XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
Chuyên ngành: Luật hiến pháp và Luật hành chính
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn không trùng lắp với các công trình có liên quan đã công bố Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn bảo đảm tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Học viện Hành chính Quốc gia
Vậy, tôi viết bản cam đoan này đề nghị Học viện Hành chính Quốc gia xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Học viên
Bùi Ngọc Tuấn
Trang 3Lời Câm Ơn
Với lòng kính trọng và sự tri ån såu sắc, trước tiên tôi xin gửi lời câm ơn chån thành đến quý Thæy, Cô Học viện Hành chính Quốc gia đã trang bị cho tôi nhiều kiến thức quý báu trong suốt thời gian qua
Đặc biệt, tôi xin chån thành câm ơn Giâng viên PGS.TS Lương Thanh Cường đã hết lòng giúp đỡ, hướng dẫn tận tình từ lúc định hướng chọn đề tài cũng như quá trình hoàn thiện nghiên cứu, thæy luôn động viên và täo mọi điều kiện thuận lợi để giúp tôi có thể hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin câm ơn các bän bè, đồng nghiệp đã luôn quan tåm giúp đỡ, cung cçp rçt nhiều số liệu, chia sẻ nhiều kinh nghiệm thực tế để giúp tôi có thể hoàn thành nghiên cứu này
Trån trọng!
Thừa Thiên Huế, tháng năm 2017
Học viên
Bùi Ngọc Tuçn
Trang 4PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ 8
1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 8
1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính 8 1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 13 1.1.3 Phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 16
1.2 Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 18
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 18 1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 21 1.2.3 Kiểm soát hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 24 1.2.4 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 28
1.3 Hình thức, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 33
1.3.1 Hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ 33
Trang 51.3.2 Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ 36
1.3.3 Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ41 Tiểu kết chương 1 47
Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ Ở TỈNH PHÚ YÊN HIỆN NAY 48
2.1 Đặc điểm tình hình trên địa bàn tỉnh Phú yên có liên quan đến xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 48
2.2 Thực trạng và nguyên nhân của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay 50
2.2.1 Thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay 50
2.2.2 Nguyên nhân của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay 57
2.3 Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay 61
2.3.1 Tổng hợp chung 61
2.3.2 Kết quả xử lý theo nhóm hành vi vi phạm 64
2.4 Hoạt động kiểm soát hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên 77
2.4.1 Giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp 77
2.4.2 Kiểm tra của các cơ quan hành chính nhà nước 79
2.4.3 Giám sát của Tòa án 80
2.5 Nhận xét về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay 80
2.5.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân 80
2.4.2 Hạn chế, khó khăn và nguyên nhân 82
Tiểu kết chương 2 87
Trang 6Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM XỬ PHẠT VI
PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TỪ
THỰC TIỄN TỈNH PHÚ YÊN 88
3.1 Phương hướng bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Phú Yên 88
3.1.1 Bảo đảm trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan nhà nước trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 88
3.1.2 Minh bạch hóa xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 91
3.1.3 Bảo đảm sự kiểm soát đối với xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 92
3.2 Giải pháp bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Phú Yên 93
3.2.1 Tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng 93
3.2.2 Nâng cao năng lực thực thi công vụ của các cơ quan, cá nhân tham mưu về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 94
3.2.3 Hiện đại hóa phương tiện, trang thiết bị phục vụ phát hiện và ngăn chặn vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ 96
3.2.4 Nâng cao hiệu quả kiểm soát hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và các trường hợp sai phạm khác của người thực thi công vụ nhà nước 98
3.2.5 Giải pháp khác cho tỉnh Phú Yên 101
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
CSGT: Cảnh sát giao thông
TTATGT: Trật tự an toàn giao thông
TTKS-XLVP: Tuần tra kiểm soát – xử lý vi phạm
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Số vụ vi phạm hành chính giao thông đường bộ đã được xử lý trên địa bàn tỉnh Phú Yên (giai đoạn 2012– tháng 2/2017) 51Bảng 2.2: Tổng hợp số liệu về số vụ tai nạn giao thông đường bộ do vi phạm hành chính gây nên ở tỉnh Phú Yên (giai đoạn 2012– tháng 2/2017) 53Bảng 2.3: Tổng hợp số vụ tai nạn giao thông đường bộ do vi phạm hành chính gây nên theo từng khu vực (giai đoạn 2012– tháng 2/2017) 56Bảng 2.4: Tổng hợp số lượng phương tiện giao thông gia tăng ở Phú Yên từ năm
2012 đến tháng 2/2017 58Bảng 2.5: Tổng hợp tình hình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến tháng 02/2017 62Bảng 2.6: Tổng hợp số vụ lái xe ô tô bị xử lý vi phạm hành chính về quy tắc giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) 65Bảng 2.7: Tổng hợp số vụ lái xe mô tô bị xử lý vi phạm hành chính về quy tắc giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) 67Bảng 2.8: Tổng hợp số vụ xe ô tô không đảm bảo an toàn kỹ thuật khi tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) 70Bảng 2.9: Tổng hợp số vụ xe mô tô không đảm bảo an toàn kỹ thuật khi tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) 70Bảng 2.10: Tổng hợp số vụ người điều khiển phương tiện cơ giới không giấy phép khi tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) 73Bảng 2.11: Tổng hợp số vụ xe Ô tô vi phạm quy định vận tải đường bộ bị xử lý trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) 75Bảng 2.12: Tổng hợp số vụ xe Mô tô vi phạm quy định vận tải đường bộ bị xử lý trên địa bàn tỉnh Phú Yên (từ năm 2012 đến tháng 2/2017) 76
Trang 9DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Phú Yên 48Hình 2.2: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số vụ vi phạm hành chính giao thông đường độ đã xử lý trên địa bàn tỉnh Phú Yên 52Hình 2.3: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số vụ tai nạn giao thông đường độ do vi phạm hành chính gân nên địa bàn tỉnh Phú Yên 53Hình 2.4: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số người chết do tai nạn giao thông đường
độ gân nên địa bàn tỉnh Phú Yên 54Hình 2.5: Đánh giá tốc độ tăng/ giảm về số người bị thương do tai nạn giao thông đường độ bộ gây nên địa bàn tỉnh Phú Yên 55Hình 2.6: Đánh giá số lượng xe ô tô gia tăng ở Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 59Hình 2.7: Đánh giá số lượng xe mô tô gia tăng ở Phú Yên từ năm 2012 đến năm
2016 60Hình 2.8: Tình hình xử phạt vi phạm hành chính – Tước giấy phép lái xe trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 63Hình 2.9: Tình hình xử phạt vi phạm hành chính – Tạm giữ xe ô tô, xe mô tô trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 64Hình 2.10: Tình hình số vụ người điều khiển xe ô tô chạy quá tốc độ quy định trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến năm 2016 65Hình 2.11: Tình hình số vụ người điều khiển xe ô tô sử dụng rượu, bia quá nồng độ cho phép trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến năm 2016 66Hình 2.12: Tình hình số vụ người điều khiển xe ô tô không chấp hành hiệu lệnh CSGT trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến năm 2016 66Hình 2.13: Tình hình số vụ người điều khiển xe mô tô chạy quá tốc độ quy định trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến năm 2016 68Hình 2.14: Tình hình số vụ người điều khiển xe mô tô không chấp hành hiệu lệnh CSGT trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2013 đến năm 2016 68
Trang 10Hình 2.15: Tình hình người điều khiển xe ô tô không không giấy phép khi tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 74Hình 2.16: Tình hình người điều khiển xe mô tô không không giấy phép khi tham gia giao thông trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 74Hình 2.17: So sánh số vụ vi phạm quy định vận tải đường bộ về chở quá người của
xe Ô tô và xe Mô tô trên địa bàn tỉnh Phú Yên từ năm 2012 đến năm 2016 77
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Những năm qua, cùng với việc đầu tư cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ nhằm tạo tiền đề, động lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng tiến trình hội nhập kinh tế khu vực
và quốc tế, góp phần đảm bảo quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, Việt Nam cũng không ngừng hoàn thiện pháp luật về giao thông đường bộ, trong đó
có nội dung quan trọng là xử phạt vi phạm hành chính
Dưới góc độ luật học, xử phạt vi phạm hành chính là một chế định quan trọng của hệ thống pháp luật mỗi quốc gia, để điều chỉnh hoạt động xử phạt các vi phạm hành chính Dưới góc độ quản lý, xử phạt vi phạm hành chính là một hoạt động để thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng hướng tới mục phòng ngừa và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước
Vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay được điều chỉnh bởi hai “dọc” pháp lý là pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính và pháp luật về giao thông đường bộ Trong những năm qua, hai
hệ thống quy phạm này đã ngày càng được hoàn thiện, tiêu biểu là sự ra đời của Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 (tiền thân là Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 2002, sửa đổi bổ sung năm các năm 2007, 2008), Luật Giao thông đường bộ năm 2008 (thay thế Luật này được ban hành năm 2001), cùng với chúng
là sự ra đời các văn bản hướng dẫn thi hành của khối các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền Điều này đã tạo nên những chuyển biến tích cực trong đời sống xã hội: Tổ chức giao thông đã có những chuyển biến rõ rệt; ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ được nâng lên, trật tự lòng đường, vỉa hè thông thoáng hơn, hạn chế ùn tắc giao thông; công tác quản lý của Nhà nước về trật tự an toàn
Trang 12giao thông đường bộ được tăng cường, trang bị các phương tiện kỹ thuật thuận lợi cho sự chỉ huy thống nhất và nhanh chóng ở các đô thị Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật đã được quan tâm, đa dạng hóa với nhiều hình thức, nội dung phong phú, thiết thực Công tác tuần tra kiểm soát, xử phạt vi phạm có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm
Tuy nhiên, trong những năm qua, tình hình vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông (TTATGT) đường bộ ở nước ta diễn biến rất phức tạp, vi phạm
hành chính về TTATGT đường bộ còn mang tính phổ biến Theo báo cáo của Cục
Cảnh sát giao thông (CSGT), trong năm 2016 (tính từ ngày 16/12/2015 - 15/12/2016) toàn quốc xảy ra 21.568 vụ tai nan giao thông (TNGT), làm chết 8.680 người, bị thương 19.280 người So với năm 2015, giảm 1.259 vụ (-5,52 ), giảm 47 người chết (-0,54 ), giảm 1.789 người bị thương (-8,49 ), trong đó, đường bộ xảy
ra 21.094 vụ, làm chết 8.417 người, bị thương 19.035 người; đường sắt xảy ra 360
vụ, làm chết 191 người, bị thương 229 người; đường thủy nội địa xảy ra 114 vụ, làm chết 72 người, bị thương 16 người Đa phần tai nạn giao thông xảy ra trên đường bộ với 97,8 , đường sắt chiếm 1,7 , đường thủy nội địa chiếm 0,5 tổng
số vụ TNGT [30]
Trong công tác tuần tra kiểm soát xử lý vi phạm, lực lượng CSGT trên toàn quốc đã tập trung vào một số chuyên đề như: xử lý vi phạm tốc độ, xe quá tải, vi phạm nồng độ cồn, xe tự chế, xe hết niên hạn sử dụng… CSGT toàn quốc đã lập biên bản xử lý 4.258.431 trường hợp vi phạm trật tự ATGT đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa, nộp kho bạc Nhà nước 2.745,114 t đồng Trong đó, đường bộ: 4.250.114 trường hợp, tước giấy phép lái xe 374.026 trường hợp, tạm giữ 680.851 phương tiện; đường sắt: 9.563 trường hợp; đường thủy nội địa: 223.548 trường hợp Các lỗi chủ yếu bị xử lý như chở hàng quá trọng tải trên đường bộ 94.188 trường hợp; người điều khiển mô tô, xe máy không đội mũ bảo hiểm, đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách 800.650 trường hợp; vi phạm quy định về nồng độ
cồn 80.000 trường hợp; vi phạm của xe khách 108.388 trường hợp…[30]
Trước tình hình này, đã có nhiều nguyên nhân được được chỉ ra, trong đó có nguyên nhân thuộc về công tác phòng chống vi phạm của cơ quan công quyền có
Trang 13liên quan tới sự khiếm khuyết của hệ thống thi hành pháp luật như: triển khai thực hiện luật chưa quyết liệt, chậm phát hiện vi phạm, xử phạt thiếu tính răn đe, xử phạt thiếu nghiêm túc Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề xử phạt vi phạm hành chính là cần thiết, không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận, mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, đặc biệt là đối với những người làm công tác quản lý nhà nước về giao thông đường
bộ hay những người nghiên cứu về khoa học luật, khoa học hành chính công
Ở bình diện địa phương, tình trạng vi phạm hành chính trong giao thông đường bộ cũng diễn ra phổ biến và đa dạng, trong đó có tỉnh Phú Yên Tỉnh Phú Yên có hệ thống giao thông khá đa dạng Hệ thống giao thông đường bộ trọng yếu trên địa bàn tỉnh gồm có: Quốc lộ 1A nối với Bình Định và Khánh Hòa; Quốc lộ
25 nối với Gia Lai; Quốc lộ 1D nối Thị xã Sông Cầu với thành phố Quy Nhơn; Quốc lộ 29 nối huyện Đông Hòa (từ Vũng Rô) với thị xã Buôn Hồ Đăk Lăk; Tỉnh
lộ 641 từ Thị trấn Chí Thạnh chạy dọc theo đường sắt Bắc-Nam qua Thị trấn La Hai rồi gặp lại QL1A tại Thị trấn Diêu Trì (Bình Định); Đường Phước Tân-Bãi Ngà chạy từ khu công nghiệp Hòa Hiệp đến cảng Vũng Rô Những tuyến quốc lộ này là mạch máu trung gian quan trọng của vùng Chính vì thế, tình hình vi phạm và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ của tỉnh là một vấn đề quan trọng Làm tốt được hoạt động này, có nghĩa là huyết mạch giao thông của tỉnh Phú Yên sẽ được thông suốt, góp phần lớn vào mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Phú Yên nói riêng và của kinh tế miền Nam Trung Bộ nói chung
Trên địa bàn tỉnh Phú Yên hiện nay, tình hình vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ còn diễn biến phức tạp và liên tục có xu hướng tăng lên Tại Phú Yên, trong quý I/2017, toàn tỉnh xảy ra 61 vụ TNGT, làm chết 41 người, bị thương 43 người, thiệt hại tài sản 0,73 tỉ đồng; giảm 2 mặt về số vụ và số người bị thương so cùng kỳ Đến nay, lực lượng Cảnh sát giao thông và Thanh tra giao thông vận tải toàn tỉnh đã lập biên bản 220.706 vụ vi phạm, phạt tiền khoảng 4,6 tỉ đồng, tạm giữ 25 ô tô và2.325 mô tô, tước 707 giấy phép lái xe [57] Có nhiều nguyên nhân được đề cập, trong đó có ý kiến cho rằng do cơ sở hạ tầng giao thông chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiều nơi còn xuống cấp nghiêm trọng trong khi lượng phương tiện giao thông đặc biệt là phương tiện giao thông cá nhân (chủ yếu là ô tô và xe
Trang 14máy) không ngừng tăng lên; hệ thống pháp luật giao thông đường bộ và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ còn nhiều hạn chế, chưa nghiêm khắc và mang tính răn đe, giáo dục cao; năng lực và đạo đức nghề nghiệp của một bộ phận đội ngũ cảnh sát giao thông chưa cao; ý thức tham gia giao thông của người dân còn kém… Hiện thực này đã thôi thúc tôi mong muốn tìm hiểu một cách khoa học và có hệ thống về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên Đây là một vấn đề chưa được nghiên cứu đối với trường hợp ở Phú Yên một cách đầy đủ ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học, chuyên ngành luật Hiến pháp và luật Hành chính
Vì tất cả những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài: “Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ - từ thực tiễn tỉnh Phú Yên” làm đề
tài luận văn tốt nghiệp hệ cao học chuyên ngành Luật Hiến pháp - Hành chính của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Vấn đề xử phạt vi phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước và giới nghiên cứu khoa học Một số công trình khoa học tiêu biểu có thể kể đến là:
- Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp (1980), Xử phạt vi phạm hành chính,
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (mã số 85 98 008), Hà Nội;
Đề tài lần đầu tiên đề cập đến một cách toàn diện về việc xây dựng một hệ thống khoa học của việc xử phạt vi phạm hành chính Từ đó, đề tài làm nền tảng pháp lý nghiên cứu áp dụng cho việc xử phạt vi phạm hành chính trên nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có cả lĩnh vực giao thông đường bộ
- TS Vũ Thư (1996), Chế tài hành chính – Lý luận và thực tiễn, Chuyên đề
hội thảo khoa học về giao thông, Hà Nội;
Tác giả đã đề cập sâu về nội dung chế tài hành chính cả trên phương diện lý luận và thực tiễn Công trình nghiên cứu đã làm tài liệu tham khảo hiệu quả cho nhiều tác giả của các trường Đại học trong cả nước khi hoàn thành giáo trình Luật Hành chính như Học viện Hành chính quốc gia, Đại học Luật Hà Nội…
Nhiều đề tài luận văn liên quan đến đề tài, có thể kể đến:
Trang 15- Nguyễn Văn Đô (2007), Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự,
an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sỹ quản lý hành
chính công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội;
Luận văn của tác giả Nguyễn Văn Đô đề cập đến vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên phạm vi toàn quốc khá toàn diện với lý luận sâu và đặc biệt là bảng số liệu phong phú về nhiều nội dung đã khái quát được khá rõ về hoạt động về đề tài nghiên cứu Nhưng, nhìn chung thì Luận văn của tác giả lại khá giống với một bản báo cáo của ngành Công an về hoạt động
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB trên phạm vi toàn quốc vì tác giả không có sự đánh giá trên phương diện của người nghiên cứu vấn đề về những tồn tại của hoạt động trên
- Phạm Trung Hòa (2008), xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ của cảnh sát giao thông ở Việt Nam, Luận văn Hành chính công, Học
viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội;
Mặc dù chỉ có độ dài 88 trang song Luận văn của tác giả Phạm Trung Hòa đã
đề cập toàn diện về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB của Cảnh sát giao thông ở Việt Nam Là luận văn mang tính chuyên ngành sâu sắc, tác giả đã có lý luận sâu sắc, thực tế rõ ràng và cả những giải pháp toàn diện cho hoạt động mà đề tài đề cập đến
- Trần Sơn Hà (2011), cải cách thủ tục hành chính trong xử phạt vi phạm hành chính về trật tự an toàn giao thông đường bộ ở Việt Nam đến năm 2020, Luận văn thạc
sỹ quản lý hành chính công, Học viện Hành chính quốc gia, Hà Nội
Đề cập đến nội dung khá mới mẻ và mang tính định hướng cho tương lai về cải cách thủ tục hành chính trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB đến năm 2020 nhưng tác giả Trần Sơn Hà đã có một công trình nghiên cứu thành công và được Hội đồng khoa học đánh giá cao Vấn đề còn lại là làm thế nào để những định hướng mà luận văn nêu ra sớm được áp dụng trong thực tế ở Việt Nam hiện nay
Qua khảo sát thấy được, các công trình nghiên cứu đã giải quyết được những vấn đề lý luận cơ bản về xử phạt vi phạm hành chính như: khái niệm, đặc điểm của
Trang 16trách nhiệm hành chính, các yếu tố của vi phạm hành chính, nội dung pháp luật điều chỉnh công tác xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ, Tuy nhiên, việc thực hiện pháp luật xử phạt, xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ là hoạt động mang tính đặc thù không giống nhau ở mỗi địa phương, do vậy, trong bối cảnh thiếu vắng những công trình nghiên cứu về thực tiễn áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính giao thông đường bộ ở Phú Yên, việc tác giả lựa chọn đề tài trên là cần thiết và không bị trùng lặp với các công trình khác đã được công bố
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm rõ quy định pháp luật và tình hình thực hiện quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện quy định và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính về giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới
Để hoàn thành được mục đích đặt ra, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm
vụ nghiên cứu sau đây:
Một là, hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về vi phạm hành chính và
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực trật tự, giao thông đường bộ;
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng tình hình vi phạm hành chính và hoạt
động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Phú Yên trong thời gian qua Từ đó, rút ra được những ưu điểm và hạn chế của công tác này
Ba là, trên cơ sở quán triệt các quan điểm có tính chất chỉ đạo, đề xuất một số
giải pháp góp phần làm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của công tác xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở Phú Yên trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, pháp lý của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ;
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Từ năm 2012 đến tháng 2/2017
- Về không gian: tỉnh Phú Yên
Trang 17- Về nội dung: Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính của lực lượng cảnh sát
giao thông Công an tỉnh Phú Yên
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so sánh, khái quát hóa, hệ thống hóa…để nghiên cứu các vấn đề lý luận: khái niệm, mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương pháp và hình thức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ để thu thập các thông tin, số liệu thực tế phục vụ cho việc phân tích, đánh giá thực trạng, nguyên nhân của vấn đề nghiên cứu và luận chứng tính khả thi của các giải pháp mà luận văn đưa ra
6 Ý nghĩa của luận văn
- Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt, xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
- Luận văn là tài liệu tham khảo quan trọng cho các nhà quản lý hữu quan ở tỉnh; là tài liệu tham khảo cho công tác bồi dưỡng, giáo dục pháp luật về xử phạt, xử phạt vi phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở một địa phương nói riêng
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Chương 2: Thực trạng xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên hiện nay
Chương 3: Phương hướng và giải pháp đảm bảo xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ từ thực tiễn tỉnh Phú Yên
Trang 18Chương 1:
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1 Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính
Nhà nước là một tổ chức được xã hội thành lập nên để thực hiện việc quản
lý, phát triển xã hội Để có thể thực hiện được vai trò đó, Nhà nước luôn phải tác động lên các quan hệ xã hội bằng một hệ thống các quy tắc quản lý nhà nước được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật Trên thực tế, trong đời sống xã hội luôn xảy ra tình trạng vi phạm các quy tắc quản lý nhà nước Các vi phạm đó diễn
ra hàng ngày trong đời sống xã hội, từ những hành vi đơn giản và phổ biến như hút thuốc lá nơi công cộng, đến những hành vi vi phạm có tính chất nguy hiểm hơn như tham gia giao thông đường bộ không đội mũ bảo hiểm, đi ngược chiều, lạng lách đánh võng, gây tai nạn,…hoặc hành vi làm ô nhiễm môi trường, xây dựng trái phép, trốn thuế… Những hành vi vi phạm rất đa dạng và “có mặt” trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước
Dưới góc độ lý luận về pháp luật, vi phạm pháp luật được cấu thành bởi các mặt khách quan, chủ quan, khách thể và chủ thể của nó Tổng hợp các yếu tố đó ta
có thể hiểu vi phạm pháp luật là hành vi nguy hiểm cho xã hội do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm hại đến các quan hệ
xã hội được pháp luật bảo vệ
Dựa theo các tiêu chí khác nhau mà vi phạm pháp luật được phân thành nhiều loại khác nhau Căn cứ vào khách thể vi phạm, mức độ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, vi phạm pháp luật được chia thành các loại sau:
- Vi phạm hình sự (tội phạm): là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi
và được quy định trong bộ luật hình sự
- Vi phạm hành chính: là những hành vi trái pháp luật, có lỗi nhưng mức độ nguy hiểm cho xã hội thấp hơn tội phạm, xâm phạm các quan hệ xã hội được pháp luật hành chính bảo vệ phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước
Trang 19- Vi phạm dân sự: là những hành vi trái luật dân sự, hay ngược lại với truyền thống, phong tục tập quán, đạo đức xã hội được nhà nước thừa nhận, có lỗi, xâm hại tới các quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân và quan hệ phi tài sản có liên quan tới tài sản được pháp luật dân sự bảo vệ
- Vi phạm k luật: là hành vi có lỗi, trái với các quy tắc k luật lao động, học tập, công vụ nhà nước trong các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, trường học được pháp luật lao động, hành chính và các văn bản nội quy của từng cơ quan, doanh nghiệp quy định
Luật Xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 đã đưa ra định nghĩa pháp lý về
“vi phạm hành chính” Khoản 1 Điều 2 của Luật quy định: Vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị
xử phạt vi phạm hành chính
Định nghĩa trên đưa ra các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính,
đó là: tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước, có lỗi, tính trái pháp luật hành
chính và phải bị xử phạt vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính là một dạng vi phạm pháp luật, do đó nó cũng bao gồm các yếu tố cấu thành pháp lý là mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể Dưới đây, các dấu hiệu và yếu tố cấu thành pháp lý của vi phạm hành chính sẽ
được xem xét trong mối quan hệ thống nhất với nhau
Mặt khách quan của vi phạm hành chính
Mặt khách quan của vi phạm hành chính là những biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan của vi phạm hành chính, thông thường các biểu hiện ra bên ngoài của hành vi vi phạm là hành vi, thời gian, địa điểm, công cụ, phương tiện hay mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính
Hành vi của vi phạm hành chính là những biểu hiện của con người hoặc tổ chức tác động vào thế giới khách quan qua hình thức bên ngoài cụ thể gây tác hại đến sự phát triển bình thường của trật tự quản lý Những biểu hiện này được kiểm soát và điều khiển bởi ý thức và ý chí của chủ thể vi phạm hành chính Hành vi là biểu hiện rõ nhất trong mặt khách quan của vi phạm hành chính, chúng có ý nghĩa
Trang 20quyết định đến nội dung biểu hiện khác trong mặt khách quan (hậu quả, công cụ phương tiện, thời gian, địa điểm); đồng thời hành vi cũng là thể thống nhất giữa mặt khách quan và chủ quan Hành vi khách quan của vi phạm hành chính có thể là hành vi hành động hoặc không hành động Song dù biểu hiện bằng hình thức nào đi chăng nữa thì nó cũng chỉ bị coi là vi phạm hành chính khi hành vi đó trái với pháp luật Hành vi trái pháp luật hành chính là dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính, nhưng đây không phải là thuộc tính riêng của vi phạm hành chính Rất nhiều hành vi tội phạm cũng là hành vi trái pháp luật hành chính Để phân biệt vi phạm hành chính với tội phạm trong trường hợp cả hai loại hành vi có cùng chung khách thể, người ta lấy tiêu chí là tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi Hành vi vi phạm hành
chính ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với tội phạm hình sự
Hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm hành chính vi phạm hành chính: Chính là tính xâm hại khách quan của vi phạm hành chính, được thể hiện ở vi phạm hành chính đã xâm hại hoặc
đe dọa xâm hại các quan hệ đã được pháp luật quy định thành quy tắc quản lý nhà nước Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp hậu quả của vi phạm hành chính được biểu hiện ở các thiệt hại cụ thể về sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, về tự do thân thể của cá nhân hoặc làm thiệt hại về tài sản của Nhà nước, tập thể và công dân Hậu quả của vi phạm hành chính là kết quả của hành vi vi phạm hành chính do con người hoặc tổ chức thực hiện Do đó giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả vi phạm hành chính có mối quan hệ hữu cơ, trong đó hậu quả của vi phạm hành chính
có tiền đề xuất hiện của nó là hành vi khách quan của vi phạm hành chính; sự tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm hành chính và hậu quả của vi phạm
hành chính dựa trên các căn cứ sau: Một là; hành vi vi phạm hành chính xảy ra trước hậu quả xâm hại các mối quan hệ về mặt thời gian; Hai là, hành vi vi phạm
phải chứa đựng khả năng thực tế làm phát sinh hậu quả xâm hại các quan hệ xã hội;
Ba là, hậu quả vi phạm đã xảy ra phải là sự hiện thực hóa khả năng thực tế làm phát
sinh hậu quả của hành vi vi phạm Ngoài những biểu hiện trên, về mặt khách quan của vi phạm còn có một số dấu hiệu khách quan khác như: thời gian, địa điểm, công
cụ và phương tiện vi phạm
Trang 21Mặt chủ quan của vi phạm hành chính
Mặt chủ quan của vi phạm hành chính là những quan hệ tâm lý bên trong của chủ thể Yếu tố cơ bản nhất của mặt chủ quan là tính có lỗi Lỗi chính là trạng thái tâm lý của người vi phạm, biểu hiện thái độ của người đó đối với hành vi vi phạm
và hậu quả của hành vi đó Yêu cầu về lỗi trong Luật hành chính không cao như trong luật hình sự, trong nhiều trường hợp chỉ cần có lỗi nghĩa là người vi phạm biết hoặc có thể biết tính chất sai phạm của mình là đủ để xác định vi phạm hành chính xảy ra Đối với luật hình sự đòi hỏi phải chính xác hơn, không chỉ xác định lỗi mà còn phải xác định cho được hình thức và mức độ lỗi; mặt khác lỗi trong luật hình sự chỉ đặt ra với cá nhân vi phạm, trong hành chính lỗi đặt ra cho cả cá nhân và tổ chức
vi phạm Lỗi trong vi phạm hành chính thể hiện dưới hai hình thức: lỗi cố ý và lỗi
vô ý Lỗi cố ý trong vi phạm hành chính là chủ thể nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn thực hiện Lỗi vô ý trong vi phạm hành chính là lỗi của cá nhân hoặc tổ chức thực hiện hành vi trái pháp luật do vô tình thiếu thận trọng mà không nhân thức được nghĩa vụ pháp lý bắt buộc mặc dù họ có đầy đủ khả năng xử sự theo đúng nghĩa vụ pháp lý quy định
Chủ thể của vi phạm hành chính
Khác với luật hình sự xác định chủ thể tội phạm chỉ có thể là cá nhân, trong luật hành chính chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân hoặc tổ chức; cá nhân hoặc tổ chức chỉ có thể trở thành chủ thể của vi phạm hành chính khi có năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính
+ Đối với cá nhân: Cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính bao gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài (trừ những người được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao và lãnh sự) mà thực hiện hành vi vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam, vùng đặc quyền kinh tế, vùng tiếp giáp lãnh hải Những người này phải có năng lực trách nhiệm hành chính Năng lực trách nhiệm pháp lý hành chính thể hiện khả năng nhận thức của con người với hành vi vi phạm, vì thế hai yếu tố để xác định năng lực pháp lý đối với cá nhân là: Đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật, không mắc bệnh làm mất khả năng nhận thức của hành vi Điều 5 Luật xử phạt
vi phạm hành chính năm 2012 xác định đối tượng bị xử phạt vi phạm hành chính là
Trang 22cá nhân bao gồm: Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi hành vi vi phạm hành chính (điểm a khoản 1)
Người thuộc lực lượng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân vi phạm hành chính thì bị xử phạt như đối với công dân khác; trường hợp cần áp dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề hoặc đình chỉ hoạt động
có thời hạn liên quan đến quốc phòng, an ninh thì người xử phạt đề nghị cơ quan, đơn vị Quân đội nhân dân, Công an nhân dân có thẩm quyền xử phạt
Mặt khác, Luật xử phạt vi phạm hành chính năm 2012 còn quy định: Người
từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi vi phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo; Người chưa thành niên vi phạm hành chính gây ra thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật; trong trường hợp này người chưa thành niên không có tiền nộp phạt thì cha, mẹ hoặc người giám hộ của người đó phải nộp thay, quy định như trên không có nghĩa là xử phạt cả người không vi phạm mà ở đây chúng ta hướng tới trách nhiệm giáo dục ý thức pháp luật cho người chưa thành niên
+ Đối với tổ chức: Pháp luật hành chính coi tổ chức là chủ thể của vi phạm hành chính gồm: cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị kinh tế Cơ quan, tổ chức nước ngoài nếu vi phạm hành chính trên lãnh thổ Việt Nam, vùng đặc quyền kinh
tế, vùng tiếp giáp lãnh hải thì bị xử phạt như cơ quan, tổ chức Việt Nam (trừ tổ chức được hưởng quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao)
Khách thể của vi phạm hành chính
Khách thể của vi phạm hành chính là cái mà vi phạm xâm hại tới Đó chính
là các quan hệ xã hội được các quy tắc quản lý nhà nước bảo vệ Các quan hệ xã hội bị/có thể bị vi phạm hành chính xâm phạm rất đa dạng, đó là: trật tự nhà nước và xã hội, sở hữu xã hội chủ nghĩa, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân,
Khách thể của vi phạm hành chính được chia thành các loại sau:
Khách thể chung: đó là các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý nhà nước, hay nói cách khác là trật tự quản lý nhà nước nói chung
Khách thể loại: là những quan hệ xã hội có cùng hoặc gần tính chất với nhau trong từng lĩnh vực nhất định của quản lý nhà nước Các quan hệ này được phát
Trang 23sinh trong cũng một lĩnh vực hoạt động quản lý nhà nước, do vậy chúng có mối liên
hệ với nhau, gắn liền với từng phạm vi quản lý nhà nước
Khách thể trực tiếp: là quan hệ xã hội cụ thể được pháp luật quy định và bảo
vệ, bị chính hành vi vi phạm hành chính phạm xâm hại tới
1.1.2 Khái niệm và đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Trên cơ sở lý luận về vi phạm hành chính nói chung đã được phân tích ở trên, chúng ta sẽ làm rõ vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng
Văn bản pháp quy hiện hành trực tiếp quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ (GTĐB) và đường sắt là Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 không đưa ra định nghĩa pháp lý thế nào là vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ Điều này cũng diễn ra tương
tự với Nghị định bị thay thế trước đó là Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 Tuy nhiên hai văn bản này lại xác định phạm vi của thuật ngữ “lĩnh vực giao thông đường bộ” theo các hiểu tại các Nghị định này Theo Khoản 1 Điều 2 Nghị định số 46/2016/NĐ-CP, “lĩnh vực giao thông đường bộ” được xác định bởi loại phương tiện tham gia giao thông, đó là: a) Máy kéo; b) Các loại xe tương tự xe
ô tô; c) Các loại xe tương tự xe mô tô; d) Xe máy điện; đ) Các loại xe tương tự xe gắn máy; e) Xe đạp máy
Từ góc độ lý luận, có thể thấy đã từng có một định nghĩa pháp lý về vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 34/2010/NĐ–CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính Phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành
chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ quy định: “Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là những hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm quy định của pháp luật trong lĩnh vực giao thông đường bộ một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính…”
Như vậy, điều luật này đã đưa ra định nghĩa pháp lý về vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ Qua định nghĩa này, có thể thấy được các dấu hiệu pháp lý cơ bản của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là:
Trang 24tính xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nước về giao thông đường bộ, có lỗi, tính trái pháp luật hành chính và bị xử phạt vi phạm hành chính
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ có đặc điểm của vi phạm hành chính nói chung, song bên cạnh đó nó cũng có những đặc điểm riêng sau đây:
- Khách thể của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ là những quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực giao thông đường bộ được bảo vệ bởi các quy phạm pháp luật hành chính
- Đặc trưng của cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ thường là sử dụng kết cấu trực tiếp Việc xác định vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ được quy định tập trung và chủ yếu ở văn bản chuyên ngành về giao thông đường bộ, chứ không theo lối kết cấu dẫn chiếu như một số lĩnh vực khác – nơi mà việc xác định vi phạm thường phải căn cứ vào các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, ví dụ như lĩnh vực bảo vệ môi trường
- Tính chất và mức độ hậu quả của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ phụ thuộc chủ yếu vào những thiệt hại thực tế và hành vi đó gây ra hoặc có thể gây ra cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác và của chính chủ thể vi phạm
- Giao thông đường bộ được tạo thành bởi nhiều thành phần, dẫn đến hoạt động bảo vệ trật tự an toàn giao thông đường bộ được pháp luật quy định khá đa dạng và phong phú, bao gồm các nội dung: bảo vệ quy tắc giao thông đường bộ, phương tiện tham gia giao thông đường bộ, về kết cấu hạ tầng giao thông đường
bộ, quy định về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông và về vận tải đường bộ
Xuất phát từ tính đa dạng và phong phú của các hoạt động bảo vệ trật tự an toàn giao thông đường bộ, nên vi phạm hành chính trong lĩnh vực này được pháp luật quy định có đặc điểm khá rộng và đa dạng tương ứng với các nội dung được pháp luật về giao thông đường bộ bảo vệ Đặc điểm này được thể hiện tập trung ở Luật Giao thông đường bộ năm 2008, các Nghị định đã hết hiệu lực như: Nghị định
số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính Phủ về việc quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nghị định số
Trang 2533/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nghị định 71/2012/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 34/2010/NĐ-CP xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường
bộ (có hiệu lực 10/11/2012), Nghị định số 171/2013/NĐ-CP ngày 13/3/2013 (thay thế Nghị định số 34/2010/NĐ-CP và Nghị định 71/2012/NĐ-CP), và Nghị định hiện hành: Nghị định số 46/2016/NĐ-CP ngày 26/5/2016 Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ và đường sắt
Một vấn đề quan trọng khi nghiên cứu vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đó là việc phân định giữa vi phạm hành chính và tội phạm về giao thông đường bộ
Dưới góc độ khoa học pháp lý hình sự có thể hiểu: tội phạm về giao thông đường bộ là các hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự Việt Nam, xâm hại tới các quan hệ xã hội về đảm bảo an toàn giao thông đường bộ
Các tội phạm về giao thông đường bộ được quy định tại 06 điều luật trong chương XIX, Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) về Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng Đó là các điều luật từ Điều 203 đến Điều 207 (Điều 202 Tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ; Điều 203 Tội cản trở giao thông đường bộ; Điều 204 Tội đưa vào sử dụng các phương tiện giao thông đường bộ không bảo đảm an toàn; Điều
205 Tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường bộ; Điều 206 Tội tổ chức đua xe trái phép; Điều
207 Tội đua xe trái phép)
Vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ đều là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, điểm khác nhau ở đây chỉ là “mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi” Hành vi vi phạm hành chính về giao thông đường bộ
ít nguy hiểm cho xã hội hơn so với hành vi bị coi là tội phạm về môi trường Để xác định mức độ nguy hiểm khác nhau cho xã hội của vi phạm hành chính và tội phạm
nói chung, có thể dựa trên những tiêu chí sau: i) Tính chất của khách thể bị xâm hại; ii) Chủ thể; iii) Mức độ hậu quả; iv) Số lượng tang vật, hàng hóa,…vi phạm; v)
Trang 26Tái phạm hành chính (đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm); vi) Hình thức lỗi, động cơ, mục đích
Có thể thấy, việc xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn rất lớn trong công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ của các cơ quan chức năng Việc xác định thiếu chính xác các hành vi có thể là nguyên nhân có tính bước ngoặt cho những sai phạm trong quá trình áp dụng pháp luật của các cá nhân, tổ chức có thẩm quyền Đây là vấn đề cần được nghiên cứu sâu ở chuyên khảo khác Trong phạm vi luận văn này, tác giả tập trung vào nội dung chính là hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên, tức là tiếp cận vấn đề dưới góc độ hoạt động áp dụng pháp luật của các cơ quan hành chính nhà nước
1.1.3 Phân loại vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Chương II – Nghị định số 46/2016/NĐ-CP quy định 06 nhóm hành vi bị coi
là vi phạm hành chính (Mục 1 đến Mục 6), bao gồm:
- Các hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ;
- Các hành vi vi phạm quy định về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;
- Các hành vi vi phạm quy định về phương tiện tham gia giao thông đường bộ;
- Các hành vi vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ;
- Các hành vi vi phạm quy định về vận tải đường bộ;
- Các hành vi vi phạm khác liên quan đến giao thông đường bộ
Sự phân loại các nhóm hành vi như trên không thay đổi so với quy định tại Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, và cũng thống nhất với các nhóm hành vi được quy định theo Luật Giao thông đường bộ 2008
Cụ thể như sau:
Nhóm thứ nhất: Các hành vi vi phạm quy tắc giao thông đường bộ
Nhóm này gồm các hành vi quy định tại Mục 1 Chương II của Nghị định số 46/2016/NĐ-CP (từ Điều 5 đến Điều 11) Đó là những quy định mang tính chỉ dẫn
Trang 27bắt buộc đối với người tham gia giao thông nhằm đảm bảo an toàn cho chính họ và những người khác xung quanh
Nhóm thứ hai: Các hành vi vi phạm quy chế về kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ
Nhóm này gồm các hành vi quy định tại Mục 2 Chương II của Nghị định số 46/2016/NĐ-CP (từ Điều 12 đến Điều 15) Đây là các hành vi vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ về tiêu chuẩn, điều kiện an toàn đối với các công trình hạ tầng giao thông đường bộ
Nhóm thứ ba: Các hành vi vi phạm quy chế về phương tiện tham gia giao thông đường bộ
Nhóm này gồm các hành vi quy định tại Mục 3 Chương II của Nghị định số 46/2016/NĐ-CP (từ Điều 16 đến Điều 20) Đây là các hành vi vi phạm quy định tại của Luật Giao thông đường bộ về tiêu chuẩn, điều kiện an toàn với các phương tiện giao thông đường bộ
Nhóm thứ tư: Các hành vi vi phạm quy định về người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
Nhóm này gồm các hành vi quy định tại Mục 4 Chương II của Nghị định số 46/2016/NĐ-CP (từ Điều 21 đến Điều 22) Đây là các hành vi vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ về điều kiện chuyên môn, độ tuổi, sức khỏe… đối với người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ
Nhóm thứ năm: Các hành vi vi phạm về vận tải đường bộ
Nhóm này gồm các hành vi quy định tại Mục 5 Chương II của Nghị định số 46/2016/NĐ-CP (từ Điều 23 đến Điều 28) Đây là các hành vi vi phạm quy định của Luật Giao thông đường bộ về điều kiện an toàn đối với người, hàng hóa khi vận chuyển bằng phương tiện giao thông đường bộ
Nhóm thứ sáu: Các hành vi vi phạm khác liên quan đến giao thông đường bộ
Nhóm này gồm các hành vi quy định tại Mục 6 Chương II của Nghị định số 46/2016/NĐ-CP (từ Điều 29 đến Điều 38) Các hành vi này tuy không trực tiếp ảnh hưởng đến an toàn giao thông đường bộ nhưng lại có những tác động xấu đến trật
tự, an ninh xã hội
Trang 28Như vậy có thể thấy, về mặt quy phạm pháp luật, việc quy định rõ ràng và tập trung các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại Nghị định số 46/2016/NĐ-CP là một sự thuận lợi cho công tác tra cứu và áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này, cùng với Luật xử phạt vi phạm hành chính đã xác định
rõ thẩm quyền của các chủ thể tham gia đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường
bộ Đây cũng là cơ sở pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ ở tỉnh Phú Yên mà luận văn đề cập
1.2 Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Vi phạm hành chính cũng như mọi vi phạm pháp luật khác đều là hành vi trái pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội, cần bị áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm, trong đó có xử phạt vi phạm hành chính Nó trực tiếp xâm hại đến những quy tắc quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân và tổ chức Vì lẽ đó xử phạt vi phạm hành chính là những nội dung rất quan trọng của hoạt động quản lý hành chính nhà nước Xử phạt vi phạm hành chính bao gồm nhiều hoạt động khác nhau do các cơ
quan nhà nước, người có thẩm quyền tiến hành căn cứ vào quy định của pháp luật
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Luật xử phạt vi phạm hành chính đưa ra
định nghĩa pháp lý về xử phạt vi phạm hành chính, theo đó, Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp
khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Khi xem xét tổng thể các quy định pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lý luận về nhà nước và pháp luật, thì có thể đưa ra khái niệm về xử phạt vi phạm hành chính như sau:
Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật, trong đó, người
có thẩm quyền áp dụng chế tài pháp luật hành chính (hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả) đối với chủ thể vi phạm hành chính (cá nhân, tổ chức) theo thủ tục do luật hành chính quy định, kết quả là chủ thể thực hiện vi phạm hành chính
Trang 29phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và tinh thần tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm của chủ thể vi phạm
Như vậy, có thể thấy hai nội dung của thuật ngữ “xử phạt vi phạm hành chính” là: 1) là hệ thống các quy định pháp luật hành chính điều chỉnh hoạt động áp dụng pháp luật của chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính, 2) là hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, từ khâu phát hiện vi phạm, tìm kiếm quy định áp dụng, đến khâu áp dụng biện pháp xử phạt tương ứng với vi phạm
Khái niệm xử phạt vi phạm hành chính nêu trên phản ánh những đặc điểm cơ
bản sau đây của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính:
- Thứ nhất: Xử phạt vi phạm hành chính chỉ được tiến hành khi có vi phạm
hành chính xảy ra Cơ sở để xử phạt vi phạm hành chính là hành vi vi phạm hành chính Như vậy, để thực hiện hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trước hết đòi hỏi các chủ thể có thẩm quyền xử phạt phải xem xét đã có vi phạm hành chính xảy
ra hay chưa
- Thứ hai, xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động áp dụng pháp luật do các
cá nhân có thẩm quyền quản lý hành chính thực hiện Việc tiến hành xử phạt vi phạm hành chính đòi hỏi phải đúng trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định Kết quả xử phạt vi phạm hành chính phải thể hiện bằng quyết định xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực pháp luật
Xử phạt vi phạm hành chính được áp dụng theo trình tự do các quy phạm thủ tục của luật hành chính quy định (trình tự hành chính) chứ không phải trình tự, thủ tục tư pháp Việc áp dụng trình tự này đơn giản hơn nhiều so với trình tự áp dụng cưỡng chế hình sự và cưỡng chế k luật
- Thứ ba: Xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động cưỡng chế nhà nước do
các chủ thể có thẩm quyền tiến hành và được đảm bảo bằng quyền lực nhà nước Mối quan hệ trong xử phạt vi phạm hành chính là mối quan hệ pháp luật giữa một bên là Nhà nước – một bên là tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính Để tránh lạm quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức và xã hội, pháp luật quy định thủ tục tố tụng hành chính, tức hoạt động xử phạt vi phạm hành chính bị kiểm soát bởi chính Nhà nước và xã hội
Trang 30- Thứ tư: Mục đích của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính là nhằm truy
cứu trách nhiệm hành chính một hành vi vi phạm cụ thể và quan trọng hơn là giáo dục, ngăn chặn những hành vi vi phạm Qua đó, buộc chủ thể vi phạm hành chính phải gánh chịu một biện pháp cưỡng chế tương xứng với hành vi vi phạm do mình gây ra Hay nói cách khác, vi phạm hành chính là cơ sở làm phát sinh các hoạt động
Ngoài những đặc điểm chung nói trên, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ còn có những đặc điểm riêng, đó là:
- Do đặc điểm của vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ nên hoạt động xử phạt vi phạm hành chính có thể được bắt đầu ở những địa điểm bất kỳ không có định nơi mà hành vi vi phạm diễn ra Nếu vi phạm hành chính trong những lĩnh vực khác thường gắn liền với những địa điểm tĩnh (xây dựng, môi trường, thuế, công nghệ thông tin,…) thì vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ có thể diễn ra ở bất cứ nơi nào mà có sự tham gia của người dân vào giao thông đường bộ Như đã đề cập ở phần đầu, giao thông đường bộ là một hệ thống – mạng lưới đường bộ phủ khắp địa bàn một đơn vị hành chính, một khu vực nhất định Do vậy mà đặc thù của quá trình xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực này gắn liền với sự “di động” của địa điểm nơi diễn ra hành vi vi phạm
- Cũng chính từ đặc thù nói trên mà mà hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ chủ yếu được được thực hiện trên cơ sở bắt quả tang hành vi vi phạm Đường bộ là nơi diễn ra hoạt động của con người khi tham gia giao thông Đó là một không gian công cộng không của riêng ai Do vậy
mà hành vi vi phạm hành chính thường dễ được biểu hiện ra bên ngoài – tức tính dễ
bị phát hiện Vì vậy mà vi phạm cần được bắt quả tang và không nhất thiết phải trải
Trang 31qua thủ tục giám định như trong lĩnh vực môi trường Cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ chủ yếu là cấu thành hình thức, nên khi hành vi có biểu hiện của sự vi phạm, đã là căn cứ để lập biên bản xử phạt vi phạm hành chính Điều này cũng đồng nghĩa với việc sẽ cần sự hỗ trợ rất lớn từ các phương tiện kỹ thuật trong quá trình thiết lập các chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm hành chính
- Do địa điểm vi phạm hành chính là “di dộng”, “không cố định” gắn với không gian là “đường bộ”, nên việc phát hiện, xác minh hành vi vi phạm là điều khó khăn, nhất là trong điều kiện cần nhiều phương tiện hỗ trợ xử phạt vi phạm Ở khía cạnh khác, tính không cố định về địa điểm vi phạm hành chính khiến cho công tác giám sát hoạt động xử phạt vi phạm hành chính đối với người có thẩm quyền là điều gặp nhiều khó khăn Chính tại đây có thể phát sinh những tiêu cực trong việc
xử phạt vi phạm hành chính trong giao thông đường bộ
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng tới xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cũng giống như xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực khác, về bản chất là một hoạt động quản lý hành chính nhà nước, do vậy mà nó cũng chịu ảnh hưởng của các yếu
Trang 32đích đó, có nhiều yếu tố chi phối, nhưng yếu tố chất lượng pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính là yếu tố đầu tiên, quan trọng nhất, tạp cơ sở pháp lý cho toàn bộ quá trình xử phạt vi phạm hành chính, trong đó có lĩnh vực giao thông đường bộ
Pháp chế vừa là mục đích, vừa là yêu cầu của việc xây dựng và thực hiện pháp luật, theo đó, đòi hỏi cần sự hiện diện đầy đủ của một hệ thống các quy phạm pháp luật có chất lượng tốt, và quá trình thực hiện nghiêm minh Nếu một hệ thống pháp luật xử phạt vi phạm hành chính có chất lượng tốt, thì không thể có cơ sở cho một quá trình thực thi pháp luật tốt được, cho dù có đầu tư nhiều tiền của và nhân lực cho các quá trình thực hiện ấy
1.2.2.2 Năng lực tổ chức thực hiện pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Cũng như yếu tố trên, yếu tố tổ chức thực hiện pháp luật là một nội dung của yêu cầu pháp chế Thực tế chứng tỏ rằng, có một hệ thống pháp luật toàn diện, đầy
đủ và chất lượng cao là vô cùng cần thiết, nhưng nếu các quy phạm này không được thực hiện tốt trong đời sống thì chúng cũng chỉ là pháp luật trên giấy, chứ chưa phải
là pháp luật trong đời sống
Quá trình thực hiện pháp luật là quá trình các cơ quan nhà nước tổ chức để các thực thể trong xã hội thực hiện các quy tắc xử sự mà pháp luật yêu cầu Tại đây, các quy phạm pháp luật được sự tương tác và đảm bảo bằng các năng lực của nhà nước, biến thành yếu tố vật chất tác động vào thực tế đời sống nhằm hướng các hành vi của xã hội theo yêu cầu mà pháp luật đã đề ra Trong quá trình này, những
ưu, nhược điểm của pháp luật sẽ được biểu hiện, để từ đó chúng được nhận thức và sửa chữa, hoàn thiện
Để việc tổ chức thực hiện pháp luật hiệu quả thì hoạt động tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ, công chức hành chính – người thực thi pháp luật,
và người dân – người thực hiện và sử dụng pháp luật là hết sức quan trọng và cần được nâng cao Bên cạnh đó, các cơ quan nhà nước, các cấp, các ngành cần thường xuyên kiện toàn, củng cố tổ chức pháp chế để tạo điều kiện nẵm vững và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật
Trang 331.2.2.3 Công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và xử phạt nghiêm minh những vi phạm pháp luật
Kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật và xử phạt nghiêm minh những
vi phạm pháp luật là hoạt động không thể thiếu nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật Chất lượng hoạt động của công tác này ảnh hưởng lớn đến tình trạng thực hiện pháp luật
Trước tiên, có thể nói kiểm tra, giám sát nhằm mục đích uốn nắn, chấn chỉnh hoạt động chấp hành, thực thi pháp luật, kịp thời có những biện pháp để đảm bảo cho pháp luật được thi hành nghiêm chỉnh trong thực tế Bên cạnh đó, kiểm tra, giám sát thực hiện pháp luật còn để kịp thời phát hiện những vi phạm pháp luật để
xử phạt nghiêm minh, bảo đảm nguyên tắc: mọi vi phạm pháp luật phải được phát hiện và xử phạt kịp thời; mọi người đều bình đẳng trước pháp luật Nếu công tác này không được chú trọng thường xuyên, không được tổ chức và tiến hành có hiệu quả thì vai trò của pháp luật sẽ bị suy giảm
Xử phạt nghiêm minh mọi vi phạm pháp luật là yếu tố cần thiết đảm bảo k cương và sự vững mạnh của pháp luật Sử dụng nhuần nhuyễn giáo dục và cưỡng chế trong quản lý nhà nước, điều hành xã hội bằng pháp luật, giữ vững k cương, phép nước chính là chìa khóa để duy trì tính nghiêm minh của pháp luật một cách hiệu quả
Như vậy, có thể nói rằng có rất nhiều yếu tố làm ảnh hưởng đến luật pháp mà trong đó công tác xây dựng pháp luật, tổ chức xây dựng pháp luật và kiểm tra giám sát, xử phạt vi phạm pháp luật có ý nghĩa to lớn, ảnh hưởng to lớn và mãnh mẽ đến pháp luật
1.2.2.4 Ý thức pháp luật của cán bộ, công chức và nhân dân
Ý thức pháp luật là một trong những bộ phận cấu thành của đời sống pháp luật bên cạnh lĩnh vực xây dựng và thực hiện pháp luật Không có một hoạt động nào của con người lại có thể thực hiện ngoài ý thức con người Không có quyết định văn bản pháp luật nào, không có một quan hệ pháp luật nào có thể thực hiện ngoài tâm lý pháp luật và tư tưởng, quan niệm của con người Sự tồn tại và vận động của pháp luật trong xã hội nói chung liên quan chặt chẽ với tư tưởng pháp luật, tâm lý
Trang 34pháp luật, trong đó có lĩnh vực pháp luật và xử phạt vi phạm hành chính giao thông đường bộ
Trong lĩnh vực này, ý thức pháp luật của cán bộ, công chức – người tổ chức thực hiện pháp luật và nhân dân – người thực thi pháp luật là một yếu tố có ý nghĩa rất lớn ảnh hưởng tới tình trạng tuân thủ pháp luật Pháp luật chỉ có thể được chấp hành nghiêm chỉnh và chính xác nếu như mọi người dân, trong đó có cán bộ, công chức hiểu và tôn trọng pháp luật Hiểu biết pháp luật là tiền đề cho việc tôn trọng và thực thi đúng pháp luật Thực tế trong thời gian qua, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường, có nhiều tổ chức, cá nhân, mặc dù hiểu biết về pháp luật nhưng lại cố tình vi phạm pháp luật hoặc tìm cách để “lách luật” vì mục đích vụ lợi Nguy hiểm hơn nữa nếu tình trạng vi phạm pháp luật này xảy ra trong đội ngũ cán bộ, công chức – người tổ chức thực hiện pháp luật Khi ấy, pháp luật sẽ bị lợi dụng, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và công dân sẽ bị ảnh hưởng, gây nên mất trật tự và suy giảm tính nghiêm minh trong quản lý nhà nước Từ đây, những tiêu cực khác sẽ có thể phát sinh như thái độ coi thường Nhà nước, coi thường pháp luật của người dân
Để việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ đảm bảo nguyên tắc pháp chế và mục đích giáo dục với người dân, công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật nói chung và pháp luật về giao thông đường bộ nói riêng cần được quan tâm Việc nâng cao ý thức pháp luật cho cán bộ công chức là công tác sâu bền và mang tính tổng thể để phòng và chống những vi phạm pháp luật
1.2.3 Kiểm soát hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Như đã phân tích ở trên, xử lý vi phạm hành chính là một nội dung của quản
lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đường bộ Đây là một hoạt động hành chính nhà nước thực hiện chức năng chấp hành, điều hành của cơ quan hành chính nhà nước Do vậy, theo nguyên tắc tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước, hoạt động này được kiểm soát bởi nhiều cơ chế khác nhau nhằm đảm bảo nguyên tắc phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan trong việc thực hiện chức năng của mình Sự kiểm soát này nhằm tăng cường pháp chế, vừa tránh được sự
Trang 35lạm quyền, mặt khác đảm bảo các vi phạm được xử lý đúng mức, kịp thời, công bằng Điều 19 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về Giám sát công
tác xử lý vi phạm hành chính, theo đó: “Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân, Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức thành viên của Mặt trận và mọi công dân giám sát hoạt động của cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính; khi phát hiện hành vi trái pháp luật của cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thì có quyền yêu cầu, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền xem xét, giải quyết, xử lý theo quy định của pháp luật
Cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính phải xem xét, giải quyết và trả lời yêu cầu, kiến nghị đó theo quy định của pháp luật”
Có thể có nhiều cách tiếp cận khi nghiên cứu các cơ chế kiểm soát hoạt động
xử lý vi phạm hành chính nói chung và trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng tùy mục đích Trong luận văn này, chúng tôi tiếp cận theo các hướng/cơ chế sau:
1.2.3.1 Giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp
Việc giám sát của các cơ quan dân cử đối với hoạt động xử lý vi phạm hành chính nói chung, trong lĩnh vực giao thông đường bộ nói riêng cũng được phân cấp theo nguyên tắc thẩm quyền theo đơn vị hành chính – lãnh thổ Ở cấp trung ương, nhiệm vụ giám sát được Quốc hội trao cho Hội đồng dân tộc, các U ban của Quốc hội Ở địa phương, nhiệm vụ giám sát được trao cho Hội đồng nhân dân các cấp Hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân các cấp tương tự như hoạt động giám sát của Quốc hội
Chủ thể giám sát là Hội đồng nhân dân nói chung, thường trực Hội đồng nhân dân, các ban của Hội đồng nhân dân và các đại biểu Hội đồng nhân dân
Phạm vi giám sát là toàn bộ hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ (nói riêng) ở địa phương, bao gồm hoạt động xử lý vi phạm hành chính của Chủ tịch Ủy ban nhân dân, các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân và các công chức được trao quyền xử lý vi phạm hành chính
Trang 36Phương pháp tác động của hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân mang tính quyền lực nhà nước cao thể hiện về mặt tổ chức ở quyền của Hội đồng nhân dân bầu và bãi miễn các thành viên của Ủy ban nhân dân, có quyền đình chỉ hoặc bãi bỏ quyết định của Ủy ban nhân dân v.v
1.2.3.2 Kiểm tra của các cơ quan hành chính nhà nước
Điều 18 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 quy định về Trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan, đơn vị trong công tác xử lý vi phạm hành chính, theo đó, có các hoạt động kiểm tra sau đây:
- Kiểm tra của thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thủ trưởng cơ quan, đơn vị có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính có trách nhiệm sau đây:
+ Thường xuyên kiểm tra, thanh tra và kịp thời xử lý đối với vi phạm của người
có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật;
+ Không được can thiệp trái pháp luật vào việc xử lý vi phạm hành chính và phải chịu trách nhiệm liên đới về hành vi vi phạm của người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc quyền quản lý trực tiếp của mình theo quy định của pháp luật;
+ Không được để xảy ra hành vi tham nhũng của người có thẩm quyền xử lý
vi phạm hành chính do mình quản lý, phụ trách;
+ Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
- Kiểm tra của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp:
Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp có trách nhiệm sau đây:
- Thường xuyên chỉ đạo, kiểm tra việc xử lý vi phạm hành chính của người
có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình;
- Xử lý k luật đối với người có sai phạm trong xử lý vi phạm hành chính thuộc phạm vi quản lý của mình;
Trang 37- Giải quyết kịp thời khiếu nại, tố cáo về xử lý vi phạm hành chính trong ngành, lĩnh vực do mình phụ trách theo quy định của pháp luật;
- Trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật
Ngoài các trách nhiệm của các chủ thể như đã nêu trên, họ còn có trách nhiệm phát hiện quyết định về xử lý vi phạm hành chính do mình hoặc cấp dưới ban hành có sai sót và phải kịp thời sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ, ban hành quyết định mới theo thẩm quyền
1.2.3.3 Giám sát của Tòa án
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 15 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012 về Khiếu nại, tố cáo và khởi kiện trong xử lý vi phạm hành chính thì: Cá nhân, tổ chức bị xử lý vi phạm hành chính có quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử lý vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật
Tòa án nhân dân có nhiệm vụ xét xử các tranh chấp về quyền và vi phạm pháp luật, thông qua đó bảo đảm việc tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật trong hoạt động hành chính nhà nước, trong đó có hoạt động xử lý vi phạm hành chính trong
lĩnh vực giao thông đường bộ Giám sát của Tòa án trong hoạt động xử lý vi phạm hành chính giao thông đường bộ là hoạt động kiểm tra tính hợp pháp trong hành vi
và quyết định xử lý vi phạm hành chính giao thông đường bộ của các cơ quan hành chính, những người có chức vụ và trong trường hợp cần thiết có thể áp dụng những chế tài nhất định Tòa án xét xử đối tượng này là tòa hành chính
Luận văn này chỉ xem xét hoạt động xử lý vi phạm hành chính giao thông đường bộ ở cấp tỉnh – trong trường hợp này là Phú Yên, trên cơ sở xác định chủ thể
có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính ở phần trước, căn cứ Điều 62 Luật tố tụng hành chính, có thể thấy các quyết định xử lý, hành vi hành chính xử lý vi phạm hành chính giao thông đường bộ của các chủ thể có thẩm quyền của cơ quan nhà nước từ cấp huyện trở xuống trên cùng phạm vi địa giới hành chính với Tòa án hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đó thì thuộc thẩm quyền của tòa
án cấp huyện; nếu quyết định, hành vi đó là của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước cấp tỉnh thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa hành chính – Tòa
án nhân dân cấp tỉnh
Trang 38Đối với người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, nếu trong xử lý vi phạm hành chính mà sách nhiễu, dung túng, bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời, không đúng mức, xử lý vượt thẩm quyền quy định thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý k luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật
Như vậy có thể thấy rằng, với tư cách là hoạt động hành chính nhà nước, xử
lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cũng chịu sự giám sát của nhiều chủ thể trong xã hội Mỗi cơ chế có tác dụng riêng, nhằm hướng tới kiểm soát để đảm bảo tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật Điều này là cần thiết
và hợp với xu hướng xây dựng dân chủ pháp quyền hiện nay
1.2.4 Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
a) Nguyên tắc chung
Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính nói chung là những quan điểm chủ đạo, có tính chất nền tảng, làm cơ sở cho việc xử phạt các vi phạm hành chính đảm bảo cho mọi vi phạm hành chính phải được xử phạt kịp thời, kiên quyết, triệt để, nghiêm minh, đúng pháp luật nhằm đảm bảo trật tự, an toàn giao thông đường bộ nói riêng và bảo vệ trật tự quản lý nhà nước nói chung Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ phải được quán triệt các nguyên tắc
chung, cơ bản sau đây:
- Nguyên tắc đề cao trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc phát hiện, đình chỉ kịp thời, kiên quyết đấu tranh, xử phạt nhanh chóng, nghiêm minh, khắc phục triệt để hậu quả do vi phạm hành chính gây ra
Đây là nguyên tắc cơ bản, quan trọng được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Việc tuân thủ và thực hiện tốt nguyên tắc này có ý nghĩa rất lớn đối với việc nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống vi phạm hành chính nói chung, vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự nói riêng Yêu cầu của nguyên tắc này là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, có trách nhiệm tích cực, chủ động phát hiện kịp thời các hành vi vi phạm, ngăn ngừa những hậu quả tiêu cực có thể xảy ra nếu hành vi vi vi phạm đó vẫn tiếp diễn Theo đó, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải chủ động phát hiện vi
Trang 39phạm hành chính và khẩn trương đình chỉ ngay hành vi đó nhằm hạn chế tối đa hậu quả tiêu cực phát sinh Khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính xảy ra, phải xử phạt vụ việc một cách kiên quyết, nhanh chóng, công minh, triệt để, đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định
- Nguyên tắc pháp chế
Nguyên tắc này đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cũng như các tổ chức, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính phải triệt
để tuân thủ pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính Nội dung của nguyên tắc này là:
Thứ nhất: Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi thực hiện
một hành vi được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan có thẩm quyền ban hành Thực tế cho thấy hầu hết các quy định về các vi phạm hành chính được quy định trong gần 50 Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính, chỉ có một ít số hành vi được quy định trong luật hoặc pháp lệnh chuyên ngành Trách nhiệm hành chính của cá nhân, tổ chức chỉ phát sinh khi họ thực hiện hành vi đã được các văn bản quy phạm pháp luật quy định là vi phạm hành chính với hình thức và mức phạt cụ thể Nguyên tắc này cho phép loại trừ khả năng bị xử phạt vi phạm hành chính nếu hành vi đó được quy định trong những văn bản ban hành không đúng thẩm quyền (ví dụ như văn bản do một cơ quan cấp Bộ hoặc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành) Mục đích của của nguyên tắc này là phòng ngừa sự tùy tiện trong việc quy định về xử phạt vi phạm hành chính Đồng thời đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải tích cực hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính để đáp ứng nhu cầu điều chỉnh pháp luật trong lĩnh vực này
Thứ hai: Việc xử phạt vi phạm hành chính phải do người có thẩm quyền tiến
hành theo đúng trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định Căn cứ vào nguyên tắc này thì một quyết định xử phạt vi phạm hành chính chỉ có giá trị pháp lý khi được ban hành bởi chức danh có thẩm quyền xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính
đó và việc xử phạt được tiến hành tuân thủ đúng các quy định của pháp luật về thủ tục, trình tự, hình thức xử phạt , mức phạt… Để đảm bảo cho nguyên tắc này được thực
Trang 40hiện nghiêm túc, Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định rõ các chức danh thuộc nhiều
cơ quan quản lý nhà nước khác nhau có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính
Thứ ba: Nguyên tắc pháp chế đòi hỏi các quy định của pháp luật về xử phạt
vi phạm hành chính phải được áp dụng thống nhất trên phạm vi toàn quốc Theo đó, trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, mọi hành vi vi phạm hành chính có cùng tính chất, mức độ vi phạm, do những chủ thể có địa vị pháp lý như nhau thực hiện thì phải áp dụng các hình thức xử phạt như nhau
- Nguyên tắc cá thể hóa trách nhiệm hành chính
Yêu cầu của nguyên tắc này là một hành vi vi phạm hành chính chỉ có thể bị
xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị áp dụng biện pháp xử phạt vi phạm hành chính khác một lần Cơ quan có thẩm quyền không thể hai lần ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với một hành vi vi phạm hoặc cũng không thể cùng lúc vừa ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính, vừa ban hành quyết định áp dụng một biện pháp xử phạt vi phạm hành chính khác đối với một vi phạm hành chính Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi người
vi phạm đều bị xử phạt về hành vi vi phạm đó Một người thực hiện nhiều hành vi