1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)

98 240 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

TRẦN CÔNG HOAN

PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH

TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ TUY HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính

Mã số:60 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS VŨ ĐỨC ĐÁN

THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài “Pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính từ thực tiễn thành phố Tuy

Hòa, tỉnh Phú Yên” là luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và

Luật Hành chính của tôi

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình của riêng mình và không trùng lắp với các công trình nào của các tác giả khác Các số liệu, kết quả được sử dụng trong luận văn là trung thực có nguồn gốc rõ ràng

Học viên

Trần Công Hoan

Trang 3

Lời Câm Ơn

Với lòng kính trọng và sự tri ån såu sắc, trước tiên tôi xin gửi lời câm ơn chån thành đến quý Thæy, Cô Học viện Hành chính Quốc gia đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, tôi xin chån thành câm ơn Giâng viên PGS TS

Vũ Đức Đán đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình từ lúc định hướng chọn đề tài cũng như quá trình hoàn thiện nghiên cứu, thæy luôn động viên và täo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi có thể hoàn thành luận văn này

Tôi cũng xin câm ơn các bän bè, đồng nghiệp đã luôn quan tåm giúp đỡ, cung cçp rçt nhiều số liệu, chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế để giúp tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này

Trån trọng!

Thừa Thiên Huế, tháng năm 2017

Học viên

Træn Công Hoan

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH 7

1.1 Quan niệm về khiếu nại và khiếu nại hành chính 7

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại khiếu nại 7

1.1.2 Khái niệm, đối tượng và đặc điểm của khiếu nại hành chính 9

1.1.3 Sự khác nhau giữa khiếu nại hành chính – khiếu nại tư pháp 11

1.2 Pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính 12

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính 12 1.2.2 Nội dung của pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính 14

1.2.3 Thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính 28

1.3 Những yếu tố tác động đến kết quả thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính 30

1.3.1 Yếu tố tiếp nhận đơn khiếu nại 30

1.3.2 Yếu tố thụ lý giải quyết khiếu nại 31

1.3.3 Yếu tố đối thoại và xác minh nội dung khiếu nại 32

1.3.4 Yếu tố ra quyết định giải quyết khiếu nại 34

1.3.5 Yếu tố thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại có hiệu lực pháp luật 34 1.3.6 Ý thức trách nhiệm của các bên liên quan 35

1.3.7 Năng lực của người thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính36 Kết luận chương 1 38

Trang 5

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH

CHÍNH TẠI THÀNH PHỐ TUY HÒA 39

2.1 Sự phát triển của pháp luật giải quyết khiếu nại 39

2.2 Đặc điểm kinh tế xã hội ảnh hưởng đến kết quả thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 42

2.2.1 Đặc điểm chung về kinh tế - xã hội 42

2.2.2 Tình hình khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính tại thành phố Tuy Hòa thời gian qua 44

2.3 Kết quả giải quyết khiếu nại hành chính ở thành phố Tuy Hòa 57

2.3.1 Chỉ đạo, lãnh đạo của Đảng ủy, chính quyền thành phố trong giải quyết khiếu nại hành chính 57

2.3.2 Vài nét về bộ phận thực hiện giải quyết khiếu nại hành chính ở thành phố Tuy Hòa 60

2.3.3 Đánh giá chung việc thực hiện những quy định của pháp luật trong giải quyết khiếu nại hành chính 61

2.4 Đánh giá kết quả giải quyết khiếu nại hành chính trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên 67

2.4.1 Ưu điểm 67

2.4.2 Tồn tại hạn chế 68

2.5 Nguyên nhân của những tồn tại 69

2.5.1 Nguyên nhân chủ quan 69

2.5.2 Nguyên nhân khách quan 69

Kết luận chương 2 71

Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG, GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO THỰC HIỆN PHÁP LUẬT GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI HÀNH CHÍNH 72

3.1 Phương hướng bảo đảm thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính 72

3.2 Giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính 73

3.2.1 Giải pháp chung 73

Trang 6

3.2.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính trên địa

bàn thành phố Tuy Hòa 79

Kết luận chương 3 83

KẾT LUẬN 84

TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tổng hợp Đơn khiếu nại thuộc UBND Tp Tuy Hòa (2013 – 2016) 45Bảng 2.2: Tổng hợp kết quả giải quyết đơn khiếu nại của UBND Tp Tuy Hòa 60

Trang 8

DANH MỤC HÌNH

Hình 2.1: So sánh số đơn khiếu nại về lĩnh vực đất đai so với các lĩnh vực khác 46Hình 2.2: Kết quả giải quyết đơn khiếu nại từ 2013 – 2015 60Hình 2.3: Số đơn khiếu nại chưa được giải quyết trong năm từ 2013 – 2015 61

Trang 9

DANH MỤC TỪ VIẾT TẰT

CQHCNN: Cơ quan hành chính nhà nước HVHC: Hành vi hành chính

GD-ĐT: Giáo dục – Đào tạo

GQKN: Giải quyết khiếu nại

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Khiếu nại là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp và pháp luật quy định nhằm bảo vệ cho người có quyền lợi bị ảnh hưởng bởi quyết định hay hanh vi

của cơ quan nhà nước Điều 30 Hiến pháp năm 2013 đã quy định “1 Mọi người có

quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân 2 Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật 3 Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác” Có thể thấy, việc Hiến pháp

ghi nhận quyền khiếu nại của công dân cho thấy vị trí, vai trò quan trọng của quyền năng pháp lý này Xét trên phương diện lý thuyết thì thực hiện khiếu nại chính là phương thức quan trọng để công dân, cơ quan, tổ chức bảo vệ lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể và các quyền, lợi ích hợp pháp của mình Thông qua việc sử dụng quyền khiếu nại mà các quyền cơ bản khác như: quyền được học tập, quyền tự do tín ngưỡng, quyền bầu cử sẽ được bảo đảm và thực hiện Kiếu nại cũng là hoạt động

để góp phần vào việc thực hiện dân chủ, công khai và minh bạch hơn trong các cơ quan nhà nước nói chung và các cơ quan hành chính nói riêng Nhận thực rõ vai trò, tầm quan trọng của việc khiếu nại, tố cáo và giải quyết hiệu quả các khiếu nại, tố cáo nên Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm tới công tác này

Dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, Phú Yên, công tác giải quyết khiếu nại trên địa bàn Tp Tuy Hòa trong thời gian qua đã đạt được nhiều kết quả đáng kể Năm 2013, UBND Tp Tuy Hòa đã giải quyết xong 13/17 đơn khiếu nại hợp lệ (76,47%) [51]; năm 2014, giải quyết xong 16/20 đơn khiếu nại hợp lệ (80,00%) [58]; năm 2015, giải quyết xong 14/15 đơn khiếu nại hợp lệ (93,33%) [60] Trong 6 thán đầu năm 2016, đã giải quyết được 2/22 đpưn khiếu nại (9%) [60]

Trang 11

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giải quyết khiếu nại tại Tp Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên vẫn còn bộc lộ những tồn tại Ngoài các bất cập chung xuất phát

từ hệ thống pháp luật, thực trạng pháp luật về giải quyết khiếu nại trên địa bàn tỉnh Phú Yên còn nhiều hnnj chế Công tác quản lý, chỉ đạo, điều hành và tổ chức chưa chủ động; đội ngũ cán bộ, công chức còn thiếu về số lượng, chưa đáp ứng về chất

lượng; sự phối hợp trong hoạt động giải quyết khiếu nại với các cơ quan, tổ chức

chưa hiệu quả, sự khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn tổ chức thi hành Hơn nữa, trên thực tế công tác giải quyết khiếu nại chưa được các cấp, các ngành quan tâm xứng tầm với nhiệm vụ đặt ra, dẫn đến việc tổ chức thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại cũng gặp rất nhiều khó khăn, ảnh hưởng đến việc làm giảm đáng kể hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết khiếu nại,

tố cáo, cần có các giải pháp để giải quyết tổng thể

Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính - Từ thực tiễn TP Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên” để làm đề tài

luận văn thạc sĩ, nhằm đưa ra các giải pháp hữu hiệu để thực hiện tốt Luật khiếu nại, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân trong quá trình giải quyết khiếu nại đúng theo pháp luật

2 Tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan

Trong nhiều năm qua, có nhiều tác giả đã thực hiện các đề tài có liên quan đến Luật khiếu nại, Luật tố cáo, hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trên nhiều địa phương trong cả nước, cụ thể là:

Thứ nhất, nghiên cứu của Bùi Thị Thuận Ánh (2012) về “Giải quyết khiếu

nại trong lĩnh vực đất đai qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế”, Luận văn Thạc sĩ

Luật học, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội [2] Trong nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống hóa một số khía cạnh lý luận cơ bản về khiếu nại và giải quyết khiếu nại nói chung, trong lĩnh vực đất đai nói riêng; thông qua tìm hiểu thực tiễn và số liệu báo cáo tổng kết của thanh tra tỉnh hàng năm, tác giả đã phân tích đánh giá thực trạng khiếu nại và những vướng mắc trong việc giải quyết khiếu nại về đất đai ở tỉnh

Trang 12

Thừa Thiên Huế, theo đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại về đất đai ở tỉnh Thừa Thiên Huế

Thứ hai, nghiên cứu của Đặng Công Nhiên (2012) về “Khiếu nại hành chính

và giải quyết khiếu nại hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa

Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội [14] Để có cơ sở đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, Đặng Công Nhiên (2012) đã nêu lên được khái quát chung về khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; và tiến hành nghiên cứu thực trạng về khiếu nại và giải quyết khiếu nại hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam

Thứ ba, nghiên cứu của Lê Thị Sáu (2014) về “Hoạt động giải quyết khiếu

nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội – Thực trạng và giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội [22] Trên cơ

sở hệ thống các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại,

tố cáo; cũng như phân tích, đánh giá thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai, tác giả đã đưa ra những đề xuất chung nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật khiếu nại, tố cáo, đồng thời tác giả cũng đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn huyện Quốc Oai, Tp Hà Nội

Thứ tư, nghiên cứu của Võ Nguyên Chương (2015) về “Thi hành pháp luật

giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng”, Luận văn

Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội [63] Tác giả cho rằng, để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn Tp Đà Nẵng thì cần phải hoàn thiện các quy định của pháp luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo và hoàn thiện quy định pháp luật về đất đai; nâng cao năng lực, trình độ, ý thức trách nhiệm của người có thẩm quyền áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại về đất đai

Trang 13

Thứ năm là nghiên cứu của Dương Thị Thanh Huyền (2015) về “Giải quyết

khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai – Qua thực tiễn thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình”, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội [8]

Tương tự như nghiên cứu của Võ Nguyên Chương (2015) trên địa bàn Tp Đà Nẵng, Dương Thị Thanh Huyền (2015) cũng đề nghị rằng, cần phải hoàn thiện pháp luật

về giải quyết khiếu nại hành chính về đất đai để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai ở thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình

Trên cơ sở các nghiên cứu trước cho thấy, lĩnh vực khiếu nại hành chính nói chung, khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai nói riêng đã được nhiều tác giả thực hiện ở các địa phương khác nhau Điều này cho thấy, hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo phát sinh thường xuyên, liên tục ở tất cả các địa phương, nên việc nghiên cứu về pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính tuy không mới nhưng là cần thiết cho thực tiễn ở Tp Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nhằm mục đích nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chín tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên Trên cơ sở đánh giá thực trạng, phân tích cá nguyên nhân của thực trạng, luận văn đề xuất c một số phương hướng về các giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật khiếu nại hành chính trên địa bàn thành phố Tuy Hòa, trong chương trình tổng thể

về cải cách hành chính đến năm 2020 và trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn đặt ra các nhiệm vụ nghiên cứu sau:

Luận văn làm rõ cơ sở lý luận của việc thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính; phân tích nội dung của hoạt động thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính

Trang 14

Phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính ở thành phố Tuy Hòa, đánh giá những kết quả đã đạt được, những tồn tại, hạn chế của thực trạng áp dụng pháp luật trong giải quyết khiếu nại hành chính và làm rõ nguyên nhân của những hạn chế đó

Trên cơ sở đó, đưa ra các quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luạt về giải quyết khiếu nại hành chính ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên nói riêng và tại Việt Nam nói chung

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính tại thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng giải quyết khiếu nại hành

chính ở thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

Về thời gian: Luận văn nghiên cứu thực trạng thực hiện pháp luật về giải

quyết khiếu nại hành chính từ trước đến nay, tham khảo số liệu từ năm 2013 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu một cách khách quan dựa trên

phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về hoạt động giải quyết khiêu nại hành chính

Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận, luận văn sử dụng

các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp thống kê và một số phương pháp khác để tiếp cận, nghiên cứu những vấn đề thuộc nội dung của đề tài

Trang 15

Luận văn cũng kế thừa, tham khảo một số tài liệu, một số cuộc khảo sát, các báo cáo liên quan đến giải quyết khiếu nại hành chính của UBND Tp Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, từ năm 2013 đến nay

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Luận văn đúc kết một số vấn đề lý luận của pháp luật về khiếu nại hành chính, đánh giá thực tiễn hoạt động thực hiện pháp luật về khiếu nại hành chính ở

Tp Tuy Hòa, đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về khiếu nại hành chính, góp phần vào tăng cường hiệu lực của pháp luật đối với lĩnh vực khiếu nại hành chính, đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới và hội nhập quốc tế ngày nay

Đây là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên liên quan đến pháp luật về khiếu nại hành chính – từ thực tiễn Tp Tuy Hòa Vì vậy, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho tất cả cán bộ, công chức làm việc trong hệ thống cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn Tp Tuy Hòa nói riêng

và thực hiện pháp luật trên toàn quốc nói chung Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc giảng dạy, học tập, nghiên cứu hoặc bất kỳ ai quan tâm đến lĩnh vực này

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung của pháp luật về giải quyết khiếu nại hành

chính

Chương 2: Thực trạng thực hiẹn pháp luật giải quyết khiếu nại hành chính

tại thành phố Tuy Hòa

Chương 3: Phuwong hướng giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật khiếu

nại hành chính trên địa bàn thành phố Tuy Hòa

Trang 16

Chương 1:

NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA PHÁP LUẬT VỀ GIẢI QUYẾT KHIẾU

NẠI HÀNH CHÍNH

1.1 Quan niệm về khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính

1.1.1 Khái niệm, đối tượng và đặc điểm của khiếu nại hành chính

Khái niệm khiếu nại hành chính

Khiếu nại hành chính (KNHC) là loại hình khiếu nại phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, xảy ra trong hoạt động của tất cả các cơ quan nhà nước, được giải quyết theo các thủ tục hành chính [36]

Trần Văn Sơn (2005) cho rằng khiếu nại hành chính là từ ngữ để chỉ hành vi của cá nhân hay cơ quan, tổ chức đề nghị với cơ quan hành chính nhà nước hoặc với người có thẩm quyền của cơ quan đó xem xét lại các QĐHC, HVHC khi có căn

cứ cho rằng quyết định, hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình [48] Theo Hoàng Ngọc Dũng (2015), khiếu nại hành chính là việc

cá nhân, cơ quan, tổ chức yêu cầu CQHCNN, cơ quan khác của nhà nước hay tổ chức sự nghiệp công (với tư cách là chủ thể quản lý) xem xét lại QĐHC, HVHC nào đó của CQHCNN, cơ quan, tổ chức khác của Nhà nước đã xâm phạm tới quyền, lợi ích của mình [16]

Đối tượng của khiếu nại hành chính

“Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.” (khoản 3, Điều 3, luật Tố tụng

hành chính), còn “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà

nước, cơ quan, tổ chức được giao thực hiện quản lý hành chính nhà nước ban hành hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan, tổ chức đó ban hành quyết định về vấn đề

cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể.” (khoản 1, Điều 3) [36] Như vậy, có thể hiểu rằng đối

tượng khiếu nại hành chính là các QĐHC, HVHC của CQHCNN, của người có

Trang 17

thẩm quyền trong CQHCNN hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức, khi người khiếu nại có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó trái với pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại

Đặc điểm của khiếu nại hành chính

Trên cơ sở các khái niệm, quan điểm về khiếu nại hành chính, ta có thể đưa

ra 08 đặc điểm của khiếu nại hành chính, cụ thể như sau:

Thứ nhất, khiếu nại hành chính là một trong các quyền công dân hiến định

trong pháp luật Việt Nam; KNHC chỉ phát sinh trong lĩnh vực hoạt động quản lý HCNN, đó là hoạt động chấp hành - điều hành giữa đối tượng quản lý là cá nhân, tổ chức với chủ thể quản lý là CQHCNN hoặc người có thẩm quyền trong CQHCNN

Thứ hai, khiếu nại hành chính xuất phát từ nhận thức chủ quan của người

khiếu nại, khi họ có căn cứ cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại trực tiếp bởi QĐHC hoặc HVHC

Thứ ba, khiếu nại hành chính luôn mang trong mình những thông tin về sự vi

phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hoặc sự vi phạm của cán bộ, công chức đã được pháp luật quy định

Thứ tư, người khiếu nại không thể tự khôi phục được những quyền, lợi ích

của mình bị xâm phạm bởi việc làm trái pháp luật của CQNN, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, đơn vị sự nghiệp hoặc bất cứ cá nhân có thẩm quyền nào có gây ra mà họ khiếu nại, trông chờ vào quyết định giải quyết khiếu nại của CQHCNN theo luật định

Thứ năm, giải quyết KNHC phải tuân theo thủ tục hành chính nhất định do

các CQHCNN thực hiện; thủ tục giải quyết KNHC đơn giản hơn so với thủ tục tố tụng do các cơ quan tư pháp tiến hành

Thứ sáu, mục đích của KNHC là nhằm khôi phục lại những quyền và lợi ích

hợp pháp bị xâm phạm bởi việc làm trái pháp luật của CQHCNN, của người có thẩm quyền trong CQHCNN gây ra

Trang 18

Thứ bảy, phạm vi phát sinh KNHC là rất rộng, trong các hoạt động liên quan

đến các lĩnh vực QLNN như quản lý, sử dụng đất đai, nhà ở, xây dựng, đăng ký kinh doanh, thuế, hải quan, kỷ luật CB,CC, xử lý vi phạm hành chính

Thứ tám, chủ thể của KNHC rất rộng, bao gồm tất cả những cơ quan, tổ

chức, cá nhân có mối quan hệ về quyền, lợi ích với CQHCNN trong hoạt động QLNN (mối quan giữa chấp hành và điều hành)

1.1.2 Sự khác nhau giữa khiếu nại hành chính – khiếu nại tư pháp

Theo Luật Tố tụng hành chính, “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu

nại quyết định, hành vi trong tố tụng hành chính của cơ quan, người tiến hành tố tụng hành chính khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” (khoản 1, Điều 327) [36]; Bộ luật

Tố tụng dân sự quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định,

hành vi trong tố tụng dân sự của cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự khi có căn

cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình.” (khoản 1, Điều 499) [36]; còn Bộ luật Tố tụng hình sự nêu rõ

“Cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình.” (khoản

1, Điều 469) [38] Như vậy, có thể hiểu rằng, khiếu nại tư pháp là việc công dân hay

tổ chức đề nghị Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan Thi hành án xem xét, sửa chữa một việc làm hoặc thay đổi một quyết định trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mà họ cho rằng việc làm hoặc quyết định đó là không đúng pháp luật, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ Theo đó, đối tượng của khiếu nại tư pháp là quyết định tố tụng, hành

vi tố tụng; còn chủ thể tiến hành tố tụng là do các cơ quan Tư pháp tiến hành giải quyết theo quy định của Luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng dân sự, và Luật Tố tụng hành chính

Còn Khiếu nại hành chính là việc cá nhân hay tổ chức đề nghị CQHCNN xem xét, sửa chữa một hành vi hay một QĐHC mà họ cho là hành vi hay quyết định

Trang 19

đó không đúng pháp luật, gây thiệt hại hoặc sẽ gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình Như vậy, khái niệm khiếu nại hành chính dùng để chỉ việc người khiếu nại thực hiện quyền khiếu nại của mình đối với QĐHC, HVHC tại CQHCNN, chọn CQHCNN giải quyết khiếu nại của mình

Như vậy, khiếu nại hành chính là việc cá nhân, tổ chức khiếu nại đối với QĐHC, HVHC tại CQHCNN, chọn CQHCNN giải quyết khiếu nại của mình, và được giải quyết theo thủ tục hành chính về giải quyết khiếu nại được quy định trong Luật khiếu nại và các nghị định hướng dẫn thi hành; còn khiếu nại tư pháp dùng để chỉ người khiếu nại thực hiện quyền khiếu nại của mình đối với bản án, quyết định của cơ quan tư pháp (Toà án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Cơ quan điều tra) hoặc hành vi công vụ của kiểm sát viên, thẩm phán, điều tra viên trong các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và được giải quyết bởi các cơ quan tư pháp theo quy định của Luật Tố tụng hình sự, Luật Tố tụng dân sự, Luật Tố tụng hành chính Phạm vi khiếu nại tư pháp hẹp hơn khiếu nại hành chính, chỉ giới hạn trong một số loại hoạt động nhất định của cơ quan và người tiến hành tố tụng

1.1.3 Khái niệm, đặc điểm của giải quyết khiếu nại hành chính

Khái niệm giải quyết khiếu nại hành chính

Giải quyết khiếu nại hành chính được hiểu là quá trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, đánh giá đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật về tính hợp pháp và tính hợp lý, từ đó đưa ra các giải pháp xử lý

Đặc điểm giải quyết khiếu nại hành chính

Với cách hiểu trên, có thể hiểu giải quyết khiếu nại hành chính ở những đặc điểm như sau:

Thứ nhất, cơ sở của giải quyết khiếu nại là khiếu nại hành chính theo

quy định của pháp luật

Khiếu nại hành chính là biểu hiện của tranh chấp hành chính giữa cá nhân, tổ chức với cơ quan công quyền khi cá nhân, tổ chức cho rằng quyền và

Trang 20

lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại bởi quyết định, hành vi hành chính Giải quyết khiếu nại hành chính chỉ được triển khai khi có khiếu nại hành chính

Và giải quyết khiếu nại hành chính cũng là nhiệm vụ, trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Mặt khác việc giải quyết khiếu nại hành chính còn bảo đảm cho công dân được tham gia vào giám sát hoạt động quản lý nhà nước, đồng thời cũng giúp cơ quan nhà nước có thẩm quyền kịp thời sửa chữa những bất hợp lý, sai sót trong quá trình quản lý; từ đó ý thức trách nhiệm của chủ thể quản lý cũng được nâng cao khi có sự giám sát của nhân dân

Thứ hai, đối tượng xem xét khi giải quyết khiếu nại là quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại

Trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, các chủ thể quản lý thực hiện quản lý hành chính nhà nước dựa trên trách nhiệm, quyền hạn mà pháp luật quy định nhằm duy trì, bảo vệ và củng cố trật tự quản lý hành chính nhà nước Việc ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính hợp pháp là một trong những hoạt động quản lý của chủ thể quản lý vừa là biểu hiện của việc thiết lập trật tự quản lý vừa là biểu hiện duy trì trật tự quản lý hành chính nhà nước

Quyết định hành chính, hành vi hành chính bất hợp pháp không những không thiết lập, duy trì trật tự quản lý, phá vỡ trật tự quản lý mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức Vì thế khi giải quyết khiếu nại hành chính, đối tượng xem xét chính là các quyết định hành chính, hành vi hành chính bị khiếu nại Kết quả giải quyết khiếu nại chính là việc khẳng định tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính

bị khiếu nại

Thứ ba, giải quyết khiếu nại được thực hiện theo thủ tục hành chính –

thủ tục giải quyết khiếu nại

Trang 21

Giải quyết khiếu nại là việc xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết về tính hợp pháp hay không hợp pháp của quyết định hành chính, hành

vi hành chính do cơ quan nhà nước ban hành khi thực hiện hoạt động quản lý nhà nước Đây là một quá trình phức tạp và đòi hỏi khách quan trong quá trình giải quyết, vì vậy, cần phải được tiến hành theo thủ tục pháp luật quy định – thủ tục giải quyết khiếu nại

Thứ tư, kết quả giải quyết khiếu nại là một quyết định hành chính của

chủ thể giải quyết khiếu nại về việc xem xét lại tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức

Quyết định hành chính của chủ thể giải quyết khiếu nại chính là kết quả của việc đối chiếu, xem xét một cách toàn diện giữa yêu cầu của người khiếu nại và kết quả thẩm tra, xác minh, thu thập chứng cứ của cơ quan giải quyết khiếu nại Vì vậy, việc ra quyết định giải quyết khiếu nại là một hoạt động đặc biệt quan trọng vì chính thông qua hoạt động này mà các yêu cầu của người khiếu nại được thỏa mãn toàn bộ hay từng phần hoặc bị bác bỏ, ngoài ra, thông qua việc giải quyết khiếu nại cơ quan nhà nước đảm bảo quyền khiếu nại cho công dân, phát hiện những sơ hở trong cơ chế quản lý để kịp thời bổ sung, sửa đổi, tạo niềm tin trong nhân dân

1.2 Pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính

1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính

Khái niệm pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính

Pháp luật khiếu nại là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ

xã hội phát sinh trong khiếu nại và giải quyết khiếu nại Bao gồm hệ thống các quy định của pháp luật về quyền khiếu nại; quyền và nghĩa vụ các bên trong khiếu nại; thẩm quyền, trách nhiệm và trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại [26] Trên cơ sở của pháp luật hiện hành, có thể hiểu pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định về những vấn đề liên quan đến chủ thể, khách thể, nguyên tắc, nội dung, quy trình, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính

Trang 22

Giải quyết khiếu nại hành chính là hoạt động của Cơ quan hành chính nhà nước trong việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết định giải quyết khiếu nại của

cá nhân, tổ chức đối với QĐHC, HVHC khi họ có căn cứ cho rằng quyết định hay hành vi đó trái pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của mình [16]

Đặc điểm của pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính

Khiếu nại hành chính là việc đối tượng (cơ quan, tổ chức, cá nhân) chịu sự tácđộng trực tiếp của QĐHC, HVHC yêu cầu hoặc đềnghị cơ quan HCNN, người

có thẩm quyền trong cơ quan HCNN xem xét lại các QĐHC, HVHC do cơquan HCNN, người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN ban hành hoặc thực hiện khi cho rằng QĐHC, HVHC đó không hợp pháp, hợp lý, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Với quan niệm này, giải quyết KNHC có một số đặc điểm như sau:

Thứ nhất, chủ thể giải quyết KNHC là cơ quan HCNN có QĐHC, HVHC bị

khiếu nại (gọi là chủ thể giải quyết khiếu nại lần đầu) và cơ quan HCNN cấp trên trực tiếp của chủ thể giải quyết khiếu nại lần đầu (gọi là chủ thể giải quyết khiếu nại lần hai) giải quyết khiếu nại đối với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu

Thứ hai, khách thể giải quyết KNHC là quyền, lợi ích hợp pháp của người

khiếu nại được pháp luật quy định bảo vệ

Thứ ba, thông qua việc giải quyết KNHC, quyền chủ thể của người khiếu nại

bị xâm phạm bởi QĐHC hoặc HVHC được khôi phục

Thứ tư, về bản chất, giải quyết KNHC là thái độ, phản ứng của nhà nước

đối với khiếu nại của công dân nhằm giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước

và công dân

Thứ năm, giải quyết KNHC luôn chứa đựng trong đó các thông tin, chứng cứ

nhất định về sự vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại và là một dạng của quản lý HCNN

Thứ sáu, giải quyết KNHC phải được thể hiện bằng văn bản cụ thể với tên

gọi là “quyết định”, không dùng công văn, thông báo thay “quyết định” giải quyết khiếu nại Việc ban hành quyết định giải quyết khiếu nại không phải là kết quả của

sự thỏa thuận ý chí giữa người giải quyết khiếu nại và người khiếu nại

Trang 23

Thứ bảy, quyết định giải quyết KNHC là QĐHC cá biệt, chỉ được áp dụng

một lần, sau khi được thi hành thì tự nó chấm dứt hiệu lực; trong khi đó quyết định quy phạm được áp dụng nhiều lần, chấm dứt hiệu lực khi có văn bản quy phạm mới thay thế

1.2.2 Lich sử hình thành và phát triển pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính tại Việt Nam

Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ngay từ khi ra đời đã rất quan tâm đến quyền khiếu nại của nhân dân Ngày 23 tháng 11 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh

đã ký Sắc lệnh số 64/SL thành lập Ban Thanh tra đặc biệt Điều 1 Sắc lệnh ghi Chính phủ sẽ lập ngay một Ban Thanh tra đặc biệt, có uỷ nhiệm là đi giám sát tất cả các công việc và các nhân viên của các Ủy ban nhân dân và các cơ quan của Chính phủ; Điều 2 quy định: nhận các đơn khiếu nại của nhân dân [23]

Ngày 18/12/1949, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ban hành Sắc lệnh số 138/B-SL-QD để bãi bỏ Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 để thành lập Ban Thanh tra Chính phủ trực thuộc Thủ tướng Phủ Một trong ba nhiệm

vụ của Ban Thanh tra Chính phủ là thanh tra các sự khiếu nại của nhân dân [7]

Ngày 13/9/1958, Phủ Thủ tướng đã ban hành Thông tư số 436-TTg về

việc “Quy định trách nhiệm, quyền hạn và tổ chức của cơ quan chính quyền

trong việc giải quyết các loại đơn thư khiếu nại, tố cáo (gọi tắt là khiếu tố) của nhân dân” Thông tư đề cao tinh thần trách nhiệm “Nghiên cứu và giải quyết các

việc khiếu nại và tố giác của nhân dân là một trách nhiệm quan trọng của tất cả các cơ quan Nhà nước các cấp trước nhân dân Giải quyết tốt, kịp thời thư khiếu

tố của nhân dân là biểu thị tinh thần phụ trách của các cơ quan Nhà nước trước nhân dân, là thiết thực bảo đảm quyền tự do dân chủ của nhân dân, thỏa mãn những yêu cầu thiết thân của nhân dân; nhờ đó, mối liên hệ giữa Nhà nước và nhân dân sẽ được tăng cường.” [28]

Ngày 31/12/1959, Quốc Hội đã ban hành Hiến pháp Nước Việt Nam Dân

chủ Cộng hòa Hiến pháp 1959 đã dành riêng Điều 29 để quy định “Công dân nước

Việt Nam dân chủ cộng hoà có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan Nhà

Trang 24

nước nào về những hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước Những việc khiếu nại và tố cáo phải được xét và giải quyết nhanh chóng Người bị thiệt hại

vì hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước có quyền được bồi thường”

[29] Đến Hiến pháp 1980, ngày 18/12/1980, tiếp tục ghi nhận quyền khiếu nại và tố cáo của công dân, được thể hiện tại Điều 73, cụ thể là “Công dân có quyền khiếu nại và tố cáo với bất cứ cơ quan nào của Nhà nước về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc của bất cứ cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó; Các điều khiếu nại và tố cáo phải được xem xét và giải quyết nhanh chóng; Mọi hành động xâm phạm quyền lợi chính đáng của công dân phải được kịp thời sửa chữa và xử lý nghiêm minh, người

bị thiệt hại có quyền được bồi thường; Nghiêm cấm việc trả thù người khiến nại, tố cáo” [30] Tiếp theo đó, Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) cũng tiếp tục khẳng định quyền khiếu nại, quyền tố cáo của công dân tại Điều 74, cụ thể là

“Công dân có quyền khiếu nại, quyền tố cáo với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

về những việc làm trái pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ cá nhân nào; Việc khiếu nại, tố cáo phải được cơ quan Nhà nước xem xét và giải quyết trong thời hạn pháp luật quy định; Mọi hành vi xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể

và của công dân phải được kịp thời xử lý nghiêm minh Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất và phục hồi danh dự; Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác” [31] Hiến pháp năm 2013 cũng tiếp tục khẳng định quyền khiếu nại,

tố cáo của người dân, được quy định tại Điều 30 rằng “Mọi người có quyền khiếu

nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân; Cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền phải tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo Người bị thiệt hại có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự theo quy định của pháp luật; Nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo hoặc lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để vu khống, vu cáo làm hại người khác” [34]

Trang 25

Sau khi Hiến pháp 1980 được ban hành, ngày 27/11/1981, Hội đồng Nhà

nước đã ban hành Pháp lệnh về việc “Quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại,

tố cáo của công dân”, gồm 6 Chương và 34 Điều [19] Có thể xem đây là văn bản

pháp lý đầu tiên quy định một cách tập trung, đầy đủ và chi tiết về việc tiếp nhận và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân

Ngày 29/3/1982, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 58-HĐBT

về việc “Thi hành Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của

công dân” Nghị định số 58-HĐBT gồm có 28 điều quy định chi tiết về (i) quyền và

trách nhiệm của công dân trong việc khiếu nại, tố cáo; (ii) việc tiếp dân và nhận các khiếu nại, tố cáo; (iii) thẩm quyền, thời hạn và thủ tục trong việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân; (iv) việc quản lý, kiểm tra công tác xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo; (v) chế độ báo cáo về công tác xét và giải quyết các đơn khiếu nại, tố cáo; và (vi) việc xử lý các vi phạm [18]

Qua thực tiễn 10 năm thi hành Pháp lệnh 1981 về việc xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, ngày 07/5/1991, Hội đồng Nhà nước đã ban hành

Pháp lệnh số 53-LCT/HĐNN về “Khiếu nại, tố cáo của công dân” thay thế cho

Pháp lệnh năm 1981 Pháp lệnh năm 1991 đã tách bạch rõ ràng hoạt động khiếu nại

và hoạt động tố cáo của công dân [20]

Ngày 02/12/1998, Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa

X, ký họp thứ 4 đã thông qua Luật Khiếu nại, tố cáo thay thế cho Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân năm 1991 [32] Trong quá trình tổ chức thực hiện, Luật Khiếu nại, tố cáo được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2004 và năm 2005 Đến ngày 11/11/2011, Luật Khiếu nại đã được Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIII, kỳ họp thứ 2 thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/7/2012 Luật Khiếu nại 2011 thay thế cho những quy định về khiếu nại và giải quyết khiếu nại trong Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 và sửa đổi, bổ sung năm 2004, năm 2005 [33] Để hướng dẫn chi tiết thi hành Luật Khiếu nại năm 2011, Chính phủ đã ban hành các Nghị định, Thanh tra Chính phủ đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn thực hiện

Trang 26

1.2.3 Nội dung của pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính

1.2.2.1 Quy định về nguyên tắc giải quyết khiếu nại hành chính

Theo Điều 3, Luật Khiếu nại, nguyên tắc khiếu nại và giải quyết khiếu nại

(GQKN) là“việc khiếu nại và giải quyết khiếu nại phải được thực hiện theo quy

định của pháp luật; bảo đảm khách quan, công khai, dân chủ và kịp thời” [33]

Nguyên tắc khiếu nại và GQKN được làm rõ hơn tại Thông tư số

07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013, cụ thể là “việc giải quyết khiếu nại phải bảo đảm chính xác,

khách quan, công khai, dân chủ, kịp thời và đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời hạn theo quy định của pháp luật; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân” (Điều 3) [40]

Trịnh Văn Thảo (2014) cho rằng để bảo đảm GQKN đúng pháp luật, bảo vệ được lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, việc GQKN phải được xây dựng và thực hiện theo những nguyên tắc nhất định do pháp luật quy định Dựa trên các nguyên tắc cơ bản trong quản lý HCNN và thực tiễn hoạt động GQKN thì việc khiếu nại cũng như GQKN phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây [49]:

i) Nguyên tắc pháp chế

Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi trước hết là mọi quy định về khiếu nại và GQKN phải được xây dựng và ban hành theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục nhất định Việc GQKN phải do chủ thể có thẩm quyền thực hiện theo đúng quy trình, thủ tục, thời hạn, thời hiệu do pháp luật quy định Mọi vi phạm pháp luật trong quá trình GQKN, bất kể là do người khiếu nại hay người GQKN gây ra, đều phải được xử lý nghiêm minh Không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào can thiệp trái pháp luật vào hoạt động GQKN Bên cạnh đó, quyết định GQKN có hiệu lực pháp luật phải được mọi cá nhân, cơ quan, tổ chức tôn trọng và chấp hành nghiêm chỉnh

ii) Nguyên tắc công tâm, khách quan

Trang 27

Để đảm bảo nguyên tắc công tâm, đòi hỏi chính những người giải quyết khiếu nại phải có tâm thật sự trong sáng, không bị chi phối bởi ý thức chủ quan, không định kiến, xuất phát từ chính yêu cầu thực tiễn khách quan của hoạt động khiếu nại và GQKN Các quyết định GQKN được chủ thể có thẩm quyền ban hành phải dựa trên thực tiễn khách quan, đảm bảo cả tính hợp pháp, tính hợp lý và phải được thi hành nghiêm chỉnh trong thực tế

iii) Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật

Thủ tục GQKN có sự tham gia của chủ thể khiếu nại và chủ thể GQKN Tuy nhiên, trong hoạt động quản lý nhà nước, giữa hai chủ thể này lại là quan hệ bất bình đẳng về ý chí giữa chủ thể sử dụng quyền lực nhà nước (chủ thể GQKN) và chủ thể phục tùng quyền lực nhà nước (chủ thể khiếu nại) Tuy nhiên trước pháp luật cả hai chủ thể này đều có quyền bình đẳng như nhau, nghĩa là mọi tổ chức, cá nhân đều có quyền khiếu nại khi cho rằng QĐHC, HVHC của cơ quan HCNN xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Chủ thể khiếu nại, cũng như chủ thể GQKN đều có quyền đưa ra những căn cứ pháp lý, các tài liệu chứng cứ để chứng minh trong quá trình GQKN

iv) Nguyên tắc công khai, minh bạch

Nguyên tắc này đòi hỏi quá trình ban hành các quy định pháp luật về khiếu nại, GQKN phải tạo điều kiện cho mọi chủ thề tham gia đóng góp ý kiến Các quy định của pháp luật về khiếu nại và GQKN phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện và phải được ghi nhận đầy đủ trong Luật Khiếu nại và các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp luật về khiếu nại và GQKN phải được tuyên truyền, phổ biến công khai dưới mọi hình thức, tới mọi tầng lớp nhân dân Đồng thời, hoạt động GQKN phải được thực hiện công khai ngay từ giai đoạn bắt đầu vụ việc đến khi thi hành quyết định GQKN, và các quyết định GQKN đã ban hành phải được công bố công khai

v) Nguyên tắc tiết kiệm, nhanh chóng, kịp thời

Nguyên tắc này đòi hỏi cơ quan HCNN, người có thẩm quyền trong cơ quan HCNN phải giải quyết nhanh chóng, tiết kiệm và gọn nhẹ các khiếu nại của người khiếu nại Tránh tình trạng, cán bộ lợi dụng, gây phiền hà, sách nhiễu người khiếu

Trang 28

nại Nguyên tắc này cũng đòi hỏi cơ quan HCNN phát hiện, ngăn ngừa và xử lý nhanh chóng, kịp thời những vi phạm pháp luật trong thời hạn pháp luật quy định, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, lợi ích của nhà nước và xã hội

Như vậy, để đảm bảo hoạt động khiếu nại và GQKN đúng pháp luật, bảo vệ được lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức, việc GQKN phải được xây dựng và thực hiện theo những nguyên tắc chủ yếu, cơ bản trên, đúng theo quy định của pháp luật

1.2.2.2 Thẩm quyền giải quyết khiếu nại hành chính

Theo Nguyễn Ngọc Hòa và cộng sự (1999), thẩm quyền là tổng thể những quyền và nghĩa vụ mang tính quyền lực – pháp lý do pháp luật quy định [23] Còn theo Học viện hành chính quốc gia (2001), thẩm quyền là phương tiện để các CQNN, đặc biệt là các cơ quan công quyền và cán bộ, công chức nhà nước thực hiện và duy trì chức năng, nhiệm vụ của mình [17]

Căn cứ vào mục 1, chương III của Luật Khiếu nại, có thể hiểu thẩm quyền GQKN được xác định theo nguyên tắc: người có thẩm quyền do pháp luật quy định

có trách nhiệm giải quyết khiếu nại đối với QĐHC, HVHC của mình; QĐHC, HVHC của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp; khiếu nại mà cấp dưới trực tiếp đã giải quyết lần đầu nhưng vẫn còn có khiếu nại Thẩm quyền của CQNN thể hiện ở địa vị pháp lý, cơ cấu tổ chức và phạm vi quyền năng của nó Trên cơ sở pháp luật, mỗi CQNN được ban hành những quyết định pháp luật (gồm cả quyết định quy phạm và quyết định cá biệt) theo hình thức, trình tự, thủ tục nhất định [33]

Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn; Thủ trưởng cơ quan thuộc

Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh có thẩm quyền

GQKN lần đầu đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính của mình, của người có trách nhiệm do mình quản lý trực tiếp (Điều 17, Luật Khiếu nại) [33]

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện có thẩm quyền GQKN lần đầu đối với

QĐHC, HVHC của mình; có thẩm quyền GQKN lần hai đối với QĐHC, HVHC của Chủ tịch UBND cấp xã, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cấp huyện đã giải quyết

Trang 29

lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết (Điều 18, Luật khiếu nại) [33]

Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương có thẩm quyền GQKN lần

đầu đối với QĐHC, HVHC của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp (Điều 19, Luật khiếu nại) [33]

Giám đốc sở và cấp tương đương có thẩm quyền GQKN lần đầu đối với

QĐHC, HVHC của mình, của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; GQKN lần hai đối với QĐHC, HVHC của Thủ trưởng cơ quan thuộc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết (Điều 20, Luật Khiếu nại) [33]

Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền GQKN lần đầu đối với

QĐHC, HVHC của mình; GQKN lần hai đối với QĐHC, HVHC của Chủ tịch UBND cấp huyện, Giám đốc sở và cấp tương đương đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; Giải quyết tranh chấp về thẩm quyền GQKN giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm

vi quản lý của mình (Điều 21, Luật khiếu nại) [33]

Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ, thuộc cơ quan ngang bộ, thuộc cơ quan thuộc Chính phủ có thẩm quyền GQKN đối với QĐHC, HVHC của mình, của cán bộ,

công chức do mình quản lý trực tiếp (Điều 22, Luật khiếu nại) [33]

Bộ trưởng có thẩm quyền GQKN lần đầu đối với QĐHC, HVHC của mình,

của cán bộ, công chức do mình quản lý trực tiếp; GQKN lần hai đối với QĐHC, HVHC của Thủ trưởng cơ quan thuộc bộ đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; GQKN lần hai đối với QĐHC, HVHC của Chủ tịch UBND cấp tỉnh có nội dung thuộc thẩm quyền quản lý nhà nước của bộ, ngành đã giải quyết lần đầu nhưng còn khiếu nại hoặc khiếu nại lần đầu đã hết thời hạn nhưng chưa được giải quyết; giải quyết tranh chấp

về thẩm quyền GQKN giữa các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của mình (Điều 23, Luật khiếu nại) [33]

Trang 30

Tổng thanh tra Chính phủ có thẩm quyền giúp Thủ tướng Chính phủ theo

dõi, kiểm tra, đôn đốc các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp trong việc tiếp công dân, GQKN, thi hành quyết định GQKN có hiệu lực pháp luật; trường hợp phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị Thủ tướng Chính phủ hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm (Điều 24, Luật khiếu nại) [33]

Chánh thanh tra các cấp có thẩm quyền giúp thủ trưởng cơ quan QLNN

cùng cấp tiến hành kiểm tra, xác minh, kết luận, kiến nghị việc GQKN thuộc thẩm quyền của Thủ trưởng cơ quan QLNN cùng cấp khi được giao; giúp thủ trưởng cơ quan QLNN cùng cấp theo dõi, kiểm tra, đôn đốc các cơ quan thuộc quyền quản lý trực tiếp của thủ trưởng trong việc tiếp công dân, GQKN, thi hành quyết định GQKN có hiệu lực pháp luật; trường hợp phát hiện hành vi vi phạm pháp luật về khiếu nại gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức thì kiến nghị thủ trưởng cơ quan QLNN cùng cấp hoặc kiến nghị người có thẩm quyền áp dụng biện pháp cần thiết để chấm dứt vi phạm, xem xét trách nhiệm, xử lý đối với người vi phạm (Điều 25, Luật Khiếu nại) [33]

Thủ tướng chính phủ có thẩm quyền lãnh đạo công tác GQKN của các bộ, cơ

quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các cấp; xử lý các kiến nghị của Tổng thanh tra Chính phủ quy định trong thẩm quyền của Tổng thanh tra Chính phủ; chỉ đạo, xử lý tranh chấp về thẩm quyền GQKN giữa các bộ, cơ quan ngang

bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND cấp tỉnh (Điều 26, Luật Khiếu nại)

Việc phân định thẩm quyền theo quy định của Luật Khiếu nại cho thấy KNHC được giải quyết qua hai cấp (i) giải quyết lần đầu là giải quyết của thủ trưởng cơ quan HCNN có QĐHC, HVHC bị khiếu nại (kể cả hành vi của CBCC thuộc quyền quản lý bị khiếu nại) và giải quyết lần hai là giải quyết của thủ trưởng

cơ quan HCNN cấp trên trực tiếp Khiếu nại đối với HVHC của nhân viên thuộc quyền quản lý của cơ quan nào thì thủ trưởng cơ quan đó có trách nhiệm giải quyết;

Trang 31

khiếu nại đối với QĐHC, HVHC của thủ trưởng cơ quan nào thì thủ trưởng cơ quan

đó có trách nhiệm giải quyết hoặc người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính Khiếu nại trên được gọi là khiếu nại lần đầu và quyết định giải quyết được gọi là quyết định GQKN lần đầu Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định GQKN nại lần đầu, có quyền khiếu nại quyết định đó đến người có thẩm quyền GQKN lần hai là thủ trưởng CQHC cấp trên trực tiếp của người giải quyết khiếu nại lần đầu (quyết định giải quyết của thủ trưởng CQHC cấp trên trực tiếp được gọi là quyết định GQKN lần hai) hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Luật tố tụng hành chính (khoản 1, Điều 7, Luật Khiếu nại) [33]

1.2.2.3 Thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính

Hoạt động xem xét và GQKN là một quá trình phức tạp, phải được tiến hành theo trình tự, thủ tục nhất định do pháp luật quy định Đây là trình tự pháp lý cần thiết để đảm bảo cho việc khiếu nại và GQKN được chính xác, đúng pháp luật Theo Quyết định số 1294/QĐ-TTCP ngày 04/6/2014 của Thanh tra Chính phủ về

việc “Công bố thủ tục hành chính được ban hành mới thuộc phạm vi chức năng

quản lý của Thanh tra Chính phủ”, thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính được

thực hiện thông qua các bước (i) tiếp nhận đơn khiếu nại, (ii) thụ lý giải quyết khiếu nại, (iii) xác minh nội dung khiếu nại, (iv) tổ chức đối thoại và (v) ra quyết định giải quyết khiếu nại [41]

Bước 1, tiếp nhận đơn khiếu nại

Tiếp nhận đơn khiếu nại của công dân, cơ quan, tổ chức gắn liền với hoạt động tiếp công dân Tiếp công dân tuy không phải là việc trực tiếp giải quyết vụ việc khiếu nại, nhưng lại có ý nghĩa quan trọng trong quá trình xem xét, tiếp nhận các khiếu nại, góp phần không nhỏ vào sự thành công của cả quá trình giải quyết khiếu nại Do đó, việc tiếp công dân nên được thực hiện theo các quy định của Luật

tiếp công dân 2013, “tiếp công dân là việc cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc

cơ quan HCNN đón tiếp để lắng nghe, tiếp nhận khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân; giải thích, hướng dẫn cho công dân về việc thực hiện khiếu nại,

Trang 32

tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo đúng quy định của pháp luật” (Điều 2, Luật Tiếp

công dân) [35] Luật Tiếp công dân cũng quy định rõ việc tiếp công dân phải được tiến hành tại nơi tiếp công dân của cơ quan HCNN, phải đảm bảo tính công khai, dân chủ, kịp thời; thủ tục đơn giản, thuận tiện; giữ bí mật và đảm bảo an toàn cho người tố cáo theo quy định của pháp luật; bảo đảm khách quan, bình đẳng, không phân biệt đối xử khi tiếp công dân; tôn trọng, tạo điều kiện thuận lợi cho công dân thực hiện việc khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh theo quy định của pháp luật (Điều 3, Luật tiếp công dân) [35]

Thông qua tiếp dân, cơ quan HCNN có thẩm quyền tiếp nhận các khiếu nại, kiến nghị, phản ánh liên quan đến khiếu nại của công dân, cơ quan, tổ chức Đây là tiền đề vô cùng quan trọng để những người có thẩm quyền, cơ quan chức năng giải quyết đúng và kịp thời khiếu nại của công dân Vì vậy, tiếp công dân là hoạt động

có tính chất bắt buộc và phải được tiến hành thường xuyên của các cơ quan HCNN

có thẩm quyền GQKN, đồng thời, Luật khiếu nại cũng nêu rõ “Người đứng đầu cơ

quan, tổ chức có trách nhiệm tổ chức tiếp công dân; bảo đảm các điều kiện cần thiết để tiếp công dân; bố trí cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, trình độ, kiến thức

và am hiểu chính sách, pháp luật, có ý thức trách nhiệm làm công tác tiếp công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh” (khoản 2, Điều 59, Luật khiếu nại) [33]

Pháp luật khiếu nại quy định, thủ trưởng cơ quan HCNN có trách nhiệm tổ chức việc tiếp công dân, bố trí cán bộ chuyên trách tiếp công dân và bản thân họ cũng phải dành một khoảng thời gian nhất định để tiếp công dân Chủ tịch UBND cấp xã dành mỗi tuần ít nhất một ngày, Chủ tịch UBND cấp huyện mỗi tháng ít nhất hai ngày, Chủ tịch UBND cấp tỉnh mỗi tháng ít nhất một ngày để tiếp công dân (khoản 1, Điều 61, Luật khiếu nại) [33] Người trực tiếp tiếp công dân có trách nhiệm tiếp nhận đơn khiếu nại của công dân, trường hợp người khiếu nại chưa viết đơn mà trình bày trực tiếp thì người tiếp công dân đề nghị và hướng dẫn người khiếu nại viết đơn và ký xác nhận Đồng thời, khi nhận đơn của người khiếu nại, người tiếp công dân phải ghi vào sổ tiếp dân Đây là thủ tục xác nhận chính thức

Trang 33

việc khiếu nại được tiếp nhận để cơ quan HCNN xem xét giải quyết theo trình tự GQKN của công dân

Bước 2, thụ lý giải quyết khiếu nại

Thông tư số 07/2013/TT-TTCP ngày 31/10/2013 của Thanh tra Chính phủ nêu rõ trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được khiếu nại QĐHC, HVHC, quyết định kỷ luật cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền giải quyết mà không thuộc một trong các trường hợp không được thụ lý giải quyết theo quy định của Điều 11, Luật khiếu nại, người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu hoặc lần hai phải thụ lý giải quyết Đối với trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung

và cử người đại diện để thực hiện việc khiếu nại thì thụ lý khi trong đơn có đầy đủ chữ ký của những người khiếu nại và có văn bản cử người đại diện Trường hợp không thụ lý giải quyết thì phải nêu rõ lý do trong văn bản thông báo cho người khiếu nại (Điều 5) [40]

Đối với khiếu nại QĐHC, HVHC, người có thẩm quyền GQKN thông báo việc thụ lý bằng văn bản đến người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, đơn vị, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến (nếu có) và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp biết Đối với trường hợp nhiều người khiếu nại về cùng một nội dung và cử người đại diện để thực hiện việc khiếu nại thì văn bản thông báo việc thụ lý được gửi đến người đại diện Thông báo việc thụ lý giải quyết khiếu nại của cơ quan HCNN phải được thực hiện theo mẫu quy định của Thông tư số 07/2013/TT-TTCP [40]

Bước 3, xác minh nội dung khiếu nại

Trên cơ sở đơn và các tài liệu mà người khiếu nại cung cấp, cán bộ thụ lý phải tiến hành nghiên cứu kỹ để xác định nội dung khiếu nại bao gồm những vấn đề

gì, yêu cầu của người khiếu nại là gì, những căn cứ mà người khiếu nại đưa ra để chứng minh cho yêu cầu của họ có đúng pháp luật không, đã đầy đủ chưa Tiến hành kiểm tra lại QĐHC, HVHC của mình, của người có trách nhiệm do mình quản

lý trực tiếp, nếu xét thấy khiếu nại là đúng thì ra quyết định GQKN ngay, ngược lại thì phải tiến hành xác minh

Trang 34

Xác minh là nhằm mục đích thu thập chứng cứ, tài liệu làm cơ sở cho nhận xét chính xác, khách quan, đúng pháp luật về vụ việc khiếu nại Khi tiến hành xác minh, cần phải khách quan, trung thực, vận dụng khéo léo, linh hoạt các biện pháp nghiệp vụ, tìm hiểu bản chất của sự việc dẫn đến khiếu nại Điều quan trọng là xác minh rõ nguồn gốc của chứng cứ, mức độ trung thực và chính xác của chứng cứ, xác định càng chính xác bao nhiêu thì giá trị chứng cứ càng vững chắc bấy nhiêu

Trong quá trình xác minh các nội dung khiếu nại, người có thẩm quyền GQKN phải làm việc trực tiếp và yêu cầu người khiếu nại, người đại diện, người được ủy quyền cung cấp các thông tin, tài liệu, bằng chứng có liên quan đến nội dung khiếu nại; làm việc trực tiếp và yêu cầu người bị khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung bị khiếu nại, giải trình QĐHC, HVHC

bị khiếu nại Người khiếu nại, người bị khiếu nại có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng cho người có thẩm quyền GQKN trong vòng 7 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu

Trong trường hợp cần thiết, người có thẩm quyền GQKN cần phải xác minh nội dung khiếu nại thông qua bên thứ 3, để các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, bằng chứng đối với các nội dung khiếu nại Đồng thời, người có thẩm quyền GQKN có trách nhiệm xác minh thực tế để thu thập thông tin, kiểm tra, xác định tính chính xác, hợp pháp, đầy đủ của các thông tin, tài liệu, bằng chứng liên quan đến nội dung khiếu nại

Bước 4, tổ chức đối thoại

Trong quá trình GQKN các QĐHC, HVHC, người GQKN lần đầu tổ chức đối thoại nếu yêu cầu của người khiếu nại và kết quả xác minh nội dung khiếu nại còn khác nhau Đối với khiếu nại lần hai thì người GQKN hoặc người có trách nhiệm xác minh tổ chức đối thoại giữa các bên với nhau, bao gồm người GQKN, người khiếu nại, người bị khiếu nại và tổ chức, đơn vị, cá nhân có liên quan

Đại diện cơ quan giải quyết trực tiếp gặp gỡ, đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức, cá nhân

có liên quan để làm rõ nội dung khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại và hướng

Trang 35

giải quyết khiếu nại, thông báo bằng văn bản với người khiếu nại, người bị khiếu nại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, cơ quan, tổ chức có liên quan biết thời gian, địa điểm, nội dung việc gặp gỡ, đối thoại

Khi đối thoại, đại diện cơ quan có thẩm quyền nêu rõ nội dung cần đối thoại; kết quả xác minh nội dung khiếu nại; người tham gia đối thoại có quyền phát biểu ý kiến, đưa ra những bằng chứng liên quan đến vụ việc khiếu nại và yêu cầu của mình.Việc đối thoại được lập thành biên bản; biên bản ghi rõ ý kiến của những người tham gia; kết quả đối thoại, có chữ ký hoặc điểm chỉ của người tham gia; trường hợp người tham gia đối thoại không ký, điểm chỉ xác nhận thì phải ghi rõ lý

do, biên bản này được lưu vào hồ sơ vụ việc khiếu nại Kết quả đối thoại là một trong các căn cứ để giải quyết khiếu nại

Bước 5, ra quyết định giải quyết khiếu nại

Sau khi thu thập đầy đủ tài liệu, bằng chứng đối với các nội dung khiếu nại, kết quả xác minh nội dung khiếu nại, kết quả đối thoại (nếu có), người có thẩm quyền GQKN ban hành quyết định GQKN Quyết định GQKN về QĐHC, HVHC lần đầu được thực hiện theo quy định tại Điều 31 của Luật khiếu nại; quyết định GQKN lần hai được thực hiện theo quy định tại Điều 40 của Luật khiếu nại [33]

Trong quyết định GQKN phải thể hiện rõ thông tin về người khiếu nại, người

bị khiếu nại, nội dung khiếu nại, căn cứ để khiếu nại, yêu cầu của người khiếu nại; kết quả giải quyết khiếu nại trước đó (nếu có); kết quả xác minh nội dung khiếu nại; nêu rõ căn cứ để kết luận nội dung khiếu nại là đúng toàn bộ, sai toàn bộ, hoặc đúng một phần; giữ nguyên, hủy bỏ toàn bộ hoặc sửa đổi, bổ sung một phần QĐHC, HVHC bị khiếu nại (đối với quyết định GQKN lần đầu) hoặc yêu cầu người có QĐHC, HVHC bị khiếu nại sửa đổi, hủy bỏ một phần hay toàn bộ QĐHC, chấm dứt HVHC bị khiếu nại (đối với GQKN lần hai); việc bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại (nếu có) và giải quyết các vấn đề khác có liên quan; quyền khiếu nại lần hai, quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án (Khoản 1, Điều 22, Luật khiếu nại) [33]

Trang 36

Sau khi ban hành quyết định GQKN, người có thẩm quyền GQKN có trách nhiệm gửi quyết định GQKN cho người khiếu nại, thủ trưởng cấp trên trực tiếp của người GQKN hoặc người có thẩm quyền, người có quyền, nghĩa vụ liên quan, tổ chức, cá nhân đã chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra cùng cấp Nếu là khiếu nại lần đầu thì thời gian gửi quyết định GQKN trong vòng 03 ngày, kể từ ngày ra quyết định; nếu là khiếu nại lần thứ hai thì thời gian gửi GQKN trong vòng 07 ngày, đồng thời gửi quyết định GQKN cho người bị khiếu nại và người GQKN lần đầu

1.2.2.4 Thời hiệu, thời hạn giải quyết khiếu nại hành chính

Theo điều 9, Luật Khiếu nại 2011, thời hiệu khiếu nại là 90 ngày, kể từ ngày nhận được QĐHC hoặc biết được QĐHC, HVHC Trường hợp người khiếu nại không thực hiện được quyền khiếu nại theo đúng thời hiệu vì ốm đau, thiên tai, địch họa, đi công tác, học tập ở nơi xa hoặc vì những trở ngại khách quan khác thì thời gian có trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại Theo đó, có thể hiểu rằng thời hiệu khiếu nại là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó, chủ thể khiếu nại không còn quyền khiếu nại nữa Đây được xem là thời hiệu khiếu nại lần đầu [33]

Đối với thời hiệu khiếu nại lần hai, kể từ ngày hết thời hạn GQKN lần đầu

mà khiếu nại không được giải quyết hoặc kể từ ngày nhận được quyết định GQKN lần đầu mà người khiếu nại không đồng ý thì thời hiệu khiếu nại lần hai là 30 ngày, khi trường hợp người khiếu nại ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn có thể kéo dài hơn nhưng không quá 45 ngày (khoản 1, Điều 33, Luật khiếu nại) [33]

Việc pháp luật quy định rõ về thời hiệu khiếu nại có ý nghĩa bảo đảm tính liên tục, ổn định của nền hành chính, bảo đảm cho việc GQKN được nhanh chóng, hiệu quả, đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của người khiếu nại Nếu không có những quy định về thời hiệu khiếu nại sẽ làm ảnh hưởng đến tính thực thi và hiệu quả GQKN đối với các trường hợp HVHC, QĐHC đã xảy ra trong thời gian dài trước đó

Tương tự như thời hiệu khiếu nại, thời hạn GQKN cũng được Luật khiếu nại quy định cụ thể, đối với thời hạn GQKN lần đầu là không quá 30 ngày, kể từ ngày

Trang 37

thụ lý; riêng những vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết có thể kéo dài những không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý Đối với trường hợp người khiếu nại ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn GQKN không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ

lý, và kéo dài không quá 60 ngày đối với những vụ việc phức tạp, kể từ ngày thụ lý (Điều 28, Luật Khiếu nại) [33]

Đối với những vụ việc phát sinh cần đến giải quyết lần hai thì thời gian GQKN lần hai không quá 45 ngày, kể từ ngày thụ lý; riêng những vụ việc phức tạp thì thời hạn giải quyết khiếu nại có thể kéo dài hơn nhưng không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý Đối với trường hợp người khiếu nại ở vùng sâu, vùng xa đi lại khó khăn thì thời hạn GQKN không quá 60 ngày, kể từ ngày thụ lý; riêng những vụ việc phức tạp thì thời hạn GQKN có thể kéo dài hơn, nhưng không quá 70 ngày, kể từ ngày thụ lý

Pháp luật quy định rõ thời gian GQKN là cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, đơn vị và tổ chức; đồng thời giúp cho cơ quan nhà nước giải quyết các vụ việc đúng thời hạn, bảo đảm tính thực thi của pháp luật

1.2.2.5 Quyền, nghĩa vụ các bên trong giải quyết khiếu nại hành chính

Khi một vụ việc xảy ra mà cần đến hoạt động GQKN, thì các bên liên quan trong hoạt động này gồm có (i) người khiếu nại, (ii) người bị khiếu nại, (iii) người giải quyết khiếu nại, và (iv) luật sư, trợ giúp viên pháp lý, các bên liên quan này có các quyền và nghĩa vụ trong hoạt động GQKN cụ thể như sau:

a) Người khiếu nại

Người khiếu nại được quyền tự mình khiếu nại hoặc nhờ luật sư tư vấn về pháp luật hoặc ủy quyền cho luật sư khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Người khiếu nại được quyền tham gia đối thoại hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại; được biết, đọc, sao chụp, sao chép, tài liệu, chứng

cứ do người GQKN thu thập để giải quyết khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước; được quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao nộp cho

Trang 38

người GQKN, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước; được yêu cầu người giải quyết khiếu nại áp dụng các biện pháp khẩn cấp để ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra

do việc thi hành QĐHC bị khiếu nại; được quyền đưa ra chứng cứ về việc khiếu nại

và giải trình ý kiến của mình về chứng cứ đó; được quyền nhận văn bản trả lời về việc thụ lý GQKN, nhận quyết định GQKN; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm; được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật; được quyền khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Toà án theo quy định của Luật tố tụng hành chính; và được quyền rút lại khiếu nại của mình (khoản 1, Điều 12, Luật Khiếu nại) [33]

Bên cạnh những quyền, thì người khiếu nại phải đảm bảo các nghĩa vụ khiếu nại vụ việc đến đúng người có thẩm quyền giải quyết; trình bày trung thực sự việc, đưa ra chứng cứ về tính đúng đắn, hợp lý của việc khiếu nại; cung cấp thông tin, tài liệu liên quan cho người GQKN; chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung trình bày và việc cung cấp thông tin, tài liệu đó; chấp hành QĐHC, HVHC mà mình khiếu nại trong thời gian khiếu nại, trừ trường hợp quyết định, hành vi đó bị tạm đình chỉ thi hành; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định GQKN đã có hiệu lực pháp luật (khoản 2, Điều 12, Luật Khiếu nại) [33]

b) Người bị khiếu nại

Người bị khiếu nại có quyền đưa ra chứng cứ về tính hợp pháp của QĐHC, HVHC bị khiếu nại; được biết, đọc, sao chụp, sao chép các tài liệu, chứng cứ do người GQKN thu thập để GQKN, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước; được quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan đang lưu giữ, quản lý thông tin, tài liệu liên quan tới nội dung khiếu nại cung cấp thông tin, tài liệu đó cho mình trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để giao cho người GQKN, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước; được quyền nhận quyết định GQKN lần hai (khoản 1, Điều 13, Luật Khiếu nại) [33]

Song song với các quyền, người bị khiếu nại có nghĩa vụ tham gia đối thoại hoặc ủy quyền cho người đại diện hợp pháp tham gia đối thoại; chấp hành quyết định xác minh nội dung khiếu nại của cơ quan, đơn vị có thẩm quyền GQKN; cung

Trang 39

cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại, giải trình về tính hợp pháp, đúng đắn của QĐHC, HVHC bị khiếu nại khi người GQKN hoặc cơ quan, đơn vị kiểm tra, xác minh yêu cầu trong thời hạn 7 ngày, kể từ ngày có yêu cầu; chấp hành nghiêm chỉnh quyết định GQKN đã có hiệu lực pháp luật; có nghĩa vụ sửa đổi hoặc hủy bỏ QĐHC, chấm dứt HVHC bị khiếu nại; bồi thường, bồi hoàn thiệt hại do QĐHC, HVHC trái pháp luật của mình gây ra theo quy định của pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước (khoản 2, Điều 13, Luật Khiếu nại) [33]

c) Người giải quyết khiếu nại

Đối với người giải quyết khiếu nại lần đầu

Người giải quyết khiếu nại lần đầu có quyền (i) yêu cầu người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để làm cơ sở giải quyết khiếu nại; (ii) quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp theo quy định của Luật khiếu nại (khoản

1, Điều 14, Luật Khiếu nại) [33]

Người giải quyết khiếu nại lần đầu có nghĩa vụ (i) tiếp nhận khiếu nại và thông báo bằng văn bản cho người khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển khiếu nại đến và cơ quan thanh tra nhà nước cùng cấp về việc thụ lý GQKN đối với QĐHC, HVHC bị khiếu nại; (ii) có nghĩa vụ GQKN đối với QĐHC, HVHC khi người khiếu nại yêu cầu; (iii) tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; (iv) gửi quyết định GQKN cho người khiếu nại và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc GQKN của mình; trường hợp khiếu nại do cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền chuyển đến thì phải thông báo kết quả giải quyết cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đó theo quy định của pháp luật; (v) cung cấp thông tin, tài liệu, chứng cứ liên quan đến nội dung khiếu nại khi người khiếu nại yêu cầu; cung cấp hồ sơ GQKN khi người GQKN lần hai hoặc Tòa án yêu cầu (khoản 2, Điều 14, Luật Khiếu nại) [33]

Đối với người giải quyết khiếu nại lần hai

Người giải quyết khiếu nại lần hai có quyền (i) yêu cầu người khiếu nại, người bị khiếu nại, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, tài

Trang 40

liệu, chứng cứ trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày có yêu cầu để làm cơ sở GQKN; (ii) quyết định áp dụng, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp theo quy định của Luật Khiếu nại; (iii) triệu tập cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia đối thoại; (iv) trưng cầu giám định; và (v) tham khảo ý kiến của Hội đồng tư vấn khi xét thấy cần thiết (khoản 1, Điều 15, Luật Khiếu nại) [33]

Người giải quyết khiếu nại lần hai có nghĩa vụ (i) tiếp nhận, thụ lý, lập hồ sơ

vụ việc khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết; (ii) kiểm tra, xác minh nội dung khiếu nại; (iii) tổ chức đối thoại với người khiếu nại, người bị khiếu nại và cơ quan,

tổ chức, cá nhân có liên quan; (iv) ra quyết định GQKN và công bố quyết định GQKN; và (v) cung cấp thông tin, tài liệu liên quan đến nội dung khiếu nại khi người khiếu nại, người bị khiếu nại hoặc Tòa án yêu cầu (khoản 2, Điều 15, Luật Khiếu nại) [33]

d) Luật sƣ, trợ giúp viên pháp lý

Luật sư, trợ giúp viên pháp lý có quyền (i) tham gia vào quá trình giải quyết khiếu nại theo đề nghị của người khiếu nại; (ii) thực hiện các quyền, nghĩa vụ của người khiếu nại khi được ủy quyền; (iii) xác minh, thu thập chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại theo yêu cầu của người khiếu nại và cung cấp chứng cứ cho người giải quyết khiếu nại; và (iv) nghiên cứu hồ sơ vụ việc, sao chụp, sao chép các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến nội dung khiếu nại để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khiếu nại, trừ thông tin, tài liệu thuộc bí mật nhà nước (khoản 1, Điều 16, Luật Khiếu nại) [33]

Luật sư, trợ giúp viên pháp lý có nghĩa vụ (i) xuất trình thẻ luật sư, thẻ trợ giúp viên pháp lý và quyết định phân công trợ giúp pháp lý, giấy yêu cầu giúp đỡ về pháp luật hoặc giấy ủy quyền của người khiếu nại; và (ii) thực hiện đúng nội dung, phạm vi mà người khiếu nại đã ủy quyền (khoản 2, Điều 16, Luật Khiếu nại) [33]

1.2.3 Thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính

1.2.3.1 Khái niệm thực hiện pháp luật về giải quyết khiếu nại hành chính

Những quy phạm pháp luật chứa đựng trong các văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành sẽ hoàn toàn mất hết ý nghĩa nếu nó không được thực

Ngày đăng: 18/12/2017, 15:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Chính trị (2014), “Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo”. Số: 35/CT-TW, ngày 26/5/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Chỉ thị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo”
Tác giả: Bộ Chính trị
Năm: 2014
[2] Bùi Thị Thuận Ánh (2012), “Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế”. Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế”
Tác giả: Bùi Thị Thuận Ánh
Năm: 2012
[3] Chính Phủ (2011), “Nghị quyết ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 – 2020”. Số: 30c/NQ-CP, ngày 08/11/2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghị quyết ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2011 – 2020”
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2011
[4] Chính Phủ (2012),“Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại”. Số: 75/2012/NĐ-CP, ngày 03 tháng 10 năm 2012, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghị định quy định chi tiết một số điều của Luật khiếu nại”
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2012
[5] Chính Phủ (2014), “Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tiếp công dân”. Số: 64/2014/NĐ-CP, ngày 26/6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghị định quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tiếp công dân”
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2014
[6] Chính Phủ (2016), “Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Thanh tra về tổ chức và hoạt động của Ban thanh tra nhân dân”. Số: 159/2016/NĐ-CP, ngày 29/11/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghị định quy định chi tiết và biện pháp thi hành một số điều của Luật Thanh tra về tổ chức và hoạt động của Ban thanh tra nhân dân”
Tác giả: Chính Phủ
Năm: 2016
[7] Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (1949), “Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Số: 138/B-SL-QD, ngày 18/12/1949 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc lệnh của Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tác giả: Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Năm: 1949
[8] Dương Thị Thanh Huyền (2015), “Giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai – Qua thực tiễn thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình”. Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải quyết khiếu nại hành chính trong lĩnh vực đất đai – Qua thực tiễn thị xã Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình”
Tác giả: Dương Thị Thanh Huyền
Năm: 2015
[9] Đào Bảo Minh (2017), “Xây dựng thành phố Tuy Hòa văn minh, xanh – sạch – đẹp”. Báo Phú Yên online, ngày 29/3/2017. Có thể xem tại http://www.baophuyen.com.vn/167/136472/xay-dung-thanh-pho-tuy-hoa-van-minh-xanh-sach-dep.html. Ngày truy xuất 30/3/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Xây dựng thành phố Tuy Hòa văn minh, xanh – sạch – đẹp”
Tác giả: Đào Bảo Minh
Năm: 2017
[10] Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Trong Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011). NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Trong Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật
Năm: 2011
[11] Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Trong Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII (2016). Văn phòng Trung ương Đảng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Nghị quyết Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Trong Văn Kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Năm: 2016
[14] Đặng Công Nhiên (2012), “Khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”. Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật, ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Khiếu nại hành chính và giải quyết khiếu nại hành chính về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh Quảng Nam”
Tác giả: Đặng Công Nhiên
Năm: 2012
[15] Đinh Ngọc Vượng (2013), “Ý thức pháp luật, pháp chế, thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý”. Trang web Tổng Công ty Điện lực Miền Trung, ngày 05/11/2013. Có thể xem tạihttps://cpc.vn/home/Ttuc_Detail.aspx?pm=ttuc&sj=TN&id=11161#.WT5QQpLyi1s. Ngày truy xuất 12/6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Ý thức pháp luật, pháp chế, thực hiện pháp luật, vi phạm pháp luật và trách nhiệm pháp lý”
Tác giả: Đinh Ngọc Vượng
Năm: 2013
[16] Hoàng Ngọc Dũng (2015), “Giải quyết khiếu nại hành chính trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam”. Luận án tiến sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải quyết khiếu nại hành chính trong công cuộc cải cách hành chính ở Việt Nam”
Tác giả: Hoàng Ngọc Dũng
Năm: 2015
[17] Học viện Hành chính Quốc gia (2001), Giáo trình Luật hành chính và Tài phán hành chính. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật hành chính và Tài phán hành chính
Tác giả: Học viện Hành chính Quốc gia
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[18] Hội đồng Bộ trưởng (1982), “Nghị định về việc thi hành Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân”. Số: 58-HD0BT, ngày 29/3/1982 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghị định về việc thi hành Pháp lệnh quy định việc xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân”
Tác giả: Hội đồng Bộ trưởng
Năm: 1982
[19] Hội đồng Nhà nước (1981), “Pháp lệnh quy định việc xem xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân”. Ngày 27/11/1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp lệnh quy định việc xem xét và giải quyết các khiếu nại, tố cáo của công dân”
Tác giả: Hội đồng Nhà nước
Năm: 1981
[20] Hội đồng Nhà nước (1991), “Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân”. Số: 53-LCT/HĐNN, ngày 07/5/1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân”
Tác giả: Hội đồng Nhà nước
Năm: 1991
[21] Lại Đức Vượng (2008), “Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức – cơ sở cho việc phân cấp quản lý”. Trang web Cải cách Hành chính Nhà nước,11/12/2008. Có thể xem tạihttp://caicachhanhchinh.gov.vn/Uploads/News/1869/attachs/vi.7-trang%2010-Nangluc%20CBCC.pdf. Truy xuất ngày: 14/6/2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức – cơ sở cho việc phân cấp quản lý
Tác giả: Lại Đức Vượng
Năm: 2008
[47] Trang tin điện tử Thành phố Tuy Hòa http://tptuyhoa.phuyen.gov.vn/gioi-thieu-chung Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm