1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (tt)

26 204 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 590,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

…………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ NGỌC LOAN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại:

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Thị Minh Tuyết

Phản biện 1: TS Nguyễn Thị Hường

Phản biện 2: TS Trương Thij Minh Sâm

Luận văn được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia

Địa điểm: Phòng họp , Nhà A - Hội trường bảo vệ luận văn thạc sĩ, Học viện Hành chính Quốc gia

Số: 10 - Đường 3/2 - Quận 10 - TP Hồ Chí Minh Thời gian: vào hồi 16h00 ngày 18 tháng 7 năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hoặc trên trang Web Khoa Sau đại học, Học viện Hành chính Quốc gia

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Bình đẳng giới là một trong những biểu hiện cơ bản của trình độ phát triển xã hội, là cơ sở quan trọng

để phát huy năng lực và sự đóng góp của nam giới và nữ giới cho sự phát triển của nhân loại; bình đẳng giữa nam giới và nữ giới là những điều kiện quan trọng để cả nam và nữ cùng thụ hưởng cuộc sống hạnh phúc, vui vẻ và thành đạt Bình đẳng nam nữ và nâng cao quyền năng cho phụ nữ được Tổ chức Liên Hiệp Quốc xác định là một trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Điều đó cho thấy rằng bình đẳng giới đang dần được quan tâm và trở thành vấn đề quan trọng để thực hiện mục tiêu giải phóng và phát triển con người của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định giải phóng phụ nữ và sự tiến bộ của phụ nữ có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài tới sự phát triển của đất nước Tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XI, Luật Bình Đẳng giới, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi và thúc đẩy bình đẳng giới, trong đó quy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước đối với bình đẳng giới Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và đã đạt được những thành công nhất định, được các tổ chức quốc tế đánh giá cao Như vây, bình đẳng giới không chỉ là quan điểm, quy định được Nhà nước ta đặt ra từ rất sớm mà còn thể hiện mục đích tôn chỉ và mục tiêu phát triển của đất nước Tuy nhiên, trong thực tế, khoảng cách về giới vẫn còn tồn tại Phụ nữ vẫn bị đối xử bất bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội Tỷ lệ phụ nữ nắm giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các cấp ủy Đảng, bộ máy nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của phụ nữ Bạo lực gia đình vẫn diễn ra nghiêm trọng mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ Định kiến giới vẫn còn là rào cản ngăn cản phụ nữ và nam giới tham gia vào các lĩnh vực trong đời sống xã hội Thực trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản là vai trò quản lý của nhà nước chưa được đề cao đúng mức, chưa phát huy được hiệu quả

Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đồng Nai đã thực hiện đạt và vượt một số chỉ tiêu về bình đẳng giới Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế như: vẫn còn nhiều chỉ tiêu chưa đạt, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo chưa đạt chỉ tiêu nghị quyết, chất lượng hoạt động Ban VSTBPN chưa đồng đều, thiếu cán bộ chuyên trách, cán bộ thiếu kinh nghiệm, chế độ đãi ngỗ thấp, kinh phí và tài liệu tuyên truyền chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ, nhận thức về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ

nữ ở một số cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị chưa đúng mức, tư tưởng trọng nam giới, xem nhẹ vai trò, vị trí, năng lực của phụ nữ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhân dân Những nguyên nhân đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh

Bình đẳng giới vừa là mục tiêu, vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, xây dựng xã hội ổn định, phát triển bền vững theo xu thế hội nhập quốc tế, đồng thời từ thực tiễn quản lý nhà nước về bình đẳng giới

còn nhiều bất cập, học viên chọn đề tài Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

làm đề tài luận văn tốt nghiệp chương trình Thạc sĩ Quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bình đẳng giới là vấn đề được quan tâm từ rất sớm, nó được quan tâm nhiều ở khía cạnh như quyền phụ nữ, nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm của phụ nữ, giải phóng phụ nữ hơn là quyền bình đẳng giữa nam và

nữ

Đến nay, đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về bình đẳng giới và quản lý nhà nước về bình đẳng giới Các công trình nghiên cứu và các bài viết trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, bao gồm khía cạnh quản lý nhà nước về bình đẳng giới Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu tập trung vào vấn đề bình đẳng giới ở một số lĩnh vực như, lao động, việc làm, lĩnh vực gia đình, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực y tế

