa ra biện pháp xử lý hoặc đề nghị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành xử lý

Trang 27

20

So sánh hoạt động rà soát văn bản QPPL và hoạt động kiểm tra văn bản QPPL nhận thấy rằng đây đều là hoạt động được thực hiện sau khi văn bản được ban hành Tuy nhiên, hoạt động rà soát văn bản QPPL do nhiều chủ thể thực hiện bao gồm cả chủ thể cơ quan nhà nước và cả công dân, các cơ quan,

tổ chức xã hội trong khi đó kiểm tra được thực hiện bởi các cơ quan, người có thẩm quyền trong nội bộ hệ thống cơ quan hành chính nhà nước từ cấp Bộ trở xuống sau khi văn bản đã được ban hành Hai hoạt động này dù chung mục đích là tìm ra những quy định mâu thuẫn, trái pháp luật nhưng rà soát còn xem xét về cả hiệu lực pháp lý của văn bản làm cơ sở cho việc hệ thống hóa

Rà soát còn giúp cho việc tìm hiểu, sử dụng, áp dụng dễ dàng các văn bản QPPL Còn kiểm tra văn bản chỉ với mục đích phát hiện những sai sót, khiếm khuyết hay tính trái pháp luật của các văn bản QPPL để kịp thời xử lý nhằm nâng cao chất lượng của hệ thống pháp luật

1.2.2 Đặc điểm của kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện

Một là, nội dung của kiểm tra văn bản QPPL là xem xét, đánh giá và kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản QPPL

So sánh với hoạt động kiểm tra nói chung có thể thấy, với hoạt động kiểm tra văn bản QPPL có sự khác biệt bởi chính đối tượng và nội dung của hoạt động này Đối tượng của kiểm tra văn bản QPPL chính là văn bản QPPL, bao gồm nghị quyết của HĐND các cấp và quyết định, chỉ thị của UBND các cấp Về nội dung của kiểm tra văn bản QPPL đó là phải xem xét, đánh giá và đưa ra kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản QPPL Điều này rất quan trọng bởi nếu cơ quan kiểm tra kết luận văn bản QPPL bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất thì văn bản QPPL đó sẽ được triển khai và phát huy hiệu lực trên thực tế, ngược lại nếu cơ quan kiểm tra kết luận văn bản QPPL có dấu hiệu bất hợp hiến, bất hợp pháp và không

Trang 28

kiểm tra thực hiện nhiệm vụ

Ba là, Mục đích của kiểm tra văn bản QPPL là kịp thời phát hiện những văn bản đã ban hành có nội dung không phù hợp, trái với quy định của pháp luật để kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý Thông qua đó

sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả trong công tác soạn thảo, ban hành

và quản lý văn bản

Bốn là, Kiểm tra văn bản QPPL là hoạt động có tính chất phòng ngừa

Hoạt động kiểm tra được tiến hành thường xuyên, có thể là kiểm tra đột xuất theo vụ việc hoặc theo chuyên đề, theo ngành, lĩnh vực ngay cả khi chưa biết rõ văn bản có dấu hiệu trái pháp luật thì cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm kiểm tra văn bản vẫn phải thực hiện nhiệm vụ kiểm tra (hay tự kiểm tra văn bản do mình ban hành)

1.2.3 Nguyên tắc kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện

Kiểm tra văn bản QPPL nói chung và văn bản của HĐND, UBND nói riêng cần đảm bảo các nguyên tắc sau :

Nguyên tắc thường xuyên, toàn diện, kịp thời: Hoạt động kiểm tra phải

được tiến hành thường xuyên, toàn diện, kịp thời;

Trang 29

22

Nguyên tắc khách quan, công khai, minh bạch: Hoạt động kiểm tra phải

được tiến hành trên cơ sở quy định khách quan, diễn biến và kết quả kiểm tra được phổ biến bằng các hình thức thông tin đến với các cơ quan liên quan, công dân trừ những văn bản thuộc bí mật nhà nước;

Nguyên tắc pháp chế: Hoạt động kiểm tra, phải được tiến hành đúng

thẩm quyền, trình tự, thủ tục luật định;

Nguyên tắc phối hợp giữa các cơ quan: Kết hợp nhịp nhàng đồng bộ

giữa cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản với các cơ quan ban hành văn bản

Nguyên tắc không vụ lợi: Các cơ quan, tổ chức, cá nhân không được lợi

dụng việc kiểm tra, xử lý văn bản vì mục đích vụ lợi, gây khó khăn cho hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản và can thiệp vào quá trình xử lý văn bản trái pháp luật;

Nguyên tắc thông tin đầy đủ, chính thức về kết quả kiểm tra: Sau khi

tiến hành công tác kiểm tra, cơ quan chịu trách nhiệm kiểm tra phải có kết luận và cung cấp thông tin về kết quả kiểm tra văn bản cho cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản QPPL;

Nguyên tắc chịu trách nhiệm: Cơ quan, người có thẩm quyền kiểm tra,

xử lý văn bản chịu trách nhiệm về kết luận kiểm tra và quyết định xử lý văn bản

1.2.4 Nội dung kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện

Nội dung kiểm tra văn bản là việc xem xét, đánh giá, kết luận về tính hợp hiến, hợp pháp và tính thống nhất của văn bản QPPL theo các nội dung được quy định tại các văn bản hiện hành về hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL Nội dung kiểm tra văn bản được mô phỏng như sau:

Trang 30

23

Xác định văn bản QPPL được ban hành đúng thẩm quyền

Văn bản QPPL được ban hành đúng thẩm quyền là văn bản tuân thủ đúng quy định của pháp luật đối với thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền

về nội dung

Đúng thẩm quyền về hình thức là việc cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản theo đúng hình thức (tên loại văn bản) được quy định cho

cơ quan, người có thẩm quyền đó theo quy định của pháp luật

Đúng thẩm quyền về nội dung là việc cơ quan, người có thẩm quyền chỉ ban hành các văn bản có nội dung phù hợp với thẩm quyền của mình đã được pháp luật cho phép hoặc đã được phân công, phân cấp Thẩm quyền này được xác định trong các văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn quy định về phân công, phân cấp, văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước cụ thể của từng cơ quan, từng cấp, từng ngành, từng lĩnh vực

Xác định nội dung của văn bản phù hợp với quy định của pháp luật hiện hành

Đó là Nghị quyết của HĐND cấp huyện phải phù hợp với văn bản của các cơ quan nhà nước trung ương và văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh; Quyết định, Chỉ thị của UBND cấp huyện phải phù hợp với văn bản của

Nội dung kiểm tra

Căn cứ ban hành

Thể thức, kỹ thuật trình bày

Nội dung văn bản

Thẩm

quyền

Trình tự, thủ tục

Trang 31

Xác định văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đúng căn cứ pháp lý

Căn cứ pháp lý cho việc ban hành văn bản bao gồm: Văn bản QPPL của các cơ quan nhà nước cấp trên có thẩm quyền quy định về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan ban hành văn bản; Văn bản pháp lý cao hơn quy định

về vấn đề thuộc đối tượng, phạm vi điều chỉnh, nội dung của văn bản Các căn

cứ pháp lý làm cơ sở ban hành văn bản QPPP là văn bản QPPL có hiệu lực pháp lý cao hơn đang có hiệu lực hoặc đã công bố hoặc ký ban hành chưa có hiệu lực nhưng phải có hiệu lực trước hoặc cùng thời điểm với văn bản đó

Xác định văn bản QPPL được ban hành phải được trình bày đúng thể thức và kỹ thuật

Thể thức là cách thức thể hiện văn bản Hay nói cách khác đó là tập hợp các thành phần cấu thành văn bản bao gồm phần mở đầu, phần nội dung và phần kết thúc Thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản QPPL hiện nay phải tuân theo quy định tại Luật 2015, Chương V Nghị định 34/2016/NĐ-CP; Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư; Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/02/2010 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư

Văn bản được ban hành phải tuân thủ đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành theo quy định của pháp luật

Trang 32

25

Kiểm tra trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành văn bản QPPL làm cơ

sở cho việc xử lý văn bản và xem xét, xử lý trách nhiệm cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản Đồng thời, qua đó xem xét trách nhiệm của cơ quan, người có trách nhiệm tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, thông qua văn bản và kiến nghị xử lý theo quy định

Văn bản được ban hành đúng trình tự, thủ tục là văn bản được xây dựng, ban hành tuân thủ đầy đủ các quy định về trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành theo quy định của Luật 2015, Nghị định 34 (Trước đây là Luật

2004, Nghị định số 91/2006/NĐ-CP ngày 06/9/2006 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật 2004) Các nội dung trên sẽ được kiểm tra khi phát hiện văn bản có nội dung trái pháp luật và kiến nghị xử lý theo thẩm quyền

1.2.5 Phương thức, quy trình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện

Gồm có hai phương thức tự kiểm tra văn bản và kiểm tra văn bản theo thẩm quyền Đối với phương thức kiểm tra theo thẩm quyền gồm có kiểm tra văn bản do cơ quan, người ban hành văn bản gửi đến; Kiểm tra văn bản khi nhận được yêu cầu, kiến nghị của các cơ quan, tổ chức, cá nhân phản ánh về văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; Kiểm tra văn bản theo địa bàn tại cơ quan ban hành văn bản, chuyên đề, ngành, lĩnh vực

Quy trình kiểm tra văn bản QPPL có thể được hiểu là trình tự, các giai đoạn và các thao tác cụ thể trong kiểm tra văn bản QPPL được quy định chi tiết và thực hiện thống nhất

Quy trình tự kiểm tra văn bản QPPL gồm các công đoạn sau:

Bước 1 Gửi văn bản kiểm tra:

Đối với văn bản QPPL đã được cơ quan, người có thẩm quyền ký ban hành, khi phát hành văn bản, cơ quan, đơn vị làm nhiệm vụ phát hành văn bản

Trang 33

26

có trách nhiệm đồng gửi văn bản cho đơn vị được phân công làm đầu mối tự kiểm tra văn bản đó để thực hiện việc tự kiểm tra

Bước 2 Nhận văn bản kiểm tra:

Cơ quan được phân công làm đầu mối kiểm tra văn bản phải vào sổ để theo dõi việc gửi văn bản và nhận văn bản tự kiểm tra Việc vào sổ theo dõi là

để kiểm tra được số văn bản đã phát hành được kiểm tra, theo dõi thời gian kiểm tra văn bản

Bước 3 Phân công kiểm tra:

Cơ quan, đơn vị được phân công làm đầu mối kiểm tra, khi nhận văn bản tự kiểm tra, phân công chuyên viên hoặc cộng tác viên nghiên cứu, kiểm tra toàn bộ văn bản

Bước 4 Thực hiện kiểm tra văn bản:

Chuyên viên hoặc cộng tác viên thực hiện việc kiểm tra văn bản theo tiêu chí về căn cứ pháp lý ban hành văn bản; thẩm quyền ban hành văn bản; nội dung văn bản; thể thức và kỹ thuật trình bày; thủ tục, xây dựng và ban hành

+ Trường hợp không phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, chuyên viên kiểm tra phải ký tên và ghi rõ ngày, tháng, năm kiểm tra vào góc trên bên phải của văn bản mà mình đã kiểm tra để xác nhận việc kiểm tra, thời điểm kiểm tra và lập Bản báo cáo tóm tắt (tên văn bản, căn cứ đối chiếu, kiểm tra, kết luận của người kiểm tra về tính hợp hiến, hợp pháp của văn bản ) để báo cáo Thủ trưởng đơn vị được phân công làm đầu mối tự kiểm tra

+ Trường hợp phát hiện văn bản có dấu hiệu trái pháp luật, chuyên viên kiểm tra văn bản phải ký tên, ghi rõ ngày, tháng, năm kiểm tra; đồng thời lập Phiếu Kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật theo mẫu và Hồ sơ kiểm tra văn bản theo quy định trình Thủ trưởng đơn vị được phân công làm đầu mối

tự kiểm tra văn bản xem xét, quyết định

Trang 34

27

Bước 5 Báo cáo kết quả tự kiểm tra

Đối với văn bản có nội dung trái pháp luật, đơn vị được phân công tự

kiểm tra có trách nhiệm phối hợp trao đổi làm rõ những nội dung trái pháp

luật, thống nhất các biện pháp xử lý và chuẩn bị báo cáo với cơ quan, người

đã ban hành văn bản đó để kịp thời xử lý theo quy định Báo cáo kết quả tự

kiểm tra văn bản có dấu hiệu trái pháp luật gồm những nội dung cơ bản: Đánh

giá nội dung có dấu hiệu trái pháp luật của văn bản và đề xuất hướng xử lý,

thời hạn xử lý, biện pháp khắc phục hậu quả do văn bản gây ra (nếu có); Xác

định trách nhiệm của cán bộ, công chức tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm

tra và ban hành văn bản

Bước 6 Xử lý văn bản trái pháp luật đã ban hành

Trên cơ sở báo cáo kết quả tự kiểm tra, cơ quan, người có thẩm quyền

có trách nhiệm xử lý kịp thời văn bản trái pháp luật đã ban hành

Bước 7 Công bố, lưu trữ kết quả tự kiểm tra:

Kết quả tự xử lý văn bản QPPL trái pháp luật phải được công bố công

khai, đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng và phải được đăng công

báo, đăng trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành hoặc niên yết tại

trụ sở cơ quan ban hành hoặc các địa điểm khác có liên quan, đồng thời gửi

cho cơ quan, tổ chức, cá nhân mà trước đó văn bản đã được gửi

Kết thúc quá trình kiểm tra, người kiểm tra phải lập hồ sơ về văn bản có

nội dung trái pháp luật, chuyển bộ phận cơ sở dữ liệu nhằm xây dựng hệ

thống cơ sở dữ liệu phục vụ công tác này, chuyển bộ phận văn thư lưu trữ hồ sơ

Hình 1.1: Sơ đồ quy trình tự kiểm tra và xử lý văn bản

quy phạm pháp luật

(4) Tiến hành kiểm tra

(3)

Chuyên viên/Công tác viên

Thủ trưởng cơ quan kiểm tra

Cơ quan/người có thẩm quyền

Xử lý- Đưa tin

(6) (7)

Phát hiện

Không phát hiện

Lập báo cáo

Lập phiếu

(5)

Phân công

Trang 35

28

Quy trình kiểm tra văn bản QPPL theo thẩm quyền:

Quy trình kiểm tra văn bản theo thẩm quyền cũng tương tự như quy

trình tự kiểm tra, gồm các bước gửi văn bản kiểm tra, nhận văn bản, tổ chức kiểm tra và xử lý kết quả Tuy nhiên trong từng bước, nội dung công việc có

sự khác biệt Cụ thể quy trình gồm các bước như sau:

Bước 1 Gửi văn bản kiểm tra:

Trong văn bản QPPL, ở phần “Nơi nhận” của văn bản phải ghi rõ cơ quan có thẩm quyền kiểm tra văn bản Sau khi ký, văn bản QPPL phải được gửi cho cơ quan kiểm tra theo thời gian quy định, cụ thể: văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp tỉnh gửi đến Cục Kiểm tra văn bản của Bộ Tư pháp và tổ chức pháp chế của bộ, cơ quan ngang bộ có thẩm quyền kiểm tra theo ngành, theo lĩnh vực Văn bản của HĐND, UBND cấp huyện gửi đến Sở Tư pháp; văn bản của HĐND, UBND cấp xã gửi đến Phòng Tư pháp để kiểm tra

Bước 2 Tiếp nhận văn bản thuộc đối tượng kiểm tra:

Cơ quan có trách nhiệm kiểm tra văn bản theo thẩm quyền nhận văn bản do các cơ quan gửi tới, mở Sổ văn bản đến để theo dõi việc gửi và tiếp nhận văn bản thuộc đối tượng kiểm tra

Bước 3 Phân công người kiểm tra:

Thủ trưởng cơ quan kiểm tra phân công người kiểm tra (chuyên viên kiểm tra hoặc cộng tác viên kiểm tra)

Bước 4 Tiến hành kiểm tra:

Người kiểm tra văn bản tiến hành xem xét, đánh giá tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản được kiểm tra

Để có thể xem xét, đánh giá về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của văn bản được kiểm tra, người kiểm tra văn bản cần tập hợp căn cứ pháp lý

để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra, đánh giá và kết luận về tính hợp pháp của văn bản căn cứ theo 5 tiêu chí: có căn cứ pháp lý;

Trang 36

29

đúng thẩm quyền; nội dung phù hợp với các quy định của pháp luật; trình bày đúng thể thức và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thủ tục xây dựng, ban hành và đăng công báo

Bước 5 Báo cáo kết quả kiểm tra văn bản và đề xuất hướng xử lý:

Khi phát hiện văn bản được kiểm tra có dấu hiệu trái pháp luật, người kiểm tra văn bản lập Phiếu kiểm tra văn bản, báo cáo Thủ trưởng cơ quan kiểm tra về kết quả kiểm tra và đề xuất hướng xử lý

Căn cứ vào tính chất, mức độ trái pháp luật của văn bản và hậu quả gây

ra, người kiểm tra văn bản có thể đề xuất hình thức xử lý văn bản trái pháp luật; xử lý trách nhiệm của cơ quan, người có thẩm quyền đã ban hành văn bản trái pháp luật; xử lý trách nhiệm đối với cán bộ, công chức đã tham mưu soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, ban hành văn bản trái pháp luật trong trường hợp người đó có lỗi

Bước 6: Kết luận kiểm tra văn bản trái pháp luật:

Thủ trưởng cơ quan kiểm tra văn bản xem xét, kết luận theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, kết luận về nội dung trái pháp luật của văn bản Kết luận kiểm tra phải có các nội dung cơ bản như: tên văn bản được kiểm tra; tên và nội dung văn bản làm cơ sở pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; ý kiến về nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra; yêu cầu cơ quan, người đã ban hành văn bản xem xét, xử lý và thông báo kết quả xử lý văn bản theo quy định của pháp luật, đồng thời kiến nghị việc xem xét, xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, người đã tham mưu xây dựng, ban hành văn bản trái pháp luật Kết luận kiểm tra được gửi cho cơ quan, người đã ban hành văn bản để xem xét, xử lý theo quy định của pháp luật

Bước 7: Cơ quan, người đã ban hành văn bản phải tổ chức xem xét, xử

lý văn bản đó và thông báo kết quả xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản Trong

Trang 37

xử lý văn bản đã được đã được kết luận trái pháp luật

Trang 38

31

Hình 1.2: Sơ đồ quy trình kiểm tra xử lý văn bản QPPL theo thẩm quyền

Trách nhiệm

thực hiện Nội dung công việc và quy trình thực hiện

Cơ quan kiểm tra

văn bản

Người kiểm tra

Thủ trưởng cơ

quan kiểm tra văn

bản/cơ quan, người

Tiếp nhận văn bản thuộc đối tượng kiểm tra

Phân công người kiểm tra

Tập hợp căn cứ pháp lý để xác định nội dung trái pháp luật của văn bản được kiểm tra

Thực hiện kiểm tra văn bản theo các nội dung kiểm tra

Lập Phiếu kiểm tra văn bản (đối với trường hợp văn bản được kiểm tra

có dấu hiệu trái pháp luật)

Báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất hướng xử lý (Hồ sơ trình: Văn bản có dấu hiệu trái pháp luật; Phiếu kiểm tra văn bản; Báo cáo kết quả kiểm tra và đề xuất hướng xử lý)

Trình Thủ trưởng cơ quan kiểm tra

- Kết luận về nội dung trái pháp luật của văn bản (Trường hợp cần thiết có thể tổ chức lấy ý kiến của các cơ quan, đơn

vị liên quan trước khi kết luận kiểm tra văn bản)

- Chỉ đạo việc gửi kết luận kiểm tra văn bản cho cơ quan, người đã ban hành văn bản để xem xét xử lý theo quy định

Trang 39

32

Cơ quan, người đã ban hành văn

bản được kiểm tra (có văn bản

được kiểm tra)

Cơ quan, người đã ban hành văn

bản được kiểm tra (có văn bản

được kiểm tra)

Cơ quan kiểm tra/cơ quan,

người có thẩm quyền đã kết

luận kiểm tra văn bản

Cơ quan, người có thẩm

quyền xử lý văn bản

Cơ quan, người đã ban hành

văn bản được kiểm tra (có văn

bản được kiểm tra)

Không nhất trí với kết quả xử lý

Không nhất trí với nội dung kết luận kiểm tra

Nhất trí với nội dung kết luận kiểm tra

- Tổ chức xem xét,

xử lý văn bản trái pháp luật;

- Thông báo kết quả

xử lý cho cơ quan kiểm tra văn bản;

- Thời gian thực hiện 30 ngày kể từ ngày nhận được kết luận kiểm tra

Giải trình và đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, xử lý văn bản xem xét lại kết luận kiểm tra văn bản trái pháp luật

Báo cáo cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, xử lý

Xem xét lại kiểm tra văn bản trái pháp luật

Cơ quan, người đã ban hành văn bản được kiểm tra (có văn bản được kiểm tra)

Xem xét, quyết định việc

xử lý văn bản

- Báo cáo Thủ tướng Chính phủ nếu cơ quan, người đã

xử lý văn bản là HĐND, Chủ tịch UBND cấp tỉnh

- Báo cáo Chủ tịch UBND cấp tỉnh nếu cơ quan, người

đã xử lý văn bản là HĐND, Chủ tịch UBND cấp huyện

Không thay đổi

Trang 40

33

1.2.6 Thẩm quyền kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân

Tự kiểm tra của cơ quan ban hành văn bản:

Tự kiểm tra là hoạt động kiểm tra văn bản được thực hiện thường xuyên bởi cơ quan, người có thẩm quyền ban hành hoặc liên tịch ban hành văn bản được kiểm tra với tinh thần là xem xét, đánh giá tính hợp pháp của văn bản do mình ban hành

Đối với văn bản QPPL ở địa phương thì trách nhiệm thực hiện tự kiểm tra đối với các văn bản của chính quyền địa phương thuộc về Trưởng Ban pháp chế của HĐND giúp HĐND thực hiện việc tự kiểm tra văn bản của HĐND; Giám đốc Sở Tư pháp, Trưởng phòng Tư pháp, công chức tư pháp -

hộ tịch cấp xã là đầu mối giúp HĐND và UBND cùng cấp thực hiện việc tự kiểm tra văn bản do mình ban hành

Kiểm tra theo thẩm quyền:

Kiểm tra văn bản theo thẩm quyền là quá trình kiểm tra của cơ quan, người có thẩm quyền theo nhiệm vụ được Hiến pháp và các Luật liên quan quy định và được phân công, phân cấp rõ hơn về thẩm quyền, trách nhiệm giữa các cơ quan của Chính phủ và UBND các cấp

Kiểm tra văn bản theo thẩm quyền đối với văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện được thực hiện như sau:

- Thủ tướng Chính phủ kiểm tra nghị quyết của HĐND cấp tỉnh, quyết định của UBND cấp tỉnh

- Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ kiểm tra văn bản do HĐND, UBND cấp tỉnh ban hành về những nội dung có liên quan đến ngành, lĩnh vực

do mình phụ trách

- Bộ trưởng Bộ Tư pháp thực hiện thẩm quyền kiểm tra như các Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ khác và giúp Thủ tướng Chính phủ kiểm

Ngày đăng: 18/12/2017, 15:22

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật (2013), “Một số vướng mắc trong quá trình áp dụng Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC- BTP”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10, tr 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vướng mắc trong quá trình áp dụng Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT-BTC-BTP”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Cục Kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật
Năm: 2013
12. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2001
13. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2005
16. Harold Koontz- Cyril O’Donnell- HeinzWeihrich, Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 1999, tr540 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cốt yếu của quản lý
Nhà XB: NXB Khoa học và kỹ thuật
17. Hoàng Minh Hà (2008), “Bàn về tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về tính hợp lý của văn bản quy phạm pháp luật”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Hoàng Minh Hà
Năm: 2008
18. Nguyễn Mai Hương (2010), Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, luận văn thạc sỹ luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của HĐND và UBND trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Tác giả: Nguyễn Mai Hương
Năm: 2010
19. Nguyễn Thị Hiên (2013), Kiểm tra và xủ lý văn bản quy phạm pháp luật (qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang), luận văn thạc sỹ luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra và xủ lý văn bản quy phạm pháp luật (qua thực tiễn tỉnh Bắc Giang)
Tác giả: Nguyễn Thị Hiên
Năm: 2013
20. Hoàng Thế Liên (chủ biên) (2011), Sổ tay kỹ thuật soạn thảo, thẩm định, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay kỹ thuật soạn thảo, thẩm định, đánh giá tác động của văn bản quy phạm pháp luật
Tác giả: Hoàng Thế Liên (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Tư pháp
Năm: 2011
21. Cao Vũ Minh (2010), “Tính hợp pháp và hợp lý trong quyết định quản lý nhà nước của UBND”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 07 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính hợp pháp và hợp lý trong quyết định quản lý nhà nước của UBND”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Cao Vũ Minh
Năm: 2010
29. Tào Thị Quyên (2011), “Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tr 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở pháp lý của hoạt động kiểm tra, giám sát tính hợp hiến của văn bản quy phạm pháp luật”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Tào Thị Quyên
Năm: 2011
30. Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi (2002), Giải pháp tăng cường năng lực các cơ quan tư pháp địa phương trong việc giúp UBND các cấp xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật, đề tài khoa học, Lê Công Hòa chủ nhiệm đề tài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp tăng cường năng lực các cơ quan tư pháp địa phương trong việc giúp UBND các cấp xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
Tác giả: Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ngãi
Năm: 2002
39. Lê Hồng Sơn (2013), “Hành trình mười năm công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10, tr2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành trình mười năm công tác kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Lê Hồng Sơn
Năm: 2013
40. Phạm Hồng Thái (2011), “Văn bản văn bản quy phạm pháp luật và pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tr. 3-9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản văn bản quy phạm pháp luật và pháp luật về văn bản quy phạm pháp luật”, "Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
Tác giả: Phạm Hồng Thái
Năm: 2011
44. Đoàn Thị Tố Uyên (2009), “Khái niệm văn bản QPPL nhìn từ góc độ lí luận và thực tiễn”, Tạp chí luật học, tr. 55 – 61 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái niệm văn bản QPPL nhìn từ góc độ lí luận và thực tiễn”, "Tạp chí luật học
Tác giả: Đoàn Thị Tố Uyên
Năm: 2009
45. Đoàn Thị Tố Uyên (2011), “Pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 10 (282), tr16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Pháp luật về kiểm tra, xử lý văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam”, "Tạp chí Nhà nước và Pháp luật
Tác giả: Đoàn Thị Tố Uyên
Năm: 2011
46. Đoàn Thị Tố Uyên (2012), “Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của nước ta hiện nay”, Luận án tiến sĩ Luật học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật của nước ta hiện nay
Tác giả: Đoàn Thị Tố Uyên
Năm: 2012
1. Bộ Nội vụ, Văn Phòng Chính phủ (2005), Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5 về hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản Khác
2. Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp (2011), Thông tư liên tịch số 122/2011/TTLT- BTC-BTP ngày 17/8 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán kinh phí bảo đảm cho công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL Khác
3. Bộ Tài chính và Bộ Tư pháp (2012), Thông tư liên tịch số 47/2012/TTLT- BTC-BTP ngày 16/3 quy định việc lập dự toán, quản lý, sử dụng và quyết toán ngân sách nhà nước bảo đảm cho công tác xây dựng và hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật của HĐND, UBND Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w