Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, Tp.HCM (LV thạc sĩ)
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: QUẢN LÝ CÔNG
Mã số: 60.34.04.03
Người hướng dẫn luận văn:
PGS.TS.BÙI ĐỨC KHÁNG
TP Hồ Chí Minh – 2017
Trang 3Nhân dịp này tôi xin được chân thành cảm ơn Thầy Cô giáo trong Hội đồng phản biện, chấm luận văn; cảm ơn khoa Sau đại học- Học viện hành chính đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Người viết luận văn
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trang 5MỤC LỤC
Lời cám ơn
Lời cam đoan
PHẦN MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài 9
2.Tình hình nghiên cứu của đề tài 10
3 Đối tượng, phạm vi, mục đích nghiên cứu 12
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 13
5 Đóng góp của đề tài 13
6 Bố cục của luận văn 13
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.1 Quan niệm về hộ tịch 15
1.1.2 Đặc điểm của hộ tịch 18
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 1.2.1 Nguyên tắc quản lý nhà nước về hộ tịch 19
1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch 21
1.2.3 Quan niệm quản lý nhà nước về hộ tịch 21
1.2.4 Chủ thể quản lý nhà nước về hộ tịch 25
1.2.5 Nội dung quản lý của nhà nước về hộ tịch 33
1.3 CÁC ĐIỀU KIỆN BẢO ĐẢM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 1.3.1 Cơ sở pháp lý quản lý nhà nước về hộ tịch 33
1.3.1.1 Văn bản điều chỉnh trực tiếp 33
1.3.1.2 Một số văn bản liên quan 34
1.3.2 Tổ chức bộ máy, nhân lực thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch 35
Trang 61.3.3 Cơ sở vật chất phục vụ quản lý nhà nước về hộ tịch 36
1.3.4 Sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước về hộ tịch 37
Tiểu kết Chương 1 38
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HỘ TỊCH Ở QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 MỘT VÀI NÉT VỀ QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 40
2.2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH Ở QUẬN 10
– THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.2.1 Ban hành văn bản quản lý nhà nước về hộ tịch 42
2.2.2 Phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch 44
2.2.3 Tổ chức bộ máy, nhân lực quản lý về hộ tịch 46
2.2.4 Đăng ký, quản lý hộ tịch ( tại phòng tư pháp Quận và ở các phường
trên địa bàn quận 10) 49
2.2.5 Kiểm tra, thanh tra thực hiện quản lý hộ tịch 55
2.3 PHÂN TÍCH, ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN QUẢN LÝ NHÀ
VỀ HỘ TỊCH Ở QUẬN 10 - TP HỒ CHÍ MINH 3.1 PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ
TỊCH Ở QUẬN 10 – TP.HỒ CHÍ MINH 70
Trang 73.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP CỤ THỂ HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH Ở QUẬN 10 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.2.1 Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức trong quản lý hộ
tịch 72
3.2.2 Nâng cao phẩm chất và năng lực thực thi công vụ của công chức quản lý hộ tịch trên địa bàn quận và nâng cao rõ trách nhiệm phân cấp quản lý hộ tịch 75
3.2.3 Đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng công nghệ vào quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn quận 10 81
3.2.4 Triển khai pháp luật về hộ tịch và phổ biến luật hộ tịch trên địa bàn quận 86
3.2.5 Đẩy mạnh công tác giám sát, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch 91
Tiểu kết Chương 3 93
KẾT LUẬN 95
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
48
Biểu 2
Thực hiện đăng ký hộ tịch tại một cửa phòng tư pháp
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
“Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra đến khi chết” Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và quyền nhân thân của con người được Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định để xác định sự kiện hộ tịch như: quyền thay đổi họ tên; quyền xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền được kết hôn; quyền ly hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền đối với quốc tịch…
Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch không những liên quan đến nhân thân của con người mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước, thể chế hóa mối quan
hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý
Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch mà trong 11 năm qua từ khi thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, và đặc biệt là gần một năm 2016 kể từ khi áp dụng thực hiện Luật Hộ tịch có hiệu lực từ ngày 01/01/2016 trên địa bàn Thành phố đã có nhiều chuyển biến tích cực, các sự kiện đăng ký hộ tịch của nhân dân cơ bản được thực hiện kịp thời và đúng quy định của pháp luật; công tác phổ biến giáo dục pháp luật về hộ tịch được chú trọng triển khai đến tận cơ sở Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về hộ tịch của nhân dân được nâng lên; đội ngũ cán
bộ làm công tác hộ tịch cơ sở được quan tâm, củng cố về số lượng và kỹ năng thực hiện nghiệp vụ; các loại sổ sách, biễu mẫu hộ tịch được hỗ trợ và cung cấp kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước
Trang 10Nhưng hiện nay trên thực tế, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn còn một số tồn tại, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính và cải cách tư pháp trong giai đoạn mới, tình trạng các cơ quan, tổ chức, đoàn thể chưa xác định đúng giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch, còn gây nhiều khó khăn cho công dân Thực trạng trên có nguyên nhân xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch của một bộ phận cán bộ, công chức và nhân dân; sự phối hợp thiếu nhịp nhàng giữa các
cơ quan hữu quan trong việc giải quyết những sai sót trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý về đăng ký và quản lý hộ tịch chưa thực sự sâu rộng; năng lực của một số công chức còn hạn chế Tuy công việc liên quan đến nhân thân của một con người
và cũng liên quan đến nhiều lĩnh vực khác của xã hội, nhưng nhìn từ gốc độ bên ngoài thì rất “thầm lặng” và cũng được ít ai quan tâm
Những hạn chế này đã làm giảm đi hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
về hộ tịch
Là một quận của Thành phố Hồ Chí Minh, trong những năm qua, quận
10 đã có nhiều cố gắng, nỗ lực trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn quận.Với sự quan tâm, chỉ đạo của các cấp, chính quyền, quản lý về hộ tịch ở quận 10 từng bước được thực hiện nghiêm túc đầy đủ, chính xác
Song cũng như nhiều địa phương khác, công tác quản lý về hộ tịch ở quận 10 cũng còn nhiều hạn chế như đã nêu ở trên
Vì vậy, nghiên cứu về quản lý hộ tịch nói chung cũng như ở thực tế của quận 10 nói riêng nhằm làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý hộ tịch, chỉ ra những nguyên nhân của các hạn chế, trên cơ sở đó, đưa ra những khuyến nghị góp phần nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước
về hộ tịch trên địa bàn quận là một điều cấp thiết hiệ n nay
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Trang 11Một số công trình khoa học tiêu biểu về quản lý hộ tịch đã được công bố trong thời gian qua như:
- “Về quản lý hộ tịch” Sách tham khảo / Phạm Trọng Cường - H: Chính trị Quốc gia, 2004;
- “Hướng dẫn đăng ký và quản lý hộ tịch” / B.soạn: Nguyễn Quốc Cường, Lương Thị Lanh, Trần Thị Thu Hằng - H: Tư pháp, 2006;
- “Quy định mới về đăng ký và quản lý hộ tịch” - H: Chính trị Quốc gia, 2006;
- “151 câu trả lời về hộ tịch, hộ khẩu, chứng minh nhân dân và công chứng,, chứng thực” / L.G: Trần Huyền Nga – H: NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 2005;
- “Hướng dẫn nghiệp vụ đăng ký và quản lý hộ tịch” - H: NXB tư pháp 2006;
- “Nghiệp vụ đăng ký hộ tịch” – H: NXB Tư Pháp, 2007
-Bài “Cơ quan nhà nước cần tôn trọng quyền yêu cầu cấp phiếu lý lịch tư pháp của công dân”, tác giả Vũ Đình Tuấn Phương, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2005;
- Bài “Kỳ vọng về một nề nếp mới trong công tác hộ tịch”, tác giả Phạm Trọng Cường, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 6 năm 2006;
- Tác giả Phạm Hồng Hoàn “ Quản lý Nhà nước về hộ tịch ở cấp
xã, huyện Đan phượng, thành phố Hà Nội” năm 2011;
- Tác giả Lê Thị Quãng “ Nâng cao hiệu quả công tác kiểm soát thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý hộ tịch” quận Phú Nhuận, TP.Hồ Chí Minh năm 2013;
-Bài “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức tư pháp – hộ tịch trong giai đoạn hiện nay”, Tác giả Trần Văn Quảng, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tháng 9 năm 2006;
Trang 12Số chuyên đề về “Công chứng, hộ tịch và quốc tịch”, phần 2 hộ tịch và quốc tịch, Bộ Tư pháp, Hà Nội, 2007;
-Bài “Tư pháp Hà Nội không vì khó khăn mà từ chối đăng ký khai sinh”, tác giả Đàm Thị Kim Hạnh, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, tháng 3 năm 2008;
- Giáo trình “Quản lý hành chính-tư pháp” của Học viện hành chính, nhà xuất bản khoa học kỹ thuật năm 2008 (dành cho đào tạo trung cấp hành chính)
-Chuyên đề “Quản lý hành chính -tư pháp” trong chương trình bồi dưỡng kiến thức quản lý quản lý nhà nước ngạch chuyên viên chính của Học viện Hành chính
Các công trình khoa học nói trên đã đề cập từng khía cạnh của quản lý về hộ tịch Tuy nhiên, do đến nay, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu trực tiếp về quản lý hộ tịch ở Quận 10 trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh Đây là lý do thứ hai để đề tài này được lựa chọn nghiên cứu
3 Đối tƣợng, phạm vi,mục đích nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận thực tiễn của quản lý nhà nước về hộ tịch
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: UBND Quận 10 và 15 phường
Phạm vi thời gian : Từ năm 2012 đến 2016
3.3 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ hơn nữa cơ sở lý luận, thực tiễn của quản lý nhà nước về hộ tịch nói chung và ở quận 10 nói riêng Từ đó đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10
Trang 13trong thời gian qua, nêu ra những kết quả đạt được và hạn chế cũng như nguyên nhân của chúng
Trên cơ sở đó, đưa ra những đề xuất góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn quận 10 trong thời gian tới
Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch theo hai giai đoạn từ năm 2012 đến nay
Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta hiện nay
4 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp luận:
Đề tài dựa trên phương pháp luận là các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý hộ tịch
4.2 Phương pháp nghiên cứu:
Để nghiên cứu đề tài một cách có hiệu quả, sẽ sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau: phương pháp phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp, phương pháp lịch sử, phương pháp hệ thống, phương pháp so sánh
5 Đóng góp của đề tài
Đề tài hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung về hộ tịch và quản lý nhà nước đối với hộ tịch; đánh giá thực trạng về quản lý hộ tịch ở quận 10 trong thời gian qua, từ đó nêu lên những giải pháp để góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10
Các kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm cơ sở để các cấp chính quyền ở quận 10 và 15 phường nghiên cứu, vận dụng vào thực tế quản lý hộ tịch Luận văn cũng có thể là tài liệu nghiên cứu về quản lý hộ tịch cho các học viên, sinh viên của học viện hành chính
6 Bố cục của luận văn
Trang 14Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của quản lý nhà nước về hộ tịch Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về hộ tịch ở quận 10 – Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 15CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH 1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
Xét từ khía cạnh là một khái niệm pháp lý, khái niệm hộ tịch cũng là một trường hợp rất đặc biệt trong hệ thống khái niệm pháp lý tiếng Việt Bản thân khái niệm này hoàn toàn không dễ định nghĩa, điều đó cũng có nghĩa là việc sử dụng nó không thuận tiện theo nguyên tắc sử dụng ngôn ngữ khi xây dựng văn bản quy phạm pháp luật Trên thực tế đã từng có những cuộc thảo luận trong giới chuyên môn về việc thay thế khái niệm này bằng một khái niệm khác thông dụng hơn, dễ hiểu hơn Tuy nhiên, do khái niệm hộ tịch chứa đựng trong nó yếu tố truyền thống, lịch sử và đã là một khái niệm có tính chất phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên giải pháp đi tìm khái niệm Việt hoá thay thế nó không được lựa chọn, thay vào đó, các nhà xây dựng pháp luật đã dung hoà bằng giải pháp mà Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng nó với tư cách là một thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa nó trong văn bản
Khái niệm “hộ tịch” và “đăng ký hộ tịch” theo pháp luật Việt Nam hiện nay:
Theo quy định tại điều 1, Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10-10-1998 về đăng ký hộ tịch có quy định:
Trang 16“Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”
“Đăng ký hộ tịch là hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Xác nhận các sự kiện sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm, cải chính họ, tên, chữ đệm, ngày tháng năm sinh; xác định lại dân tộc; đăng ký khai sinh, khai tử quá hạn; đăng ký lại việc sinh, tử, kết hôn, nhận nuôi con nuôi;
Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào
sổ đăng ký hộ tịch các việc về ly hôn, xác định cha, mẹ, con, thay đổi quốc tịch, mất tích, mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, hủy hôn trái pháp luật, hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc những sự kiện khác do pháp luật quy định”
Trước khi có Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, Bộ Luật Dân sự năm 1995 cũng đã có quy phạm định nghĩa về khái niệm đăng ký hộ tịch tại Điều 54:
“Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện
sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi họ, tên, quốc tịch, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch”
Đây là khái niệm khó định nghĩa một cách rõ ràng bằng ngôn ngữ Hán Việt, việc kết hợp giữa định nghĩa “hộ tịch” và “đăng ký hộ tịch” mới có thể
mang lại cách hiểu đầy đủ về khái niệm “hộ tịch” vì “Hộ tịch là những sự
kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”- đây là định nghĩa mở, theo đó chỉ có thể hiểu “những sự kiện cơ
bản xác định tình trạng nhân thân của một người” là những sự kiện nào khi viện dẫn tới định nghĩa về “đăng ký hộ tịch”
Từ định nghĩa như trên, đăng ký về hộ tịch gồm các loại việc:
- Đăng ký khai sinh;
Trang 17Nghị định số 158/2005/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày
27-12-2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch có hiệu lực thi hành từ ngày 01-4-2006 thay thế Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký hộ tịch đã đưa ra định nghĩa hoàn thiện về “hộ tịch” và “đăng ký hộ tịch” như sau:
“Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của
một người từ khi sinh ra đến khi chết
Đăng ký hộ tịch theo quy định của Nghị định này là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền:
Xác nhận các sự kiện: sinh; kết hôn; tử; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính, bổ sung, điều chỉnh hộ tịch; xác định lại giới tính; xác định lại dân tộc;
Căn cứ vào quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ghi vào
sổ hộ tịch các việc: xác định cha, mẹ, con; thay đổi quốc tịch; ly hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật; chấm dứt nuôi con nuôi”
Với mỗi vấn đề hộ tịch thì có giấy tờ về vấn đề đó, gọi là giấy tờ về hộ tịch Giấy tờ về hộ tịch là giấy tờ có giá trị chứng minh thực tế thân trạng của mỗi công dân
Trang 18Giấy tờ về hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp Đó là cơ sở pháp lý chứng minh các quyền và nghĩa vụ của công dân phát sinh từ sự kiện
hộ tịch Do tính chất quan trọng như vậy của các giấy tờ về hộ tịch cho nên pháp luật có quy định chặt chẽ, cụ thể các nguyên tắc, thủ tục, trình tự đăng
ký và cấp các loại giấy tờ về hộ tịch
Giấy tờ hộ tịch do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó
Giấy tờ hộ tịch do cơ quan đại điện Ngoại giao, cơ quan Lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài cấp có giá trị như giấy tờ hộ tịch được cấp ở trong nước
Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân Do vậy, tất cả các loại giấy tờ về hộ tịch đều phải thống nhất với Giấy khai sinh của cá nhân
người đó Chính vì vậy, đăng ký hộ tịch là hành vi bắt buộc không chỉ đối với
công dân mà còn đối với cả các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
1.1.2 Đặc điểm của hộ tịch
Từ quan niệm trên về hộ tịch, có thể thấy, hộ tịch có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con
người, bởi vì, mỗi người chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết Các dấu hiệu về cha đẻ, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính là những dấu hiệu giúp người ta phân biệt từng cá nhân con người Do đó, đây là các giá trị nhân thân gắn với một con người cụ thể từ khi sinh ra đến khi chết
Thứ hai, hộ tịch là những giá trị, về nguyên tắc không chuyển đổi cho
người khác Đặc điểm này là hệ quả của của đặc điểm thứ nhất Do đó, việc thực hiện các sự kiện hộ tịch phải do trực tiếp cá nhân người đó thực hiện, trừ
Trang 19trường hợp pháp luật có quy định khác (như: khai sinh có thể do bố, mẹ đi đăng ký khai sinh; khai tử do người thân của người chết đăng ký khai tử)
Thứ ba, hộ tịch là những sự kiện nhân thân không lượng hoá được
thành tiền Chính vì vậy, hộ tịch không phải là một loại hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường
1.2 QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH
1.2.1 Nguyên tắc quản lý nhà nước về hộ tịch
Nguyên tắc quản lý nhà nước về Hộ tịch hiện nay được quy định tại điều 5 của Luật Hộ tịch:
Một là, tôn trọng và bảo đảm quyền nhân thân của cá nhân
Hai là, mọi sự kiện hộ tịch của cá nhân phải được đăng ký đầy đủ, kịp thời, trung thực, khách quan và chính xác; trường hợp không đủ điều kiện đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật thì người đứng đầu cơ quan đăng
ký hộ tịch từ chối bằng văn bản và nêu rõ lý do
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất trong công tác quản lý hộ tịch Phạm vi quản lý của hoạt động quản lý hộ tịch là các đặc điểm nhân thân làm nên căn cước của mỗi cá nhân, có các thuộc tính: Ổn định, công khai, có khả năng phổ biến thông tin Việc đăng ký đầy đủ, kịp thời, chính xác các thông tin này là
cơ sở để công tác quản lý hộ tịch của Nhà nước được đầy đủ, hệ thống, chính xác, phản ánh đúng nhất sự phát triển, vận động của dân số xã hội
Ba là, Đối với những việc hộ tịch mà Luật này không quy định thời hạn giải quyết thì được giải quyết ngay trong ngày; trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày tiếp theo
Áp dụng cho trường hợp khai sinh giai quyết trong ngày
Bốn là, mỗi sự kiện hộ tịch chỉ được đăng ký tại một nơi theo đúng thẩm quyền
Trang 20Nguyên tắc “đăng ký một nơi” thể hiện tính chất “duy nhất” của đặc
điểm nhân thân từng cá nhân, đồng thời là cơ sở để bảo đảm thông qua hoạt động quản lý hộ tịch, đặc điểm dân số, sự phát triển của dân số xã hội trong từng vùng miền, địa phương có sự phân biệt rõ ràng
Năm là,Mọi sự kiện hộ tịch sau khi đăng ký vào Sổ hộ tịch phải được cập nhật kịp thời, đầy đủ vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử
Với nguyên tắc này, Nhà nước đòi hỏi các thông tin về quản lý hộ tịch
phải được đảm bảo chính xác, điều này phù hợp với đặc điểm của đối tượng, phạm vi của quản lý hộ tịch là các đặc điểm nhân thân của từng cá nhân với các thuộc tính: Ổn định, công khai, có khả năng phổ biến thông tin Khi cập nhật vào dữ liệu thì không thể chỉnh sửa, nên khi lấy thông tin phải chính xác, việc chỉnh sửa phải thực hiện ở Bộ
Sáu là, Nội dung khai sinh, kết hôn, ly hôn, khai tử, thay đổi, cải chính,
bổ sung hộ tịch, xác định lại giới tính, xác định lại dân tộc của cá nhân trong
Cơ sở dữ liệu hộ tịch là thông tin đầu vào của Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân
cư
Bảy là, Bảo đảm công khai, minh bạch thủ tục đăng ký hộ tịch
Đây là nguyên tắc về “tính công khai” trong công tác quản lý hộ tịch, bảo đảm cho người dân dễ dàng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về đăng ký
hộ tịch, qua đó khuyến khích người dân tự nguyện, tự giác thực hiện đầy đủ, kịp thời các quyền và nghĩa vụ về đăng ký hộ tịch
Những nguyên tắc trên đảm bảo cho việc quản lý hộ tịch được chính
xác, kịp thời, đầy đủ, góp phần bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân Bởi vì, thực tế cho thấy, các giấy tờ về hộ tịch nếu trong quá trình thực hiện có sai sót mà không được phát hiện kịp thời sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như khắc phục, sửa chữa sai sót và đặc biệt sẽ gây ra không
ít những phiền hà cho công dân trong việc thống nhất giấy tờ quan trọng khác
Trang 21sau này: hồ sơ đi học, xin việc làm, xuất cảnh, thậm chí, còn liên quan đến việc xác định độ tuổi để đánh giá năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm pháp lý của từng cá nhân con người
1.2.2 Vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết, nên quản lý hộ tịch là một vấn đề quan trọng đối với mỗi cá nhân trong xã hội
Quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình khi tham gia vào các quan hệ xã hội như quyền được kết hôn khi công dân đủ tuổi theo quy định, quyền được giám hộ, quyền được thừa kế đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình
Cũng trên cơ sở theo dõi biến động về hộ tịch mà các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chính sách phù hợp dựa trên dân số theo độ tuổi, giới tính nguồn nhân lực từ đó có phân tích đánh giá cụ thể làm cơ sở để hoạch định các chính sách về phát triển kinh tế, văn hoá-xã hội, thể dục thể thao; xây dựng cơ sở y tế, trường học; bố trí giáo viên; chăm sóc sức khoẻ trong nhân dân; đảm bảo cân bằng giới tính phục vụ an ninh quốc phòng
1.2.3 Quan niệm quản lý nhà nước về hộ tịch
Quản lý nhà nước về hộ tịch là một trong những hoạt động của quản lý nhà nước Thông qua việc đăng ký hộ tịch, nhà nước nắm được tình hình biến động dân cư và sự biến động của xã hội, giúp nhà nước có cơ sở khoa học để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng và trật tự
an toàn xã hội và là cơ sở để hoạch định chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
Trang 22Quản lý nhà nước về hộ tịch là sự thực hiện chức năng quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật trong các công việc bao gồm: Chỉ đạo triển khai tổ chức cơ quan đăng ký hộ tịch, thực hiện đăng ký hộ tịch; tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về hộ tịch nhằm giáo dục, nâng cao ý thức pháp luật hộ tịch trong nhân dân; thực hiện công tác lưu trữ và quản lý lưu trữ các hồ sơ về hộ tịch đã đăng ký hoặc được chuyển tiếp lưu trữ; báo cáo định kỳ thống kê việc tăng giảm dân số; kiểm tra,
xử lý các vi phạm về đăng ký hộ tịch; đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán
bộ quản lý và đội ngũ hộ tịch viên
Đặc điểm quản lý nhà nước đối với hộ tịch ở nước ta
Thứ nhất, quản lý nhà nước đối với hộ tịch là hoạt động mang quyền
lực nhà nước
Quyền lực nhà nước trong quản lý nhà nước đối với hộ tịch trước hết thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là văn bản quản lý hộ tịch
Bằng việc ban hành văn bản, chủ thể quản lý hộ tịch thể hiện ý chí của mình dưới dạng các hoạt động áp dụng pháp luật; trực tiếp thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia quan hệ quản lý về hộ tịch; đưa ra mệnh lệnh chỉ đạo trong tổ chức thực hiện pháp luật trong thực tiễn; cung cấp thông tin hướng dẫn người dân để thực hiện việc đăng ký hộ tịch thông qua hệ thống của bộ máy quản lý hộ tịch của Nhà nước
Bên cạnh đó, quyền lực nhà nước còn thể hiện trong việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành những hoạt động cần thiết để bảo đảm thực hiện ý chí nhà nước, như các biện pháp về tổ chức, tuyên truyền giáo dục, thuyết phục, hòa giải… Chính những biện pháp này là sự thể hiện tập trung và rõ nét của
Trang 23sức mạnh nhà nước, một bộ phận tạo nên quyền lực nhà nước, nhờ đó ý chí của chủ thể quản lý hộ tịch được bảo đảm thực hiện
Thứ hai, quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động được tiến hành bởi
những chủ thể có quyền năng hành pháp là các công chức trong bộ máy nhà nước
Chủ thể chủ yếu thực hiện quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước (Chính phủ, Bộ, Ủy ban nhân dân,
cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân, đội ngũ công chức làm công tác
tư pháp - hộ tịch)
Thứ ba, quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động có tính thống nhất,
được tổ chức chặt chẽ
Để bảo đảm tính pháp chế trong hoạt động hộ tịch, bộ máy các cơ quan
hộ tịch được tổ chức thành một khối thống nhất từ Trung ương tới địa phương, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả nước, tránh được
sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau
Tuy nhiên, do mỗi địa phương đều có những nét đặc thù riêng về điều kiện kinh tế - xã hội, nên để có thể phát huy tối đa những yếu tố của từng địa phương, tạo sự năng động sáng tạo trong quản lý điều hành, bộ máy quản lý
hộ tịch còn được tổ chức theo hướng phân cấp, trao quyền tự quyết, tạo sự chủ động sáng tạo cho chính quyền địa phương
Thứ tư, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch có tính chấp hành và
Trang 24động sáng tạo của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…, trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật
Tính điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện trong việc chủ thể có thẩm quyền tổ chức thực hiện pháp luật về hộ tịch trong đời sống xã hội Trong quá trình đó, các chủ thể này, không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà quan trọng hơn cả chúng đảm nhận chức năng chỉ đạo nhằm vận hành hoạt động của các cơ quan, đơn vị trực thuộc theo một quy trình thống nhất; tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ quản lý
Thứ năm, quản lý nhà nước đối với hộ tịch là hoạt động mang tính liên
tục
Quản lý nhà nước đối với hộ tịch luôn cần có tính liên tục, kịp thời và linh hoạt để đáp ứng sự vận động không ngừng của đời sống xã hội Chính điểm đặc thù này được coi là một cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức và hoạt động, quy chế công chức của bộ máy quản lý hộ tịch; tạo ra bộ máy quản lý hộ tịch gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội ngũ công chức quản lý hộ tịch năng động sáng tạo, quyết đoán và chịu sự ràng buộc trách nhiệm đối với hoạt động của mình
Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước về hộ tịch là một hình thức hoạt
động của nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền (trước hết và chủ yếu bởi các cơ quan hành chính nhà nước, người có thẩm quyền) thực hiện trên cơ sở
và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế -
xã hội
Trang 25và bổ trợ tư pháp; tổ chức và quản lý công tác thi hành án, quốc tịch, hộ khẩu,
hộ tịch”
Tuy nhiên, kể từ sau năm 1987, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý hộ tịch ở nước ta được tổ chức theo nguyên tắc kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ Theo đó, tương ứng với mỗi cơ quan quản lý có thẩm quyền
Chính phủ
Uỷ ban nhân
dân cấp tỉnh
giao, lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài
Uỷ ban nhân
dân cấp huyện
Phòng Tư pháp
Ghi chú:
Quan hệ chỉ đạo, chấp hành Quan hệ phối hợp
Cơ quan chỉ có chức năng quản lý
hộ tịch
Cơ quan có cả chức năng quản lý và đăng ký hộ tịch
Công chức Tư pháp-Hộ tịch
Ủy ban nhân
dân cấp xã
Trang 26chung ở một cấp hành chính có một cơ quan chuyên ngành cùng cấp làm nhiệm vụ giúp cơ quan quản lý thẩm quyền chung thực hiện quản lý hộ tịch Nguyên tắc tổ chức hệ thống quản lý hộ tịch này được duy trì ổn định từ khi xây dựng hệ thống quản lý hộ tịch theo Nghị định số 83/1998/NĐ-CP cho đến Nghị định 158/2005/NĐ-CP
Và cho đến nay, Luật Hộ tịch 2014 có quy định trách nhiệm của Chính phủ như sau:
Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch
- Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch bao gồm:
Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch; tổ chức triển khai thực hiện pháp luật về hộ tịch;
- Ứng dụng công nghệ thông tin trong đăng ký và quản lý hộ tịch; xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch;
hộ tịch, trong đó có những nhiệm vụ, quyền hạn vĩ mô, thể hiện tính chất đặc thù trong hoạt động quản lý nhà nước của cơ quan này, đồng thời cũng có những nhiệm vụ mang tính chất tác nghiệp, cụ thể:
Trang 27Những nhiệm vụ mang tính chất vĩ mô: Hướng dẫn nghiệp vụ về hộ tịch; ban hành và quản lý thống nhất các biểu mẫu, giấy tờ, sổ sách về hộ tịch, giải quyết các việc về hộ tịch theo quy định của pháp luật, xây dựng, quản lý, khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch
Bên cạnh đó, để thực hiện vai trò thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch, Bộ Tư pháp còn có các nhiệm vụ, quyền hạn mang tính chất tác nghiệp
cụ thể, đó là: Tổng hợp tình hình và số liệu thống kê hộ tịch, báo cáo Chính phủ theo định kỳ hàng năm; kiểm tra, thanh tra việc về đăng ký và quản lý hộ tịch; giải quyết khiếu nại, tố cáo về hộ tịch theo thẩm quyền
* Bộ Công an:
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao và các
bộ, ngành liên quan thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
Bảo đảm kết nối cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định của pháp luật;
Bảo đảm an ninh, an toàn thông tin trong cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử; Thực hiện các nhiệm vụ khác liên quan đến công tác hộ tịch
* Bộ Ngoại giao và cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam
ở nước ngoài
Việc quản lý hộ tịch đối với bộ phận công dân Việt Nam ở nước ngoài
là một nội dung quan trọng trong công tác lãnh sự của các cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài
Để thực hiện việc quản lý hộ tịch với đối tượng này, Bộ Ngoại giao được giao một số nhiệm vụ quyền hạn:
Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp thực hiện quản lý nhà nước về
hộ tịch tại Cơ quan đại diện và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Quy định, hướng dẫn, chỉ đạo, kiểm tra, thanh tra công tác đăng ký và quản lý hộ tịch tại các Cơ quan đại diện;
Trang 28- Tổ chức việc bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho viên chức ngoại giao, lãnh sự;
- Lập Sổ hộ tịch để quản lý thông tin hộ tịch của công dân Việt Nam
đã đăng ký tại Cơ quan đại diện;
- Cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định;
- Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch của cơ quan đại diện gửi Bộ
tư pháp theo quy định của Chính phủ
Cơ quan đại diện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch của công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Thực hiện việc đăng ký hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở nước ngoài theo quy định của pháp luật về hộ tịch, pháp luật về lãnh sự và điều ước quốc tế liên quan;
- Bố trí viên chức ngoại giao, lãnh sự thực hiện nhiệm vụ đăng ký và quản lý hộ tịch tại cơ quan đại diện;
- Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch theo quy định;
- Quản lý, cập nhật và khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định;
- Báo cáo Bộ Ngoại giao nội dung đăng ký hộ tịch để cập nhật vào cơ
Trang 29Viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch có trách nhiệm giúp
cơ quan đại diện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 67 của Luật Hộ tịch
* Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và Sở Tư pháp:
1 Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Hướng dẫn, chỉ đạo việc tổ chức thực hiện công tác đăng ký và quản
lý hộ tịch;
b) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch;
c) Căn cứ quy định của Chính phủ, quyết định việc bố trí công chức làm công tác hộ tịch ở cấp huyện, cấp xã; bảo đảm cơ sở vật chất để phục vụ hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch;
d) Quản lý, cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định;
đ) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ tịch theo thẩm quyền;
e) Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp trái quy định của luật này, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật;
g) Định kỳ tổ chức việc bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch cho công chức làm công tác hộ tịch;
h) Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Bộ Tư pháp theo quy định
2 Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 69 Luật Hộ tịch
Trang 303 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý
* Ủy ban nhân dân cấp huyện và Phòng Tư pháp:
Theo Điều 70 của Luật Hộ tịch có quy định trách nhiệm của UBND cấp huyện như sau:
1 Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của Luật này;
b) Chỉ đạo, kiểm tra việc đăng ký và quản lý hộ tịch tại Ủy ban nhân dân cấp xã;
c) Tổ chức tuyên truyền, phổ biến các quy định của pháp luật về hộ tịch;
d) Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định;
đ) Căn cứ quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, bố trí công chức làm công tác hộ tịch;
e) Quản lý, cập nhật, khai thác cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định;
g) Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hộ tịch theo thẩm quyền;
h) Thu hồi, hủy bỏ giấy tờ hộ tịch do Ủy ban nhân dân cấp xã cấp trái quy định của luật này, trừ trường hợp kết hôn trái pháp luật;
i) Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo quy định của Chính phủ;
k) Lưu trữ sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch
2 Phòng tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều 70 Luật Hộ tịch
Trang 313 Đối với đơn vị hành chính cấp huyện không có đơn vị hành chính cấp xã thì ngoài việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn về đăng ký và quản lý hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp huyện, còn thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đăng
ký và quản lý hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại Điều 71 của Luật này
4 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản lý
* Ủy ban nhân dân cấp xã và công chức Tư pháp - hộ tịch:
Là cấp hành chính cơ sở trực tiếp đảm nhiệm việc đăng ký hộ tịch nên các nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã chủ yếu liên quan đến hoạt động đăng ký hộ tịch Tuy nhiên, ngoài hoạt động đăng ký hộ tịch, Ủy ban nhân dân cấp xã còn phải thực hiện một số nhiệm vụ khác như tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân chấp hành pháp luật về hộ tịch; chấp hành chế độ thống kê, báo cáo tình hình đăng ký hộ tịch, chế độ sử dụng, lưu trữ sổ hộ tịch; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về đăng ký và quản lý hộ tịch theo thẩm quyền Trong cơ cấu tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp xã, cán bộ Tư pháp - hộ tịch là công chức chuyên trách có nhiệm vụ giúp
Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện hoạt động quản lý hộ tịch Đối với những
xã, phường, thị trấn có đông dân cư, số lượng công việc hộ tịch nhiều, thì phải
có công chức chuyên trách làm công tác hộ tịch, không kiêm nhiệm các công tác tư pháp khác
Theo Điều 71 của Luật Hộ tịch có quy định Trách nhiệm của UBND cấp xã như sau:
1 Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương và có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
a) Thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định của luật này;
Trang 32b) Căn cứ quy định của Ủy ban nhân dân cấp trên, bố trí công chức tư pháp - hộ tịch thực hiện việc đăng ký hộ tịch;
c) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch;
d) Quản lý, sử dụng Sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch theo quy định;
đ) Quản lý, cập nhật, khai thác Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử và cấp bản sao trích lục hộ tịch theo quy định;
e) Tổng hợp tình hình và thống kê hộ tịch báo cáo Ủy ban nhân dân cấp huyện theo quy định của Chính phủ;
g) Lưu trữ Sổ hộ tịch, hồ sơ đăng ký hộ tịch;
h) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm về hộ tịch theo thẩm quyền
2 Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã thường xuyên chỉ đạo, đôn đốc việc khai sinh, khai tử; chịu trách nhiệm về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch
và những vi phạm trong công tác đăng ký, quản lý hộ tịch do buông lỏng quản
lý
Công chức tư pháp - hộ tịch phải có đủ các tiêu chuẩn của cán bộ công chức cấp xã theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và phải có thêm các tiêu chuẩn sau đây:
- Có trình độ từ trung cấp luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ
- Công chức làm công tác hộ tịch tại Phòng tư pháp phải có trình độ cử nhân luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch
Trang 33- Viên chức ngoại giao, lãnh sự làm công tác hộ tịch tại cơ quan đại diện đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch
1.2.5 Nội dung quản lý của nhà nước về hộ tịch
Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch tập trung chủ yếu vào các hoạt động:
- Ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch;
- Xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch, định hướng về hoạt động hộ tịch;
- Phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch;
- Thực hiện đăng ký hộ tịch;
- Quản lý hệ thống tổ chức và hoạt động của các cơ quan, tổ chức trong hoạt động hộ tịch;
- Đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ về hộ tịch;
- Kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại,
tố cáo trong hoạt động hộ tịch;
- Bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, phương tiện cho một số hoạt động
Trang 34Hiện nay, quy định pháp luật về đăng ký, quản lý hộ tịch tại phường, xã, thị trấn ghi nhận ở nhiều văn bản khác nhau, trong đó, văn bản giữ vai trò chủ đạo quy định chủ yếu trình tự thủ tục đăng ký, quản lý hộ tịch đối với các sự kiện hộ tịch là Luật Hộ tịch 2014 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2016
Luật Hộ tịch 2014 đã kế thừa những quy định tiến bộ Nghị định số 158/2005/NĐ-CP bổ sung thêm những quy định mới nhằm xây dựng một Luật Hộ tịch về đăng ký và quản lý hộ tịch hoàn chỉnh, đồng bộ, thống nhất,
ổn định lâu dài
1.3.1.2 Một số văn bản liên quan
Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 (quy định về quyền được đăng ký khai sinh và có quốc tịch)
Bộ Luật Dân sự năm 2015 (quy định về quyền nhân thân)
Luật Nuôi con nuôi năm 2010 (quy định về nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài)
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (quy định về kết hôn; nhận cha,
mẹ, con)
Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05-8-2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính
Thông tư số 29/2010/TT-BYT ngày 24-5-2010 của Bộ Y tế về hướng dẫn thi hành một số điều quy định Nghị định số 88/2008/NĐ-CP ngày 05-8-
2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính
Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP ngày 25-3-2010 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng số, biểu mẫu hộ tịch Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21-3-2011 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Nuôi con nuôi
Trang 35Nghị định số 06/2012/NĐ-CP ngày 02-02-2012 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của các nghị định về hộ tịch, hôn nhân và gia đình và chứng thực
Thông tư số 05/2012/TT-BTP ngày 23-5-2012 của Bộ Tư pháp sửa đổi,
bổ sung một số điều của Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng số, biểu mẫu hộ tịch
Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28-3-2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
Thông tư số 09b/2013/TT-BTP ngày 20-5-2013 của Bộ Tư pháp sửa đổi,
bổ sung một số điều của Thông tư số 08.a/2010/TT-BTP ngày 25 tháng 3 năm 2010 của Bộ Tư pháp về việc ban hành và hướng dẫn việc ghi chép, lưu trữ, sử dụng số, biểu mẫu hộ tịch và Thông tư số 05/2012/TT-BTP ngày 23 tháng 5 năm 2012 của Bộ tư pháp sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư
số 08.a/2010/TT-BTP
Thông tư số 22/2013/TT-BTP ngày 31-12-2013 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 24/2013/NĐ-CP ngày 28 tháng 3 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài
1.3.2 Tổ chức bộ máy, nhân lực thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch
Để thực hiện tốt quản lý nhà nước về hộ tịch phải có bộ máy được tổ chức khoa học, nhân lực có trình độ, kỷ năng… Nếu không thì ngược lại, quản lý sẽ kém hiệu lực, hiệu quả
Trang 36Tổ chức bộ máy, nhân lực thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta hiện nay thực hiện theo Luật Hộ tịch gồm 7 cơ quan có thẩm quyền quản lý, thể hiện sâu sắc ở sự vận dụng tư duy mới về cải cách hành chính và
tổ chức bộ máy, nhân lực thực hiện “Phân cấp quản lý hành chính nhà nước
giữa trung ương và địa phương nhằm quy định rõ rang, cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm của mỗi cấp trong hệ thống hành chính Nhà nước; phát huy tính năng động sáng tạo, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền địa phương trong giải quyết công việc cho dân nhanh chóng, thuận lợi, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội ở từng địa phương và của cả nước”
Mặt khác, Luật Hộ tịch đã thực hiện sự phân cấp mạnh mẽ theo hướng chuyển giao một số loại việc trước đây thuộc thẩm quyền đăng ký hộ tịch của
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho Sở Tư pháp, Ủy ban nhân dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã Đây được coi là điểm mốc đánh dấu sự vận dụng một tư duy mới về phân cấp quản lý nhà nước trong công tác hộ tịch “việc nào, cấp nào thực hiện tốt hơn thì giao cho cấp đó”, đồng thời cũng thể hiện sự đánh giá cao hơn về khả năng đảm nhận những nhiệm vụ ngày càng phức tạp hơn của hệ thống Ủy ban nhân dân cấp xã và Ủy ban nhân dân cấp huyện
1.3.3 Cơ sở vật chất phục vụ quản lý nhà nước về hộ tịch:
Trang bị phương tiện thiết yếu cho hoạt động tư pháp nói chung, công tác quản lý nhà nước về hộ tịch nói riêng theo tinh thần Nghị quyết số 49/NQ-
TW ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020, “…Từng bước xây dựng trụ sở làm việc của các cơ quan tư pháp khang trang, hiện đại, đầy đủ tiện nghi; bố trí kinh phí bảo đảm cho hoạt động chuyên môn, cũng như nhiệm vụ công tác tư pháp ở địa phương; tăng cường
áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan tư pháp…” Nếu
Trang 37đầu tư không đáp ứng cơ sở vật chất sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về hộ tịch
1.3.4 Sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước về hộ tịch
Vai trò, trách nhiệm của người dân trong tham gia xây dựng chính quyền nhà nước nói chung được thực hiện dưới hai hình thức: Dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện Trong đó, quản lý nhà nước về công tác hộ tịch cần hết sức coi trọng các hình thức dân chủ trực tiếp, cụ thể như việc lấy ý kiến nhân dân, trưng cầu ý dân về công tác đánh giá cán bộ; trực tiếp tổ chức, thực hiện việc đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống của nhân dân, góp phần duy trì trật tự pháp luật, tăng cường pháp chế Xã hội chủ nghĩa, thực hiện dân chủ
và công bằng xã hội
Do các cấp uỷ, chính quyền địa phương đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác hộ tịch, nên đã quan tâm, đầu tư hơn cho công tác tuyên truyền, qua đó, người dân đã nhận thức được việc đăng ký hộ tịch vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của mình nên đã tự giác đi đăng ký hộ tịch (khai sinh, khai tử, kết hôn…)
Theo Nghị định số 158/2005/NĐ-CP quy định đã mở rộng thẩm quyền đăng ký khai sinh; cho phép uỷ quyền cho người khác thực hiện việc đăng ký
hộ tịch (trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký việc nuôi con nuôi, đăng ký giám hộ, đăng ký nhận cha, mẹ, con) Trong trường hợp người được uỷ quyền
là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em của người uỷ quyền thì không cần phải có văn bản uỷ quyền; cho phép cha mẹ nuôi được đăng ký tên mình với tư cách là cha, mẹ trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy tờ khai sinh của con nuôi… Những quy định này thông thoáng đã tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia vào công tác quản lý nhà nước về hộ tịch Khi người dân tham gia tốt vào công tác quản lý nhà nước về hộ tịch thì tạo sự thuận lợi cho việc đăng ký, quản lý hộ tịch; giám sát quá trình đăng ký, quản lý hộ tịch
Trang 38của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; góp ý, hiến kế để công tác quản lý nhà nước về hộ tịch được đổi mới góp phần từng bước nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước về hộ tịch, phục vụ tốt hơn cho sự phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu bảo đảm, thực hiện các quyền của công dân
Như vậy, đã có văn bản pháp luật về hộ tịch phù hợp, thuận lợi, có đội ngũ cán bộ đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ thì kết quả đăng ký và quản lý hộ tịch có hiệu quả hay không còn phụ thuộc vào ý thức của người dân Nếu người dân cho rằng chưa vội phải đăng ký hộ tịch (chết thì đã được chôn rồi, khai sinh thì còn lâu mới đi học…), thì công tác đăng ký và quản lý hộ tịch vẫn sẽ chưa được kịp thời và đầy đủ
Tiểu kết Chương 1
1 Hộ tịch là những vấn đề cơ bản, liên quan đến nhân thân của con người
2 Quản lý nhà nước về hộ tịch là sự thực hiện chức năng quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
3 Chủ thể thực hiện quản lý, đăng ký hộ tịch gồm: Chính phủ; Bộ, cơ quan ngang Bộ (Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Bộ Công an); Ủy ban nhân dân (cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã) và cơ quan chuyên môn giúp việc cho Ủy ban nhân dân về vấn đề này (Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp, công chức trực tiếp làm công tác hộ tịch)
4 Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch tập trung chủ yếu vào các hoạt động: ban hành hoặc trình cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật về hộ tịch; xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách, kế hoạch, định hướng về hoạt động hộ tịch; phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch; thực hiện đăng ký hộ tịch; quản lý hệ thống tổ chức và hoạt động của các
cơ quan, tổ chức trong hoạt động hộ tịch; đào tạo, bồi dưỡng, hướng dẫn nghiệp vụ về hộ tịch; kiểm tra, thanh tra, khen thưởng, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong hoạt động hộ tịch; bảo đảm kinh phí, cơ sở vật
Trang 39chất, phương tiện cho một số hoạt động hộ tịch; hợp tác quốc tế về hộ tịch; thống kê nhà nước về hộ tịch; tổng kết hoạt động hộ tịch; báo cáo cơ quan nhà nước cấp trên về hoạt động hộ tịch
5 Muốn quản lý tốt về công tác hộ tịch, cần phải đảm bảo các điều kiện như: hệ thống pháp luật hoàn thiện; tổ chức bộ máy, nhân lực; cơ sở vật chất
phục vụ cho sự quản lý của nhà nước về hộ tịch; ý thức của người dân tham
gia vào sự quản lý của nhà nước
Trang 40
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HỘ TỊCH Ở QUẬN 10, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1 MỘT VÀI NÉT VỀ QUẬN 10 – TP.HỒ CHÍ MINH
Quận 10 là một trong những quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hóa xã hội với các quận trung tâm và ngoại thành, là cơ hội để thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quận trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Quận 10 được chia thành 5 khu với tổng số 15 phường lớn nhỏ không đều nhau, chênh lệch giữa Phường lớn nhất (phường 12) và phường nhỏ nhất (phường 3) là 119,14 ha tương ứng 12,8 lần địa bàn Quận 10, có giáp ranh như sau:
Nguyễn Chí Thanh;
Phía đông giáp quận 3, giới hạn bởi đường Cách mạng tháng 8, Điện Biên Phủ và đường Lý Thái Tổ;
Quận 10 có tổng diện tích tự nhiên 571,81 ha (theo số liệu bản đồ địa chính) nằm chếch về phía Tây Nam của trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh và chiếm 0,24% diện tích đất đai toàn thành phố Dân số của quận 10 tính đến thời điểm 31/12/2011 là 235.024 người, mật độ dân số trung bình là 41.077
người/km2
Dân số của quận 10 đến nay khoảng 148.633 người
Quận 10 có 15 đơn vị hành chính gồm 15 phường,