Trang 4

Đối tượng nghiên cứu của phần lớn các công trình này là các mục tiêu của bình đẳng giới và vai trò của phụ

nữ trong quản lý nhà nước, trong đó vai trò quản lý nhà nước chỉ được xem là một trong số các giải pháp được khuyến nghị

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài luận văn góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại tỉnh

Đồng Nai

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống lý luận cơ bản về bình đẳng giới và quản lý nhà nước về bình đẳng giới

- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại tỉnh Đồng Nai

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại tỉnh Đồng Nai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn cấp tỉnh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi về nội dung: tập trung nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn cấp tỉnh

+ Phạm vi về không gian: trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

+ Phạm vi về thời gian: phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2011 đến năm 2016; đề xuất giải pháp trong giai đoạn tới

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu đề tài luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới

5.2 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp

+ Phương pháp thống kê, thu thập và sử lý số liệu thống kê

Trang 5

Các giải pháp của luận văn sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; góp phần giúp cho chính quyền địa phương và cho tổ chức Hội LHPN tỉnh thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình

7/ Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính, luận văn có cấu trúc 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1.1 Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn

1.1.1 Bình đẳng giới

Khái niệm bình đẳng giới

Theo luật bình đẳng giới, “bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó”

Bình đẳng giới bao hàm bình đẳng về quyền, bình đẳng về cơ hội tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, bình đẳng về thụ hưởng những thành quả và lợi ích, bình đẳng giới không đơn thuần là nam giới làm việc gì thì nữ giới cũng phải làm như nam giới và ngược lại Bình đẳng giới luôn xét đến khía cạnh khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, tôn trọng sự khác biệt này chính là tạo cơ hội, điều kiện thực hiện bình đẳng giới

Được Luật bình đẳng giới quy định nội dung bình đẳng giới được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, cụ thể là: Bình đẳng trong lĩnh vực chính trị; Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế; Bình đẳng giới trong lĩnh việc làm; Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo; Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học công nghệ; Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế; Bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình

Bình đẳng giới vừa là mục tiêu của sự phát triển vừa là yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng của mỗi quốc gia, xóa đói giảm nghèo và quản lý nhà nước có hiệu quả Quyền con người là quyền tự nhiên, được quy định tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do đó Nhà nước cần phải thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo đảm, bảo vệ quyền đó Quyền phụ nữ, quyền bình đẳng giới là một nội dung

cơ bản của quyền con người, thể hiện giá trị nhân văn cao cả, đồng thời là những giá trị chính trị, pháp quyền đáng trân trọng

Thực hiện bình đẳng giới không chỉ là một quyền cơ bản của con người mà còn mang lại những đóng góp to lớn vào những thành tựu kinh tế - xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh Do vậy, việc thực hiện bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới, tạo điều kiện

để cả phụ nữ và nam giới phát huy năng lực và đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia; góp phần thực hiện quyền con người, đặc biệt là nâng cao quyền cho phụ nữ tiếp thêm năng lượng cho các nền kinh tế đang đà phát triển, nâng cao năng suất, thúc đẩy tăng trưởng và xóa bỏ mọi đói nghèo

Trang 6

1.1.2 Quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn cứ vào những quy luật hay

nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đặt ra từ trước; là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của chủ thể quản lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý, theo đúng mong muốn của người quản lý

Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để

điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người Quản lý nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội đối ngoại của nhà nước

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới là sự tác động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong

lĩnh vực bình đẳng giới nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới Các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về bình đẳng giới được quy định trong Luật bình đẳng giới, nghị định thi hành Luật bình đẳng giới và một số văn bản quy phạm pháp luật khác

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới được thực hiện ở 4 cấp: Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp

xã Mỗi cấp có chức năng, nhiệm vụ nhất định đối với việc thực hiện bình đẳng giới, qua đó hình thành hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới trong cả nước

Chủ thể quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Chủ thể quản lý nhà nuớc là các tổ chức hay các cá nhân mang quyền lực nhà nước trong quá trình tác động đến đối tượng quản lý Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: các cơ quan nhà nước, các tổ chức nhà nước và cá nhân được nhà nước ủy quyền thực hiện quyền quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp Trung ương là Bộ Lao động thương binh xã hội, ở cấp địa phương là ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã)

1.2 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới

1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp trung ương

Một là, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược bình đẳng giới

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là cơ sở nền tảng của chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước Công tác bình đẳng giới là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 – 2020 với 07 mục tiêu: tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý, lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị; giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm; tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục

và đào tạo; bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa và thông tin; bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới; nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Hai là, xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế và chính sách về bình đẳng giới

Trang 7

Thể chế bao gồm toàn bộ các cơ quan Nhà nước với hệ thống quy định do Nhà nước xác lập trong

hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước và được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh và tạo ra các hành vi và mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, các tổ chức nhằm thiết lập kỷ cương xã hội

sách nhằm đạt được mục đích của chủ thể ra chính sách

Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế

xã hội nhất định

Các loại thể chế bình đẳng giới, gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ

quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội, UBND các cấp, trong đó cấp trung ương thì Bộ LĐTBXH là

cơ quan tham mưu chính, cấp tỉnh là Sở LĐTBXH, cấp huyện là phòng LĐTBXH huyện

Chính sách bình đẳng giới, quy định tại điều 7 của Luật Bình đẳng giới quy định 5 chính sách cơ

bản của Nhà nước bao gồm: bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển; bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình; áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá

bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới; khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới; hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước

Việc xây dựng chính sách và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý đề thực hiện công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Ba là, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Hoạt động quản lý nhà nước về bình đẳng giới là một hoạt động với phạm vi rộng lớn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Vì vậy để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động bình đẳng giới cần hoàn thiện, thường xuyên kiện toàn bộ máy quản ký nhà nước về bình đẳng giới, nâng cao năng lực điều tra và nắm số liệu về giới, tăng cường công tác tổ chức nhân sự, cơ sở vật chất kỹ thuật và đẩy mạnh công tác phối hợp giữa cơ quan chủ trì và các cơ quan, đơn vị liên quan nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu bình đẳng giới, đáp ứng yêu cầu phát triển và xu hướng hội nhập của đất nước

Bốn là, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Bố trí đủ cán bộ quản lý và thực hiện nhiệm vụ làm công tác bình đẳng giới ở các cấp; hình thành đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ ở cấp xã, phường, thị trấn, đặc biệt ở khu phố, xóm, ấp cụm dân cư Xây dựng mạng lưới chuyên gia về giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

Năm là, hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho công tác bình đẳng giới; chi ngân sách nhà nước cho công tác bình đẳng giới theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành; ưu tiên nguồn lực cho những ngành, vùng, khu vực có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ cao về bất bình đẳng giới, vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng miền núi còn nhiều tập tục lạc hậu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Sáu là, thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Công tác thanh tra, giám sát thực hiện bình đẳng giới được quy định tại Luật bình đẳng giới cũng như trong chiến lược quốc gia về bình đẳng giới Theo đó, thường xuyên, tăng cường kiểm tra, đánh giá tình

Trang 8

hình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện có hiệu quả công tác bình đẳng giới

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về bình đẳng giới, trước hết là quy định về độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm Tăng cường kiểm tra việc thực hiện các chính sách đối với lao động nữ nhằm bảo đảm tính hiệu quả, công bằng trong chính sách đào tạo nghề, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động và chế độ nghỉ hưu

Tổ chức sơ, tổng kết hàng năm và giai đoạn 5 năm thực hiện chiến lược quốc gia, chương trình hành động bình đẳng giới để đánh giá những mặt làm được, những hạn chế, chưa làm được, rút ra bài học kinh nghiệm và xây dựng các giải pháp thực hiện trong thời gian tới

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

Thứ nhất, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược bình đẳng giới cấp tỉnh

Trên tinh thần Hiến pháp, Luật bình đẳng giới và các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới của Trung ương, tỉnh đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản nhằm thực hiện bình đẳng giới như:

Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 07–NQ/TU ngày 28/11/2007 về thực hiện Nghị quyết số NQ/TƯ về “công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhằm xác định các mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp cụ thể để xây dựng tổ chức Hội LHPN ngày càng vững mạnh và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra

11-UBND tỉnh ban hành các kế hoạch: Kế hoạch số 9521/KH-11-UBND ngày 19/11/2010; Kế hoạch số

3910/KH-UBND ngày 10/6/2011 về việc thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015; Quyết định số 3020/QĐ-UBND ngày 15/11/2011 về phê duyệt Chương trình hành động về Bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015

Thứ hai, xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế và chính sách về bình đẳng giới cấp tỉnh

Căn cứ Luật bình đẳng giới, các Nghị định, chiến lược, chương trình về bình đẳng giới của Chính phủ UBND cấp tỉnh cụ thể hóa thành chỉ thị, đề án, các chương trình hành động, kế hoạch thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Ngoài ra, UBND tỉnh cũng đã ban hành một số Đề án, Chiến lược liên quan đến lĩnh vực bình đẳng giới như Đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2011-2015; Đề án 343 về tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2011-2015; Đề án 295 về dạy nghề cho lao động nông thôn; Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Kế hoạch phòng chống bạo lực gia đình tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015, Kế hoạch thực hiện công tác bình đẳng giới hàng năm Các văn bản này trước khi ban hành đã được lấy ý kiến của Sở LĐTBXH, Hội LHPN tỉnh, các sở ban ngành, đoàn thể chính trị - xã hội

để đảm bảo yếu tố lồng ghép giới trong các lĩnh vực lao động, y tế, văn hóa, gia đình nhằm hướng đến mục tiêu bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực

Thứ ba, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

Công tác kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về Bình đẳng giới cấp tỉnh được thực hiện theo đúng quy định, hướng dẫn của Trung ương; cấp tỉnh có Ban VSTBPN, đồng thời thường xuyên, kịp thời kiện toàn thành viên Ban VSTBPN tỉnh khi nhân sự thay đổi; đảm bảo nhân sự làm việc ở phòng bình đẳng giới trực thuộc Sở LĐTBXH tỉnh

Thứ tư, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

Đội ngũ cán bộ, công chức trong mỗi cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện hiệu quả công việc

Trang 9

Ở cấp tỉnh, huyện Phó Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách khối văn hóa - xã hội chịu trách nhiệm quản

lý về bình đẳng giới, ngành LĐTBXH chịu trách nhiệm triển khai công tác bình đẳng giới Ở cấp xã, Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách khối văn hóa – xã hội chịu trách nhiệm quản lý về bình đẳng giới trên địa bàn

xã, một nhân sự kiêm nhiệm trực tiếp thực hiện công tác bình đẳng giới, nhân viên này có thể là công chức văn hóa – xã hội hoặc là nhân viên phụ trách công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em hoặc cán bộ Hội LHPN xã

Đội ngũ cộng tác viên công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới tại các khu, ấp trên địa bàn tỉnh được thành lập theo quyết định của UBND tỉnh

Ngoài ra, các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể có trách nhiệm phối hợp thực hiện bình đẳng giới đều phân công nhân sự kiêm nhiệm theo dõi công tác này ở cơ quan, đơn vị Họ đồng thời là thành viên của Ban VSTBPN ở cấp tương đương

Thứ năm, hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính thực hiện mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh

Nguồn kinh phí thực hiện mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh được bố trí từ các nguồn: ngân sách trung ương cấp, ngân sách tỉnh bố trí và các khoản viện trợ, tài trợ của các chương trình quốc tế; huy động từ

xã hội, cộng đồng và các nguồn kinh phí khác

Thứ sáu, thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện bình đẳng giới cấp tỉnh

Thanh tra, kiểm tra, giám sát là công việc cần thiết để đánh giá tình hình hoạt động, nhận xét ưu điểm, hạn chế hoặc biểu dương, khen thưởng các đơn vị được thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm có kế hoạch, biện pháp thúc đẩy các đơn vị, cơ quan thực hiện tốt hơn

Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát còn thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh đối với công tác bình đẳng giới

1.3 Sự cần thiết quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

1.3.1 Định hướng mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh

Định hướng mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh nhằm thực hiện đảm bảo theo các mục tiêu, chỉ tiêu Chính phủ đề ra về công tác bình đẳng giới, góp phần đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh về công tác phụ nữ, công tác cán bộ nữ Đảm bảo quyền của phụ nữ trong tham gia hoạt động lập pháp, hoạch định chiến lược phát triển đất nước; xây dựng chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương

Bên cạnh đó, đảm bảo quyền của phụ nữ trong tham gia quản lý nhà nước Đảm bảo cho phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các cơ quan nhà nước ở các cấp theo Điều 28 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

1.3.2 Điều chỉnh hoạt động bình đẳng giới cấp tỉnh

Cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước sẽ rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý

Đồng thời nghiên cứu, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới

Nghị quyết số 11-NQ/TƯ ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị nêu rõ “công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất

Trang 10

nước; đồng thời phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đánh để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người” [1, tr.3]

1.3.3 Hỗ trợ và tạo điều kiện cho hoạt động bình đẳng giới cấp tỉnh

Trong hoạt động, cơ quan nhà nước sẽ có trách nhiệm xác định thực trạng bình đẳng giới, xây dựng và bảo đảm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức mình và có báo cáo hằng năm; Bảo đảm

sự tham gia của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nam, nữ trong xây dựng, thực thi pháp luật, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; Giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động do mình quản lý; Có biện pháp khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức và gia đình; Tạo điều kiện phát triển các cơ sở phúc lợi xã hội, các dịch vụ hỗ trợ nhằm giảm nhẹ gánh nặng lao động gia đình

1.3.4 Đảm bảo bình đẳng giới được thực hiện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Các lĩnh vực của đời sống xã hội như trong lao động, việc làm và thu nhập; trong nông nghiệp và phát triển nông thôn; trong xây dựng đô thị văn minh; trong y tế; trong đào tạo, bồi dưỡng, học tập; trong cơ hội, điều kiện thăng tiến trong công việc; trong lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục thể thao, du lịch và trong gia đình Từ năm 1986 đến nay Nhà nước ta đã ban hành trên 40 luật, bộ luật có liên quan đến vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới

Bên cạnh đó, từ năm 2011 đến năm 2015 đã có 63 văn bản quy phạm pháp luật có lồng ghép vấn đề bình đẳng giới Ngoài ra, các văn bản quy phạm pháp luật của các địa phương, bộ, ban ngành trung ương khi xây dựng và ban hành phải có lồng ghép giới

1.4 Yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

1.4.1 Yếu tố chính trị và pháp lý

Đây là yếu tố quan trọng, tiên quyết cho mục tiêu bình đẳng giới được thực hiện có hiệu quả Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề bình đẳng nam nữ và đảm bảo để phụ nữ được tham gia các mặt của đời sống xã hội

Bình đẳng về chính trị là nội dung đầu tiên của bình đẳng giới, vì vậy quốc gia có một nền chính trị ổn định, thể chế pháp lý đầy đủ sẽ quyết định hiệu quả, kết quả thực hiện bình đẳng giới của quốc gia

Nếu chế độ chính trị bất ổn, cơ chế pháp lý không ổn định, thường xuyên thay đổi thì công tác bình đẳng giới khó mà triển khai đồng bộ, hiệu quả, thậm chí không thể triển khai thực hiện

Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt, Đảng luôn chú trọng đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với lực lượng phụ nữ trong xã hội, có phẩm chất, trình độ và năng lực tham gia mọi lĩnh vực của đời sống

1.4.2 Điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, môi trường của tỉnh

Điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường của tỉnh là yếu tố tác động đến việc triển khai thực hiện bình đẳng giới, ở từng mặt có những tác động tích cực hoặc tiêu cực cụ thể Nếu điều kiện kinh tế,

xã hội phát triển kéo theo nhận thức, trình độ của người dân được nâng lên, từ đó việc thực hiện bình đẳng được thực hiện ở các lĩnh vực như hoạt động quản lý kinh doanh, giáo dục đào tạo, tham gia các hoạt động văn hóa, thông tin thể thao, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin, chăm sóc sức khỏe

Điều kiện về môi trường, bao gồm môi trường bên ngoài và môi trường bên trong

1.4.3 Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất

Trang 11

Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất là một trong những yếu tố tác động và quyết định đến hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh Nếu nguồn lực tài chính không đảm bảo thì cũng khó

mà đảm bảo thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới đạt hiệu quả cao, theo kế hoạch, chương trình đã

Cùng một chủ trương, nghị quyết, nội dung nếu cán bộ quản lý và thực hiện chuyên môn về bình đẳng giới có năng lực, kinh nghiệm và trách nhiệm thực hiện thì hiệu quả sẽ cao, và ngược lại nếu cán bộ quản lý

và thực hiện chuyên môn về bình đẳng giới năng lực yếu, không có kinh nghiệm, thiếu trách nhiệm thì chủ trương, nội dung đó khi triển khai thực hiện hiệu quả sẽ không cao, thậm chí không thể triển khai thực hiện

1.4.5 Xu hướng phát triển của xã hội và thời đại

Bình đẳng giới là một mục tiêu quan trọng cần hướng đến không chỉ của Việt Nam, mà của các nước trên thế giới, là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của một xã hội Nhiều năm qua, chính phủ nhiều nước trên thế giới đã nỗ lực để mang lại bình đẳng giới cho con người, để con người thật sự được sống trong một xã hội văn minh, phát triển bền vững, nhân văn

Bình đẳng giới là một trong các yếu tố để xác định một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI 2.1 Khái quát về điều kiện phát triển của tỉnh Đồng Nai

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân số tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, có diện tích 5.903,940 km2, chiếm 1,76% diện tích tự nhiên của cả nước và chiếm 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam bộ Dân số đến cuối năm 2016 ước là 3.110.000 người, trong đó nữ là 1.492.830 người chiếm 51,3%; số người trong độ tuổi lao động là 2.019.540 người, trong đó lao động nữ chiếm 47,8% Có 37 thành phần dân tộc thiểu số sinh sống với 189.098 người

Tỉnh Đồng Nai có mười một đơn vị hành chính trực Toàn tỉnh có 171 xã, phường, thị trấn Đến cuối năm 2016, toàn tỉnh có 5 huyện, 93 xã đạt chuẩn nông thôn mới

2.1.2 Điều kiện kinh tế tỉnh Đồng Nai

Nền kinh tế tỉnh Đồng Nai duy trì tốc độ tăng trưởng cao; chuyển dịch cơ cấu đúng định hướng đó là giảm nhẹ ngành công nghiệp – xây dựng và phát triển mạnh các ngành dịch vụ; từng bước hoàn thiện kết cấu

hạ tầng kinh tế xã hội thúc đẩy tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển của tỉnh; quan tâm đầu tư phát triển sản xuất, đầu tư hệ thống hạ tầng kinh tế kỹ thuật, đặc biệt là đầu tư các công trình trọng điểm, quan trọng, đầu tư cho nông thôn, hạ tầng đô thị; hoạt động tài chính, tín dụng ổn định

Trang 12

Hiện Đồng Nai có 36 khu công nghiệp được Thủ tướng phê duyệt, trong đó có 32 khu công nghiệp đã

đi vào hoạt động, thu hút 1.389 dự án (trong đó 1.211 dự án đang hoạt động), thu hút trên 970.000 lao động làm việc Toàn tỉnh có 24.693 doanh nghiệp với tổng vốn đăng ký đầu tư là 145.154 tỷ đồng

Tổng sản phẩm trên địa bàn GRDP năm 2016 tăng 8,2% so với năm 2015; Quy mô GRDP theo giá thực tế năm 2015 đạt 194 nghìn tỷ đồng (tương đương 9 tỷ USD), tăng gấp 2,55 lần so với năm 2010 GRDP bình quân đầu người theo giá thực tế năm 2015 trên 66 triệu đồng, tương đương trên 3.000 USD; tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2015 đạt trên 65%, trong đó đào tạo nghề trên 50%; mức giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân mỗi năm từ 1-1,5% theo chuẩn nghèo hiện hành của tỉnh, đến cuối năm 2015 tỷ lệ hộ nghèo (chuẩn của tỉnh giai đoạn 2011-2015) còn dưới 1%; thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 77,3 triệu đồng/năm

2.1.3 Điều kiện xã hội tỉnh Đồng Nai

Đồng Nai có nhiều di tích lịch sử, văn hoá và các điểm du lịch có tiềm năng Đồng Nai có nghề nghiệp truyền thống nổi tiếng là gốm sứ Sản phẩm gốm sứ của Đồng Nai có nhiều loại và không giống như các sản phẩm gốm sứ truyền thống khác ở miền Bắc và miền Trung

Kinh tế phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của đời sống xã hội; Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được tăng cường, tình trạng ô nhiễm môi trường ở một số nơi được ngăn chặn

và có bước phục hồi; các biện pháp bảo đảm an sinh xã hội được thực hiện một cách đồng bộ, tập trung thực hiện công tác giải quyết việc làm, đào tạo nghề, nhất là đào tạo nghề lao động nông thôn, giảm tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị, giảm tỷ lệ hộ nghèo, từng bước cải thiện đời sống nhân dân; công tác đền ơn đáp nghĩa được đặc biệt chú trọng; công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, nguồn nhân lực góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, cải thiện sưc khỏe nhân dân

Các lĩnh vực khoa học - công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa - xã hội phát triển tương đối nhanh; hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao luôn được quan tâm đầu tư; công tác phòng, chống tội phạm và tệ nạn xã hội, trật tự an toàn giao thông đạt kết quả tốt Đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện Quốc phòng, an ninh được giữ vững, ổn định; cải cách tư pháp được đẩy mạnh; công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí đạt được những kết quả nhất định trong việc ngăn chặn và xử lý tham nhũng

2.2 Thực trạng bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

số 13-CT/TU ngày 04/4/2013 về triển khai thực hiện Kết luận số 55-KL/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa X về "công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước", trong đó xác định „„phấn đấu đến năm 2020, tỷ lệ

nữ tham gia các cấp ủy đảng các cấp đạt từ 25% trở lên, nữ đại biểu Quốc hội và HĐND các cấp từ 30% - 35% trở lên Các cơ quan đơn vị có tỷ lệ nữ từ 30% trở lên, nhất thiết phải có cán bộ lãnh đạo chủ chốt là nữ‟‟

Trang 13

Tỷ lệ nữ tham gia cấp ủy Đảng cấp tỉnh, huyện nhiệm kỳ 2015-2020 tăng so với nhiệm kỳ

2010-2015, trong đó tỉnh tăng 4,6%, huyện tăng 1,78%, tuy nhiên cấp xã giảm 1,15% Ngoài ra, có nữ Phó Bí thư Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2015-2020; cấp huyện có 02 nữ Bí thư, 05 nữ Phó Bí thư huyện ủy

Tỷ lệ các cơ quan nhà nước có cán bộ nữ tham gia vào ban lãnh đạo từ tỉnh đến cơ sở ngày càng tăng Sau 5 năm, nhờ làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo mà cán bộ nữ tham gia ban lãnh đạo tăng từ 40% lên 50% (cấp tỉnh) và từ 34,9% lên 50,3% (cấp xã), tuy nhiên cấp huyện lại giảm từ 38,5% xuống còn 23%

Trong các giai đoạn UBND tỉnh đều có phó chủ tịch là nữ, trong nhiệm kỳ có nữ Phó Bí thư Tỉnh

ủy và lần đầu tiên có nữ trưởng đoàn đại biểu Quốc hội; đa số các sở, ban ngành của tỉnh, huyện đều có lãnh đạo chủ chốt là nữ, có 05 đơn vị nữ lãnh đạo cấp trưởng Tuy nhiên, vẫn còn một số sở, ngành nhiều năm liền không có lãnh đạo chủ chốt là nữ

Tỷ lệ nữ trúng cử đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021 đều tăng so với nhiệm

kỳ 2011-2016, cụ thể cấp tỉnh tăng 4,48%, cấp huyện tăng 3,52% và cấp xã tăng 3,93%; Bên cạnh đó, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ, kỹ năng cho nữ đại biểu hội đồng nhân dân các cấp luôn được quan tâm thực hiện

Công tác phát triển đảng viên nữ, nhất là nữ ở địa bàn dân cư, vùng đồng bào dân tộc, phụ nữ tôn giáo luôn được các cấp uỷ Đảng quan tâm Công tác bố trí, bổ nhiệm, đề bạt, luân chuyển cán bộ nữ được quan tâm và thực hiện đảm bảo theo đúng quy trình, quy định của tỉnh Đội ngũ cán bộ nữ được bổ nhiệm, đề bạt về cơ bản đủ tiêu chuẩn trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị

2.2.2 Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm

UBND tỉnh thường xuyên chỉ đạo các sở ban ngành tổ chức thực hiện tốt bằng các biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới đối với lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm như: ưu đãi về thuế và tài chính theo quy định của pháp luật cho doanh nghiệp có nhiều lao động nữ, lao động nữ khu vực nông thôn được hỗ trợ tín dụng, khuyến công, khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; có chính sách khuyến khích hỗ trợ phụ nữ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, hỗ trợ cho phụ nữ nghèo, phụ nữ vùng sâu tiếp cận các nguồn vốn, tín dụng ưu đãi

từ Ngân hàng chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Thông qua các nguồn vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội, quỹ quốc gia giải quyết việc làm, tạo điều kiện cho hàng vạn lượt hộ phụ nữ vay vốn để phát triển kinh tế gia đình, nhằm từng bước tạo điều kiện cho phụ nữ được tiếp cận các nguồn lực kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống

Từ năm 2012-2015, UBND tỉnh đã dành 57,7 tỷ ngân sách để thực hiện các chương trình mục tiêu

về giáo dục, việc làm và dạy nghề, phát triển thị trường lao động

2.2.3 Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Nhằm nâng cao nguồn nhân lực và để đảm bảo sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Giáo dục và Đào tạo tăng cường công tác thông tin tuyên truyền, giáo dục, duy trì sĩ số các lớp học, cấp học và mở rộng các trung tâm cộng đồng đảm bảo tỷ lệ trẻ em nữ đi học đúng độ tuổi đạt kế hoạch

đề ra Tăng cường gắn kết công tác chuyên môn với công tác bình đẳng giới; đẩy mạnh công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng tạo điều kiện cho cán bộ nữ của ngành học tập; nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong giáo dục đối với giáo viên, học sinh và sinh viên

Trên cơ sở Nghị quyết số 51/2010/NQ-HĐND của HĐND tỉnh về việc thông qua Đề án phát triển nguồn nhân lực phục vụ kinh tế - xã hội tỉnh giai đoạn 2006-2010 và tầm nhìn đến năm 2020, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 4422/QĐ-UBND về việc tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch Chương trình 3 về đào tạo cán bộ, công chức nữ giai đoạn 2006-2010, Quyết định 2361/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 về phê duyệt chương trình tổng thể đào tạo phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015 và Kế hoạch số 3634/KH-UBND ngày 23/5/2011 của UBND tỉnh về triển khai Chương trình 4 về đào tạo nguồn

Ngày đăng: 18/12/2017, 13:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm