So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)So sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc (LV thạc sĩ)
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
JANG TAI MIN
SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM
NHŨNG CỦA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
JANG TAI MIN
SO SÁNH PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM
NHŨNG CỦA VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
MÃ SỐ: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM MINH TUẤN
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 3LỜI CÁM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, quan tâm tận tình của PGS
TS Phạm Minh Tuấn – Giám đốc Học viện chính trị khu vực II – đã giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin gửi lời cám ơn đến Khoa Sau Đại học - Học viện Hành chính Quốc Gia Hồ Chí Minh đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi học tập và hoàn tất các thủ tục bảo vệ luận văn theo đúng thời gian quy định
Tôi xin chân thành cảm ơn thầy cô Học viện đã tận tình giảng dạy, truyền đạt những kiến thức bổ ích Tôi cũng xin cảm ơn các bạn học viên đã giúp đỡ để tôi hoàn thành khóa học và luận văn
Xin chúc các Thầy (Cô) và các bạn mạnh khỏe, thành công và hạnh phúc
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “So sánh pháp luật về phòng, chống tham
nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Nội dung của Luận văn dựa trên quan điểm cá nhân của học viên, trên cơ sở nghiên cứu lý luận, tổng hợp thực tiễn với sự hướng dẫn khoa học của PGS
TS Phạm Minh Tuấn
Các số liệu được trình bày trong luận văn được thu thập từ nhiều nguồn
số liệu và liên hệ thực tế để viết ra Không sao chép bất kỳ công trình của tác giả nào Các số liệu kết quả trong luận văn đều trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Tôi xin chịu trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của bản thân
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2017
Học viên
Jang Tai Min
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Tóm tắt chế độ phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc 27
Bảng 2.2: Bảng các hành vi xâm phạm lợi ích công cộng 55
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CÁM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC BẢNG iii
MỤC LỤC iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài luận văn 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 7
3.1 Mục đích nghiên cứu 7
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 8
4.1 Đối tượng của nghiên cứu 8
4.2 Phạm vi nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 9
7 Kết cấu của luận văn 9
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ THAM NHŨNG VÀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG 10
1.1 Cơ sở khoa học về tham nhũng 10
1.1.1 Định nghĩa 10
1.1.2 Nguyên nhân của tham nhũng 13
Trang 71.1.2.1 Nguyên nhân về kinh tế 13
1.1.2.2 Nguyên nhân về văn hóa – xã hội 14
1.1.2.3 Nguyên nhân thể chế 15
1.1.2.4 Nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam và Hàn Quốc 16
1.1.3 Hậu quả của tham nhũng 17
1.1.4 Các dạng của tham nhũng 19
1.2 Cơ sở khoa học về phòng, chống tham nhũng 20
1.2.1 Phòng ngừa tham nhũng 21
1.2.1.1 Quản lý nguồn nhân lực 21
1.2.1.2 Lãnh đạo 22
1.2.1.3 Xây dựng văn hoá đạo đức và tính chuyên nghiệp 22
1.2.1.4 Tham gia của cộng đồng 22
1.2.2 Trừng phạt tham nhũng 23
1.2.2.1 Các chế tài nghiêm khắc hơn 23
1.2.2.2 Trách nhiệm nội bộ 24
1.2.2.3 Giám sát bên ngoài 24
Chương 2 NỘI DUNG SO SÁNH QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG VIỆT NAM VÀ HÀN QUỐC 27
2.1 Khái lược pháp luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam và Hàn Quốc 27 2.1.1 Pháp luật phòng, chống tham nhũng Hàn Quốc 27
2.1.2 Pháp luật về phòng chống tham nhũng ở Việt Nam 32
2.2 Nội dung so sánh pháp luật về phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam và Hàn Quốc 36
2.2.1 Chế định về hối lộ và nhận hối lộ 36
2.2.2 Chế định về công khai tài sản đối với công chức 40
Trang 82.2.3 Chế độ công khai thông tin hành chính 45
2.2.4 Mua sắm công 49
2.2.5 Chế định về tố cáo và bảo vệ người tố cáo 51
2.2.6 Các cơ quan phòng, chống tham nhũng 57
2.3 Bài học kinh nghiệm của Hàn Quốc và Việt Nam trong xây dựng, áp dụng pháp luật về phòng, chống tham nhũng 69
2.3.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 69
2.3.2 Kinh nghiệm của Việt Nam 71
2.4 Một số khuyến nghị chính sách trong xây dựng, áp dụng pháp luật về phòng, chống tham nhũng 73
2.4.1 Kiến nghị cho Việt Nam 73
2.4.2 Kiến nghị cho Hàn Quốc 74
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Tham nhũng là vấn nạn của mọi quốc gia, đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển Tham nhũng xảy ra ở tất cả các cấp, các ngành, các lĩnh vực Tham nhũng làm thâm hụp ngân sách nhà nước, bóp méo chi tiêu công, thiếu hiệu quả trong các dự án của nhà nước, làm sai lệch các chính sách, làm tăng chi phí của các dịch vụ công, tăng bất bình đẳng trong xã hội Đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất của tham nhũng là người nghèo trong xã hội
Trong những năm vừa qua, cùng với xu thế hội nhập quốc tế và quá trình toàn cầu hoá về kinh tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng, tham nhũng đã trở thành quốc nạn nhức nhối của nhiều quốc gia - dân tộc trên thế giới Tổ chức biện pháp, công tác phòng ngừa, ngăn chặn, đấu tranh với tội phạm này rất khó khăn, phức tạp, nhạy cảm cần sự kết hợp đồng bộ, toàn diện, hiệu quả các biện pháp
Ở Việt Nam, trong những năm qua công tác phòng, chống tham nhũng
đã đạt được nhiều kết quả quan trọng ngay từ những ngày thành lập nước Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật trong chống tham nhũng, điển hình như Luật phòng, chống tham nhũng 2005, sửa đổi năm 2007, 2012 Việt Nam cũng hợp tác với quốc tế để nâng cao hiệu quả công cuộc đấu tranh chống tham nhũng, điển hình tham gia Công ước Liên hiệu quốc về chống tham nhũng Ngày 30/06/2009 Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã ký Quyết định số 950/2009/QĐ-CTN về việc phê chuẩn Công ước Liên Hiệp Quốc về chống tham nhũng và có hiệu lực thi hành đối với Việt Nam từ ngày 18/09/2009 Tuy nhiên, ngoài những kết quả đã đạt được, tình trạng tham nhũng đã, đang diễn ra hết sức phức tạp và kéo dài trong bộ máy của hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương và trong nhiều tổ chức kinh tế Tham
Trang 10nhũng đang trở thành một trong những nguy cơ đe doạ sự sống còn của chế
độ, Nhà nước Việt Nam Bởi vậy, đấu tranh chống tham nhũng đã được Đảng Cộng sản Việt Nam xác định một trong những yêu cầu cấp bách có ý nghĩa quan trọng hàng đầu trong giai đoạn hiện nay
Nghiên cứu về tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng là cả một
hệ thống biện pháp, tìm tòi, sáng tạo, trên cơ sở phát huy vai trò tích cực của toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức, nhân dân Chính vì vậy, tìm hiểu về pháp luật phòng, chống tham nhũng, công tác phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và các nước ở Đông Á, nhất là của Hàn Quốc; từ đó so sánh, vận dụng linh hoạt, có hiệu quả vào tình hình thực tế của mỗi quốc gia là nội dung quan trọng, cần thiết Qua đó, có thể đánh giá, rút ra bài học để mỗi quốc gia tham khảo, học hỏi các kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng của nhau là vấn đề
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, chính trị - pháp lý cả Việt Nam và Hàn Quốc
Với truyền thống hợp tác tốt đẹp giữa hai nước trên mọi lĩnh vực, chống tham nhũng là một trong những lĩnh vực mà cả Việt Nam và Hàn Quốc đều quan tâm thì sự trao đổi, nghiên cứu kinh nghiệm và thực tiễn của hai nước sẽ giúp ích rất nhiều cho công tác phòng, chống tham nhũng
Trong nghiên cứu này tác giả sẽ so sánh pháp luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam, Hàn Quốc và hiệu quả của luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam, Hàn Quốc Từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm, gợi ý chính sách cho cả Việt Nam và Hàn Quốc
2 Tình hình nghiên cứu
(1) Tác giả Martin Painter và ctg trong nghiên cứu của UNDP và UKaid:
“Phân tích so sánh pháp luật phòng, chống tham nhũng quốc tế: bài học về những cơ chế xử lý và thực thi cho Việt Nam” sử dụng phương pháp so sánh
Trang 11pháp luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam với pháp luật phòng, chống tham nhũng của quốc tế đã nhận định:
Về pháp luật về phòng, chống tham nhũng: Luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam mới chỉ chú trọng đến các vấn đề mang tính hành chính
và các biện pháp phòng ngừa Cần xác định bản chất của tham nhũng là hành
vi nguy hiểm cho xã hội cần bị coi là tội phạm; một danh mục đầy đủ các hành vi vi phạm được xác định là “tham nhũng”; một hệ thống các chế tài hành chính và hình sự áp dụng cho các hành vi vi phạm đó; và một tập hợp các quy định ràng buộc trách nhiệm giải trình của các cơ quan, tổ chức có liên quan
Luật chưa hình sự hóa hành vi “làm giàu bất hợp pháp” Quy định này cho phép truy tố các trường hợp trong đó những người có chức vụ, quyền hạn
có lối sống quá cao so với thu nhập chính thức của họ và họ không thể giải thích được điều này
Định nghĩa tham nhũng trong luật phòng, chống tham nhũng và quy định về các tội phạm này của Bộ luật hình sự khiến phạm vi của khái niệm tham nhũng bị giới hạn trong khu vực công Quy định đánh giá “giá trị tài sản tham nhũng” hoặc “mức độ hậu quả” để đưa truy tố hành vi tham nhũng tạo
ra một sự phức tạp và không cần thiết, kết quả là một số hành vi phạm tội không bị trừng phạt
Những vướng mắc về hành chính như: kê khai tài sản, trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị nơi để xảy ra hành vi tham nhũng, các hình thức xử lý kỷ luật được áp dụng nhằm thực hiện những quy định này còn yếu
và không thực sự hiệu quả Những quy định về xử lý kỷ luật hiện có trong các văn bản pháp luật về công chức, viên chức lẽ ra nên được quy định trong Luật phòng, chống tham nhũng
Trang 12Các cơ quan điều tra chuyên trách của Việt Nam thiếu một số quyền hạn cần thiết và năng lực để tiến hành điều tra tội phạm về tham nhũng có hiệu quả Như quyền tiếp cận các báo cáo, quyết toán và giao dịch tài chính đáng ngờ và quyền được ghi âm bí mật
Các luật và quy định về điều tra, truy tố, xét xử của Việt Nam chưa chú trọng đảm bảo “tính độc lập” Các cơ quan chống tham nhũng còn bị chi phối bởi nhiều bên liên quan, quá trình xử lý tham nhũng cũng trải qua trình tự kéo dài và dễ bị tác động tới kết quả xử lý Đối với việc điều tra và truy tố những
vụ án tham nhũng, phải có quy định riêng tăng cường sức mạnh cho các cơ quan điều tra, truy tố và xét xử hành vi tham nhũng; bảo đảm sự vô tư, khách quan ở mức cao nhất có thể, đồng thời xây dựng cơ chế theo dõi và giám sát
có hiệu quả nhằm ngăn ngừa sự lạm quyền
(2) Bài viết “Nghiên cứu về chiến lược phòng, chống tham nhũng ở Hàn Quốc” của Yoo Mun Mu đã nhận định rằng Hàn Quốc là một trong những quốc gia tham nhũng nhất ở Châu Á Tham nhũng ở Hàn Quốc làm sai lệch toàn bộ cấu trúc của xã hội, làm suy thoái nền kinh tế thông qua việc biến dạng môi trường kinh doanh, làm suy yếu sự ổn định chính trị và có những ảnh hưởng gây tổn hại nhất đến các giá trị xã hội thông qua nguy cơ về đạo đức
Tác giả đã tập trung nghiên cứu vào việc cải tiến chiến lược chống tham nhũng của Hàn Quốc dựa trên kinh nghiệm của Hongkong và Singapore Các quốc gia này đã khởi xướng chiến lược chống tham nhũng toàn diện bằng cách thành lập các tổ chức chống tham nhũng như Cơ quan điều tra tham nhũng (CPIB) tại Singapore và Ủy ban chống tham nhũng độc lập (ICAC) ở Hồng Kông Do đó, Hàn Quốc cần phải tăng cường các hệ thống chống tham nhũng độc lập và xem xét chính sách chống tham nhũng
Trang 13(3) Hoh Il Tae nghiên cứu về “chính sách chống tham nhũng ở Hàn Quốc” chỉ ra rằng: hành vi tham nhũng là một loại “ung thư” cản trở việc thiết lập một xã hội lành mạnh
Vì vấn đề tham nhũng có thể làm tổn hại tới công bằng và sự phát triển của xã hội, do đó đã trở thành vấn đề ưu tiên cho sự tồn tại của một quốc gia Phối hợp giữa các quốc gia là cần thiết do sự nổi lên của các tập đoàn đa quốc gia và việc mở rộng các tội phạm có tổ chức trên toàn cầu
Thay đổi thể chế là cần thiết: Thay vì các biện pháp kiểm soát tham nhũng thông qua hình phạt, chính phủ Hàn Quốc có thể tạo ra một môi trường làm việc lành mạnh cho các quan chức chính phủ thông qua việc sửa đổi các luật lệ dẫn tới tham nhũng
Cần phải có sự thay đổi nhận thức và giá trị đối với tham nhũng Thông thường, xã hội Hàn Quốc gắn liền cảm xúc và cảm xúc cá nhân khi giải quyết một số vấn đề, thay vì đưa ra các phán đoán hợp lý Do bối cảnh văn hoá đó, việc tố cáo các quan chức chính phủ hầu như đã không có, trừ phi họ có liên quan đến tội phạm nghiêm trọng Hơn nữa, tòa án không trừng phạt các quan chức tham nhũng có cùng mức độ phạm tội với những người ngoài công lập
Để xử lý các tội phạm tham nhũng một cách nhất quán, đồng thời phù hợp với
hệ thống pháp lý công bằng và nghiêm ngặt, Hàn Quốc cần phải thay đổi thái
độ của mình để thúc đẩy sự tôn trọng pháp luật Để phòng ngừa các hành vi tham nhũng có hiệu quả, việc vi phạm pháp luật và các quy định của các cơ quan tư pháp cần phải bị trừng phạt, cho phép người Hàn Quốc tin tưởng vào vai trò và quyền hạn của các cơ quan tư pháp, từ đó sẽ tiêu diệt tham nhũng trong xã hội Hàn Quốc
(4) Hai tác giả Kim Yoo Keun và An Su Gil đã nghiên cứu về “cải cách luật chống tham nhũng” đã nhận định: Tham nhũng có thể được định nghĩa là
Trang 14hành vi của một nhân viên có lợi từ người thứ ba và cho người thứ ba lợi ích bằng cách vi phạm nghĩa vụ của mình Nếu người tham nhũng là công chức thì tham nhũng được phân loại là “tham nhũng trong khu vực công” Người tham nhũng và người hối lộ đều là dân thường, tham nhũng thuộc “tham nhũng trong khu vực tư nhân”
Tham nhũng trong khu vực tư nhân có thể được tìm thấy trong thực tế
là tham nhũng vi phạm nghĩa vụ quản lý kinh doanh của người khác, vi phạm công bằng hoặc cản trở cạnh tranh công bằng Trong lĩnh vực tư nhân, tham nhũng thương mại phải bị buộc tội để đảm bảo công bằng Các nhà lập pháp không chỉ bảo vệ công bằng trong kinh doanh mà còn trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội
Tham nhũng trong khu vực tư nhân, được phân chia trong nhiều luật khác nhau, thành ba nhóm: các điều khoản để bảo vệ hàng hoá hợp pháp
“quản lý kinh doanh công bằng”, quy định để bảo vệ sự hợp pháp “cạnh tranh công bằng” và các quy định để bảo vệ hai hàng hoá hợp pháp cùng một lúc Điều này có thể giúp cải thiện và hệ thống hoá các quy định chống lại tham nhũng trong khu vực tư nhân
(5) You Hee Sang nghiên cứu về “vai trò của Viện thanh tra và kiểm soát Hàn Quốc (BAI)” cho rằng: nhận thức của người dân về tham nhũng trong khu vực công và tư nhân đã phát triển, do đó cần khẩn trương xây dựng các biện pháp hữu hiệu của chính phủ để tăng cường các chính sách chống tham nhũng và tăng cường tính minh bạch trong xã hội nói chung
Hàn Quốc cũng đưa ra các luật dưới đây như một cơ chế pháp lý và thể chế để tăng cường chống tham nhũng và liêm chính: “Đạo luật Phòng, chống tham nhũng” đảm bảo bí mật cho người tố cáo tham nhũng và yêu cầu Kiểm toán công dân (CAR); “Đạo luật đạo đức công chức” quy định việc đăng ký
Trang 15và tiết lộ tài sản của công chức và các hạn chế đối với việc tái tuyển dụng các viên chức nhà nước đã nghỉ hưu trong các doanh nghiệp có liên quan và “Đạo luật Kim Young-ran”, không chỉ nhắm đến các quan chức chính phủ, mà cả các trường học ở mọi cấp, bao gồm các trường tư thục, cơ sở giáo dục, nhà báo, cũng như đại diện báo chí và vợ chồng của họ
Qua các nghiên cứu, các tác giả đã định nghĩa và khẳng định rằng tham nhũng là hành vi vi phạm đạo đức và pháp luật cần phải bị ngăn chặn Các nghiên cứu đa số tập trung phân tích từng lĩnh vực tham nhũng của mỗi quốc gia, chưa có sự so sánh với những quốc gia khác Các nghiên cứu chỉ ra những giải pháp, những gợi ý chính sách nhằm đối phó với tham nhũng, là bài học cho cả Việt Nam và Hàn Quốc
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu trên, đề tài triển khai những nhiệm
Trang 16Thứ ba, nêu lên một số bài học kinh nghiệm và khuyến nghị chính sách
về xây dựng và áp dụng pháp luật về phòng, chống tham nhũng đối với Hàn Quốc và Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng của nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là so sánh các quy định của pháp luật
về phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc và Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Phạm vi nghiên cứu được giới hạn là hệ thống pháp luật
về phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc và Việt Nam
Về thời gian: Đề tài nghiên cứu hệ thống pháp luật về phòng, chống
tham nhũng của Việt Nam kể từ khi Luật Phòng, chống tham nhũng năm
2005 ra đời và của Hàn Quốc từ năm 2001 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử khi nghiên cứu, phân tích, đánh giá và so sánh trong đó, phương pháp so sánh là chủ yếu Sử dụng các phương pháp chuyên ngành của khoa học hành chính như:
Phương pháp luận biện chứng
Phương pháp phân tích – tổng hợp
Phương pháp lịch sử, so sánh, đối chiếu
Phương pháp quy nạp – diễn dịch
Trang 17 Phương pháp hệ thống hóa,
Phương pháp thống kê, mô tả, vẽ đồ thị…
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Nghiên cứu về tham nhũng có thể phân chia thành: nghiên cứu về khía cạnh hành vi của nhân viên công chức như là cho và nhận hối lộ, đồng thời nghiên cứu về thể chế chính trị và chế độ Đầu tiên là nghiên cứu xét về mặt tư pháp đặt trọng tâm vào những cơ sở cấu thành phạm tội đối với hành vi tham nhũng như là “môi giới hối lộ”, sau đó là nghiên cứu xây dựng thể chế để phòng chống các hành vi tham nhũng trong xã hội
Luận văn sẽ là cơ sở để gợi ý xây dựng các khung pháp lý để phòng, chống tham nhũng Đồng thời, luận văn sẽ cho cái nhìn tổng quát về luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc Phân tích các điểm chính trong luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam, so sánh với luật của Hàn Quốc Luận văn sẽ đánh giá hiệu quả luật phòng, chống tham nhũng của Việt Nam và Hàn Quốc Từ đó tìm ra những mặt hạn chế của công tác phòng, chống tham nhũng hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Nội dung luận văn được chia thành 2 chương:
Chương 1: Cơ sở khoa học về tham nhũng và phòng, chống tham nhũng Chương 2: Nội dung so sánh hệ thống pháp luật phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc và Việt Nam
Trang 18Các hành vi tham nhũng bao gồm: Tham ô tài sản; nhận hối lộ; lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; giả mạo trong công tác vì vụ lợi; đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi; nhũng nhiễu vì vụ lợi; không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi; lợi dụng chức vụ, quyền hạn
để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi (Điều 3 Luật phòng chống tham nhũng 2005)
Khái niệm về tham nhũng thì tùy theo không gian, thời gian và bối cảnh
Trang 19văn hóa của xã hội mà nó được nhận thức khác nhau Trước đây, những món quà, tiền…tặng cho công chức vào những dịp Lễ ở Hàn Quốc không phải là hối lộ và không vi phạm pháp luật Hiện nay, điều này đã thay đổi, bất kỳ món quà, tiền, hiện vật nào có giá trị vượt quá một mức nhất định biếu tặng cho công chức đều vi phạm pháp luật phòng chống tham nhũng
Khái niệm về tham nhũng của Hàn Quốc và Việt Nam không thống nhất với nhau một cách chính xác Định nghĩa truyền thống về tham nhũng là hành
vi được qui định là phạm pháp, không có đạo lý như là cho và nhận hối lộ, biển thủ công quỹ Tuy nhiên, gần đây có khuynh hướng định nghĩa tham nhũng không chỉ là những hành vi tham nhũng theo định nghĩa truyền thống
mà còn bao gồm tất cả những hành vi vi phạm đạo đức cho dù pháp luật chưa quy định Vì lý do rằng “Hiệp ước phòng, chống tham nhũng liên hiệp quốc”
đã được phê chuẩn bởi 175 quốc gia trên thế giới cho rằng: nếu định nghĩa tham nhũng thì có thể thu hẹp phạm vi tham nhũng, do đó người ta không định nghĩa khái niệm đối với hành vi tham nhũng
“Luật liên quan đến thành lập và quản lý Ủy ban bảo vệ quyền lợi quốc dân và phòng, chống tham nhũng” (sau đây gọi là “Luật phòng, chống tham nhũng”) của Hàn Quốc, tại điều 2 mục 4, hành vi tham nhũng được định nghĩa
là hành vi nhân viên công chức đang thực hiện nhiệm vụ mà lạm dụng quyền hạn hoặc chức vụ; hoặc vi phạm pháp lệnh khi phục vụ lợi ích cho bên thứ 3 hoặc bản thân; xử lý, quản lý, mua lại tài sản công, sử dụng ngân sách công hoặc việc ký kết của các hợp đồng mà trong đó bên ký kết là cơ quan công và khi thực hiện những công việc đó thì vi phạm pháp lệnh làm gia tăng thiệt hại tài sản của cơ quan công; mua chuộc, đề nghị, khuyến cáo, yêu cầu che đậy những hành vi như vừa đề cập
Ngày 28/09/2016, Hàn Quốc đã thi hành “Luật yêu cầu bất chính và hối
Trang 20lộ” đã nghiêm cấm nhân viên công chức nhận những vật phẩm có giá trị và nhận lời giúp đỡ không minh bạch Thông qua việc này, Hàn Quốc đang được đánh giá là quốc gia đang làm cho chế độ phòng, chống tham nhũng tiến lên một bước vì hành vi tham nhũng không chỉ là sự tham nhũng theo khái niệm truyền thống của nó mà nó còn là hành vi cho – nhận những vật phẩm có giá trị, yêu cầu bất chính và cho dù không có hưởng lợi gì từ việc nhận lời giúp đỡ thì nó cũng được quy vào hành vi tham nhũng
Theo David Iyanda (2012) tham nhũng là một vấn đề xã hội xảy ra với các mức độ và hình thức khác nhau trong tất cả các xã hội Tham nhũng được định nghĩa là việc sử dụng bất hợp pháp quyền lực hoặc ảnh hưởng của một quan chức chính phủ để làm giàu cho mình hoặc tiếp tục kéo dài nhiệm kỳ của mình hoặc cho người khác gây thiệt hại cho công chúng, vi phạm lời tuyên thệ,
vi phạm các công ước hoặc luật đang có hiệu lực Scott (1972, dẫn từ Iyanda 2012) cho rằng tham nhũng phải được hiểu là một phần thường xuyên, lặp lại
và không thể tách rời trong hoạt động của hầu hết hệ thống chính trị
Ngwakwe Ezenwa (2009, dẫn từ David Iyanda 2012) đã định nghĩa tham nhũng từ góc độ kinh tế như sau: tham nhũng là các hoạt động phi bạo lực và bất hợp pháp liên quan với mục tiêu làm giàu bất chính cho cá nhân hoặc nhóm hoặc tổ chức bằng cách điều khiển hoạt động kinh tế và điều hành của Chính phủ
Theo Richard Record (2005) tham nhũng là một quá trình theo định hướng, đó là tham nhũng bằng cách nào đó thay đổi quá trình “bình thường” của xã hội Hành vi tham nhũng là một hành vi gây tổn hại đến lợi ích công cộng hoặc lợi dụng vị trí vì lợi ích cá nhân Ngoài tham nhũng kinh tế, tác giả còn đề cập đến tham nhũng chính trị Tham nhũng kinh tế là nơi mà việc trao đổi diễn ra mang lại lợi ích kinh tế cho cả hai bên, chẳng hạn như việc bán
Trang 21giấy phép của các quan chức cho các công ty
Tham nhũng chính trị là nơi trao đổi diễn ra giữa nhà nước và một khách hàng hoặc nhóm khách hàng có quyền lực lớn Việc trao đổi này thường
là không tự nguyện, nhưng nhà nước buộc phải thực hiện các giao dịch ngoài ngân sách để duy trì quyền lực và ổn định
Các định nghĩa tham nhũng dù dưới góc độ pháp lý hay lý luận đều có điểm chung đó là hành vi phi đạo đức, sử dụng quyền lực công vì lợi ích cá nhân Tuy nhiên, các định nghĩa cũng không thể khái quát hết các hành vi liên quan đến tham nhũng, như là giới thiệu việc làm, đề xuất thăng chức của người khác, nhận các khoản tài trợ du lịch, ưu tiên trong phân bổ nguồn lực kinh tế…và các định nghĩa tham nhũng này cũng chỉ giới hạn trong khu vực công (sử dụng quyền lực công), chưa đề cập đến khu vực tư nhân
1.1.2 Nguyên nhân của tham nhũng
1.1.2.1 Nguyên nhân về kinh tế
Theo Martin Paldam (2002) tham nhũng có nguyên nhân từ văn hóa và kinh tế Nghiên cứu nhấn mạnh nguyên nhân kinh tế cho rằng sự tham nhũng
có liên quan đến phát triển kinh tế Người ta cho rằng khi tiến hành phát triển kinh tế mang tính kế hoạch dưới lãnh đạo của chính phủ, từ quá trình này mà hình thành nên các yêu sách quá mức và sự ưu đãi nào đó và sự phát triển kinh tế càng thấp thì công chức càng dễ bị cuốn vào việc tham nhũng do tiêu chuẩn lương bổng thấp Thực tế đã chứng minh có sự liên quan sâu sắc giữa mức độ tham nhũng và thu nhập bình quân tính theo đầu người (GNI/GDP)
Theo quan điểm này, tham nhũng bắt nguồn từ thu nhập đầu người thấp, khi thu nhập của công chức trong khu vực công thấp hơn đáng kể so với lao
Trang 22động cùng trình độ trong khu vực tư nhân thì thúc đẩy công chức tìm kiếm thu nhập không chính thức, thường là liên quan đến tham nhũng
Mặt khác, Chính phủ độc quyền phân bổ nguồn lực, điều tiết thị trường, cấp phép… sẽ dẫn đến việc tìm kiếm đặc quyền từ tư nhân Điều này sẽ dẫn đến sự thỏa hiệp của quan chức với tư nhân để phân chia lợi nhuận, thường là
sử dụng các công ty “gia đình” để hưởng lợi ích từ Chính phủ mà không bị phát hiện
1.1.2.2 Nguyên nhân về văn hóa – xã hội
Nghiên cứu về mặt văn hóa – xã hội đã chỉ ra rằng chính sự khác biệt về môi trường xã hội và tham vọng thành công của các thành viên trong xã hội là nguyên nhân gây ra tham nhũng Xã hội càng đề cao sự thành công về mặt xã hội nhưng việc tiếp cận cơ hội thành công ấy không bình đẳng thì vấn đề tham nhũng càng trở nên nghiêm trọng Do đó, các thành viên trong xã hội sẽ tiếp cận đến các mục tiêu bằng những phương pháp không chính thống để đạt được thành công (Seymour M Lipset và Gabriel S Lenz 2000) Hơn nữa, quốc gia càng coi trọng chủ nghĩa bản thân thì càng có khuynh hướng chỉ số tham nhũng cao, chủ nghĩa gia đình cũng bao gồm trong đó Những thành viên trong
xã hội mà chủ nghĩa gia đình được nhấn mạnh thì họ độc đoán đối với những cộng đồng khác và vì tinh thần trách nhiệm đối với gia đình mình do đó chỉ số tham nhũng thì cao (Ka Sang Joon 2006)
Khi xã hội coi trọng các mối quan hệ gia đình, chủ nghĩa gia đình vẫn còn chi phối thì xu hướng những người có cùng quan hệ gia đình, quê quán…sẽ được hưởng những ưu tiên khi giao dịch với công chức nhà nước Quan điểm này được thể hiện trong việc tuyển dụng nhân sự, quy hoạch và bổ nhiệm, ưu tiên cho các công ty “gia đình”… điều này bóp méo quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm và phân bổ nguồn lực
Trang 231.1.2.3 Nguyên nhân thể chế
Một quan điểm khác về nguyên nhân của tham nhũng là “quan điểm thể chế” Nó nhấn mạnh vai trò của các thể chế (đƣợc định nghĩa rộng rãi bao gồm các thể chế chính trị, văn hoá, pháp lý và kinh tế) và cho rằng có quan hệ nhân quả bắt nguồn từ các thể chế yếu kém dẫn đến tham nhũng và dẫn đến các kết quả kinh tế tồi tệ Tham nhũng là đƣợc xem nhƣ là triệu chứng của các thể chế yếu kém
Vito Tanzi (1998) cho rằng, cần ít nhất ba điều kiện để tham nhũng trong khu vực công phát sinh và tồn tại:
Quyền tùy ý: công chức liên quan (các quan chức, các chính trị gia…) phải có quyền thiết kế hoặc điều hành các quy định và chính sách một cách tùy ý
Tiền thuê kinh tế: quyền tự ý cho phép khai thác tiền thuê (hiện tại) hoặc tiền thuê đất có thể khai thác đƣợc Đây là điều kiện liên quan đến quyền hạn tài chính của tổ chức công cộng
Các thể chế yếu kém: bao gồm các biện pháp khuyến khích, các quy định đƣợc thể hiện trong các thể chế chính trị, hành chính và pháp lý đƣợc các quan chức quyền lực tùy ý điều hành hoặc tạo ra giá thuê Nếu một số tổ chức công có hành vi tham nhũng, sẽ tạo ra các động lực để trong nội bộ tham nhũng Bộ máy quan liêu nặng nề, hoạt động kém hiệu quả sẽ thúc đẩy các quan chức phải nỗ lực nhiều hơn để tăng mức thu nhập bất chính; một số tài sản bất chính đó sẽ phải đƣợc chi lại một cách hợp lý thu nhập bất hợp pháp trong bộ máy quan liêu
Quan điểm thể chế liên quan đến việc Chính phủ ôm đồm quá nhiều việc, tạo ra sự độc quyền trong quản lý, cấp phép, phân bổ… Chính phủ càng
Trang 24tập trung nhiều việc thì bộ máy sẽ càng lớn và tham nhũng càng nghiêm trọng
Sự độc quyền và quản lý yếu kém sẽ tạo điều kiện cho các quan chức tự
do thiết kế, quản lý các quy định và sẽ dễ dàng sử dụng quyền quyết định để tìm kiếm đặc lợi hoặc yêu cầu các khoản tiền bồi dưỡng Sự tùy ý trong sử dụng công cụ chính sách sẽ làm tăng quy mô bộ máy, tạo ra những nhóm quyền lực với chung lợi ích, làm vô hiệu hóa tất cả các biện pháp chống tham nhũng
Ngoài ra, các cơ quan công quyền kiểm soát tham nhũng yếu kém và không hiệu quả là nguyên nhân gây ra tham nhũng Các tổ chức này bao gồm các nhóm công chức có quyền lực, đảng phái chính trị và các phương tiện truyền thông có thể phơi bày những hành động sai trái và hệ thống tư pháp có thẩm quyền để truy tố và phạt kẻ phạm tội
1.1.2.4 Nguyên nhân tham nhũng ở Việt Nam và Hàn Quốc
Theo Hoàng Chí Bảo (2014) tham nhũng nặng nề ở Việt Nam có nguyên nhân từ sự yếu kém của thể chế, tính nửa vời trong chỉ đạo thực hiện
và sự thoái hóa của không ít quan chức, công chức trong bộ máy, thậm chí tham nhũng có cả trong hoạt động tư pháp, trong điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Tình trạng pháp luật có, pháp chế cũng có nhưng pháp trị thì không hoặc yếu kém và hình thức, là một thực tế phổ biến hiện nay Trực tiếp dẫn đến tham nhũng, dung dưỡng tham nhũng, làm cho tham nhũng trở thành vấn nạn đến mức nguy hiểm lại thuộc về chủ quan trong hệ thống tổ chức bộ máy, trong các cơ quan lãnh đạo, quản lý với luật pháp - cơ chế - chính sách chứa đựng rất nhiều bất ổn đang phải ra sức sửa chữa, tháo gỡ
Tại Hàn Quốc, vấn đề kinh tế không phải là nguyên nhân chủ yếu của tham nhũng Đối với nguyên nhân phát sinh tham nhũng thì đa số ý kiến người dân đều cho rằng chính văn hóa xã hội là nguồn gốc phát sinh tham nhũng
Trang 25Hiện nay làn sóng chỉ trích liên tục xuất hiện khi người ta cho rằng việc cải thiện vấn nạn tham nhũng đang trở nên thấp so với qui mô phát triển kinh tế Trên thực tế, tổng sản phẩm quốc nội trên 1 đầu người trong năm 2016 (GDP) là hơn 27.000 USD nhưng theo chỉ số nhận thức tham nhũng (CPI) của
Tổ chức minh bạch quốc tế (TI) thì Hàn Quốc đứng ở thứ hạng 53 trên tổng
176 nước do chỉ đạt 53 điểm trên tổng 100 điểm
Theo đó, việc phân tích vấn nạn tham nhũng của Hàn Quốc về mặt văn hóa, xã hội là cần thiết Từ nghiên cứu liên quan đến sự tham nhũng của Hàn Quốc, người ta phân tích rằng tham nhũng xảy ra là do bối cảnh văn hóa mà trọng tâm là sự quan liêu, uy quyền tồn tại ở Hàn Quốc và sự bất bình đẳng xã hội trở nên nghiêm trọng do quá trình phát triển kinh tế vốn được xem là nhiệm vụ chủ đạo của quốc gia (Kwon Oh Sung 2002) và người ta cũng phân tích rằng chủ nghĩa thân quen của Hàn Quốc vốn coi trọng các mối quan hệ huyết thống, quan hệ với người cùng khu vực, quan hệ với những người cùng học chung trường chính là nguyên nhân tham nhũng do cơ cấu mang tính khép kín, bài ngoại của nó (Jo Eun Kyung & Lee Jung Joo 2006)
1.1.3 Hậu quả của tham nhũng
Tham nhũng là tội ác và gánh nặng tài chính đối với nhân dân Có rất nhiều tác động của tham nhũng đối với kinh tế và xã hội, những tác động này không độc lập với nhau Các tác động này có thể kể đến:
Thu nhập quốc gia bị mất và làm giảm khả năng của nhà nước cho các hoạt động ưu tiên cao Các quan chức tham nhũng sử dụng quyền quyết định của mình để hướng các nguồn lực theo hướng có lợi nhất cho mình
mà không phải là cho quốc gia Do đó, các dự án mặc dù không có hiệu quả hoặc hiệu quả thấp hoặc chưa cần thiết nhưng vẫn được ưu tiên phân bổ nguồn lực gây ra sự lãng phí tài sản quốc gia Quan chức tham
Trang 26nhũng với quyền lực độc quyền trong quyết định đầu tư công sẽ làm vô hiệu hóa các quyết định đúng đắn của chính quyền bao gồm quyết định
và lựa chọn các hợp đồng công có tính hiệu quả để phân bổ lại nguồn lực vì lợi ích cá nhân, từ đó tạo ra sự thiếu hiệu quả trong đầu tư và tăng các khoản chi không cần thiết
Bóp méo chi tiêu công: có quá nhiều vốn cho dự án với chi phí cao và bảo trì thường xuyên; các dự án liên tục đội vốn đầu tư; các dự án được lựa chọn không dựa trên các chỉ tiêu kinh tế; rời bỏ các ngành ưu tiên Tham nhũng gây cản trở đầu tư vì tăng rủi ro và tăng chi phi, giảm lợi nhuận Việc phân bổ đầu tư sẽ bị thiên lệch khi có sự rạn nứt chính trị Tham nhũng có thể tạo ra động cơ khuyến khích đầu tư vào các dự án lớn kém hiệu quả với dòng tiền mặt tập trung
Sự suy giảm chất lượng, tăng chi phí của các dịch vụ công và cơ sở hạ tầng: có rất nhiều vấn đề rắc rối trong sự thất bại của các công trình xây dựng vì sự không trung thực hoặc các nhà thầu không đủ năng lực đã được trúng thầu hoặc được cho phép xây dựng bởi sự tham nhũng Kết quả là chi phí tăng lên, đôi khi đến một mức độ rất cao
Tăng thuế vì tham nhũng làm mất đi doanh thu, đẩy những người sản xuất sang khu vực không chính thức và làm tăng chi phí cho doanh nghiệp, kiềm hãm sự phát triển doanh nghiệp Các doanh nghiệp muốn hoạt động phải trả những khoản phí không chính thức và để được hưởng những ưu đãi của chính quyền cần phải có những khoản tiền hoa hồng cho quan chức có quyền quyết định
Suy giảm lòng tin nhân dân: tham nhũng gây ra sự nghi ngờ, tham nhũng làm cho sự nghi ngờ dễ lây lan và có khả năng làm mất lòng tin của công chúng Xã hội càng tham nhũng thì người dân càng dễ dàng
Trang 27chấp nhận tham nhũng
Ngoài ra, tham nhũng chắc chắn không tốt cho tăng trưởng kinh tế Tham nhũng làm thay đổi giá và thay đổi cung và cầu của các dịch vụ công; ảnh hưởng đến tăng trưởng bằng cách ảnh hưởng đến quyết định phân bổ nguồn lực, bằng cách thay đổi giá cả và bằng cách ảnh hưởng đến sự sẵn có của các nguồn lực
Tham nhũng làm tổn thương người nghèo nhiều hơn, nó cũng ức chế sự phát triển của các thể chế xã hội và chính trị Thứ nhất, nạn tham nhũng làm tổn thương người nghèo bằng cách hạ thấp tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Thứ hai, tham nhũng tăng chi phí và tạo ra sự thiên vị đối với người nghèo Thứ ba, tham nhũng là nguyên nhân liên quan đến không bình đẳng trong phân phối thu nhập hoặc trợ cấp Tham nhũng làm giảm khả năng tiếp cận của người nghèo đối với hàng hoá công - một bộ phận của xã hội cần những hàng hoá đó hơn bất kỳ thành phần khác của xã hội Người nghèo không thể trả các khoản hối lộ cần thiết để có được các dịch vụ này
Trang 28(2) Tham nhũng quan liêu: Đây là hành vi tham nhũng của các quan chức trong các hoạt động của họ với cấp trên (chính trị Elite) hoặc với công chúng Hình thức phổ biến nhất, thường được gọi là tham nhũng nhỏ, công chúng có thể phải hối lộ các quan chức để nhận dịch vụ mà họ có quyền hưởng hoặc để tăng tốc độ thủ tục hành chính
(3) Tham nhũng Lập pháp: Đề cập đến cách thức và mức độ mà hành vi
bỏ phiếu của các nhà lập pháp có thể bị ảnh hưởng Các nhà lập pháp có thể được hối lộ bởi các nhóm lợi thích để ban hành luật, chính sách có liên quan đến lợi ích kinh tế Loại tham nhũng này bao gồm “bỏ phiếu”
Các nước đang phát triển có các loại tham nhũng sau:
(1) Tham nhũng cấp cao (tham nhũng có tổ chức): Tham nhũng ở các cán bộ cấp cao như Tổng thống, Thủ tướng, Bộ trưởng… để đổi lấy các hợp đồng mua sắm công, các chính sách đầu tư, các dự án…
(2) Tham nhũng ở cấp thấp: Loại tham nhũng này bao gồm hối lộ trả cho công chức để bôi trơn thủ tục hành chính, giành các hợp đồng công, hưởng
ưu đãi trong chính sách…
Việc phân chia tham nhũng ở các nước đang phát triển và phát triển mang tính chất tương đối, ở các nước đang phát triển hiện nay, cũng có những loại tham nhũng như các nước phát triển Các hình thức tham nhũng này không mang tính rõ ràng, khó xác định Chúng tồn tại cùng với nhau, cùng với nền hành chính quan liêu kém hiệu quả
1.2 Cơ sở khoa học về phòng, chống tham nhũng
Marie Chêne (2010) trong nghiên cứu của mình đã đề xuất một số cơ sở
để xây dựng chính sách phòng, chống tham nhũng, nghiên cứu này dựa vào hai cách tiếp cận để loại trừ tham nhũng: phòng ngừa và trừng trị tham nhũng
Trang 291.2.1 Phòng ngừa tham nhũng
1.2.1.1 Quản lý nguồn nhân lực
Điều kiện làm việc tồi tệ có thể khuyến khích và tạo cơ hội cho tham nhũng Do đó, quản lý nguồn nhân lực là một lĩnh vực quan trọng để giảm thiểu tham nhũng vì con người là cốt lõi của hệ thống tổ chức
Tuyển dụng và thăng tiến: Thủ tục bổ nhiệm phải công khai, công bằng
và minh bạch để tuyển chọn ứng viên có trình độ chuyên môn cao nhất và có tiêu chuẩn đạo đức Sau khi tuyển dụng, điều quan trọng là phải thiết lập một
hệ thống thăng tiến dựa trên thành tích, minh bạch, công bằng, năng lực và hiệu quả làm việc Các chính sách cũng cần được thực hiện để đảm bảo có thể luân phiên nhân viên
Lương và trợ cấp: tiền lương thấp có thể khuyến khích tiêu cực cho
công chức trở nên tham nhũng vì vậy cần có chế độ lương bổng xứng đáng cho công chức nhằm làm cho họ cạnh tranh hơn với khu vực tư nhân để làm giảm bớt cơ hội và động cơ tham nhũng Tuy nhiên, việc tăng lương nhưng không
có hệ thống giám sát hiệu quả và thực thi các biện pháp trừng phạt sẽ không làm giảm tham nhũng
Đào tạo và phát triển: công chức cần phải được trang bị các kỹ năng để
thực hiện chức năng của mình một cách chuyên nghiệp, vô tư và có đạo đức
Để đạt được mục tiêu này, dựa vào các hệ thống đào tạo và phát triển nhằm thúc đẩy các tiêu chuẩn cao về tính chuyên nghiệp và đạo đức Bao gồm xây dựng năng lực chống tham nhũng và bảo vệ quyền con người Các nhà quản lý cũng cần được đào tạo việc thúc đẩy văn hoá liêm chính, cũng như về thái độ
và hành vi của họ như là những điển hình Đặc biệt, các nhà quản lý phải được trang bị các kỹ năng quản lý để khuyến khích nhân viên thông qua việc khen thưởng
Trang 301.2.1.2 Lãnh đạo
Một điều kiện chính cho thành công các chiến lược chống tham nhũng
là xây dựng được sự lãnh đạo đáng tin cậy, ý chí chính trị bền vững và cam kết mạnh mẽ về thể chế đối với các chính sách chống tham nhũng Ý chí chính trị có thể chuyển thành thông điệp chống tham nhũng được thể hiện rõ ràng bằng các chính sách hoạt động và được tuyên bố mạnh mẽ trong các sự kiện công cộng
Các nhà quản lý cần phải có sự sẵn sàng và có khả năng thực thi các quy tắc và sử dụng hệ thống kỷ luật để có được sự tuân thủ từ cấp dưới Các nhà quản lý phải có quyền lực thực hiện, duy trì các tiêu chuẩn cao nhất trong việc tuân thủ các quy tắc và hỗ trợ môi trường làm việc
1.2.1.3 Xây dựng văn hoá đạo đức và tính chuyên nghiệp
Chiến lược chống tham nhũng nên nhằm vào việc thiết lập một nền văn hoá tổ chức dựa vào áp lực của cộng đồng hơn là cách tiếp cận trừng phạt để thúc đẩy và hỗ trợ sự toàn vẹn của công chức Theo đó, có thể là xây dựng và thực hiện các quy tắc ứng xử cho công chức, xử lý tất cả các hành vi phi đạo đức Việc thực hiện bộ luật này có thể đòi hỏi các hoạt động nâng cao nhận thức, đào tạo và nâng cao năng lực
1.2.1.4 Tham gia của cộng đồng
Các chiến lược chống tham nhũng thành công dựa vào sự cộng tác của công chúng để báo cáo các hành vi sai trái của công chức
Nhận thức cộng đồng: Giáo dục công cộng về tham nhũng và những nỗ
lực cải cách liên tục có thể có tác động đáng kể đến kỳ vọng của công chúng Công khai các vụ xử lý tham nhũng sẽ nâng cao niềm tin của công chúc tới hệ
Trang 31thống chống tham nhũng, thúc đẩy kiến thức về các luật chống tham nhũng và huy động công chúng báo cáo tham nhũng
Khái niệm dân chủ: Cải cách chống tham nhũng thành công nhấn mạnh
tầm quan trọng của việc tham gia của xã hội dân sự trong quá trình cải cách Việc lập chính sách dân chủ dựa trên bốn nguyên tắc chính:
Ưu tiên hàng đầu để phục vụ nhu cầu của nhân dân và các tổ chức dân chủ;
Chịu trách nhiệm trước pháp luật chứ không phải là Chính phủ (Thượng tôn pháp luật);
Tôn trọng nhân quyền, công bằng, không phân biệt, vô tư, toàn vẹn và chuyên nghiệp;
Công khai, minh bạch trong hoạt động
Chính sách dựa vào cộng đồng: Trong khuôn khổ của việc hoạch định
chính sách dân chủ, việc hoạch định chính sách dựa vào cộng đồng, ngăn ngừa tội phạm và các chiến lược trao quyền cho nhân dân được đề xuất để giúp khôi phục lòng tin của nhân dân Nhà nước dựa vào nhân dân thúc đẩy
sự hợp tác giữa hai bên để giải quyết mong muốn của nhân dân và giúp Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn
1.2.2 Trừng phạt tham nhũng
1.2.2.1 Các chế tài nghiêm khắc hơn
Các chiến lược thực thi có thể bao gồm việc sửa đổi pháp luật và thể chế để làm tăng khả năng phát hiện và xử phạt tham nhũng Tăng cường quyền hạn và phạm vi của Cơ quan điều tra tham nhũng, cơ quan độc lập chịu trách nhiệm điều tra tham nhũng
Trang 321.2.2.2 Trách nhiệm nội bộ
Tăng cường trách nhiệm giải trình nội bộ không chỉ dựa trên việc rà soát và nâng cấp hệ thống kỷ luật nội bộ mà còn cho phép các nhà quản lý thực hiện các biện pháp kỷ luật và giữ họ có trách nhiệm với chức năng này Trong nhiều trường hợp, các nhà quản lý thiếu ý chí hoặc khả năng đảm bảo
kỷ luật cơ bản, vì nó có thể làm phật lòng những người quản lý cấp trên và cấp dưới
Tăng cường trách nhiệm nội bộ cũng có thể bao gồm tăng cường các đơn vị điều tra nội bộ, tiến hành kiểm tra tính toàn vẹn ngẫu nhiên và thiết lập các hệ thống cảnh báo sớm Thử nghiệm tính toàn vẹn ngẫu nhiên đòi hỏi phải đặt các công chức nhà nước trong các tình huống mô phỏng tạo cơ hội cho tham nhũng Các công cụ giải trình nội bộ khác có thể bao gồm tăng cường kiểm soát hành chính như kiểm tra trạm và đơn vị, xây dựng năng lực kiểm toán và quản lý tài sản hiệu quả hoặc thiết lập hệ thống quản lý hồ sơ minh bạch
1.2.2.3 Giám sát bên ngoài
Hoạt động của công chức, tổ chức công cộng phải minh bạch và công khai đối với công chúng Cơ chế giám sát bên ngoài có thể bao gồm thúc đẩy việc giám sát của Quốc hội hoặc Tư pháp, giám sát xã hội dân sự dưới hình thức các ủy ban xem xét dân sự hoặc thành lập các cơ quan kiểm soát chuyên ngành Việc thành lập các cơ quan giám sát chuyên biệt đặc biệt được khuyến cáo trong trường hợp kiểm soát nội bộ thất bại và quản lý không có ý chí, nguồn lực và năng lực để thực hiện các biện pháp kiểm soát có hiệu quả Trong trường hợp đó, cơ quan giám sát cần phải được trao quyền điều tra, giám sát và kiểm toán mạnh mẽ cũng như các nguồn lực đầy đủ để hoàn thành vai trò của nó
Trang 33Cơ chế khiếu nại hiệu quả cũng có thể khuyến khích người dân báo cáo tham nhũng Tuy nhiên, đáng tin cậy, cơ quan tiếp nhận phải có khả năng quản lý và giải quyết khiếu nại, thực thi các khuyến nghị, áp đặt các biện pháp trừng phạt cũng như bảo vệ người tố cáo Các cơ chế này cần được thiết kế sao cho có thể dễ tiếp cận, độc lập, minh bạch và có trách nhiệm Đạo luật bảo
vệ người tố cáo hiệu quả phải được thực hiện để đảm bảo công dân có thể báo cáo các hành vi vi phạm mà không sợ trả thù
Thực tế chính sách phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc đều dựa trên những cơ sở này: cải thiện mức lương của công chức cho tương ứng với khu vực tư nhân; tuyển dụng công chức thông qua thi cử, công khai, minh bạch, tạo môi trường làm việc dân chủ, hiệu quả, thăng tiến dựa trên thâm niên và kết quả làm việc; phát triển các tổ chức xã hội dân sự tham gia vào quá trình chống tham nhũng, có chính sách bảo vệ, khen thưởng người tố cáo tham nhũng một cách hiệu quả; quy định về tham nhũng khắt khe, đủ sức mạnh để công chức không dám tham nhũng; cơ quan chống tham nhũng có quyền lực đủ mạnh để điều tra, truy tố; đảm bảo cho xã hội giám sát hoạt động của cơ quan công
Trang 34Tiểu kết chương 1
Tham nhũng là tội ác đối với nhân dân Tham nhũng khó được định nghĩa một cách toàn diện Các định nghĩa đều chủ yếu tập trung vào khía cạnh kinh tế và tham nhũng được định nghĩa xảy ra trong khu vực công
Tham nhũng xảy ra ở một quốc gia dù là phát triển hay đang phát triển đều có nhiều nguyên nhân cùng tồn tại, các nguyên nhân này (kinh tế, xã hội, thể chế) đan xen với nhau, tác động lẫn nhau Kinh tế làm cho công chức mong muốn được tham nhũng và thể chế tạo điều kiện cho công chức tham nhũng một cách dễ dàng và cùng với các mối quan hệ gia đình, xã hội càng tạo ra một nhóm những người chung lợi ích tham nhũng
Tham nhũng để lại rất nhiều hậu quả và hậu quả lớn nhất là giảm thu nhập quốc gia, làm bội chi ngân sách và suy giảm lòng tin của nhân dân Nếu lòng tin của người dân đã mất thì tham nhũng lại càng phát triển và vòng xoáy
đi xuống của quốc gia sẽ lặp lại
Các nền tảng để xây dựng chính sách phòng, chống tham nhũng dựa trên nền tảng công khai, minh bạch, có sự giám sát hiệu quả cả bên trong lẫn bên ngoài Ngoài ra, cần phải có những thiết chế đủ mạnh để điều chỉnh hành
vi của công chức để ngăn ngừa tham nhũng
Trang 352.1.1 Pháp luật phòng, chống tham nhũng Hàn Quốc
Bảng 1.1 Tóm tắt chế độ phòng, chống tham nhũng của Hàn Quốc
vi phạm pháp luật của công chức
Ủy ban công khai thông tin
Ủy ban đạo đức công chức
Trang 36Hệ thống tư
pháp
Quyền điều tra Cảnh sát, công tố
Quyền khởi tố Viện Công tố
Quyền xét xử Tòa án, Tòa án hiến pháp
Hệ thống pháp luật phòng, chống tham nhũng Hàn Quốc gồm 6 đạo luật chính yếu Cụ thể:
(1) Luật về yêu cầu bất chính và hối lộ được thông qua và có hiệu lực thi hành
từ ngày 28/09/2016 Bộ luật này ảnh hưởng tới khoảng 41.000 cơ quan, tổ chức công Bao gồm: Quốc hội, Tòa án, Tòa án Hiến pháp, Ban bầu cử, Ban Kiểm toán và Thanh tra, Ủy ban bảo vệ quyền lợi quốc dân, các cơ quan hành chính trung ương và các tổ chức trực thuộc và chính quyền địa phương, các trường học, công ty truyền thông; và điều chỉnh hành vi của khoảng 4 triệu người, bao gồm: người đứng đầu tổ chức dịch vụ liên quan đến công chúng và các tổ chức công cộng, công chức; người đứng đầu của trường học các cấp và các tổ chức giáo dục và giáo viên, giảng viên và các đại diện và nhân viên của công ty truyền thông và người nhà của họ
Luật cũng quy định 14 hành vi yêu cầu bất chính như: nhờ vả phê duyệt, cấp giấy phép, thẩm định, chứng nhận, xác nhận; can thiệp vào thu thuế, tiền phạt; can thiệp vào công tác nhân sự; can thiệp vào thi cử và tuyển chọn nhân viên; tiết lộ các thông tin liên quan đến công việc như thuế, đấu thầu, kiểm tra, đấu giá…; can thiệp vào lựa chọn hợp đồng; gây ảnh hưởng lên trợ cấp, phân
bổ quỹ hỗ trợ; can thiệp vào giá cả hàng hóa do cơ quan công quản lý; can thiệp vào nhân sự trong quân đội; làm sai lệch các kết quả giám định, đánh giá; che giấu thông tin vi phạm, thao túng kết quả điều tra; gây ảnh hưởng lên quá trình điều tra, xét xử, phân xử…Công chức đang làm nhiệm vụ nếu thực
Trang 37hiện những việc không thuộc quyền hạn hay làm trái với quyền hạn, chức vụ
đã được giao phó thì sẽ bị xử lý theo Bộ luật này
Bộ luật này quy định mức xử phạt hình sự đối với hành vi vi phạm như sau: Một nhân viên công chức hoặc người có liên quan đang thực hiện nhiệm
vụ nhưng lại nhận lời yêu cầu bất chính thì sẽ đối mặt với án tù không quá 2 năm hoặc bị phạt tiền không quá 20 triệu won; nhân viên công chức hoặc vợ/chồng nhận lợi ích tài chính hoặc những lợi ích khác vượt quá 1 triệu won/1 lần hoặc 3 triệu won/1 năm sẽ đối mặt với án tù không quá 3 năm hoặc
bị phạt tiền không quá 30 triệu won; một cá nhân nào đó cung cấp lợi ích tài chính hoặc lợi ích khác cho nhân viên công chức hoặc vợ/chồng của nhân viên công chức đối mặt với án tù không quá 3 năm hoặc bị phạt tiền không quá 30 triệu won
(2) Luật ngăn ngừa tham nhũng và thành lập, quản lý ủy ban chống tham nhũng và bảo vệ quyền dân sự (gọi tắt là Luật phòng, chống tham nhũng) có
hiệu lực từ ngày 19/11/2014 Luật chống tham nhũng đầu tiên của Hàn Quốc
được thông qua vào ngày 24/07/2001, đến năm 03/02/2009 Luật chống tham nhũng và thành lập, hoạt động của ủy ban chống tham nhũng và quyền công dân ra đời thay thế; và đến ngày 19/11/2014 Luật ngăn ngừa tham nhũng và thành lập, quản lý ủy ban chống tham nhũng và bảo vệ quyền dân sự được
thông qua và có hiệu lực thi hành
Luật phòng, chống tham nhũng nhằm mục đích xử lý các kiến nghị của công dân đối với tham nhũng Thành lập Ủy ban chống tham nhũng và các quyền công dân để bảo vệ quyền và lợi ích cơ bản của nhân dân, đảm bảo dịch vụ công để tạo ra một môi trường trong sạch trong dịch vụ dân sự và xã hội Phạm vi điều chỉnh của Luật phòng, chống tham nhũng bao gồm công chức của các cơ quan hành chính trung ương và địa phương, các tổ chức công cộng như Văn phòng giáo dục, Các văn phòng khu vực, Quốc hội, Tòa án, BAI…
Trang 38Luật cũng quy định trách nhiệm và nghĩa vụ của các tổ chức công cộng, đảng phái chính trị, doanh nghiệp trong phòng, chống tham nhũng Luật quy định việc thành lập, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ủy ban chống tham nhũng và bảo vệ quyền công dân (gọi tắt là Ủy ban), như sau: Ủy ban có thể yêu cầu thủ trưởng cơ quan tiến hành một số cải cách để chống tham nhũng; Ủy Ban có thể phân tích và kiểm tra các điều luật, nghị định Tổng thống, pháp lệnh của Thủ tướng Chính phủ, Pháp lệnh của Bộ…để phát hiện những yếu tố có thể lạm dụng để tham nhũng và sau đó đề nghị Thủ trưởng các cơ quan tiến hành sửa đổi…
(3) Luật đạo đức công chức lần đầu tiên được thông qua và có hiệu lực ngày
30/06/1996, trải qua 15 lần sửa đổi bổ sung, bản mới nhất được sửa đổi, bổ sung có hiệu lực từ ngày 01/09/2016
Bộ luật giúp ngăn ngừa xung đột lợi ích công cộng và tư nhân bằng cách kiểm soát tài sản của công chức thông qua đăng ký tài sản và kiểm tra tài sản công chức hàng năm Đối tượng điều chỉnh của bộ luật này bao gồm công chức chính trị trung ương và địa phương như: Tổng thống, Thủ tướng, thành viên Chính phủ, Quốc hội, công chức cấp 4 trở lên, công chức phục vụ ở nước ngoài, công chức thuộc tòa án, Viện công tố, quân nhân cấp bậc đại tá trở lên, nhân viên cảnh sát cấp trưởng, phó phòng; hiệu trưởng, phó hiệu trưởng các trường đại học; trưởng, phó giám đốc các công ty nhà nước… và người thân của họ bao gồm: vợ hoặc chồng và con cái trực hệ bắt buộc phải đăng ký tài sản
(4) Luật công khai thông tin công được thông qua lần đầu vào ngày
31/12/1996, qua 8 lần sửa đổi bổ sung, bản mới nhất có hiệu lực từ ngày 29/05/2016
Mục đích của bộ luật này đảm bảo quyền lợi của người dân được biết
và đảm bảo nhân dân tham gia vào công việc nhà nước và tính minh bạch của các hoạt động của cơ quan công Phạm vi điều chỉnh của Bộ luật này bao gồm
Trang 39các cơ quan công: Quốc hội, Tòa án, Tòa án Hiến pháp, Ủy ban bầu cử quốc gia, Uỷ ban; Cơ quan hành chính Trung ương, địa phương và các tổ chức có liên quan; Các tổ chức công cộng…
Luật quy định 8 loại thông tin không được công bố, còn lại tất cả các thông tin khác của cơ quan công cộng sẽ được tiết lộ cho công chúng Các thông tin không được tiết lộ bao gồm: Các thông tin được phân loại bí mật theo các quyết định khác; các thông tin an ninh quốc gia, thống nhất đất nước, ngoại giao…; Thông tin là có khả năng gây cản trở nghiêm trọng việc bảo vệ cuộc sống của người dân; thông tin liên quan đến quá trình điều tra, cáo trạng của công tố…; Thông tin liên quan đến kiểm toán, giám sát, thanh tra, kiểm tra, quy định, đấu thầu các hợp đồng, phát triển công nghệ, hoặc quản lý nhân
sự, hoặc các thông tin đang được xem xét, quyết định; Thông tin cá nhân, chẳng hạn như tên, số đăng ký cư trú; Các thông tin liên quan đến bí mật quản
lý và thương mại của các công ty, tổ chức, cá nhân
(5) Luật bảo vệ người khai báo lợi ích công cộng được thông qua lần đầu vào
ngày 29/03/2011 được sửa đổi, bổ sung và có hiệu lực từ ngày 25/01/2016
Bộ luật ra đời để bảo vệ và hỗ trợ những người đã thông báo bất kỳ hành vi nào gây phương hại đến lợi ích công cộng Luật quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong bảo vệ người tố cáo như: sẽ được miễn trừ thông tin cá nhân: cơ quan nhà nước có thể sử dụng biện pháp sửa đổi thông tin cá nhân trong quá trình điều tra và truy tố; không ai được phép thông báo thông tin cá nhân về người tố cáo cho người khác; Ủy ban chống tham nhũng
và bảo vệ quyền lợi công dân có thể yêu cầu cảnh sát bảo vệ người tố cáo nếu cuộc sống của họ bị đe dọa; người tố cáo nếu có liên quan đến hành vi vi phạm thì sẽ được giảm nhẹ hình phạt hoặc miễn trừ trách nhiệm; người tố cáo
có thể yêu cầu các biện pháp bảo vệ tới Ủy ban…
Trang 40(6) Luật đặc biệt về tịch thu tài sản liên quan đến vi phạm pháp luật của công chức được thông qua và có hiệu lực vào ngày 23/05/2011 và được sửa đổi, bổ
sung và có hiệu lực từ ngày 28/03/2017
Bộ luật có phạm vi điều chỉnh là tất cả các cán bộ công chức nhà nước, các tổ chức công cộng, công ty nhà nước… Luật quy định Tài sản bất hợp pháp sẽ bị tịch thu và sẽ bị truy tố theo bộ luật Hình sự Các hành vi nhận hối
lộ sẽ bị tịch thu tài sản bất hợp pháp, cụ thể: nhận hối lộ hoặc hứa nhận hối lộ liên quan đến nhiệm vụ của mình; yêu cầu hoặc hứa nhận hối lộ để giúp đỡ bên thứ ba liên quan đến nhiệm vụ của mình Trong trường hợp tài sản đứng tên người thứ 3 thì Luật cũng quy định Công tố cũng có thể yêu cầu phong tỏa, bảo quản và tịch thu tài sản phạm pháp này
2.1.2 Pháp luật về phòng chống tham nhũng ở Việt Nam
Việt Nam có 45 văn bản liên quan đến phòng, chống tham nhũng đang
có hiệu lực thi hành (phụ lục 1) và một số pháp luật khác liên quan Trong hệ thống văn bản này, đáng chú ý nhất là Luật số 55/2005/QH11 về phòng, chống tham nhũng
(1) Luật phòng, chống tham nhũng được Quốc hội Việt Nam thông qua vào
ngày 29/11/2005, được sửa đổi và bổ sung ngày 23/11/2012, có hiệu lực từ ngày 01/02/2013 Luật quy định: Tham nhũng là hành vi của người có chức
vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi (Khoản 2, điều 1)
Người có chức vụ, quyền hạn bao gồm: Cán bộ, công chức, viên chức;
Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn
vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn - kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân; Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước; cán bộ lãnh đạo, quản lý
là người đại diện phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Người được