1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)

124 349 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên GiangQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên GiangQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên GiangQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên GiangQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên GiangQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên GiangQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên GiangQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên GiangQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên GiangQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên GiangQuản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ MINH CƯỜNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH – 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ MINH CƯỜNG

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS HOÀNG SỸ KIM

TP HỒ CHÍ MINH - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và khách quan

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này

đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình được học tập và thực hiện Luận văn Thạc sỹ Quản lý

công với đề tài “ Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn

huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang” tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ,

tạo điều kiện của tập thể lãnh đạo Học viện, giảng viên và lãnh đạo các khoa, các phòng ban trong trường Tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành về những

sự giúp đỡ đó

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Hoàng Sỹ Kim, Trưởng

Khoa Quản lý nhà nước về Đô thị & Nông thôn, Học viện Hành chính Quốc gia, người đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo tôi hoàn thành luận văn này

Nội dung luận văn đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước trong xây dựng nông thôn mới ở huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang, đây là một vấn đề tương đối rộng và cần được nghiên cứu và giải quyết trong thời gian dài Do

đó, luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, thiếu sót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự tham gia đóng góp ý kiến của các thầy, cô giảng viên trong Học viện và các quý vị có quan tâm để luận văn được hoàn thiện hơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Kiên Giang, ngày tháng 7 năm 2017

Tác giả

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài luận văn 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 7

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 7

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI ………9

1.1 Một số khái niệm liên quan 9

1.1.1 Khái niệm về nông thôn 9

1.1.2 Khái niệm về nông thôn mới 11

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về nông thôn mới 12

1.2 Khái quát về xây dựng nông thôn mới 14

1.2.1 Vai trò của nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội 14

1.2.2 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới 16

1.2.3 Đặc điểm xây dựng nông thôn mới 17

1 Q ản lý nhà nướ ề xây dựng nông thôn mới 20

1.3.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới 20 1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới cấp huyện 22

Trang 7

1.3.2.1.Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình xây dựng nông

thôn mới 22

1.3.2.2 Ban hành pháp luật cụ thể hóa và tổ chứa thực hiện các văn bản pháp luật 24

1.3.2.3 Tổ chức bộ máy Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới 26

1.3.2.4 Tổ chức chỉ đạo thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới 27

1.3.2.5 Tổ chức bồi dưỡng, đào tạo nguồn nhân lực cho xây dựng nông thôn mới 27

1.3.2.6 Công tác tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới 28

1.3.2.7 Kiểm tra, giám sát và tổng kết xây dựng nông thôn mới 29

1.4 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên thế giới và một số địa phương trong nước 30

1.4.1 Trên thế giới 30

1.4.1.1 Trung Quốc 30

1.4.1.2 Hàn Quốc 34

1.4.2 Trong nước 36

1.4.2.1 Kinh nghiệm của huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định 36

1.4.2.2 Kinh nghiệm của huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu 37

1.4.2.3 Kinh nghiệm của huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang 40

1.4.2.4 Kinh nghiệm của huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang 42

1.4.3 Những bài học kinh nghiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới có thể vận dung cho huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang 44

Chương 2 : THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG ………… 47

2.1 Khái quát về huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang 47

Trang 8

2.1.1 Điều kiện tự nhiên 47

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 48

2.1.2.1 Kinh tế 48

2.1.2.2 Lĩnh vực văn hóa – xã hội 49

2.2 Thực trạng xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành 52

2.2.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới 52 2.2.2 Quy hoạch, thực hiện quy hoạch và Ban hành văn bản tổ chức thực hiện về xây dựng nông thôn mới 58

2.2.3 Công tác triển khai, tuyên truyền, vận động và tổ chức thực hiện 65

2.2.4 Quản lý về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nguồn lực và đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội 68

2.2.5 Công tác kiểm tra, giám sát 75

2.3 Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang 76

2.3.1 Những kết quả đạt được và nguyên nhân 77

2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân 79

Chương : ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN GIANG THÀNH, TỈNH KIÊN GIANG ……….84

1 Định hướng, q an điểm, mục tiêu xây dựng Nông thôn mới huyện Giang Thành giai đoạn 2016 - 2020 84

3.1.1 Định hướng của Nhà nước về xây dựng nông thôn mới 84

3.1.2 Quan điểm, mục tiêu xây dựng nông thôn mới của huyện Giang Thành 86

3.2 Một số giải pháp chủ yếu hoàn thiện quản lý nhà nước trong quá trình xây dựng nông thôn mới ở huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang 88

Trang 9

3.2.1 Giải pháp về đổi mới phương thức lãnh đạo, điều hành trong xây

dựng nông thôn mới 88

3.2.2 Giải pháp về tuyên truyền, vận động 91

3.2.3 Giải pháp về rà soát điều chỉnh quy hoạch và thực hiện quy hoạch 93

3.2.4 Định hướng phát triển sản xuất, đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng phục vụ xây dựng nông thôn mới và Đa dạng hóa các hình thức huy động nguồn vốn xây dựng nông thôn mới 97

3.2.5 Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý xây dựng nông thôn mới 106

3.2.6 Giải pháp kiểm tra, giám sát, đánh giá tình hình thực hiện xây dựng nông thôn mới 107

3.3 Một số đề xuất, kiến nghị 109

3.3.1 Đối với Trung ương 109

3.3.2 Đối với tỉnh Kiên Giang 109

KẾT LUẬN 112

TÀI LIỆU THAM KHẢO 114

Trang 10

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận ăn

Đất nước ta đang trên con đường hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu vực, tạo ra những cơ hội lớn để đất nước phát triển nhanh hơn, toàn diện hơn, sớm đưa nước ta thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển Tuy nhiên việc hội nhập và thực hiện nền kinh tế thị trường cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự phát triển kinh tế - xã hội trên các lĩnh vực, sự phân hóa giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị ngày càng tăng, kinh tế khu vực nông thôn chậm phát triển, người dân còn hạn chế trong tiếp cận, hưởng thụ các dịch vụ công về văn hoá, giáo dục, y tế, so với đô thị Với đặc thù nước ta có hơn 67% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn thì việc giải quyết tốt các vấn

đề nông nghiệp, nông thôn có ý nghĩa mang tính chiến lược đối với sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước

Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) đã ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 về vấn đề Nông nghiệp, Nông dân, Nông thôn Nghị quyết đã xác định mục tiêu xây dựng Nông thôn mới đến năm 2020 Theo đó Chính phủ cũng đã ban hành Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009 ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới, Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/06/2010 phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới (2010-2020) và nhiều văn bản khác Qua quá trình thực hiện, tính đến hết năm 2016 cả nước

có 1965 xã (chiếm 22%) vả 23 huyện đã được công nhận đạt chuẩn NTM Tuy nhiên theo đánh giá của Ban chỉ đạo Chương trình XDNTM Trung ương, các xã đạt chuẩn nông thôn mới tập trung ở địa phương có kinh tế phát triển, còn ở những vùng khó khăn, tỷ lệ đạt chuẩn chưa cao

Trang 11

Chênh lệch về tiến độ, kết quả XD NTM giữa các vùng có xu hướng gia tăng, nhiều địa phương bị động, lúng túng trong việc kiện toàn bộ máy điều phối NTM, vận dụng chính sách chưa linh hoạt nên huy động nguồn lực thấp Quá trình vận dụng, có những tiêu chí của chương trình XD NTM chưa thật phù hợp thực tiễn tại một số địa phương

Giang Thành là huyện biên giới thuộc tỉnh Kiên Giang, cách trung tâm tỉnh gần 120 km, có đường biên giới giáp Vương quốc Campuchia 42,8 km, dân tộc Khmer chiếm 21,2% tổng số dân của huyện; toàn huyện có 05 đơn vị hành chính xã (chưa có thị trấn) đều là xã nghèo thuộc chương trình 135 của Chính phủ Mặc dù trong điều kiện còn nhiều khó khăn, song bước đầu đã thực hiện có hiệu quả chương trình XD NTM Tuy nhiên trong bối cảnh chung, XD NTM của huyện Giang Thành cũng còn nhiều bất cập, tỷ lệ hộ nghèo cao, chiếm 24,25% (theo tiêu chí mới) Kinh tế huyện chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, kinh tế hộ gia đình kém phát triển, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ và còn nhiều yếu kém, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân còn nhiều hạn chế

Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ (2015-2020) đề ra mục tiêu phấn đấu hoàn thành xây dựng các xã nông thôn mới biên giới, nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Đây là một trong những nhiệm vụ lớn, là yêu cầu cấp bách của Đảng bộ và nhân dân trong huyện trong thời gian tới và có ý nghĩa tác động sâu sắc đến nhận thức, hành động của cán

Trang 12

3

bộ, người dân, nhất là đồng bào dân tộc Khmer, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội, giữ vững ổn định an ninh quốc phòng khu vực biên giới

Từ thực tế và yêu cầu trên tác giả chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về

xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang” làm

luận văn Thạc sĩ nhằm góp phần vào thực tiễn công tác, chỉ đạo và thực hiện chương trình Quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành

2 Tình hình nghiên cứ liên q an đến đề tài luận ăn

Trong những năm qua, nghiên cứu quản lý nhà nước về nông thôn thu hút được sự quan tâm của nhiều tác giả Một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài này có thể kể đến là:

- Đề tài “Đổi mới quản lý nhà nước đối với nông nghiệp Việt Nam” của

Hoàng Sỹ Kim, luận văn thạc sĩ hành chính công năm 2001 đã chú trọng đến những giải pháp nhằm đổi mới quản lý nhà nước về nông nghiệp của Việt

Nam

-“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn Việt Nam - Hôm nay và mai sau”,

của TS Đặng Kim Sơn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia 2008 Tác phẩm đề cập đến thực trạng các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn hiện nay, những thành tựu và khó khăn; đề xuất những định hướng và kiến nghị chính sách nhằm đưa nông nghiệp, nông dân, nông thôn ngày càng phát triển

- "Xây dựng nông thôn mới những vấn đề lý luận và thực tiễn" do tác

giả Vũ Văn Phúc chủ biên, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2012 Công trình là tập hợp các bài viết của các nhà khoa học, lãnh đạo các cơ quan Trung ương, địa phương, các ngành, các cấp về xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, gồm những vấn đề lý luận chung về xây dựng nông thôn mới, kinh nghiệm quốc tế về xây dựng nông thôn mới, thực tiễn và kết quả bước đầu trong xây dựng nông thôn mới ở một số địa bàn trên phạm vi cả nước, đặc

Trang 13

4

biệt là các địa bàn thí điểm xây dựng nông thôn mới

- “Những quy định pháp luật và công tác văn hóa xã hội ở cơ sở và

xây dựng nông thôn mới”, của tác giả Bùi Văn Thấm, Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia, Hà Nội, năm 2003 Công trình nghiên cứu này chủ yếu đề cập và giới thiệu các quy định của Nhà nước về công tác văn hóa xã hội và quy định về nông thôn mới, về việc xây dựng nông thôn mới ở các vùng miền của đất nước, trong đó, nhấn mạnh miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa [14, tr.3]

- Đề tài “ Xây dựng Nông thôn mới cấp xã tại huyện Gò Quao, tỉnh

Kiên Giang” của Ngô Huyền Trang, luận văn thạc sĩ quản lý công năm 2015

trên cơ sở phân tích thực trạng tình hình xây dựng NTM trên địa bàn huyện đã chú trọng đến những giải pháp thực hiện 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã trong huyện Gò Quao

- Đề tài “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới – từ thực tiễn

huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh” của Huỳnh Trần Huy, luận văn

thạc sĩ quản lý công năm 2013 đã chú trọng đến những giải pháp quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

- Đề tài “Giải pháp quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở

huyện U Minh, tỉnh Cà Mau” chủ yếu nghiên cứu công tác xây dựng nông

thôn mới tại các xã huyện U Minh

- “Nhìn lại hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây

dựng nông thôn mới: Kết quả và một số bài học kinh nghiệm” của nguyên

Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Trưởng ban Chỉ đạo Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Tạp chí Cộng sản số 94 năm 2014 Bài viết đã trình bày những kết quả quan trọng bước đầu trong hơn 3 năm thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới căn cứ và 19 tiêu chí của nông thôn mới Đồng thời bài viết cũng khái quát những ưu

Trang 14

- “Nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau hai mươi năm đổi mới - quá

khứ và hiện tại” của tác giả Nguyễn Văn Bích, Nxb Chính trị quốc gia, Hà

Nội, năm 2000 Cuốn sách này tác giả đã phân tích những sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp và đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội nông thôn Việt Nam sau hơn hai mươi năm đổi mới

- Đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp khoa học và

công nghệ về giao thông nông thôn, thủy lợi phù hợp với quy hoạch làng xã phục vụ xây dựng nông thôn mới Khu vực Tây Nguyên” thuộc Chương trình

Khoa học công nghệ phục vụ xây dựng Nông thôn mới theo Quyết định số 452/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chủ nhiệm đề tài là PGS.TS Võ Kim Sơn Đề tài khoa học này hướng tới ba mục tiêu chính gồm: Đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi nội đồng Khu vực Tây Nguyên đưa ra được các giải pháp khoa học và công nghệ phát triển giao thông nông thôn, hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phù hợp với quy hoạch nông thôn mới Khu vực Tây Nguyên Xây dựng các mô hình ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ phát triển giao thông nông thôn, hoàn thiện hệ thống thủy lợi nội đồng phù hợp cho các tiểu vùng của Khu vực Tây Nguyên Nội dung chính của đề tài là đưa ra tổng quan kết quả nghiên cứu về các giải pháp KH&CN xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi nội đồng và quy hoạch đường liên xã phục vụ xây dựng nông thôn mới từ đó phân tích, đánh giá thực trạng cơ sở hạ tầng thủy lợi, giao thông nông thôn Khu vực Tây Nguyên Dựa trên những kết quả phân tích đánh giá đề xuất các giải pháp KH&CN hoàn thiện hệ thống

Trang 15

6

thủy lợi nội đồng, phát triển giao thông nông thôn phục vụ xây dựng nông

thôn mới Khu vực Tây Nguyên của Nước ta hiện nay

Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí nghiên cứu quản lý nhà nước về vấn đề này Các công trình nghiên cứu nói trên đều có những đóng góp nhất định về mặt lý luận và thực tiễn quản lý nhà nước về nông thôn, nhưng tất cả các công trình trên chỉ nghiên cứu trên phạm vi rộng, hoặc nghiên cứu ở các địa phương khác, chưa có đề tài nào tiếp cận nghiên cứu quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

3 Mụ đí h à nhiệm vụ nghiên cứu của luận ăn

- Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản của QLNN về xây dựng

nông thôn mới

+ Phân tích thực trạng QLNN về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

+ Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện xây dựng nông thôn mới, góp phần nâng cao chất lượng và sớm hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

Trang 16

7

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận ăn

4.1 Đối tượng nghiên ứ :

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

4.2 Phạm i nghiên ứ :

+ Về không gian: Tác giả tập trung nghiên cứu việc triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

+ Về thời gian nghiên cứu: Giai đoạn từ năm 2011 đến 2015, định hướng thực hiện đến năm 2020 và những năm tiếp theo

+ Phạm vi nội dung nghiên cứu: Nghiên cứu các nội dung QLNN về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang bao gồm: Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới; Quy hoạch, thực hiện quy hoạch và Ban hành văn bản tổ chức thực hiện về xây dựng nông thôn mới; Công tác triển khai, tuyên truyền, vận động và tổ chức thực hiện; Quản lý về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nguồn lực và đầu tư kết cấu

hạ tầng kinh tế- xã hội; Công tác kiểm tra, giám sát trong xây dựng nông thông mới trên địa bàn huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

5 Phương pháp l ận à phương pháp nghiên ứu của luận ăn

- Phương pháp luận: Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương

pháp biện chứng duy vật và quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Trang 17

8

Thông qua luận văn, tác giả dự định đóng góp những ý kiến có tính lý luận và thực tiễn như sau:

Về lí l ận:

- Làm rõ các vấn đề lý luận liên quan đến về xây dựng nông thôn mới

và quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

- Qua phân tích, so sánh, đánh giá thực trạng, nêu lên những kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế Từ

đó, luận văn xây dựng một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Giang Thành

Về thự tiễn:

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu cho công tác quy hoạch, kế hoạch lãnh đạo, điều hành quản lý về xây dựng nông thôn mới của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Giang Thành

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu phục vụ học tập, giảng dạy và vận dụng vào quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

7 Kết cấu của luận ăn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 03 chương

Chương 1: Cơ sở khoa học của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lí nhà nước xây dựng nông thôn mới ở huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang

Trang 18

9

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ

XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1 1 Một số khái niệm liên q an

1.1.1 Khái niệm về nông thôn

Hiện nay trên thế giới vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau và chưa có định nghĩa chuẩn xác về nông thôn Có quan điểm cho rằng cần dựa vào chỉ tiêu trình độ phát triển của cơ sở hạ tầng, có nghĩa là vùng nông thôn có cơ sở

hạ tầng không phát triển bằng vùng đô thị Quan điểm khác lại cho rằng nên dựa vào chỉ tiêu trình độ tiếp cận thị trường phát triển hàng hóa để xác định vùng nông thôn Vì cho rằng nông thôn có trình độ sản xuất hàng hóa và khả năng tiếp cận thị trường so với đô thị là thấp hơn Cũng có ý kiến cho rằng nên dùng chỉ tiêu mật độ dân cư và số lượng dân trong vùng để xác định, theo quan điểm này khu vực nông thôn có quy mô dân số và mật độ thấp hơn so với khu vực đô thị

Một quan điểm khác lại nêu ra, nông thôn là vùng có dân cư làm nông nghiệp là chủ yếu, phần lớn người dân sinh sống tại khu vực nông thôn lấy sản xuất nông nghiệp làm kế sinh nhai chính của mình Những ý kiến này chỉ đúng khi đặt trong bối cảnh cụ thể của từng quốc gia, phụ thuộc vào trình độ phát triển, cơ cấu kinh tế, cơ chế áp dụng cho từng nền kinh tế Đối với những nước đang thực hiện công nghiệp hóa, đô thị hóa, chuyển từ sản xuất thuần nông sang phát triển các ngành công nghiệp và dịch vụ, xây dựng các khu đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ rải rác ở các vùng nông thôn thì khái niệm về nông thôn có những đổi khác so với khái niệm trước đây

Tại Việt Nam khái niệm “nông thôn” thường đồng nghĩa với làng, xóm, thôn Theo GS.TS Hoàng Chí Bảo trong công trình ngiên cứu về “Hệ

Trang 19

10

thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay” cũng cho rằng làng Việt vốn hình thành một cách tự nhiên, ra đời không qua bàn tay nhào nặn của chính quyền Trung ương, mang nét đặc trưng riêng; cùng với sự thay đổi của các triều đại trị vì trong lịch sử mà tên gọi của làng cũng khác nhau: “làng” cũng gọi là "thôn" hoặc "làng xóm", cũng có khi làng cũng chính là "xóm"

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì nông thôn là: "phần lãnh thổ của

một nước hay của một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cưu chủ yếu làm nông nghiệp"

Về mặt địa lý tự nhiên, nông thôn là một địa bàn rộng lớn tạo thành các vành đai bao quanh thành thị

Về kinh tế, nông thôn là địa bàn hoạt động chủ yếu của các ngành sản xuất vật chất nông - lâm - ngư ngiệp Ngoài ra nó còn có các ngành nghề phi nông nghiệp như: công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ

Về tổ chức xã hội - cơ cấu dân cư, ở nông thôn chủ yếu là nông dân và gia đình họ tộc với mật độ dân cư thấp Ngoài ra, có một số người làm việc ở nông thôn nhưng sống ở đô thị; một số người làm việc ở đô thị, sống ở nông thôn

Về văn hóa, nông thôn là nơi bảo tồn, lưu giữ các di sản văn hóa truyền thống chủ yếu của dân tộc như: phong tục, tập quán cổ truyền, các ngành nghề truyền thống, các di tích lịch sử

Trình độ dân trí, khoa học công nghệ, và kết cấu hạ tầng của cộng đồng dân cư nông thôn thường thấp kém, thua xa so với đô thị

Ngày nay, khái niệm “nông thôn” đã mở rộng nội hàm so với “làng”,

“bao gồm cả những thị trấn mà sự tồn tại và phát triển của nó phụ thuộc vào nông nghiệp, gắn với nông thôn và bảo đảm các dịch vụ cần thiết cho dân cư ở nông thôn”

Trang 20

11

Theo Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4//2010 của Chính phủ về

chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, thì: Nông thôn

là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã Đặc điểm của các vùng

nông thôn nước ta gắn liền với các loại hình lao động, sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, dân cư nông thôn luôn có tinh thần đoàn kết, giúp đỡ nhau tạo nên tình làng, nghĩa xóm lâu bền, lối sống, phương thức sống của cộng đồng dân cư nông thôn khác biệt cộng đồng dân cư thành thị [14, tr.8]

1.1.2 Khái niệm về nông thôn mới

Đến nay chưa có khái niệm chính thức về nông thôn mới, nông thôn phát triển như thế nào, ở mức độ nào thì được gọi là nông thôn mới, vấn đề này mang tính lịch sử, tùy theo từng quốc gia, khu vực và tùy theo từng thời điểm phát triển, người ta có thể đưa ra tiêu chí về nông thôn mới khác nhau

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “Về nông nghiệp, nông dân, nông thôn”

đã xác định mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2020 là: “Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường”

Như vậy, nông thôn mới trước tiên nó phải là nông thôn và khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có thể khái quát gọn theo các nội dung cơ bản sau:

Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; đảm bảo

không gian nông thôn phải mang đặc trưng nông thôn với khuôn viên, cảnh

Trang 21

12

quan của làng xã, của hộ gia đình nông thôn

Thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá;

thu nhập đảm bảo, công ăn việc làm ổn định, hộ nghèo ở mức thấp nhất không có hộ đói

Thứ ba, đời sống về vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng

được nâng cao

Thứ tư, bảo vệ và phát triển tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ và phát triển

môi trường, bảo tồn và khai thác cảnh quan tự nhiên, duy trì cân bằng sinh thái

Thứ năm, bản sắc văn hoá dân tộc được giữ gìn và phát triển, trong đó,

bảo tồn và phát triển các di sản văn hoá truyền thống của các dân tộc, các địa phương

Thứ sáu, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ

Như vậy, nông thôn mới được hiểu là nông thôn mà ở đó đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao, giảm dần

sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị Nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Nông thôn mới có kinh tế phát triển toàn diện, bền vững,

cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại, phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp, dịch vụ và đô thị Nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc, môi trường sinh thái được bảo vệ Sức mạnh của hệ thống chính trị được nâng cao, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội [14, tr.9]

1.1.3 Khái niệm quản lý nhà nước về nông thôn mới

Quản lý là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điều hành, hướng dẫn, các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để hướng đến mục đích, đúng ý chí và phù hợp với quy luật khách quan

Trang 22

13

Mục đích của quản lý là điều khiển, chỉ đạo chung con người, phối hợp các hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân tạo thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những mục tiêu định

trước Như vậy, ta có thể hiểu thuật ngữ quản lý: “Là sự tác động có chủ đích,

có tổ chức của chủ thể quản lý lên đối tượng bị quản lý và khách thể của quản

lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường”.[14, tr.5]

Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, các hành vi và hoạt động của mọi công dân,

tổ chức trong xã hội theo đường lối, quan điểm của Đảng cầm quyền nhắm duy trì và phát triển trật tự xã hội, bảo toàn, củng cố và phát triển quyền lực nhà nước

Theo quan điểm khác, quản lý nhà nước là sự quản lý bằng pháp luật của Nhà nước để thực hiện quyền lực nhà nước; là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội, hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa

Quản lý nhà nước được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp:

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước là hoạt động tổ chức, điều hành của

cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm luôn cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên phương diện lập pháp

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của cả cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành

vi của con người theo pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ quản lý nhà nước Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chấp hành, điều hành, tính chất hành chính

Trang 23

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là sự tác động có tổ chức

và bằng quyền lực nhà nước đối với các hoạt động xây dựng nông thôn mới

và các chủ thể có liên quan nhằm đảm bảo nông thôn phát triển đúng hướng, tạo sự phát triển bền vững và hiệu quả [13, tr.16]

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là một dạng của hoạt động quản lý nhà nước, có đối tượng là hoạt động xây dựng nông thôn mới, chủ thể thực thi là hệ thống các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức được trao quyền tác động quản lý thông qua các cơ chế, chính sách nhằm khai thác, huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của các thành phần kinh tế tham gia xây dựng nông thôn mới theo quan điểm, chủ trương của Đảng và mục tiêu thống nhất chung của cả nước

1.2 Khái quát ề xây dựng nông thôn mới

1.2.1 Vai trò của nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội

Xây dựng nông thôn mới là việc cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết số NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về

26-“Nông nghiệp, nông dân, nông thôn” nhằm hướng đến mục tiêu phát triển toàn diện, hài hòa và bền vững giữa kinh tế và xã hội, đặc biệt là giữa khu vực nông thôn với khu vực thành thị, không để khu vực nông thôn bị tụt hậu trong

sự nghiệp phát triển chung, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trang 24

15

Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng, nông nghiệp, nông dân và nông thôn nước ta đã đạt nhiều thành tựu to lớn Tuy nhiên, nhiều thành tựu đạt được chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế: Nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học - công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế Nông nghiệp, nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng như giao thông, thuỷ lợi, trường học, trạm y tế, cấp nước… còn yếu kém, môi trường ngày càng ô nhiễm Đời sống vật chất, tinh thần của người nông dân còn thấp, tỷ lệ

hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị còn lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp và nông thôn còn lạc hậu và đời sống nhân dân còn thấp và

“xây dựng nông thôn mới là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu

của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá quê hương, đất nước; đồng thời, góp phần cải thiện, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người dân sinh sống ở địa bàn nông thôn” Thông qua xây dựng nông thôn mới sẽ giúp

đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, xã hội ở vùng nông thôn, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn, bảo vệ quyền lợi hợp pháp và sự công bằng của đông đảo người nông dân, giải quyết các mâu thuẫn

xã hội ở nông thôn, giảm thiểu nhân tố bất ổn tạo cơ sở vững chắc cho xây

dựng nhà nước XHCN trong tương lai Cụ thể:

- Về kinh tế: Để nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến

thị trường và giao lưu, hội nhập Yêu cầu là kết cấu hạ tầng của nông thôn phải đồng bộ, hiện đại, nhằm tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán, khuyến khích mọi người tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị Hình thức sở hữu đa dạng, trong đó hình thức kinh tế tập thể như hợp tác xã, tổ hợp tác được chú trọng

Trang 25

16

Nhà nước quan tâm hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn

- Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật, gắn

xây dựng, hương ước, quy ước trên cơ sở phù hợp với pháp luật và đạo đức xã hội để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã Dân chủ ở cơ sở được phát huy tối đa, phát huy tính độc lập và tôn trọng hoạt động của các tổ chức đoàn thể chính trị- xã hội, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới

- Về văn hoá xã hội: Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giúp

nhau xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng Xây dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hoá khá giả, giàu có, là người công dân tốt

- Về môi trường: Xây dựng đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái Bảo

vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, môi trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển bền vững Các nội dung trên trong cấu trúc mô hình nông thôn mới có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Nhà nước đóng vai trò chỉ đạo, tổ chức điều hành quá trình hoạch định và thực thi chính sách, xây dựng đề án, cơ chế, tạo hành lang pháp lý, hỗ trợ vốn,

kỹ thuật, nguồn lực, tạo điều kiện, động viên tinh thần Nhân dân tự nguyện tham gia, chủ động trong thực thi chính sách Trên tinh thần đó, các chính sách kinh tế - xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình nông thôn mới [14, tr.10-11]

1.2.2 Mục tiêu xây dựng nông thôn mới

1) Xây dựng cộng đồng văn minh, có cơ cấu kinh tế hợp lý, các hình

thức tổ chức sản xuất tiên tiến

Trang 26

17

2) Gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ và du lịch; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; từng bước thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn

3) Xây dựng xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; trình độ dân trí được nâng cao; môi trường sinh thái được bảo vệ

4) Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện và nâng cao

1.2.3 Đặc điểm xây dựng nông thôn mới

Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn đề kinh tế - chính trị tổng hợp Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết, giúp đỡ nhau, xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh

Khi nghiên cứu quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới cần phải nhận thức rõ mục tiêu, đặc điểm, bản chất, chức năng của hoạt động xây dựng nông thôn mới Qua đó, thấy được vai trò của xây dựng nông thôn mới trong quá trình phát triển, cũng như xác định được vai trò, nội dung của quản lý nhà nước đối với xây dựng nông thôn mới Các đặc điểm xây dựng nông thôn mới là:

Một là, tính kinh tế

Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng hiện đại, hiệu quả bền vững trên cơ sở phát huy những lợi thế của nền nông nghiệp nhiệt đới Xây dựng nông thôn có nền sản xuất hàng hóa mở, hướng đến thị trường và giao lưu, hội nhập Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán.Thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người tham gia vào thị

Trang 27

18

trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự phân hóa giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn và thành thị, đời sống vật chất và tinh thần của dân cư nông thôn được nâng cao Sản xuất hàng hóa có chất lượng cao, mang nét độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương

Hai là, tính văn hóa – xã hội

Nông thôn phát triển theo quy hoạch, cơ cấu hạ tầng, kinh tế, xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ, các giá trị truyền thống làng xã được phát huy tối đa, tạo ra bầu không khí tâm lý xã hội tích cực, bảo đảm trạng thái cân bằng trong đời sống kinh tế - xã hội ở nông thôn, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội,….nhằm hình thành môi trường thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông thôn Xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư, giúp nhau xóa đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng Người nông dân có cuộc sống ổn định, giàu có, trình độ văn hóa, khoa học kỹ thuật và tay nghề cao, lối sống văn minh hiện đại nhưng vẫn giữ được nét giá trị văn hóa, bản sắc truyền thống “tắt lửa, tối đèn” có nhau, tin tưởng vào sự quản lý của nhà nước, tham gia tích cực mọi phong trào chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,

an ninh, quốc phòng, đối ngoại….nhằm vừa tự hoàn thiện bản thân, nâng cao chất lượng cuộc sống của gia đình, vừa góp phần xây dựng quê hương văn minh giàu đẹp

Ba là, tính dân chủ

Dân chủ nông thôn được mở rộng và đi vào thực chất Người dân và cộng đồng phát huy vai trò làm chủ trong quá trình giám sát, đánh giá hoạt động thực thi các dự án đầu tư tại địa phương Các chủ thể nông thôn (lao động nông thôn, chủ trang trại, hộ nông dân, các tổ chức phi chính phủ, nhà nước, tư nhân….) có khả năng, điều kiện và trình độ để tham gia tích cực vào các quá trình ra quyết định về chính sách phát triển nông thôn; thông tin minh

Trang 28

19

bạch, thông suốt và hiệu quả giữa các tác nhân có liên quan; phân phối công

bằng Người nông dân thực sự “được tự do và quyết định trên luống cày và

thửa ruộng của mình”, lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh và làm giàu

cho mình, cho quê hương theo đúng chính sách pháp luật của Nhà nước Phát huy dân chủ với tinh thần tôn trọng pháp luật, gắn lệ làng, hương ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự chủ của làng xã Phát huy tối đa Quy chế dân chủ ở cơ sở tôn trọng hoạt động của các hội, đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhắm huy động tổng lực vào xây dựng nông thôn mới

Bốn là, tính phối hợp

Xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn

xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng góp vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Đây là công việc mới, vừa làm vừa thí điểm rút kinh nghiệm, do đó sự phối hợp giữa các ngành, Mặt trận đoàn thể, Ban chỉ đạo và Ban quản lý xã phải chặt chẽ, đồng

bộ để hạn chế những thiếu sót Căn cứ vào đặc điểm tình hình cụ thể, lợi thế

và nhu cầu thiết thực của địa phương, của người dân để chọn nội dung nào làm trước, nội dung nào làm sau Phân công, phân cấp trong quản lý nhưng cần có sự chỉ đạo tập trung, liênn tục và huy động sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị; của Ban chỉ đạo các cấp trong công tác phối hợp, kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý xây dựng nông thôn mới, nhằm thúc đẩy thực hiện một cách hiệu quả

Năm là, tính định hướng

Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, các cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân tại địa phương bàn bạc dân

Trang 29

20

chủ để quyết định và tổ chức thực hiện Trên tinh thần đó, các chính sách kinh

tế - xã hội sẽ tạo hiệu ứng tổng thể nhằm xây dựng mô hình nông thôn mới Bên cạnh đó, nhà nước thực hiện thí điểm tại một số xã làm cơ sở để nhân rộng cho các xã còn lại, nhằm xây dựng thành công mô hình nông thôn mới

xã hội chủ nghĩa

Sáu là, tính đa dạng

Xây dựng nông thôn mới phải huy động tổng hợp các nguồn lực: vốn cộng đồng, vốn doanh nghiệp các tổ chức tín dụng xã hội, vốn nhà nước Vốn nhà nước chỉ đầu tư cho các công trình thiết yếu, có sức lan tỏa, tạo động lực, tạo niềm tin cho người dân và toàn xã hội tham gia Huy động nguồn lực từ cộng đồng là quyết định, sự tham gia của doanh nghiệp và xã hội là quan trọng, sự hỗ trợ từ ngân sách nhà nước là cần thiết Bên cạnh đó, đa dạng hình thức sở hữu, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành Hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ phù hợp với phương án sản xuất kinh doanh, phát triển ngành nghề ở nông thôn

1 Q ản lý nhà nướ ề xây dựng nông thôn mới

1.3.1 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05 tháng 8 năm 2008 của Hội nghị Trung ương 7 khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020 của Chính phủ là quyết tâm mạnh mẽ, thể hiện tầm nhìn chiến lược của Đảng và Nhà nước ta trong việc làm thay đổi diện mạo của nông thôn Việt Nam Xây dựng nông thôn mới là chủ trương có tầm chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa Về lý luận và

Trang 30

Một là, xây dựng nông thôn mới là vấn đề rộng lớn, phức tạp và mang

tính lâu dài, là chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; là cơ sở

và lực lượng bảo đảm phát triển kinh tế - xã hội bền vững, ổn định chính trị, giữ gìn an ninh, trật tự, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái ở nông thôn; công cuộc xây dựng nông thôn mới liên quan đến nhiều bộ ngành và các địa phương, đòi hỏi phải có sự tham gia của cả hệ thống chính trị và người dân, do vậy nhà nước giữ vai trò điều phối, phối hợp giữa các bên liên quan trong quá trình tổ chức triển khai thực hiện nhằm đạt hiệu quả và các mục tiêu đề ra

Hai là, định hướng trong đầu tư công, thực hiện các chính sách đảm bảo

về an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo, nâng cao các mặt đời sống của người dân vùng nông thôn thông qua thực lực kinh tế nhà nước, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và huy động các thành phần kinh tế khác cùng tham gia Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu tài sản quốc gia sẽ có chức năng quản lý, phân

bổ nguồn lực của đất nước, cung cấp những dịch vụ hàng hóa công mà thị trường tự do không đảm trách được, thông qua đó xóa bỏ chênh lệch giữa khu vực thành thị với nông thôn, kiểm soát và khai thác hiệu quả tài nguyên cho sản xuất nông nghiệp, phát triển kinh tế khu vực nông thôn

Ba là, xuất phát từ thực tế quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

và những hạn chế của hoạt động xây dựng nông thôn mới hiện nay Nhà nước can thiệp để kiểm soát xã hội nông thôn thông qua hoạch định ban hành

Trang 31

22

những cơ chế, chính sách, tạo hành lang khung pháp lý nhằm tối đa hóa phúc lợi của xã hội và hướng đến việc kích thích tăng trưởng kinh tế khu vực nông thôn, đồng thời với chuyển đổi nền tảng sản xuất của xã hội nông thôn, chăm

lo thực hiện các chính sách về văn hoá, giáo dục, môi trường, y tế cho người dân vùng nông thôn

1.3.2 Nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới cấp huyện

Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới là một dạng của hoạt động quản lý nhà nước, có đối tượng là hoạt động xây dựng nông thôn mới, chủ thể thực thi là hệ thống các cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức được trao quyền tác động quản lý thông qua các cơ chế, chính sách nhằm khai thác, huy động, sử dụng hiệu quả các nguồn lực của các thành phần kinh tế tham gia xây dựng nông thôn mới theo quan điểm, chủ trương của Đảng và mục tiêu thống nhất chung của cả nước

Nội dung quản lý về xây dựng nông thôn mới là biểu hiện những công việc mà Nhà nước làm để thực hiện vai trò, chức năng quản lý của nhà nước

về kinh tế - xã hội ở nông thôn

Xây dựng nông thôn mới là chương trình tổng hợp về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh Để triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, Chính phủ, Ban Chỉ đạo và các bộ, ngành ở Trung ương đã ban hành nhiều văn bản, làm cơ sở để các tỉnh chỉ đạo xây dựng nông thôn mới tại địa phương Theo đó, nội dung hoạt động quản lý nhà nước xây dựng nông thôn mới cấp huyện tập trung chủ yếu vào các công việc sau:

1.3.2.1.Xây dựng quy hoạch, kế hoạch, chương trình xây dựng nông thôn mới

xây dựng quy hoạch có ý nghĩa hết sức quan trọng, là cơ sở triển khai thực hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới được liên tục, thống nhất, đúng

Trang 32

23

với mục đích và yêu cầu đặt ra Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về “Nông nghiệp, nông dân, nông thôn”; Nghị quyết số 24/2008/NQ-CP ngày 28/10/2008 của Chính phủ về Chương trình hành động về xây dựng nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2010 - 2020 và Quyết định số 193/QĐ-TTg ngày 02/2/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới

là căn cứ để các bộ, ngành và địa phương quản lý, xây dựng các chương trình hành động, xây dựng quy hoạch, kế hoạch định hướng cho đầu tư phát triển phù hợp với điều kiện của từng khu vực, vùng miền, đảm bảo phát triển sản xuất hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới

Công cụ để thực hiện chức năng của nhà nước về xây dựng nông thôn mới là trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, các chương trình mục tiêu và các dự án ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội

Để thực hiện định hướng phát triển nhà nước cần tiến hành:

- Phân tích, đánh giá thực trạng của hoạt động xây dựng nông thôn mới, những nhân tố trong nước và quốc tế có ảnh hưởng đến quá trình thực hiện các tiêu chí trong Bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng nông thôn mới

- Dự báo chiều hướng phát triển nông nghiệp, nông thôn

- Hoạch định xây dựng nông thôn mới gồm: hoạch định đường lối phát triển, hoạch định chính sách phát triển, chương trình mục tiêu và dự án để phát triển nông thôn

Xây dựng nông thôn mới cần có kế hoạch tổng thể để dẫn đường, chỉ đạo đi đúng hướng ngay từ bước đầu, đảm bảo các công việc được triển khai thống nhất theo đúng trình tự Mỗi địa phương căn cứ vào tình hình thực tế để

Trang 33

tư để việc xây dựng nông thôn mới theo đúng định hướng chỉ đạo và thống nhất trong cả nước

Vấn đề đặt ra là việc lập quy hoạch phải đảm bảo trên cơ sở quan điểm chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước, phù hợp với điều kiện và tiềm năng của địa phương

Nếu quy hoạch không đi trước một bước và không có chất lượng thì xây dựng nông thôn mới sẽ gặp khó khăn và không thể hoàn thành mục tiêu, từ đó vấn đề quy hoạch nông thôn mới là khâu quan trọng, có ý nghĩa quyết định trong vấn đề xây dựng nông thôn mới

1.3.2.2 Ban hành pháp luật cụ thể hóa và tổ chứa thực hiện các văn bản pháp luật

Trong xây dựng nông thôn mới, các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện nghiên cứu xây dựng, ban hành chính sách nhằm cụ thể hóa và hỗ trợ thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới dựa trên cơ sở Hiến pháp, pháp luật và những hướng dẫn, chỉ đạo của Trung ương

Trang 34

an ninh để người dân nông thôn được hưởng đầy đủ các chế độ phúc lợi xã hội

Việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật trong hoạt động xây dựng nông thôn mới nhằm điều hành và quản lý hoạt động xây dựng nông thôn mới một cách thống nhất Trên cơ sở Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn thời kì 2001 – 2010; Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 5 tháng 8 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định

số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới; các Nghị quyết, Nghị định của Chính phủ; Quyết định, chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ; Thông tư và quyết định của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, chính quyền địa phương ra các quyết định nhằm điều chỉnh các hoạt động xây dựng nông thôn mới tại địa phương, xác định quyền và nghĩa vụ của các tổ chức, cá nhân xây dựng nông thôn mới

- Xây dựng đồng bộ và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tạo môi trường pháp lý cho quá trình xây dựng nông thôn mới Tổ chức, quản

lý các hoạt động phát triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn; thực hiện các hoạt động nhằm hỗ trợ, thúc đẩy quá trình phát triển nông thôn Huy động

Trang 35

26

và quản lý các nguồn vốn xây dựng nông thôn mới Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức trong quá trình dựng nông thôn mới

1.3.2.3 Tổ chức bộ máy Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

Khi đề cập đến hoạt động quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới, một trong những nhân tố quan trọng có tính chất quyết định là vấn đề tổ chức bộ máy quản lý xây dựng nông thôn mới Đó là một chính thể gồm các

bộ phận có chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn khác nhau, được bố trí thành từng cấp, từng khâu để thực hiện chức năng quản lý theo mục tiêu đã xác định Bộ máy quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới thực hiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tập trung thống nhất trên phạm vi cả nước Đây là nội dung quan trọng bởi bộ máy quản lý nhà nước được kiện toàn thì các công tác định hướng, tổ chức hoạt động hỗ trợ, kiểm tra và giám sát mới được thực hiện tốt Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới gồm:

- Ở Trung ương có Ban Chỉ đạo và Thường trực Ban Chỉ đạo chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới do Phó Thủ tướng Chính phủ làm Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương cũng đã ban hanh quyết định thành lập Văn phòng Điều phối của Trung ương,

- Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có Ban Chỉ đạo do Bí thư tỉnh/thành ủy hoặc Chủ tịch UBND tỉnh/thành phố làm Truởng ban Ban Chỉ đạo các tỉnh, thành đều thành lập Bộ phận giúp việc theo một trong 03 hình thức (Ban Xây dựng NTM hoặc Văn phòng điều phối hoặc Ban Chỉ đạo)

- Cấp huyện có Ban Chỉ đạo do đồng chí Bí thư huyện ủy hoặc Chủ tịch UBND huyện làm Trưởng ban Bộ phận giúp việc đặt trong phòng Nông nghiệp huyện

Trang 36

27

- Cấp xã có Ban Chỉ đạo do đồng chí Bí thư Đảng ủy xã làm Trưởng ban và Ban Quản lý xây dựng nông thôn mới do đồng chí Chủ tịch UBND xã làm Trưởng ban

Ban Chỉ đạo các cấp có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và nhu cầu kinh phí thực hiện chương trình, đồng thời chỉ đạo các ngành, đơn vị chuyên môn cùng cấp xây dựng, hoàn thiện và hướng dẫn các cơ chế chính sách liên quan đến xây dựng nông thôn mới

Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình tổ chức đội ngũ quản lý nhà nước chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới; ban hành hướng dẫn chính sách phát triển nông thôn tại địa phương; áp dụng các biện pháp cần thiết để duy trì an ninh, ổn định xã hội và vệ sinh môi trường tạo điều kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện các tiêu chí nông thôn mới

1.3.2.4 Tổ chức chỉ đạo thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới

Triển khai và tổ chức thực hiện xây dựng NTM là hướng tới mục tiêu thực hiện 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ban hành tại Quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16 tháng 4 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ Đồng thời Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách,

cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức

Trang 37

28

bộ quản lý nhà nước, những người trực tiếp điều hành các hoạt động xây dựng nông thôn mới Đội ngũ này được cập nhật các kiến thức liên quan đến hoạt động xây dựng nông thôn mới và các hiểu biết về xây dựng nông thôn mới không chỉ có những tiêu chuẩn chung cũng như là kinh nghiệm quản lý, kiến thức chuyên môn mà cần có những kinh nghiệm thực tế trong quá trình xây dựng nông thôn mới

Công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới có vị trí đặc biệt quan trọng, đóng vai trò thúc đẩy, tạo bước chuyển mạnh mẽ về năng lực, trình độ đội ngũ này, nên cơ quan nhà nước các cấp phải thường xuyên mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới Nội dung của công tác này bao gồm:

+ Từng bước xây dựng đội ngũ có đủ năng lực điều hành, năng động và sáng tạo; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, khen thưởng, kỷ luật đối với đội ngũ quản lý nhà nước và xây dựng nông thôn mới

+ Có chính sách đào tạo phát triển nguồn nhân lực quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới thông qua chương trình đào tạo mới và đào tạo lại nguồn nhân lực hiện có

+ Có chính sách khuyến khích, ưu đãi đặc biệt để thu hút nhân tài tham gia vào đội ngũ quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

+ Tổ chức các lớp tập huấn nội dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới cho đội ngũ nhân lực phụ trách xây dựng nông thôn mới tại địa phương

1.3.2.6 Công tác tuyên truyền, vận động xây dựng nông thôn mới

Tuyên truyền, vận động là yêu cầu cần thiết để đội ngũ cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên và nhân dân hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng, mục tiêu phương pháp, cách làm xây dựng nông thôn mới, từ đó tự giác, chủ động

Trang 38

29

tham gia với nhà nước Xây dựng nông thôn mới là chủ trương lớn, phức tạp lần đầu tiên được thực hiện ở nước ta, do vậy các cấp ủy Đảng, chính quyền phải làm tốt công tác tuyên truyền, vận động người dân và các thành phần kinh tế cùng tham gia Thủ tướng Chính phủ đã phát động phong trào thi đua

“Cả nước chung sức xây dựng nóng thôn mới”, nhiều bộ, ngành và tỉnh, thành

đã hưởng ứng, cụ thể hóa thành phong trào thi đua ở đơn vị, địa phương có tác động rất lớn đến sự quan tâm, hỗ trợ các nguồn lực và động viên tinh thần của toàn xã hội đối với nông dân, nông thôn Ban Chỉ đạo các cấp đã chủ động biên tập các quyển sổ tay hướng dẫn, tài liệu hỏi đáp tập huấn, tuyên truyền đến các cấp, các ngành và người dân Các báo, đài tăng cường đưa các tin bài, phóng sự, xây dựng các chuyên trang, chuyên mục phố biến các hoạt động của chương trình Ủy ban Mặt trận và các đoàn thể vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân thực hiện các cuộc vận động, phong trào gắn với thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới Công tác tuyên truyền, vận động giúp cán bộ, nhân dân nhận thức đúng đắn về chương trình, từ đó thay đổi nếp nghĩ, khắc phục tư tưởng trông chờ, ỷ lại vào nhà nước, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo để biến chương trình thành phong trào rộng lớn trong

cả nước

1.3.2.7 Kiểm tra, giám sát và tổng kết xây dựng nông thôn mới

Kiểm tra, giám sát là chức năng cơ bản và quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước nói chung, trong đó có quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới Quản lý nhà nước đối với nội dung này chính là việc các ban chỉ đạo, cơ quan nhà nước Trung ương và địa phương tiến hành kiểm tra, giám sát để đánh giá tính hiệu quả, tính thực tế của đường lối, chủ trương, chính sách đề ra Nếu thực hiện tốt công tác kiểm tra, giám sát, sẽ giúp phát hiện những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện và kịp thời đề xuất biện pháp để điều chỉnh, sửa chữa những sai sót xây dựng nông thôn mới theo

Trang 39

30

chương trình, kế hoạch Kiểm tra, giám sát thường xuyên còn giúp tránh việc

xu hướng các địa phương chạy theo bệnh thành tích, nôn nóng, làm vội, làm

ẩu hoặc đề ra nhiệm vụ, chỉ tiêu vượt quá khả năng, không phù hợp với lộ trình phấn đấu [13, tr.24]

Việc kiểm tra, giám sát các hoạt động thực hiện quá trình xây dựng nông thôn mới cần tiến hành:

- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách,

kế hoạch và pháp luật của nhà nước về nông thôn mới

- Kiểm tra, giám sát việc sử dụng các nguồn lực của nhà nước

- Kiểm tra, giám sát việc xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật

- Kiểm tra, giám sát công tác quy hoạch

- Kiểm tra, giám sát về kinh tế và tổ chức sản xuất

- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện các chức năng và việc tuân thủ pháp luật của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới

1.4 Kinh nghiệm q ản lý nhà nướ ề xây dựng nông thôn mới trên thế giới à một số địa phương trong nướ

1.4.1 Trên thế giới

1.4.1.1 Trung Quốc

Từ đầu năm 2010, Trung Quốc chỉ đạo xây dựng 10 làng mẫu, những làng đầu tiên có thiết kế kiến trúc “thô cứng”, đường thẳng tắp, dân cư chia thành các ô bàn cờ vuông vức, kiến trúc các nhà dân theo một số kiểu giống nhau, ít cây xanh và không gian cảnh quan công cộng xen kẽ Do đó nó giống phố hơn làng Những làng xây dựng về sau có tiếp thu được nhiều ý kiến đóng góp nên quy hoạch kiến trúc cảnh quan giống resort hơn Bất kể làng mới nào cũng có điểm nổi bật là: Hạ tầng công cộng rất đầy đủ và hiện đại, nhất là đường sá, trụ sở, khu thể thao, khu vui chơi giải trí, dịch vụ

Trang 40

31

Vai trò nhà nước thể hiện ở chỗ chỉ đạo xây dựng chương trình quy hoạch, tổ chức thực hiện quy hoạch: tập trung dân cư vào khu vực có phong thủy tốt, hỗ trợ đầu tư hạ tầng công cộng; nhà nước cấp đất để dân xây dựng nhà ở, chi phí xây dựng do người dân tự lo nhưng phải xây dựng theo quy hoạch, kiến trúc; mỗi hương, xã đều có ít nhất 2-3 kỹ sư xây dựng và kiến trúc sư của Nhà nước ở tại đó đã hướng dẫn và giám sát xây dựng Do đó các làng mới đều rất đẹp, không chỉ hiện đại, văn minh mà vẫn mang đầy đủ bản sắc nông thôn Các làng mẫu của Trung Quốc đã đón hàng chục triệu khách trong nước và quốc tế đến tham quan học tập Hình ảnh những làng mới như vậy đối nghịch rất nhiều với những làng “cũ” chưa làm NTM Chính quyền Trung Quốc cho biết: Họ xây dựng mô hình làng mới đó để thay đổi tư duy cho người Trung Quốc, rằng: NTM là phải như thế và có thể làm được Nơi

có điều kiện, cán bộ giỏi thì có thể hoàn thành trong 5-7 năm Nơi kém thì có thể sau 50 năm cũng không sao cả Tuy nhiên đến nay đã hình thành hàng chục ngàn làng mới và rất nhiều làng còn đẹp hơn các làng mẫu ban đầu

- Chính sách thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn Chính phủ Trung Quốc xác định: Xây dựng NTM là công trình thế kỷ, liên quan đến lợi ích của gần 1 tỷ nông dân, phạm vi xây dựng rộng, nội dung thực hiện lớn, lại tiến hành trong tình hình nguồn tài chính quốc gia trợ cấp không thể đủ nên việc phải làm thế nào để các tầng lớp xã hội, đặc biệt là doanh nghiệp công - thương thấy được lợi ích từ phong trào này mà tham gia đầu tư, tài trợ mạnh mẽ, thì khi đó xây dựng NTM mới có thể thành công Mặt khác một trong những nhiệm vụ quan trọng của xây dựng NTM là phải phát triển, hiện đại hóa nông nghiệp Ngoài việc hiện đại hóa hạ tầng sản xuất như: thủy lợi, đường sá, thông tin, chế biến, xử lý ô nhiễm môi trường…thì cần phải chuyên môn hóa, thâm canh cho các sản phẩm chủ lực của địa phương, gắn kết được thị trường trong nước và quốc tế…thì mới có điều kiện tăng sức

Ngày đăng: 18/12/2017, 13:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2008), Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 26 – NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ 7 BCH Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Năm: 2008
6. Bộ Xây dựng - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài nguyên và Môi trường (2011), Thông tư liên tịch số 13/2011/TTL T-BXD- BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011 quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư liên tịch số 13/2011/TTL T-BXD-BNNPTNT-BTN&MT ngày 28/10/2011 quy định việc lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch xây dựng xã nông thôn mới
Tác giả: Bộ Xây dựng - Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn - Bộ Tài nguyên và Môi trường
Năm: 2011
2. Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Gò Quao tỉnh Kiên Giang (2015), Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
3. Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang (2016), Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
4. Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tỉnh Kiên Giang (2016), Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
5. Ban chỉ đạo chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang (2016), Báo cáo tổng kết thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác
7. Cục Thống kê tỉnh Kiên Giang(2016), Niên giám thống kê huyện Giang Thành 2015 Khác
8. Đảng bộ huyện Giang Thành (2015), Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XII Khác
9. Đảng bộ huyện Giang Thành (2015), Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Giang Thành lần thứ XII nhiệm kỳ 2015 – 2020 Khác
10. Đảng bộ Tỉnh Kiên Giang (2015), Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ Tỉnh Kiên Giang lần thứ X nhiệm kỳ 2015 – 2020 Khác
11. Huyện ủy Giang Thành (2013), Kế hoạch Số 62-KH/HU xây dựng xã nông thôn mới giai đoạn 2012-2015 và tầm nhìn đến năm 2020 Khác
12. Huyện ủy Giang Thành (2012), Nghị quyết số 05 về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2012-2015 và tầm nhìn đến năm 2020 Khác
16. UBND tỉnh Kiên Giang (2013), Quyết định số 1857/QĐ-UBND, ngày 29/7/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang về ban hành Bộ tiêu chí về nông thôn mới tỉnh Kiên Giang Khác
17. UBND tỉnh Kiên Giang (2013), Quyết định số 2453/QĐ-UBND, ngày 14/10/2013 của Chủ tịch UBND tỉnh Kiên Giang, về việc ban hành hướng dẫn thực hiện cơ chế đầu tư chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo Thông tư 03/2013/TT-BKHĐT của Bộ Kế hoạch Đầu tư Khác
18. UBMT Tổ quốc Việt Nam( 2015), Báo cáo tổng kết phong trào thi đua thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011-2015 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm