1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (tt)

26 189 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 367,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ HỒNG NHO

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số : 60 34 04 03

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 2

Luận văn được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn: PGS, TS Vũ Trọng Hách

Phản biện 1: TS Nguyễn Thị Thủy

Phản biện 2: TS Đào Thị Trúc Anh

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia

Địa điểm: phòng 11, nhà A, Học viện Hành chính Quốc gia cơ sở

TP Hồ Chí Minh.Thời gian: lúc 15 giờ ngày 21 tháng 7 năm 2017

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Bình đẳng giới là một trong những vấn đề cơ bản của quyền con người, xã hội ngày càng phát triển và văn minh thì bình đẳng giới càng được chú trọng và thể hiện ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và đang trở thành mối quan tâm chung của hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, vì bình đẳng giới là mục tiêu phát triển, là yếu tố nâng cao khả năng tăng trưởng của quốc gia, góp phần quản lý nhà nước hiệu quả Xây dựng xã hội bình đẳng giới là một phần quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước, nâng cao chất lượng cuộc sống, đảm bảo công bằng xã hội

Trong các văn kiện qua các kỳ đại hội Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ XII của Đảng chỉ rõ: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần của phụ nữ Nghiên cứu, bổ sung

và hoàn thiện các luật pháp, chính sách đối với lao động nữ, tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò của mình; tăng tỉ lệ phụ nữ tham gia vào cấp ủy và bộ máy quản lý nhà nước Kiên quyết đấu tranh chống các tệ nạn xã hội và các hành vi bạo lực, buôn bán, xâm hại và xúc phạm nhân phẩm phụ nữ” và quyền bình đẳng giới cũng được Hiến pháp 2013 quy định “công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới”

Thời gian qua, hoạt động quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã được các ngành, các cấp quan tâm tổ chức, thực hiện Tuy nhiên, vấn đề phân biệt đối

xử với phụ nữ, bất bình đẳng giới vẫn còn diễn ra trong nhiều lĩnh vực, là rào cản lớn đối với phụ

nữ, kìm hãm sự phát triển của phụ nữ Phần lớn phụ nữ vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi cả trong gia đình và xã hội, khoảng cách về giới giữa nam và nữ vẫn chưa xóa được… Đảng, Nhà nước có sự quan tâm tăng cường công tác lãnh đạo, quản lý về bình đẳng giới, nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều mặt vẫn chưa thực hiện tốt như: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này vẫn chưa có sự đồng bộ, việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, chương trình, kế hoạch về bình đẳng giới của địa phương nhằm cụ thể hoá chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới có thực hiện nhưng vẫn chưa được chú trọng; việc tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học trong lĩnh vực giới và bình đẳng giới còn ít, do đó hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới là rất cần thiết

Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề phân biệt đối xử với phụ nữ, bất bình đẳng giới vẫn còn diễn ra trong nhiều lĩnh vực, là rào cản lớn đối với phụ nữ, kìm hãm sự phát triển của họ trên nhiều lĩnh vực đời sống Phần lớn phụ nữ vẫn còn chịu nhiều thiệt thòi cả trong gia đình và xã hội, khoảng cách về giới giữa nam và nữ vẫn chưa xóa được… do tàn dư của thời phong kiến đã ăn sâu trong tiềm thức của người Việt, nhận thấy được ảnh hưởng của bình đẳng

Trang 4

giới nên trong những năm gần đây Đảng, Nhà nước tăng cường sự quan tâm trong công tác lãnh đạo, quản lý về bình đẳng giới và đã đạt được một số kết quả tích cực Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì vấn đề về quản lý nhà nước về bình đẳng giới còn nhiều mặt vẫn chưa được thực hiện tốt như: Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này chưa có sự đồng bộ; thiếu cán bộ chuyên trách, cán bộ thiếu kiêm nhiệm; kinh phí chưa đáp ứng yêu cầu, những quy định về nội dung lẫn chế tài chưa đủ mạnh để đảm bảo bình đẳng giới, nhiều cơ quan, đơn vị hay trong cộng đồng dân cư vấn đề bình đẳng giới chưa được hiểu và thực hiện đúng quan điểm của Đảng; việc ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, chương trình, kế hoạch về bình đẳng giới của địa phương và cụ thể hoá chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới có thực hiện nhưng vẫn hiệu quả chưa cao; việc tổ chức nghiên cứu khoa học, ứng dụng khoa học trong lĩnh vực giới và bình đẳng giới còn ít

Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết nhằm đưa ra những quan điểm, giải pháp góp phần thực hiện bình đẳng giới, khắc phục những bất cập và tồn tại trong việc “Quản lý nhà nước về bình đẳng giới” trong thời gian tới, với lý do đó học viên chọn đề tài Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang để làm luận văn thạc s chuyên ngành quản lý công, mã số 60 34 04 03.

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Bình đẳng giới là một trong những nội dung quan trọng nhất của mục tiêu tiến bộ, công bằng xã hội Bởi đây không chỉ là vấn đề nhận được sự quan tâm chung của cộng đồng thế giới mà còn xuất phát từ đặc điểm Việt Nam là một nước Châu Á, những hậu quả nặng nề của “trọng nam khinh nữ” của chế độ phong kiến vẫn còn ảnh hưởng nhiều trong xã hội

Ngày nay, phụ nữ chiếm hơn một nữa dân số cả nước, đang ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại

Trang 5

hóa đất nước Vì vậy bình đẳng giới là vấn đề càng có ý nghĩa quan trọng khi nước ta đang bước vào giai đoạn của tiến trình đổi mới, khi chúng ta thực hiện giao lưu, hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực, đặc biệt là việc quản lý nhà nước về bình đẳng giới cũng cần nghiên cứu và vận dụng việc quản lý của nền hành chính các nước thực hiện quy trình quản lý hiệu quả Vì vậy, việc nghiên cứu về bình đẳng giới tiếp tục là đề tài được nhiều người quan tâm nghiên cứu nhằm khẳng định địa vị của người phụ nữ và tạo cơ hội cho phụ

nữ đóng góp cho sự nghiệp đổi mới đất nước Nhiều công trình, đề tài được công bố là một trong những cơ sở giúp cho việc hoàn thiện quản lý nhà nước

về bình đẳng giới

Một số công trình, đề tài nghiên cứu tiêu biểu là: Lê Ngọc Hùng: “Xã hội học về giới và phát triển”, Nxb Quốc gia Hà Nội, năm 2000; Lương Phan Cừ: “Bình đẳng giới - hiện trạng chính sách và pháp luật về bình đẳng giới”, xuất bản năm 2004; TS Đỗ Thị Thạch “Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Nxb Chính trị quốc gia năm 2005; TS Hoàng Mai “Bình đẳng giới trong quản lý cán bộ công chức”

đề cập việc đánh giá bình đẳng giới trong quản lý cán bộ công chức ở Việt Nam; Ths Nguyễn Thị Nguyệt, đề tài “Bất bình đẳng giới về thu nhập của người lao động ở Việt Nam và một số gợi ý giải pháp chính sách” tập trung nghiên cứu các vấn đề sau: Xu hướng của bất bình đẳng trong thu nhập hiện nay; Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ bất bình đẳng trong thu nhập đồng thời phân tích các chỉ tiêu theo trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, vùng, ngành kinh tế để đưa ra được gợi ý giải pháp phù hợp; Nguyễn Thị Hồng Linh, đề tài “Quản lý nhà nước về bình đẳng giới – thực trạng tại thành phố Cần Thơ” nghiên cứu thực trạng việc quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại thành phố Cần Thơ và đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước

về bình đẳng giới trên địa bàn thành phố; Luận văn Thạc sĩ Quản lý nhà nước: Vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ đối với việc tăng cường sự tham gia

Trang 6

quản lý nhà nước của phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tác giả Nguyễn Thị Liên Luận văn phân tích làm sáng tỏ vị thế, vai trò của người phụ nữ Việt Nam trong quản lý nhà nước; chỉ ra những mặt mạnh

hà hạn chế của phụ nữ trong quản lý nhà nước, phân tích nguyên nhân, qua

đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong thúc đẩy phụ nữ tham gia quản lý nhà nước trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Báo cáo phát triển giới năm

2012, chuyên đề bình đẳng giới và phát triển của Ngân hàng Thế giới: đánh giá tầm quan trọng của bình đẳng giới đối với sự phát triển, những khu vực trên thế giới tiến bộ nhất và chậm tiến bộ nhất về bình đẳng giới

Các công trình nghiên cứu và các bài viết trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề Tuy nhiên các công trình này chủ yếu tập trung vào vấn đề bình đẳng giới ở một số lĩnh vực như: lĩnh vực chính trị, lao động việc làm; lĩnh vực gia đình đối tượng nghiên cứu phần lớn các công trình này là các mục tiêu của bình đẳng giới và vai trò của phụ nữ trong quản lý nhà nước Đặc biệt chưa có công trình nghiên cứu về vấn đề bình đẳng giới ở tỉnh Kiên Giang Dựa trên cơ sở nền tảng lý luận có sự tham khảo tiếp thu, phát triển và nghiên cứu áp dụng vào thực tiễn quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại tỉnh Kiên Giang

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Mục đích

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn quản lý nhà nước về bình đẳng giới để phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới của tỉnh Kiên Giang, góp phần đề xuất một hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh

Nhiệm vụ

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Trang 7

+ Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới; nhận xét đánh giá những thành tựu, những hạn chế trong quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 2011 – 2016

+ Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi về không gian: trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Phạm vi về thời gian: từ năm 2011 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà Nước về giới và bình đẳng giới

Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: nghiên cứu các báo cáo, tài liệu, số liệu của các cơ quan quản lý, cơ quan Đảng và tổ chức chính trị - xã hội để làm rõ vấn đề

- Phương pháp phân tích: phân tích các báo cáo, tài liệu, số liệu có liên quan đến bình đẳng giới và quản lý về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh

- Phương pháp thống kê, thu thập và xử lý số liệu thống kê: trên cơ sở số liệu thu nhập được, xử lý số liệu và lấy số liệu thống kê một cách khoa học

- Phương pháp tổng hợp: thu thu thập và tổng hợp các tài liệu, số liệu có liên quan của các cơ quan, tổ chức có liên quan

Trang 8

- Phương pháp so sánh: dựa trên cơ sở số liệu về kết quả thực hiện bình đẳng giới qua các giai đoạn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, tác giả đã tiến hành

so sánh với các chỉ tiêu đề ra của tỉnh và của cả nước để đánh giá kết quả thực hiện qua các giai đoạn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề về giới, lý luận quản lý nhà nước về bình đẳng giới Phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, chỉ ra những kết quả đạt được và nguyên nhân hạn chế

Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đánh giá thực tiễn quản lý nhà nước, phân tích những kết quả và yếu kém, đưa ra những giải pháp thiết thực từ góc độ quản lý trực tiếp công tác bình đẳng giới tại địa phương Các giải pháp của luận văn sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Kết quả nghiên cứu của luận văn cũng là tài liệu của những người quan tâm đến hoạt động bình đẳng giới kham khảo, nghiên cứu và học tập

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu kham khảo nội dung của luận văn được chia thành ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Trên cơ sở những lý do nêu trên Học viên lựa chọn đề tài “Quản lý nhà nước về bình

đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” vừa có tính lý luận và thực tiễn để làm luận văn tốt

nghiệp cao học quản lý công

Trang 9

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Qua nghiên cứu và thu thập tài liệu có liên quan, cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đã công bố của các nhà quản lý nhà nước, các nhà khoa học, chuyên gia viết

về quản lý nhà nước đối với quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên nhiều luận văn, luận án, đề tài, tạp chí, trên các website, trong các báo cáo tại các hội nghị, hội thảo chuyên ngành về vấn đề này của Việt Nam nói chung cũng như của tỉnh Kiên Giang nói riêng

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

Để thực hiện mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận quản lý nhà nước về bình đẳng giới

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới; nhận xét đánh giá những thành tựu, những hạn chế trong quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 2011 – 2016

- Đề xuất hệ thống giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu hoạt động quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: về bình đẳng giới

- Về không gian: trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

- Thời gian nghiên cứu: 2011 – 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về giới và bình đẳng giới

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trang 10

- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể như phân tích, thống kê, tổng hợp so

sánh

- Phương pháp tiếp cận và thu nhập thông tin tài liệu sơ cấp, thứ cấp, phân tích, diễn giải

và bình luận, đánh giá theo phương pháp lịch sử qua các giai đoạn phát triển

- Phương pháp kết hợp lý luận và thực tiễn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận:

Luận văn góp phần hệ thống hóa những vấn đề lý luận quản lý nhà nước về bình đẳng giới Phân tích đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, chỉ ra những kết quả đạt được của nguyên nhân hạn chế

6.2 Ý nghĩa thực tiển:

Luận văn đề xuất các hệ thống giải pháp về hoàn thiện quản lý nhà nước trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Kết quả nghiên cứu của luận văn làm tài liệu nghiên cứu, học tập lĩnh vực bình đẳng giới

Ngoài ra, Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản lý, giảng dạy,

nghiên cứu của Học viện Hành chính Quốc gia, những người làm công tác thực tế và sinh viên, học viên trong các cơ sở đào tạo bồi dưỡng cán bộ, công chức

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu kham khảo nội dung của luận văn được chia thành ba chương như sau:

Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Chương 1

CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

1.1 Những khái niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm giới

Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì “giới chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” (36, tr.1); còn “giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam

và nữ” (36, tr.1)

1.1.2 Bình đẳng giới

Trang 11

Bình đẳng giới có nghĩa là những ứng xử, những khát vọng và những nhu cầu khác nhau của phụ nữ và nam giới đều được cân nhắc đánh giá và ủng hộ như nhau Bình đẳng giới không

có nghĩa nữ giới và nam giới trở thành như nhau, nhưng các quyền, trách nhiệm và các cơ hội của họ không phụ thuộc họ sinh là nam giới hay nữ giới Theo luật Bình đẳng giới, “Bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của

sự phát triển đó” [36, tr.1]

- Định kiến giới: khác biệt giới là do con người tạo nên Mỗi xã hội, con người có những suy nghĩ, quan niệm và những mong đợi khác nhau đối với phụ nữ và nam giới Những suy nghĩ, quan niệm và mong đợi này thường thiên lệch, cố hữu, lặp đi lặp lại nhiều lần và được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác qua quá trình xã hội hóa mà hình thành, nó là định kiến giới Theo Luật bình đẳng giới “định kiến giới là nhận thức, thái độ và đánh giá thiên lệch, tiêu cực về đặc điểm, vị trí, vai trò và năng lực của nam và nữ” [36, tr.1]

- Lồng ghép giới: Theo Hội đồng kinh tế và xã hội của Liên hiệp quốc đưa ra năm 1997, lồng ghép giới là “một chiến lược làm cho các mối quan tâm và kinh nghiệm của phụ nữ cũng như nam giới, là một phần không thể tách rời trong thiết kế, thực hiện, giám sát và đánh giá các chính sách, chương trình trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế và xã hội, làm cho phụ nữ và nam giới có thể hưởng lợi như nhau và bất bình đẳng không tồn tại lâu dài” [28, tr.2]

1.1.3 Quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới là sự tác động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực bình đẳng giới nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới Các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về bình đẳng giới được quy định trong Luật bình đẳng giới, Nghị định thi hành Luật bình đẳng giới và một số văn bản quy phạm pháp luật khác

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới xác lập sự can thiệp của nhà nước trong lĩnh vực này, các vấn đề bình đẳng giới trở thành đối tượng quản lý của nhà nước Thông qua đó nhà nước thể hiện quan điểm, thái độ, định hướng của mình đối với việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

1.1.4 Đặc điểm quản lý nhà nước bình đẳng giới

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới là một dạng quản lý đặc biệt thực hiện trên nhiều phương diện, lĩnh vực, các nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới so với quản lý khác, quản lý nhà nước về bình đẳng giới cần thực hiện trên nhiều lĩnh vực cả về kinh tế, chính trị, giáo dục, y tế,…

1.2 Sự cần thiết của quản lý nhà nước về bình đẳng giới

1.2.1 Nhà nước định hướng hoạt động bình đẳng giới

Từ trước đến nay Đảng, Nhà nước ta rất quan tâm thực hiện vấn đề bình đẳng giới Điều này đã được thể hiện trong: Hiến pháp năm 2013 xác định tại khoản 1 của Điều 26 là: “Công dân nam, nữ bình đẳng giới Nhà nước, xã hội và gia đình tạo điều kiện để phụ nữ phát triển toàn

Trang 12

diện, phát huy vai trò của mình trong xã hội Nghiêm cấm phân biệt đối xử về giới Nghị quyết

số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 27/4/2007 về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá đất nước; năm 2006 Nhà nước đã ban hành Luật Bình đẳng giới nhằm đạt mục tiêu xoá bỏ sự phân biệt đối xử về giới; Luật phòng, chống bạo lực gia đình, Bộ Luật Lao động; Luật Hôn nhân và Gia đình

1.2.2 Nhà nước hỗ trợ đảm bảo bình đẳng giới

Vấn đề bình đẳng giới được thể chế hoá trong hầu hết các văn bản pháp luật, đã tạo cơ sở pháp lý, tạo điều kiện và cơ hội trao quyền bình đẳng cho cả nam và nữ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội, như: Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội, Pháp lệnh cán bộ, công chức, … và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác như các nghị định, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; nhiều văn bản quy phạm pháp luật thuộc các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đã có những quy định riêng cho phụ nữ, tạo điều kiện đảm bảo cho việc thực hiện bình đẳng giới

1.2.3 Nhà nước can thiệp đảm bảo bình đẳng giới

Cùng với việc hỗ trợ đảm bảo bình đẳng giới, nhà nước can thiệp và xử lý vi phạm, tại chương V, Luật Bình đẳng giới đã quy định về thanh tra, giám sát thực hiện pháp luật bình đẳng giới, đồng thời quy định hành vi vi phạm, hình thức xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới,…

và để cụ thể nội dung của Luật, Chính phủ đã ban Nghị định 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính về bình đẳng giới, nghị định quy định rõ các hành

vi vi phạm hành chính về bình đẳng giới và quy định mức xử phạt hành chính khi vi phạm

1.3 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Theo Luật Bình đẳng giới quy định quản lý nhà nước về bình đẳng giới gồm các nội dung: xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, chính sách, mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới; ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới; ban hành và

tổ chức thực hiện các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giớ; tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bình đẳng giới; xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hoạt động về bình đẳng giới; thanh tra, kiểm tra thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới; thực hiện công tác thống kê, thông tin, báo cáo về bình đẳng giới và hợp tác quốc tế về bình đẳng giới

Qua đó, cho thấy quản lý nhà nước về bình đẳng giới gồm rất nhiều nội dung Có thể xem xét các nội dung đó dựa trên các phương diện cơ bản sau:

Thứ nhất, hoạch định chính sách chiến lược, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới

Thứ hai, tổ chức thực hiện bình đẳng giới

Thứ ba, tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật về bình đẳng giới

Thứ tư, tổ chức bộ máy và bố trí nguồn lực hoạt động bình đẳng giới

Trang 13

Thứ năm, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về bình đẳng giới; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về bình đẳng giới

Thứ sáu, hợp tác quốc tế về bình đẳng giới

1.4 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về bình đẳng giới

1.4.1 Yếu tố chính trị

Yếu tố chính trị có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của hoạt động thực hiện pháp luật bình đẳng giới như môi trường chính trị - xã hội của đất nước ta trong ổn định, phát triển bền vững chính là điều kiện thuận lợi đối với hoạt động quản lý nhà nước và thực hiện pháp luật bình đẳng giới,

Về cương lĩnh chính trị, đường lối lãnh đạo của Đảng ảnh hưởng rất quan trọng tới hoạt động thực hiện pháp luật bình đẳng giới Ở nước ta, sự vận hành của hệ thống pháp luật trên các phương diện xây dựng, thực hiện và áp dụng pháp luật luôn được đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng

Chính vì vậy, Đảng ta luôn quan tâm và chỉ đạo sâu sát đối với các mặt hoạt động pháp của luật về bình đẳng giới, đã ban hành nhiều chủ trương, nghị quyết định hướng việc thực hiện công tác bình đẳng giới như: Nghị quyết số: 04-NQ/TW, ngày 12/7/1993 của Bộ chính trị ban hành về “Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới”; Chỉ thị số: 37-CT/TW ngày 16/5/1994 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về “Một số vấn đề công tác cán bộ nữ trong tình hình mới” Từ những quan điểm chỉ đạo trên, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, có nêu: “Thiết thực chăm lo sự bình đẳng về giới, sự tiến bộ của phụ nữ”; Ngày 16/3/2015 Ban Bí thư kết luận về Đề án “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ trong tình hình mới”

1.4.2 Yếu tố kinh tế

Kinh tế là hoạt động quyết định đến sự tồn tại và phát triển của một đất nước, tăng cường bình đẳng giới có nghĩa là nâng cao mức độ tăng trưởng kinh tế Việc đầu tư cho bình đẳng giới trong lao động việc làm là tạo thuận lợi cho tăng trưởng ổn định vì phụ nữ chiếm trên 50% lực lượng lao động ở Việt Nam, nếu không sử dụng hợp lý lực lượng lao động nữ thì thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của nền kinh tế;

Bất bình đẳng giới là nguyên nhân làm tăng tỷ lệ nghèo đói, cản trở việc chăm sóc sức khỏe cho dân cư, hạn chế các cơ hội tăng thu nhập và gây nên một loạt tổn thất khác cho xã hội

Nếu như khoảng cách thu nhập có sự chênh lệch ở mức cao sẽ gây nên sự phí phạm nguồn lực đáng kể cho nền kinh tế và xã hội, cản trở tiềm năng, năng lực đóng góp của phụ nữ

1.4.3 Yếu tố pháp lý

Hệ thống pháp luật là điều kiện là một yếu tố tác động làm cơ sở cho việc thực hiện tốt bình đẳng giới; nếu pháp luật không được điều chỉnh, hoàn thiện phù hợp theo từng thời điểm và còn nhiều vấn đề bất cập, chưa chặt chẽ, thì việc thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới sẽ kém hiệu quả

Ngày đăng: 18/12/2017, 13:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm