Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Chi cục Hải quan tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÂM QUANG NGHĨA
HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN TẠI CỤC HẢI QUAN TỈNH KIÊN GIANG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60340403
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH NĂM 2017
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Người hướng dẫn khoa học :
Thời gian: vào hồi giờ phút ngày tháng năm 20
Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kiểm tra sau thông quan ( KTSTQ ) là một hoạt động đã được hải quan các quốc gia phát triển trên thế giới áp dụng từ lâu, mang lại hiệu quả cao và là một hoạt động không thể thiếu trong quản lý hải quan hiện đại Ở Việt Nam, khái niệm “kiểm tra sau thông quan” cũng đã bắt đầu được đề cập trong Luật Hải quan năm
2001 và khái niệm này ngày càng được sử dụng rộng rãi trong hoạt động quản lý nhà nước về hải quan Thông qua hoạt động kiểm tra sau thông quan, cơ quan hải quan thẩm định tính chính xác, trung thực nội dung các chứng từ, hồ sơ mà doanh nghiệp đã khai, nộp, xuất trình với cơ quan hải quan; thẩm định việc tuân thủ của doanh nghiệp đối với pháp luật hải quan, pháp luật thuế và các pháp luật khác liên quan đến quản lý hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Từ đó đưa ra được phương thức quản lý phù hợp hoặc đề xuất, kiến nghị thay đổi, điều chỉnh hệ thống pháp luật nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hải quan
Hiện nay ngành Hải quan đang chuyển đổi mạnh mẽ từ phương thức quản lý truyền thống sang phương thức quản lý hiện
đại Hệ thống thông quan hàng hóa tự động ( VNACCS : Vietnam
Automated Cargo And Port Consolidated System / VCIS : Vietnam
Customs Intelligence Information System ) đã được chính thức vận
hành, đánh dấu bước phát triển mới của Hải quan Việt Nam, mang lại lợi ích to lớn cho cộng đồng doanh nghiệp và xã hội, đồng thời cũng đặt Ngành trước những khó khăn, thử thách Theo Chiến lược
Trang 4phát triển Hải quan đến năm 2020, ngành Hải quan tiếp tục đẩy mạnh cải cách hiện đại hoá
Không nằm ngoài xu thế chung của ngành, Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang cũng đang khẩn trương đẩy mạnh cải cách, hiện đại hóa nhằm đáp ứng yêu cầu của phát triển, trong đó công tác kiểm tra sau thông quan đang rất được quan tâm Với mong muốn có được cái nhìn sâu rộng về công tác kiểm tra sau thông quan, đặc biệt là công tác này tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang, từ đó đánh giá được thực trạng và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang, tác giả luận văn
chọn đề tài “Hoạt động kiểm tra sau thông quan tại cục Hải quan tỉnh Kiên Giang” để làm luận văn tốt nghiệp chương trình Thạc sỹ
quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài của luận văn
Hải quan là một lĩnh vực đã có tại Việt Nam khá lâu, đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu khoa học: từ luận án tiến sỹ, thạc sỹ, đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các đề án, báo cáo khoa học… nghiên cứu lĩnh vực này Tuy nhiên các nghiên cứu trên về Hải quan dưới nhiều khía cạnh, ở các địa phương khác nhau Nhưng vấn đề về hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang nói riêng thì chưa có đề tài nào nghiên cứu, đề cập đến
+ Tình hình nghiên cứu trong nước:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành HQ “Cơ sở lý luận
thực tiễn, nội dung và tác nghiệp cụ thể nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan trong ngành Hải quan”, chủ nhiệm Mai Văn Huyên, Tổng cục
Hải quan, năm 2002 Phạm vi Đề tài này chủ yếu là nghiên cứu ban đầu về cơ sở lý luận, hầu như chưa có thực tiễn (kiểm tra sau thông
Trang 5quan thời điểm đó chưa hoạt động trên thực tế), chưa tham khảo kinh nghiệm các nước
- Luận văn Thạc sỹ Quản lý hành chính công : Thủ tục hải quan điện tử đối với các doanh nghiệp chế xuất tại Hải Phòng của Trần Ngọc Tuấn năm 2014
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp ngành Hải Quan “Hoàn
thiện mô hình kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam” của
Thạc sỹ Nguyễn Viết Hồng thực hiện năm 2006 Đề tài này chủ yếu nghiên cứu về mô hình của hệ thống kiểm tra sau thông quan từ trung ương đến địa phương
- Dưới dạng luận văn thạc sỹ có Đề tài “Hoàn thiện tổ chức
kiểm tra sau thông quan của Hải quan Việt Nam” năm 2006 của tác
giả Mai Chí Thành Đề tài này bước đầu nghiên cứu về tổ chức và hoạt động kiểm tra sau thông quan giai đoạn 2001-2006 và đưa ra các giải pháp kiến nghị hoàn thiện tổ chức kiểm tra sau thông quan đến giai đoạn 2010
+ Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Một số tài liệu có giá trị tham khảo đã được trang web của Bộ Nội vụ, chuyên trang Cải cách hành chính, của Tổng cục hải quan như: (http://www.caicachhanhchinh.gov.vn/Vietnam/) đã tập hợp về kinh nghiệm của các nước, trong đó có lĩnh vực hải quan
Kinh nghiệm của Singgapore trong tài liệu „‟Tiến trình cải tổ của Rồng châu Á‟‟ năm 2013 (NXB Lao Động) cũng đã phân tích những bước cải cách hữu hiệu của Singgapore trong tiếp cận và giải quyết các dịch vụ công trong đó có dịch vụ hải quan điện tử nhưng việc áp dụng vào Việt Nam là chưa khả thi khi ở Việt Nam chưa có
mô hình dịch vụ tư nhân trong lĩnh vực này
Trang 63 Giả thuyết khoa học
Trong điều kiện tỷ trọng các doanh nghiệp chế xuất tăng nhanh,
nhu cầu của các doanh nghiệp muốn đầu tư vào Việt Nam tăng cao nhưng qua khảo sát cho thấy chính các doanh nghiệp này có rất nhiều e ngại, đặc biệt là đối với quá trình triển khai các thủ tục hành chính, trong đó công tác kiểm tra sau thông quan dẫn tới việc các
doanh nghiệp chần chừ hoặc thoái vốn, hoặc từ chối đầu tư Giả
thuyết ở đây là hoạt động kiểm tra sau thông quan có thể còn nhiều khiếm khuyết (về kỹ thuật, bộ máy, nhân sự ) do đó cần nhìn nhận toàn diện về để có câu trả lời tham mưu cho việc hoàn thiện và kiện toàn lĩnh vực này
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đề ra các nhiệm vụ sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tế để làm rõ tầm quan trọng, vai trò của hoạt động kiểm tra sau thông quan
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục hải quan tỉnh Kiên Giang
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn
Trang 75.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Về không gian: hoạt động kiểm tra sau thông quan đối với các doanh nghiệp làm thủ tục xuất nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Về thời gian: nghiên cứu trong giai đoạn 2010 - 2016
6 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp luận của phép duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, lấy học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, quan điểm cải cách và phát triển ngành Hải quan của Nhà nước nói chung và lãnh đạo ngành nói riêng
7 Những đóng góp mới và ý nghĩa của luận văn
Tuy đã có một số công trình nghiên cứu nhằm tăng cường hiện đại hóa, cải cách thủ tục hành chính, hoàn thiện quy trình thủ tục trong công tác quản lý hải quan nhưng các nghiên cứu trên thường được thực hiện trên cơ sở nhận thức, sự hiểu biết của người quản lý nên mang tính chủ quan, thiếu cơ sở thực tiễn, chưa hướng đến đối tượng quản lý
Đề tài xác định đưa ra các bước cải cách về thủ tục hành chính tại khâu nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan, góp phần giúp các cấp lãnh đạo có được cái nhìn sâu hơn về bước thủ tục này để từ đó có thể ra những quyết định chính xác, cụ thể nhằm nâng cao sự hài lòng của cộng đồng doanh nghiệp
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
Trang 8Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý về hoạt động kiểm
tra sau thông quan
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang
Chương 3: Một số giải pháp thực hiện hiệu quả hoạt động
kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan tỉnh Kiên Giang
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ HOẠT ĐỘNG
KIỂM TRA SAU THÔNG QUAN 1.1 Cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra sau thông quan
h i niệm đ c điểm c a hoạt động kiểm tra sau thông quan
1.1.1.1 Khái niệm kiểm tra sau thông quan
- Theo Tổ chức Hải quan thế giới: “Kiểm tra sau thông quan là quy trình công tác cho phép viên chức Hải quan kiểm tra tính chính xác của hoạt động khai hải quan bằng việc kiểm tra các hồ sơ, tài liệu ghi chép về kế toán và thương mại liên quan đến hoạt động buôn bán, trao đổi hàng hóa và tất cả các số liệu, thông tin, bằng chứng khác cho cơ quan Hải quan mà hiện tại đang được các đối tượng kiểm tra (cá nhân hoặc doanh nghiệp) trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào hoạt động buôn bán quốc tế nắm giữ”
- Theo Công ước Kyoto sửa đổi, bổ sung tháng 9/1999: “Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp được cơ quan Hải quan tiến hành nhằm thoả mãn mục đích của họ trong việc xác định tính chính xác và trung thực của các tờ khai hàng hóa thông qua kiểm tra các chứng từ, biên bản, hệ thống kinh tế và dữ liệu thương mại của các bên liên quan” (Phụ lục tổng quát, Chương 2, định nghĩa E3/F4)
Trang 9- Theo Hải quan ASEAN: “Kiểm tra sau thông quan là một biện pháp kiểm soát Hải quan có hệ thống mà cơ quan Hải quan thấy thỏa đáng về độ chính xác và trung thực của việc khai báo hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ có liên quan, hệ thống kinh doanh và dữ liệu thương mại của các cá nhân/các công ty tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào thương mại quốc tế” (Sổ tay hướng dẫn kiểm tra sau thông quan - Tổ chức Hải quan ASEAN)
- Theo Hải quan Việt Nam: Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan hải quan đối với hồ sơ hải quan, sổ kế toán, chứng từ kế toán và các chứng từ khác, tài liệu, dữ liệu có liên quan đến hàng hóa; kiểm tra thực tế hàng hóa trong trường hợp cần thiết và còn điều kiện sau khi hàng hóa đã được thông quan
1.1.1.2 Đặc điểm hoạt động kiểm tra sau thông quan
Quan niệm về kiểm tra sau thông quan của mỗi nước tuy được
nêu theo nhiều cánh diễn đạt khác nhau, nhưng vẫn bao hàm 7 đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, kiểm tra sau thông quan cùng thực hiện nhiệm vụ
quản lý Nhà nước về mặt Hải quan với các đơn vị chức năng khác của Hải quan
Thứ hai, kiểm tra sau thông quan là một phương pháp kiểm tra
của các cán bộ Hải quan
Thứ ba, kiểm tra sau thông quan là phương pháp kiểm tra, diễn
ra sau khi giải phóng hàng
Thứ tư, kiểm tra sau thông quan được tiến hành để xác định
xem các nội dung khai Hải quan có tuân thủ các yêu cầu của pháp luật Hải quan và các quy định khác có liên quan hay không
Thứ năm, kiểm tra sau thông quan thực hiện các biện pháp
Trang 10kiểm tra theo tất cả các thông tin liên quan, bao gồm cả dữ liệu điện
tử, do các cá nhân, công ty có liên quan cung cấp nhằm thực hiện mục tiêu trên
Thứ sáu, kiểm tra sau thông quan không chỉ hướng vào đối
tượng khai báo mà cả các cá nhân, công ty khác liên quan đến thương mại quốc tế
Thứ bảy, kiểm tra sau thông quan được thực hiện với sự cộng
tác chặt chẽ giữa cơ quan Hải quan và đối tượng kiểm tra
ai tr c a hoạt động kiểm tra sau thông quan
- Là biện pháp nâng cao năng lực quản lý của cơ quan hải quan, thực hiện chông gian lận thương mại có hiệu quả, đồng thời tạo điều kiện đơn giản hóa thủ tục hải quan, cải thiện môi trường đầu tư
và góp phần tích cực vào phát triển, giao lưu thương mại quốc tế
- Là một trong những biện pháp đảm bảo để Luật Hải quan và pháp luật có liên quan đến lĩnh vực xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh được thực hiện nghiêm chỉnh
- Đảm bảo ngăn chặn tình trạng thất thu ngân sách, giảm thiểu rủi ro cho doanh nghiệp và công chức hải quan
1.2 Cơ sở pháp lý về hoạt động kiểm tra sau thông quan
Cục Kiểm tra sau thông quan là đơn vị thuộc Tổng cục Hải
Trang 11quan, được cơ cấu tổ chức thành 07 phòng chức năng, cụ thể là:
5 Phòng Kiểm tra thực hiện chính sách thương mại (gọi tắt là Phòng Kiểm tra 4)
6 Phòng Kiểm tra sau thông quan phía Nam
7 Phòng Thu thập, xử lý thông tin
- Ở cấp địa phương:
Tại các Cục Hải quan tỉnh, thành phố, các Chi cục Kiểm tra sau thông quan thực hiện công tác kiểm tra sau thông quan trong phạm vi địa bàn quản lý Hải quan được phân công
Các Chi cục Kiểm tra sau thông quan được tổ chức theo hướng quản lý chuyên sâu, kết hợp quản lý doanh nghiệp, địa bàn, gồm 3
mô hình:
- Chi cục Kiểm tra sau thông quan loại 1, có 3 - 5 Đội công tác, gồm có Chi cục Kiểm tra sau thông quan trực thuộc các Cục Hải quan tỉnh, thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình Dương
- Chi cục Kiểm tra sau thông quan loại 2, có 2 Đội công tác, gồm có Chi cục Kiểm tra sau thông quan trực thuộc 18 Cục Hải quan tỉnh, thành phố Đà Nẵng, Bà Rịa - Vũng Tàu, Lạng Sơn, Quảng Trị,
Trang 12Long An, Lào Cai, Tây Ninh, An Giang, Bình Định, Cần Thơ, Khánh Hòa, Thanh Hóa, Cao Bằng, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đắc Lắc, Bắc Ninh
- Chi cục Kiểm tra sau thông quan loại 3, không chia thành các Đội, lãnh đạo Chi cục trực tiếp điều hành thực hiện chức năng nhiệm
vụ, gồm các Chi cục Kiểm tra sau thông quan trực thuộc 10 Cục Hải quan tỉnh Hà Giang, Điện Biên, Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi, Gia Lai, Đồng Tháp, Kiên Giang, Cà Mau, Bình Phước
Đối tượng c a kiểm tra sau thông quan
Theo quy định pháp luật hiện hành thì hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã thông quan là đối tượng kiểm tra sau thông quan theo Nghị định số 154/2005/NĐ-CP ngày 15/12/2005 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan
Để làm rõ, có thể thấy đối tượng kiểm tra sau thông quan được chia làm 03 dạng cụ thể:
- Hồ sơ Hải quan đang lưu giữ tại doanh nghiệp và đơn vị Hải quan làm thủ tục hải quan cho hàng hóa liên quan
- Chứng từ, tài liệu liên quan hàng hóa xuất nhập khẩu đã được thông quan như sổ kế toán, chứng từ kế toán, báo cáo tài chính, các tài liệu, dữ liệu liên quan, do doanh nghiệp lưu giữ ở dạng giấy
tờ hoặc dữ liệu điện tử
- Hàng hóa, nơi sản xuất nếu cần thiết và còn điều kiện
Phạm vi kiểm tra sau thông quan
Nghiên cứu về phạm vi của công tác kiểm tra sau thông quan
ta đi sâu phân tích mấy điểm sau đây:
Thứ nhất, kiểm tra sau thông quan chỉ chú trọng đi sâu vào