1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)

132 243 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 132
Dung lượng 1,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đông Nai (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ NGỌC LOAN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ THỊ NGỌC LOAN

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS ĐINH THỊ MINH TUYẾT

TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

Mở đầu ……….1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI……… ……9

1.1 Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn ……… 9

1.1.1 Bình đẳng giới ……….9

1.1.2 Quản lý nhà nước về bình đẳng giới ……….16

1.2 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới……… 19

1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp trung ương… 19

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh………….25

1.3 Sự cần thiết quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh………29

1.3.1 Định hướng mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh………29

1.3.2 Điều chỉnh hoạt động bình đẳng giới cấp tỉnh ……… 29

1.3.3 Hỗ trợ và tạo điều kiện cho hoạt động bình đẳng giới cấp tỉnh….30 1.3.4 Đảm bảo bình đẳng giới được thực hiện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội ……… 31

1.4 Yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh …… 31

1.4.1 Yếu tố chính trị và pháp lý……….………31

1.4.2 Điều kiện phát triển của tỉnh ……….……33

1.4.3 Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất ……… ……….34

1.4.4 Năng lực và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ quản lý và thực hiện chuyên môn về bình đẳng giới ………34

1.4.5 Xu hướng phát triển của xã hội và thời đại ……… 35

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI ……….37

Trang 4

2.1 Khái quát về điều kiện phát triển của tỉnh Đồng Nai ……… 37

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và dân số tỉnh Đồng Nai….……….37

2.1.2 Điều kiện kinh tế tỉnh Đồng Nai ……… ….………38

2.1.3 Điều kiện xã hội tỉnh Đồng Nai ……… ……….39

2.2 Thực trạng bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai……… ……… 40

2.2.1 Bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị ……….…………40

2.2.2 Bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động, việc làm ………43

2.2.3 Bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ……… 44

2.2.4 Bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học công nghệ ……… 46

2.2.5 Bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục thể thao và du lịch ……….… 47

2.2.6 Bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế ………48

2.2.7 Bình đẳng giới trong gia đình ………48

2.3 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai ………50

2.3.1 Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ……….50

2.3.2 Ban hành và tổ chức thực hiện thể chế và chính sách bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ……….55

2.3.3 Kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ……… 60

2.3.4 Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ……… 62

2.3.5 Hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính thực hiện mục tiêu bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ……….64

2.3.6 Thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá thực hiện mục tiêu bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ……….65

Trang 5

2.4 Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới tỉnh Đồng

Nai……… 69

2.4.1 Kết quả đạt được ……… 69

2.4.2 Hạn chế ……….71

2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế ……….75

Chương 3 ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TỈNH ĐỒNG NAI ……… 78

3.1 Dự báo xu hướng bình đẳng giới trên thế giới và Việt Nam … ……….78

3.1.1 Dự báo xu hướng bình đẳng giới trên thế giới ……… ……78

3.1.2 Dự báo xu hướng bình đẳng giới ở Việt Nam ……… 79

3.2 Quan điểm và định hướng về bình đẳng giới ở Việt Nam và tỉnh Đồng Nai ……….……….80

3.2.1 Quan điểm của Đảng về bình đẳng giới ở Việt Nam ……… … 80

3.2.2 Định hướng về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ……… 82

3.3 Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ………85

3.3.1 Cụ thể hóa và tổ chức thực hiện hiệu quả thể chế và chính sách về bình đẳng giới ……… 85

3.3.2 Kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ……… 92

3.3.3 Bồi dưỡng năng lực quản lý và chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý, chuyên môn và cộng tác viên về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ……….……… 95

3.3.4 Tăng hỗ trợ, huy động và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính từ ngân sách của tỉnh, từ xã hội hóa trong thực hiện bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai ………96

Trang 6

3.3.5 Tiến hành thường xuyên hoạt động thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá và xử lý nghiêm vi phạm trong thực hiện bình đẳng giới tỉnh

Đồng Nai ………98

3.3.6 Xây dựng và thực hiện hiệu quả quy chế phối hợp các cơ quan trong hoạt động bình đẳng giới……….100

KẾT LUẬN ……… ……….102

TÀI LIỆU THAM KHẢO ………105

PHỤ LỤC……… 111

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn

Bình đẳng giới là một trong những biểu hiện cơ bản của trình độ phát triển xã hội, là cơ sở quan trọng để phát huy năng lực và sự đóng góp của nam giới và nữ giới cho sự phát triển của nhân loại; bình đẳng giữa nam giới và nữ giới là những điều kiện quan trọng để cả nam và nữ cùng thụ hưởng cuộc sống hạnh phúc, vui vẻ và thành đạt Bình đẳng nam nữ và nâng cao quyền năng cho phụ nữ được Tổ chức Liên Hiệp Quốc xác định là một trong tám mục tiêu phát triển thiên niên kỷ Điều đó cho thấy rằng bình đẳng giới đang dần được quan tâm và trở thành vấn đề quan trọng để thực hiện mục tiêu giải phóng và phát triển con người của mỗi quốc gia

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn xác định giải phóng phụ nữ

và sự tiến bộ của phụ nữ có ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài tới sự phát triển

của đất nước Tại điều 9 Hiến pháp năm 1946 ghi rõ“Đàn bà ngang quyền đàn ông về mọi phương diện” [22, tr.1] Nguyên tắc này được kế thừa và từng

bước phát triển ở Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013 tại khoản 1, điều 26 là

“công dân nam, nữ bình đẳng về mọi mặt, Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới” [26, tr.15] và được cụ thể hóa trong nhiều

văn bản pháp luật khác như Luật Hôn nhân gia đình, Luật Phòng Chống bạo

lực gia đình, Bộ Luật Lao động

Bên cạnh đó, Đảng đã ban hành nhiều chính sách, nghị quyết, chỉ thị về phụ nữ nhằm thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực lao động, xã hội và chính trị nhằm phát huy vai trò và sự đóng góp của phụ nữ vào quá trình xây dựng và bảo vệ tổ quốc Hiểu được vài trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế - xã hội, Việt Nam là một trong những thành viên đầu tiên tham gia Công ước xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (Công ước CEDAW) – văn bản luật quốc tế được Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc

Trang 8

thông qua ngày 18/12/1979 Tại kỳ họp thứ X, Quốc hội khóa XI, Luật Bình Đẳng giới được chính thức thông qua, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2007, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi và thúc đẩy bình đẳng giới, trong đó quy định chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước đối với bình đẳng giới Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc thúc đẩy bình đẳng giới và

đã đạt được những thành công nhất định, được các tổ chức quốc tế đánh giá cao

Như vây, bình đẳng giới không chỉ là quan điểm, quy định được Nhà nước ta đặt ra từ rất sớm mà còn thể hiện mục đích tôn chỉ và mục tiêu phát triển của đất nước

Tuy nhiên, trong thực tế, khoảng cách về giới vẫn còn tồn tại Phụ nữ vẫn bị đối xử bất bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống gia đình và xã hội Tỷ lệ phụ nữ nắm giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt trong các cấp ủy Đảng, bộ máy nhà nước còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của phụ nữ Bạo lực gia đình vẫn diễn ra nghiêm trọng mà nạn nhân chủ yếu là phụ nữ Định kiến giới vẫn còn là rào cản ngăn cản phụ nữ và nam giới tham gia vào các lĩnh vực trong đời sống xã hội Thực trạng đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân cơ bản là vai trò quản lý của nhà nước chưa được đề cao đúng mức, chưa phát huy được hiệu quả

Trong những năm qua, Đảng bộ và chính quyền tỉnh Đồng Nai đã thực hiện đạt và vượt một số chỉ tiêu về bình đẳng giới Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại hạn chế như: vẫn còn nhiều chỉ tiêu chưa đạt, tỷ lệ cán bộ nữ tham gia lãnh đạo chưa đạt chỉ tiêu nghị quyết, chất lượng hoạt động Ban vì sự tiến bộ phụ nữ chưa đồng đều, thiếu cán bộ chuyên trách, cán bộ thiếu kinh nghiệm, chế độ đãi ngỗ thấp, kinh phí và tài liệu tuyên truyền chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ, nhận thức về công tác bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ

nữ ở một số cấp ủy, chính quyền địa phương, đơn vị chưa đúng mức, tư tưởng

Trang 9

trọng nam giới, xem nhẹ vai trò, vị trí, năng lực của phụ nữ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận nhân dân Những nguyên nhân đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh

Bình đẳng giới vừa là mục tiêu, vừa là cơ sở thúc đẩy tăng trưởng kinh

tế, xây dựng xã hội ổn định, phát triển bền vững theo xu thế hội nhập quốc tế, đồng thời từ thực tiễn quản lý nhà nước về bình đẳng giới còn nhiều bất cập,

học viên chọn đề tài Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh

Đồng Nai làm đề tài luận văn tốt nghiệp chương trình Thạc sĩ Quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Bình đẳng giới là vấn đề được quan tâm từ rất sớm, nó được quan tâm nhiều ở khía cạnh như quyền phụ nữ, nhiệm vụ, vai trò, trách nhiệm của phụ

nữ, giải phóng phụ nữ hơn là quyền bình đẳng giữa nam và nữ Đã có rất nhiều bài nghiên cứu, bài viết về đề tài nâng cao năng lực và đấu tranh cho quyền phụ nữ, nhưng quyền của phụ nữ chỉ là một phần tiêu chí của bình đẳng giới

Đến nay, đã có một số tài liệu nghiên cứu về bình đẳng giới và quản lý nhà nước về bình đẳng giới như:

Giới và quyền của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam của Tác giả Vương

Thị Hạnh (chủ biên), Nhà Xuất bản Phụ nữ, năm 2006, nội dung sách trình bày các kiến thức cơ bản về giới và quyền của phụ nữ trong pháp luật Việt Nam Qua đó cung cấp những kiến thức cơ bản những quy định về quyền và lợi ích của phụ nữ trong pháp luật

Hỏi – Đáp về Luật Bình đẳng giới của tác giả Lê Thị Ngân Giang, Nhà

Xuất bản phụ nữ, năm 2008, tài liệu cung cấp những kiến thức ngắn gọn và cơ bản về bối cảnh ra đời, mục đích ban hành, các lý thuyết về giới, những cơ sở nền tảng để xây dựng Luật bình đẳng giới; nội dung Luật bình đẳng giới; bình đẳng giới trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, các biện pháp

Trang 10

bảo đảm thúc đẩy bình đẳng giới; trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong thực hiện và bảo đảm bình đẳng giới Đặc biệt, sách trích dẫn một số văn bản quy phạm pháp luật về thực thi Luật bình đẳng giới

ở Việt Nam

Ngoài ra còn có các bài báo, bài nghiên cứu, báo cáo tham luận về bình đẳng giới:

- Báo cáo bạo lực trên cơ sở giới của tổ chức Liên hợp quốc tại Việt

Nam, tháng 5 năm 2010, phân tích bối cảnh kinh tế - xã hội; pháp luật, chính sách phòng, chống bạo lực giới tại Việt Nam, từ đó đưa ra các khuyến nghị nhằm giảm thiểu các trường hợp bạo lực trên cơ sở giới

- Báo cáo nghiên cứu “Hướng tới bình đẳng giới ở Việt Nam: Để tăng trưởng bao trùm có lợi cho phụ nữ”, năm 2016 của cơ quan về Bình đẳng giới

và trao quyền cho phụ nữ của Liên hợp quốc (UN Women), báo cáo đánh giá

mô hình tăng trưởng kinh tế hiện nay của Việt Nam, đồng thời cho thấy, mặc

dù phụ nữ đang góp một phần lớn trong phát triển kinh tế, việc đạt được mô hình tăng trưởng bao trùm vẫn là một thách thức đối với Việt Nam Nghiên cứu cảnh báo rằng nếu những lợi ích của tăng trưởng kinh tế được phân bổ không đều và quản lý không tốt, quá trình hội nhập có thể duy trì sự tách biệt

về giới trên thị trường lao động, đồng thời làm gia tăng tình trạng dễ bị tổn thương của lao động nữ và duy trì khoảng cách tiền lương giữa hai giới

- Báo cáo đánh giá giới tại Việt Nam của Ngân hàng Thế giới năm 2011,

phân tích các nguyên nhân và rào cản tạo nên bất bình đẳng giới ở Việt Nam Qua đó đưa ra các kiến nghị nhằm bảo đảm việc thực hiện bình đẳng giới

- Báo cáo phát triển giới năm 2012, chuyên đề bình đẳng giới và phát

triển của Ngân hàng Thế giới: đánh giá tầm quan trọng của bình đẳng giới đối với sự phát triển; những khu vực trên thế giới tiến bộ nhất và chậm tiến bộ

Trang 11

nhất về thực hiện bình đẳng giới; chương trình toàn cầu về bình đẳng giới với các số liệu cập nhật đến năm 2011

- Báo cáo việc thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới năm 2015

và giai đoạn 2011-2015 của Chính phủ

- Báo cáo phân tích năng lực bình đẳng giới của bộ phận làm công tác bình đẳng giới cấp tỉnh, thành phố của Ban quản lý các dự án nâng cao năng

lực về bình đẳng giới Bộ Lao động thương binh xã hội năm 2014

- Luận văn thạc sĩ Hành chính công: Quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở tỉnh Bình Dương của tác giả Bùi Thị Mỹ Ngân Luận văn đã đưa ra và

phân tích những khái niệm liên quan đến giới, bình đẳng giới và quản lý nhà nước về bình đẳng giới Phân tích, đánh giá công tác quản lý của nhà nước đối với vấn đề bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Bình Dương Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Bình Dương Luận văn chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Các công trình nghiên cứu và các bài viết trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh của vấn đề bình đẳng giới, bao gồm khía cạnh quản lý nhà nước về bình đẳng giới Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu tập trung vào vấn đề bình đẳng giới ở một số lĩnh vực như, lao động, việc làm, lĩnh vực gia đình, lĩnh vực chính trị, lĩnh vực y tế Đối tượng nghiên cứu của phần lớn các công trình này là các mục tiêu của bình đẳng giới và vai trò của phụ nữ trong quản lý nhà nước, trong đó vai trò quản lý nhà nước chỉ được xem là một trong số các giải pháp được khuyến nghị

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu đề tài luận văn góp phần hoàn thiện quản lý nhà

nước về bình đẳng giới tại tỉnh Đồng Nai

Trang 12

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Hệ thống lý luận cơ bản về bình đẳng giới và quản lý nhà nước về bình đẳng giới

- Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại tỉnh Đồng Nai

- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại tỉnh Đồng Nai

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn cấp tỉnh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

+ Phạm vi về nội dung: tập trung nghiên cứu các nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn cấp tỉnh

+ Phạm vi về không gian: trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

+ Phạm vi về thời gian: phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai từ năm 2011 đến năm 2016; đề xuất giải pháp trong giai đoạn tới

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Nghiên cứu đề tài luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về bình đẳng giới

Trang 13

5.2 Phương pháp nghiên cứu

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: nghiên cứu các báo cáo, tài liệu, số liệu của các cơ quan quản lý, cơ quan Đảng và các tổ chức chính trị -

xã hội để làm rõ vấn đề

+ Phương pháp thống kê, thu thập và xử lý số liệu thống kê: trên cơ sở

số liệu thu thập được, học viên tiến hành xử lý số liệu và lấy số liệu thống kê một cách khoa học

+ Phương pháp phân tích: phân tích các báo cáo, tài liệu, số liệu có liên quan đến bình đẳng giới và quản lý về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh

+ Phương pháp tổng hợp: học viên tiến hành thu thập và tổng hợp các tài liệu, số liệu có liên quan của các cơ quan, tổ chức có liên quan

+ Phương pháp so sánh: dựa trên cơ sở số liệu về kết quả thực hiện bình đẳng giới qua các giai đoạn trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, học viên đã tiến hành so sánh với các chỉ tiêu đề ra của tỉnh và của cả nước để đánh giá kết quả thực hiện qua các giai đoạn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Về mặt lý luận

Luận văn đã hệ thống hóa được lý luận cơ bản về bình đẳng giới và quản

lý nhà nước về bình đẳng giới Đây là cơ sở cho những nghiên cứu thực tiễn quản lý nhà nước về bình đẳng giới ở các địa phương

6.2 Về mặt thực tiễn

Luận văn đã phân tích và đánh giá được thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, xác định những kết quả đạt được, những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế Đồng thời, luận văn đề ra những giải pháp thiết thực góp phần hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới tại tỉnh Đồng Nai

Trang 14

Các giải pháp của luận văn sẽ góp phần tích cực vào việc nâng cao vai trò và hiệu quả quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; góp phần giúp cho chính quyền địa phương và cho tổ chức Hội LHPN tỉnh thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình

7/ Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính, luận văn có cấu trúc 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

Trang 15

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ BÌNH ĐẲNG GIỚI TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH

1.1 Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn

1.1.1 Bình đẳng giới

nam giới Nói cách khác, giới đề cập đến các quan niệm, thái độ, hành vi, mối quan hệ và tương quan về địa vị xã hội của phụ nữ và nam giới trong một bối

cảnh lịch sử cụ thể, do học hỏi mà có và có thể thay đổi theo thời gian

Theo Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì “giới chỉ đặc điểm vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội” [27, tr.1]

Khái niệm bình đẳng giới

Theo luật bình đẳng giới, “bình đẳng giới là việc nam, nữ có vị trí, vai trò ngang nhau, được tạo điều kiện và cơ hội phát huy năng lực của mình cho

sự phát triển của cộng đồng, của gia đình và thụ hưởng như nhau về thành quả của sự phát triển đó” [27, tr.4], nghĩa là những ứng xử, những khát vọng và những nhu cầu khác nhau của phụ nữ và nam giới đều được cân nhắc, đánh giá và ủng hộ như nhau Bình đẳng giới không có nghĩa nữ giới và nam giới trở thành như nhau, nhưng các quyền, trách nhiệm và các cơ hội của mỗi người không phụ thuộc họ sinh ra là nam giới hay nữ giới

Bình đẳng giới bao hàm bình đẳng về quyền, bình đẳng về cơ hội tiếp cận và kiểm soát nguồn lực, bình đẳng về thụ hưởng những thành quả và lợi ích, bình đẳng giới không đơn thuần là nam giới làm việc gì thì nữ giới cũng phải làm như nam giới và ngược lại Bình đẳng giới luôn xét đến khía cạnh khác biệt về mặt sinh học giữa nam và nữ, tôn trọng sự khác biệt này chính là tạo cơ hội, điều kiện thực hiện bình đẳng giới

Trang 16

Nội dung bình đẳng giới

Được Luật bình đẳng giới quy định nội dung bình đẳng giới được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình, cụ thể là: chính trị; kinh tế; lao động; giáo dục và đào tạo; khoa học và công nghệ; văn hóa thông tin, thể dục, thể thao; y tế và gia đình

Thứ nhất, bình đẳng trong lĩnh vực chính trị

Được quy định tại Điều 11 của Luật bình đẳng giới là: “nam, nữ bình đẳng tham gia quản lý nhà nước, tham gia hoạt động xã hội; nam, nữ bình đẳng trong tham gia xây dựng và thực hiện hương ước, quy ước của cộng đồng hoặc quy định, quy chế của ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu hội đồng nhân dân, tự ứng cử và giới thiệu ứng cử vào các cơ quan lãnh đạo của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp,

tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn chuyên môn, độ tuổi khi được đề bạt, bổ nhiệm vào cùng vị trí quản lý, lãnh đạo của cơ quan, tổ chức” [27, tr.4]

Sự bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình ra quyết định và hoạch định chính sách của các

cơ quan nhà nước, nó sẽ có tác động lớn lao đối với việc thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới trong các lĩnh vực khác của đời sống xã hội Việc tăng cường tham gia tiếng nói của phụ nữ và tạo sự bình đẳng giữa nam và nữ trên chính trường và trong đời sống xã hội sẽ làm tăng ảnh hưởng, hiệu quả thực hiện của các chính sách, chương trình và dự án, góp phần làm giảm tham nhũng, lãng phí và tăng cường năng lực quản lý nhà nước

Thứ hai, bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh tế

Điều 12 Luật bình đẳng giới quy định “nam, nữ bình đẳng trong việc thành lập doanh nghiệp, tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh, quản lý

Trang 17

doanh nghiệp, bình đẳng trong việc tiếp cận thông tin, nguồn vốn, thị trường

và nguồn lao động” [27, tr.4]

Để đạt được các mục tiêu đề ra của bình đẳng giới trong lĩnh vực kinh

tế cần có các giải pháp phù hợp như: có chính sách ưu tiên về thuế theo quy định của pháp luật đối với các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ; tạo điều kiện cho nữ chủ doanh nghiệp trong phát triển kinh doanh; hỗ trợ vay vốn và tiếp cận các nguồn vốn cho lao động nữ ở khu vực nông thôn được theo quy định của pháp luật; bảo đảm các chế độ cho nữ lao động

Thứ ba, việc làm

Điều 13, Luật Bình Đẳng giới quy định “nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi tuyển dụng, được đối xử bình đẳng tại nơi làm việc về việc làm, tiền công, tiền lương, bảo hiểm xã hội, điều kiện lao động và các điều kiện làm việc khác; nam, nữ bình đẳng về tiêu chuẩn, độ tuổi khi được đề bạt,

bổ nhiệm giữ các chức danh trong các ngành, nghề có tiêu chuẩn chức danh” [27, tr.4]

Việc làm là điều kiện để mỗi con người tự nuôi sống bản thân, góp phần tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội; là một trong những nhu cầu quan trọng của con người và là điều kiện phát triển toàn diện của mỗi cá nhân Cùng với tiến trình đổi mới và phát triển kinh tế, cơ hội lao động, việc làm đã ngày càng mở rộng đối với nam giới và nữ giới Bộ Luật lao động Việt Nam quy định mọi người đều có “quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử” [28, tr.2] về giới tính Song, trong thực tế vẫn còn tồn tại sự phân nhóm, phân biệt công việc giữa nam và nữ Nam thường làm các công việc thuộc về các nhóm công nghiệp nặng, quản lý lãnh đạo, lực lượng vũ trang và các công việc đòi hỏi chuyên môn nghiệp vụ cao Trong khi đó, phụ nữ tập trung nhiều trong những nhóm ngành dịch vụ, công nghiệp nhẹ và công việc

Trang 18

làm thuê cho hộ gia đình không đòi hỏi nhiều về trình độ chuyên môn kỹ thuật cao nên mức lương thấp, tính ổn định không cao

Thứ tư, bình đẳng giới trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Điều 14 Luật Bình đẳng giới quy định: “nam, nữ bình đẳng về độ tuổi

đi học, đào tạo, bồi dưỡng; nam, nữ bình đẳng trong việc lựa chọn ngành, nghề học tập, đào tạo; nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận và hưởng thụ các chính sách về giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; nữ cán

bộ, công chức, viên chức khi tham gia đào tạo, bồi dưỡng mang theo con dưới

ba mươi sáu tháng tuổi được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ” [27, tr 5]

Giáo dục, đào tạo được coi là một trong 17 mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc Nhất là trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, sự xuất hiện của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư thì đổi mới giáo dục, đào tạo không chỉ quan trọng mà còn trở nên bức thiết hơn, có

ý nghĩa quyết định tương lai của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia

Thứ năm, bình đẳng giới trong lĩnh vực khoa học công nghệ

Điều 15 Luật Bình đẳng giới quy định “nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận, ứng dụng khoa học và công nghệ; nam, nữ bình đẳng trong việc tiếp cận các khoá đào tạo về khoa học và công nghệ, phổ biến kết quả nghiên cứu khoa học, công nghệ và phát minh, sáng chế” [27, tr.5]

Để thay đổi nhận thức sai lệch về vai trò trong nghề nghiệp, có chính sách thỏa đáng để khuyến khích, huy động sự tham gia của phụ nữ vào các lĩnh vực khoa học – công nghệ, tạo điều kiện cần thiết, bình đẳng như nam giới trong nghiên cứu khoa học Nhà nước cũng cần có chính sách khuyến khích phát triển tài năng, tạo điều kiện cho phụ nữ theo đuổi các bậc học cao trên đại học, thạc sỹ, tiến sỹ, đặc biệt là đối với những phụ nữ trẻ có triển vọng

Trang 19

Thứ sáu, bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao

Điều 16 Luật Bình đẳng giới quy định “nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động văn hoá, thông tin, thể dục, thể thao; nam, nữ bình đẳng trong hưởng thụ văn hoá, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin” [27, tr.5]

Để đảm bảo bình đẳng giới trong việc tham gia các hoạt động văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao cần có sự phối hợp toàn diện của các biện pháp bảo đảm bình đẳng giới

Thứ bảy, bình đẳng giới trong lĩnh vực y tế

Điều 17 Luật Bình đẳng giới năm 2006 quy định “nam, nữ bình đẳng trong tham gia các hoạt động giáo dục, truyền thông về chăm sóc sức khỏe, sức khoẻ sinh sản và sử dụng các dịch vụ y tế; nam, nữ bình đẳng trong lựa chọn, quyết định sử dụng biện pháp tránh thai, biện pháp an toàn tình dục, phòng, chống lây nhiễm HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục; phụ nữ nghèo cư trú ở vùng sâu, vùng xa, là đồng bào dân tộc thiểu số, trừ các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, khi sinh con đúng chính sách dân số được hỗ trợ theo quy định của Chính phủ” [27, tr.5]

Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, lĩnh vực y tế đã có nhiều chính sách nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người dân Những chính sách này đã tạo điều kiện cho mọi người dân kể cả nam và nữ, trẻ em gái và trẻ em trai có thể tiếp cận dễ dàng với các dịch vụ y

tế Tuy nhiên, thực tiễn vẫn cho thấy có sự chênh lệch đáng kể giữa người giàu và người nghèo trong sử dụng các dịch vụ chăm sóc sức khỏe Trong các gia đình nghèo, phụ nữ ít được tiếp cận các dịch vụ chăm sóc sức khỏe do khả năng tài chính hạn hẹp và nếu phải cắt giảm chi phí thì phụ nữ thường lựa chọn cắt giảm chăm sóc y tế của mình để dành cho các thành viên khác trong gia đình Bên cạnh đó, còn có nhiều vấn đề liên quan đến chăm sóc sức khỏe

Trang 20

sinh sản, tiếp cận dịch vụ y tế của phụ nữ, đặc biệt là vùng sâu vùng xa và vùng khó khăn

Thứ tám, bình đẳng giới trong lĩnh vực gia đình

Điều 18 Luật Bình đẳng giới quy định “vợ, chồng bình đẳng với nhautrong quan hệ dân sự và các quan hệ khác liên quan đến hôn nhân và gia đình; vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau trong sở hữu tài sản chung, bình đẳng trong sử dụng nguồn thu nhập chung của vợ chồng và quyết định các nguồn lực trong gia đình; vợ, chồng bình đẳng với nhau trong việc bàn bạc, quyết định lựa chọn và sử dụng biện pháp kế hoạch hoá gia đình phù hợp; sử dụng thời gian nghỉ chăm sóc con ốm theo quy định của pháp luật; con trai, con gái được gia đình chăm sóc, giáo dục và tạo điều kiện như nhau

để học tập, lao động, vui chơi, giải trí và phát triển; các thành viên nam, nữ trong gia đình có trách nhiệm chia sẻ công việc gia đình” [27, tr.5-6]

Gia đình là một tế bào của xã hội Cùng với tiến bộ xã hội, tư tưởng gia trưởng trọng nam khinh nữ đang dần dần mất đi, nhưng có một nghịch lý vẫn còn tồn tại là việc nội trợ, nuôi dưỡng con cái, chăm sóc các thành viên trong gia đình vẫn được coi là công việc của phụ nữ, còn nam giới là người trụ cột, quyết định chính trong gia đình và đóng vai trò chính trong các quan

hệ xã hội bên ngoài gia đình; tính chất bảo thủ của sự phân công lao động truyền thống theo giới ở các mức độ khác nhau vẫn còn được bảo lưu trong một bộ phận gia đình Việt Nam đã làm hạn chế cơ hội học tập của các bé gái, cản trợ phụ nữ tham gia vào các hoạt động xã hội và có địa vị, thu nhập như nam giới

Bên cạnh đó, định kiến giới và tư tưởng thích con trai cùng với việc tiếp cận dễ dàng các dịch vụ y tế để sinh con trai đã tạo nên khoảng cách lớn của tỷ lệ giới tính sau sinh của bé trai và bé gái Điều đó, tạo nên sự bất bình

Trang 21

đẳng giới trong gia đình, gây ra những hậu qua về kinh tế - xã hội và nhân khẩu học hết sức nghiêm trọng

Để thực hiện đẳng trong gia đình, cần phải có sự quan tâm đặc biệt, tiếp tục tuyên truyền và tiến hành một số biện pháp cơ bản nhằm truyền thông mạnh mẽ hơn nữa về hậu quả của lựa chọn giới tính thai nhi, xóa bỏ quan niệm trọng nam kinh nữ, tư tưởng thích con trai và cần khẳng định vai trò của phụ nữ trong gia đình và xã hội

 Vai trò bình đẳng giới

Tư tưởng lạc hậu về giới, sự bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tại, ăn sâu vào tiềm thức của người dân, làm sai lệch quan điểm, nhận thức về giá trị nhân văn cao đẹp của mỗi người, là nguyên nhân gốc rễ khiến bạo lực giới nảy sinh ở các mức độ khác nhau Do đó, thực hiện bình đẳng giới đã, đang

và luôn là mối quan tâm của nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam Mục tiêu cơ bản của bình đẳng giới là xóa bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam và nữ, thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống

xã hội góp phần nâng cao quyền con người Vì vậy, Bình đẳng giới vừa là mục tiêu của sự phát triển vừa là yếu tố để nâng cao khả năng tăng trưởng của mỗi quốc gia, xóa đói giảm nghèo và quản lý nhà nước có hiệu quả

Quyền con người là quyền tự nhiên, được quy định tại Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do đó Nhà nước cần phải thừa nhận, tôn trọng và cam kết bảo đảm, bảo vệ quyền đó đúng như những điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên (như Hiến chương Liên Hợp Quốc

1945, Tuyên ngôn Thế giới về nhân quyền 1948, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã

Trang 22

hội và văn hóa 1966, Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), Công ước về quyền trẻ em)

Quyền phụ nữ, quyền bình đẳng giới là một nội dung cơ bản của quyền con người, thể hiện giá trị nhân văn cao cả, đồng thời là những giá trị chính trị, pháp quyền đáng trân trọng Chính vì vậy, thực hiện bình đẳng giới

có vai trò quan trọng góp phần thực hiện các quyền con người Qua việc thực hiện các giải pháp thúc đẩy bình đẳng giới không những nâng cao vai trò giới

và trách nhiệm về giới thể hiện trong tất cả các công việc, giới hạn thể hiện mối quan hệ giữa nam giới và nữ giới trong công việc mà còn mối quan hệ công việc và cuộc sống

Thực hiện bình đẳng giới không chỉ là một quyền cơ bản của con người mà còn mang lại những đóng góp to lớn vào những thành tựu kinh tế -

xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh Nâng cao quyền cho phụ nữ tiếp thêm năng lượng cho các nền kinh tế đang đà phát triển, nâng cao năng suất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế Bình đẳng giới được xem là tiêu chí quan trọng đánh giá sự phát triển xã hội của một đất nước đồng thời là mục tiêu của sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia

Do vậy, việc thực hiện bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao vị trí, vai trò của phụ nữ và nam giới, tạo điều kiện để cả phụ

nữ và nam giới phát huy năng lực và đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia; góp phần thực hiện quyền con người, đặc biệt là nâng cao quyền cho phụ nữ tiếp thêm năng lượng cho các nền kinh tế đang đà phát triển, nâng cao năng suất, thúc đẩy tăng trưởng và xóa bỏ mọi đói nghèo

1.1.2 Quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Quản lý là sự điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay một quá trình, căn

cứ vào những quy luật hay nguyên tắc tương ứng cho hệ thống hay quá trình

Trang 23

ấy vận động theo ý muốn của người quản lý nhằm đạt được mục đích đặt ra từ trước; là sự tác động có mục đích đã được đề ra theo đúng ý chí của chủ thể quản lý đối với các đối tượng chịu sự quản lý, theo đúng mong muốn của người quản lý Nó là yếu tố thiết yếu quan trọng, vì vậy quản lý không thể thiếu trong đời sống xã hội, xã hội càng phát triển cao thì vai trò quản lý càng lớn và nội dung càng phức tạp

Quản lý nhà nước là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của nhà

nước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng là được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, đó là hoạt động chấp hành và điều hành, được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức, được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật, được bảo đảm thực hiện bởi hệ thống các cơ quan nhà nước (hoặc một số tổ chức xã hội trong trường hợp được giao nhiệm vụ quản lý nhà nước)

Quản lý nhà nước là quản lý xã hội mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội chủ yếu và quan trọng của con người Điểm khác nhau cơ bản giữa quản lý nhà nước và các hình thức quản lý khác là tính quyền lực nhà nước gắn với cưỡng chế nhà nước khi cần Từ khi xuất hiện nhà nước thì việc điều chỉnh các quan hệ xã hội được xem là quan trọng, cần thiết Quản lý nhà nước được thực hiện bởi toàn bộ hoạt động của các cơ quan trong bộ máy nhà nước nhằm thực hiện chức năng đối nội đối ngoại của nhà nước Do đó, quản lý nhà nước là hoạt động thực thi quyền lực nhà nước do các cơ quan nhà nước tiến hành đối với tất cả mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, trên tất cả các mặt của đời sống xã hội bằng cách sử dụng quyền lực nhà nước có tính cưỡng chế đơn phương nhằm mục tiêu phục vụ lợi ích chung của cả cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo một định hướng thống nhất của nhà nước

Trang 24

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới là sự tác động của các cơ quan

nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực bình đẳng giới nhằm đạt mục tiêu bình đẳng giới Các cơ quan có thẩm quyền quản lý nhà nước về bình đẳng giới được quy định trong Luật bình đẳng giới, nghị định thi hành Luật bình đẳng giới và một số văn bản quy phạm pháp luật khác

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới xác lập sự can thiệp của nhà nước trong lĩnh vực này, các vấn đề bình đẳng giới trở thành đối tượng quản lý của nhà nước Thông qua đó nhà nước thể hiện quan điểm, thái độ, định hướng của mình đối với việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới được thực hiện ở 4 cấp: Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã Mỗi cấp có chức năng, nhiệm vụ nhất định đối với việc thực hiện bình đẳng giới, qua đó hình thành hệ thống bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới trong cả nước

Chủ thể quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Chủ thể quản lý nhà nuớc là các tổ chức hay các cá nhân mang quyền lực nhà nước trong quá trình tác động đến đối tượng quản lý Chủ thể quản lý nhà nước bao gồm: các cơ quan nhà nước, các tổ chức nhà nước và cá nhân được nhà nước ủy quyền thực hiện quyền quản lý nhà nước

Quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp Trung ương là Bộ Lao động thương binh xã hội, ở cấp địa phương là ủy ban nhân dân các cấp (tỉnh, huyện, xã)

Ở cấp Trung ương, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, các Bộ, ngành liên quan, Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và

Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tổ chức triển khai thực hiện Luật bình đẳng giới, Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới trên phạm vi cả nước, bảo đảm gắn kết chặt chẽ với các chiến lược liên quan do

Trang 25

các Bộ, ngành khác chủ trì thực hiện; xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia về bình đẳng giới từng giai đoạn; xây dựng

và tổ chức thực hiện các kế hoạch hằng năm về bình đẳng giới phù hợp với Chiến lược này và Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội; rà soát để sửa đổi, bổ sung theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung

hệ thống pháp luật, chính sách cho phù hợp với nguyên tắc bình đẳng giới; hướng dẫn, kiểm tra, tổng hợp tình hình thực hiện Chiến lược và định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ; tổ chức sơ, tổng kết việc thực hiện Chiến lược

Chủ thể QLNN về bình đẳng giới ở cấp tỉnh là UBND cấp tỉnh, UBND các tỉnh xây dựng và tổ chức thực hiện các kế hoạch hành động 5 năm và hằng năm về bình đẳng giới phù hợp với Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong cùng thời kỳ; phát huy tính sáng tạo, chủ động, tích cực trong việc huy động nguồn lực để thực hiện Chiến lược; lồng ghép việc thực hiện

có hiệu quả Chiến lược này với các Chiến lược khác có liên quan trên địa bàn;

bố trí đủ cán bộ, công chức làm công tác bình đẳng giới ở địa phương; đẩy mạnh phối hợp liên ngành, đặc biệt trong việc lồng ghép các vấn đề về bình đẳng giới trong công tác hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện Chiến lược tại địa phương; thực hiện chế độ báo cáo hàng năm việc thực hiện Chiến lược trên địa bàn theo quy định hiện hành

1.2 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới

1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp trung ương

Một là, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược bình đẳng giới

Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới là một bộ phận cấu thành quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, là cơ sở nền tảng của chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước Công tác bình

Trang 26

đẳng giới là một trong những yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội

Từ vai trò quan trọng đó, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2351/QĐ-TTg ngày 24/12/2010 về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020; Theo đó đến năm 2020, về cơ bản, bảo đảm bình đẳng thực chất giữa nam và nữ về cơ hội, sự tham gia và thụ hưởng trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Với 07 mục tiêu:

Mục tiêu 1, tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào các vị trí quản lý,

lãnh đạo, nhằm từng bước giảm dần khoảng cách giới trong lĩnh vực chính trị

Mục tiêu 2, giảm khoảng cách giới trong lĩnh vực kinh tế, lao động,

việc làm; tăng cường sự tiếp cận của phụ nữ nghèo ở nông thôn, phụ nữ người dân tộc thiểu số đối với các nguồn lực kinh tế, thị trường lao động

Mục tiêu 3, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nữ, từng bước bảo

đảm sự tham gia bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

Mục tiêu 4, bảo đảm bình đẳng giới trong tiếp cận và thụ hưởng các

dịch vụ chăm sóc sức khỏe

Mục tiêu 5, bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực văn hóa và thông

tin

Mục tiêu 6, bảo đảm bình đẳng giới trong đời sống gia đình, từng bước

xóa bỏ bạo lực trên cơ sở giới

Mục tiêu 7, nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Trang 27

Hai là, xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế và chính sách về bình đẳng giới

Thể chế bao gồm toàn bộ các cơ quan Nhà nước với hệ thống quy định

do Nhà nước xác lập trong hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước và được Nhà nước sử dụng để điều chỉnh và tạo ra các hành vi và mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân, các tổ chức nhằm thiết lập kỷ cương xã hội

đối tượng phụ thuộc vào chính sách nhằm đạt được mục đích của chủ thể ra chính sách

Vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ

được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định

Các loại thể chế bình đẳng giới, gồm các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy

ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị - xã hội, UBND các cấp, trong đó cấp trung ương thì Bộ LĐTBXH là cơ quan tham mưu chính, cấp tỉnh là Sở LĐTBXH, cấp huyện là phòng LĐTBXH huyện

Chính sách bình đẳng giới, quy định tại điều 7 của Luật Bình đẳng

giới quy định 5 chính sách cơ bản của Nhà nước bao gồm:

Thứ nhất, bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh

tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển

Thứ hai, bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con

nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình

Thứ ba, áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏ phong tục, tập

quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Thứ tư, khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các

hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới

Trang 28

Thứ năm, hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng

đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước

Việc xây dựng chính sách và ban hành các văn bản quản lý nhà nước

về bình đẳng giới có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo hành lang pháp lý đề thực hiện công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới Ở nước ta có nhiều chính sách, nghị định và nghị quyết thúc đẩy thực hiện bình đẳng giới đã được triển khai Luật bình đẳng giới 2006 ra đời tạo ra khung pháp lý để đẩy mạnh hơn nữa quyền bình đẳng của nam và nữ trên mọi lĩnh vực xã hội và gia đình; Hiến pháp 2013 đảm bảo nam, nữ có quyền bình đẳng theo pháp luật; Nghị định 55/2009/NĐ-CP ngày 10/6/2009 của Chính phủ quy định xử phạt

vi phạm hành chính về bình đẳng giới

Nghị quyết số 11-NQ/TƯ ngày 24/7/2007 của Bộ Chính trị về “công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhằm xác định các mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp cụ thể để xây dựng tổ chức Hội LHPN ngày càng vững mạnh và xây dựng đội ngũ cán bộ, phụ nữ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra

Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành một số chính sách, chương trình, đề án có liên quan đến bình đẳng giới như:

- Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020;

- Chính sách hỗ trợ phụ nữ thuộc hộ nghèo là người dân tộc thiểu số khi sinh con đúng chính sách dân số;

- Chương trình hành động quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2016 –

2020 với mục tiêu là “Giảm khoảng cách giới và nâng cao vị thế của phụ nữ

Trang 29

trong một số lĩnh vực, ngành, vùng, địa phương có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ bất bình đẳng giới cao, góp phần thực hiện thành công Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011 - 2020”;

- Đề án “Giảm thiểu tình trạng bạo lực gia đình tại khu vực nông thôn Việt Nam giai đoạn 2015 - 2020”;

- Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025”

Ba là, kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Hoạt động quản lý nhà nước về bình đẳng giới là một hoạt động với phạm vi rộng lớn, liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực Vì vậy để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động bình đẳng giới cần hoàn thiện, thường xuyên kiện toàn bộ máy quản ký nhà nước về bình đẳng giới, nâng cao năng lực điều tra và nắm số liệu về giới, tăng cường công tác tổ chức nhân sự, cơ sở vật chất kỹ thuật và đẩy mạnh công tác phối hợp giữa cơ quan chủ trì và các cơ quan, đơn vị liên quan nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu bình đẳng giới, đáp ứng yêu cầu phát triển và xu hướng hội nhập của đất nước

Bốn là, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về bình đẳng giới

Bố trí đủ cán bộ quản lý và thực hiện nhiệm vụ làm công tác bình đẳng giới ở các cấp; hình thành đội ngũ cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ ở cấp xã, phường, thị trấn, đặc biệt ở khu phố, xóm, ấp cụm dân cư Xây dựng mạng lưới chuyên gia về giới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội

Trang 30

Năm là, hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính cho công tác bình đẳng giới; chi ngân sách nhà nước cho công tác bình đẳng giới theo phân cấp ngân sách nhà nước hiện hành; ưu tiên nguồn lực cho những ngành, vùng, khu vực có bất bình đẳng giới hoặc có nguy cơ cao về bất bình đẳng giới, vùng nông thôn, vùng nghèo, vùng miền núi còn nhiều tập tục lạc hậu, vùng đồng bào dân tộc thiểu số

Sáu là, thanh tra, kiểm tra, tổng kết, đánh giá việc thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Công tác thanh tra, giám sát thực hiện bình đẳng giới được quy định tại điều 35, 36 của Luật bình đẳng giới cũng như trong chiến lược quốc gia về bình đẳng giới Theo đó, thường xuyên, tăng cường kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện pháp luật về bình đẳng giới Xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành để thực hiện có hiệu quả công tác bình đẳng giới

Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về bình đẳng giới, trước hết là quy định về độ tuổi đào tạo, bồi dưỡng, đề bạt, bổ nhiệm

Tăng cường kiểm tra việc thực hiện các chính sách đối với lao động

nữ nhằm bảo đảm tính hiệu quả, công bằng trong chính sách đào tạo nghề, bảo hiểm xã hội, bảo hộ lao động và chế độ nghỉ hưu

Tổ chức sơ, tổng kết hàng năm và giai đoạn 5 năm thực hiện chiến lược quốc gia, chương trình hành động bình đẳng giới để đánh giá những mặt làm được, những hạn chế, chưa làm được, rút ra bài học kinh nghiệm và xây dựng các giải pháp thực hiện trong thời gian tới

Trang 31

1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

Thứ nhất, xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược bình đẳng giới cấp tỉnh

Trên tinh thần Hiến pháp, Luật bình đẳng giới và các văn bản quy phạm pháp luật về bình đẳng giới của Trung ương, tỉnh đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản nhằm thực hiện bình đẳng giới như:

Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 07–NQ/TU ngày 28/11/2007 về thực hiện Nghị quyết số 11-NQ/TƯ về “công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” nhằm xác định các mục tiêu, chỉ tiêu và giải pháp cụ thể để xây dựng tổ chức Hội LHPN ngày càng vững mạnh và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ đặt ra

UBND tỉnh ban hành các kế hoạch:

Kế hoạch số 9521/KH-UBND ngày 19/11/2010 về thực hiện Nghị quyết số 57/NQ-CP về công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 nhằm kêu gọi và nâng cao vai trò của phụ nữ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội

Kế hoạch số 3910/KH – UBND ngày 10/6/2011 về việc thực hiện Chiến lược Quốc gia về bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015, bao gồm các mục tiêu, dự án cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước

về bình đẳng giới trên địa bàn tỉnh; tổ chức các hoạt động hỗ trợ, xúc tiến việc lồng ghép trong quá trình xây dựng và thực hiện chính sách, pháp luật, chương trình, dự án của địa phương; tổ chức các hoạt động hỗ trợ thực hiện bình đẳng giới trong một số lĩnh vực và các vùng có khoảng cách lớn về bình đẳng giới; tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền, sự phối hợp của tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức chính trị - xã hội nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, tham gia của mỗi cá nhân, gia

Trang 32

đình và cả cộng đồng đối với công tác bình đẳng giới, huy động mọi nguồn lực tối đa để thực hiện có hiệu quả bình đẳng giới

Quyết định số 3020/QĐ-UBND ngày 15/11/2011 về phê duyệt Chương trình hành động về Bình đẳng giới tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-

2015 triển khai thực hiện 4 dự án về bình đẳng giới, các dự án này nằm trong Chương trình Chiến lược quốc gia về Bình đẳng giới, nhằm triển khai có hiệu quả các mục tiêu về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015

Thứ hai, xây dựng và tổ chức thực hiện thể chế và chính sách về bình đẳng giới cấp tỉnh

Căn cứ Luật bình đẳng giới, các Nghị định, chiến lược, chương trình

về bình đẳng giới của Chính phủ UBND cấp tỉnh cụ thể hóa thành chỉ thị, đề

án, các chương trình hành động, kế hoạch thực hiện mục tiêu bình đẳng giới

Ngoài ra, UBND tỉnh cũng đã ban hành một số Đề án, Chiến lược liên quan đến lĩnh vực bình đẳng giới như Đề án can thiệp giảm thiểu mất cân bằng giới tính khi sinh giai đoạn 2011-2015; Đề án 343 về tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước giai đoạn 2011-2015; Đề án 295 về dạy nghề cho lao động nông thôn; Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030; Kế hoạch phòng chống bạo lực gia đình tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011-2015, Kế hoạch thực hiện công tác bình đẳng giới hàng năm Các văn bản này trước khi ban hành đã được lấy ý kiến của Sở LĐTBXH, Hội LHPN tỉnh, các sở ban ngành, đoàn thể chính trị - xã hội để đảm bảo yếu tố lồng ghép giới trong các lĩnh vực lao động, y tế, văn hóa, gia đình nhằm hướng đến mục tiêu bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực

Thứ ba, kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

Công tác kiện toàn bộ máy quản lý nhà nước về Bình đẳng giới cấp tỉnh được thực hiện theo đúng quy định, hướng dẫn của Trung ương; cấp tỉnh

Trang 33

có Ban VSTBPN, đồng thời thường xuyên, kịp thời kiện toàn thành viên Ban VSTBPN tỉnh khi nhân sự thay đổi; đảm bảo nhân sự làm việc ở phòng bình đẳng giới trực thuộc Sở LĐTBXH tỉnh

Thứ tư, phát triển đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

Đội ngũ cán bộ, công chức trong mỗi cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện hiệu quả công việc Vì vậy trong công tác bình đẳng giới, việc xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ được tỉnh rất quan tâm và sớm xây dựng từ cấp tỉnh đến cấp

Ở cấp tỉnh, Phó Chủ tịch UBND tỉnh phụ trách khối văn hóa - xã hội chịu trách nhiệm quản lý về bình đẳng giới, Sở LĐTBXH mà cụ thể là giám đốc Sở và Phòng bình đẳng giới thuộc Sở chịu trách nhiệm triển khai công tác bình đẳng giới

Ở cấp huyện, Phó chủ tịch UBND huyện phụ trách khối văn hóa - xã hội chịu trách nhiệm quản lý về bình đẳng giới, Phòng LĐTBXH chịu trách nhiệm trực tiếp triển khai công tác bình đẳng giới trên địa bàn huyện Cấp huyện không có biên chế chuyên trách làm công tác bình đẳng giới Trưởng hoặc phó phòng LĐTBXH huyện phụ trách lĩnh vực xã hội, một chuyên viên phòng LĐTBXH kiêm nhiệm công tác khác và bình đẳng giới trực tiếp thực hiện công tác này

Ở cấp xã, Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách khối văn hóa – xã hội chịu trách nhiệm quản lý về bình đẳng giới trên địa bàn xã, một nhân sự kiêm nhiệm trực tiếp thực hiện công tác bình đẳng giới, nhân sự này có thể là công chức văn hóa – xã hội hoặc là nhân viên phụ trách công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em hoặc cán bộ Hội LHPN xã, phường, thị trấn

Trang 34

Đội ngũ cộng tác viên công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em và bình đẳng giới tại các khu, ấp trên địa bàn tỉnh được thành lập theo quyết định của UBND xã Đội ngũ này có trách nhiệm tuyên truyền trong nhân dân thực hiện các chính sách, pháp luật quy định về bình đẳng giới, hỗ trợ chính quyền địa phương trong việc quản lý về bình đẳng giới

Ngoài ra, các cơ quan, sở, ban, ngành, đoàn thể có trách nhiệm phối hợp thực hiện bình đẳng giới đều phân công nhân sự kiêm nhiệm theo dõi công tác này ở cơ quan, đơn vị Họ đồng thời là thành viên của Ban VSTBPN

ở cấp tương đương

Thứ năm, hỗ trợ và huy động nguồn lực tài chính thực hiện mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh

Nguồn kinh phí thực hiện mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh được bố trí

từ các nguồn: ngân sách trung ương cấp, ngân sách tỉnh bố trí và các khoản viện trợ, tài trợ của các chương trình quốc tế; huy động từ xã hội, cộng đồng

Thanh tra, kiểm tra, giám sát là công việc cần thiết để đánh giá tình hình hoạt động, nhận xét ưu điểm, hạn chế hoặc biểu dương, khen thưởng các đơn vị được thanh tra, kiểm tra, giám sát nhằm có kế hoạch, biện pháp thúc đẩy các đơn vị, cơ quan thực hiện tốt hơn

Hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát còn thể hiện sự quan tâm của lãnh đạo tỉnh đối với công tác bình đẳng giới

Trang 35

1.3 Sự cần thiết quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

1.3.1 Định hướng mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh

Định hướng mục tiêu bình đẳng giới cấp tỉnh nhằm thực hiện đảm bảo theo các mục tiêu, chỉ tiêu Chính phủ đề ra về công tác bình đẳng giới, góp phần đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ cấp tỉnh về công tác phụ nữ, công tác cán bộ nữ Đảm bảo quyền của phụ nữ trong tham gia hoạt động lập pháp, hoạch định chiến lược phát triển đất nước; xây dựng chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, góp phần đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương

Bên cạnh đó, đảm bảo quyền của phụ nữ trong tham gia quản lý nhà nước Đảm bảo cho phụ nữ tham gia lãnh đạo, quản lý các cơ quan nhà nước

ở các cấp theo Điều 28 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 “Công dân có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan Nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”

Đại hội Đảng bộ tỉnh lần X đã xác định “thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội trong quá trình phát triển; tiếp tục xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm

đà bản sắc văn hóa dân tộc; xây dựng con người phát triển toàn diện, có trí tuệ, đạo đức, thể chất tốt, có năng lực sáng tạo; đảm bảo an sinh xã hội, mọi người dân được hưởng thụ các dịch vụ cơ bản, phúc lợi xã hội; xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc và phát triển bền vững” [30, tr.26-27]

1.3.2 Điều chỉnh hoạt động bình đẳng giới cấp tỉnh

Cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước sẽ rà soát văn bản quy phạm pháp luật hiện hành để sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới theo

Trang 36

thẩm quyền hoặc trình cơ quan có thẩm quyền sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật nhằm bảo đảm bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý

Đồng thời nghiên cứu, kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới; Phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước về bình đẳng giới đánh giá thực trạng bình đẳng giới trong lĩnh vực mà mình quản lý; thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật và giải quyết khiếu nại, tố cáo về bình đẳng giới

Nghị quyết số 11-NQ/TƯ ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị nêu rõ “công tác phụ nữ phải sát hợp với từng đối tượng, vùng miền, phát huy được tinh thần làm chủ, tiềm năng, sức sáng tạo và khả năng đóng góp cao nhất của các tầng lớp phụ nữ, góp phần tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc để phát triển đất nước; đồng thời phải chăm lo cho phụ nữ tiến bộ về mọi mặt, quan tâm đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đánh để phụ nữ có điều kiện thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người” [1, tr.3]

1.3.3 Hỗ trợ và tạo điều kiện cho hoạt động bình đẳng giới cấp tỉnh

Trong hoạt động, cơ quan nhà nước sẽ có trách nhiệm xác định thực trạng bình đẳng giới, xây dựng và bảo đảm thực hiện mục tiêu bình đẳng giới trong cơ quan, tổ chức mình và có báo cáo hằng năm; Bảo đảm sự tham gia của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động nam, nữ trong xây dựng, thực thi pháp luật, chương trình, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế, văn hóa,

xã hội; Giáo dục về giới và pháp luật về bình đẳng giới cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động do mình quản lý; Có biện pháp khuyến khích cán bộ, công chức, viên chức, người lao động thực hiện bình đẳng giới trong

cơ quan, tổ chức và gia đình; Tạo điều kiện phát triển các cơ sở phúc lợi xã hội, các dịch vụ hỗ trợ nhằm giảm nhẹ gánh nặng lao động gia đình

Trang 37

Nghị quyết số 11-NQ/TƯ ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị nêu rõ “công tác phụ nữ là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của toàn xã hội và từng gia đình Trong đó, hạt nhân lãnh đạo là cấp ủy Đảng, trách nhiệm trực tiếp và chủ yếu là cơ quan quản lý nhà nước các cấp, vai trò chủ thể là phụ nữ mà nòng cốt là các cấp Hội LHPN Việt Nam” [1, tr.3]

1.3.4 Đảm bảo bình đẳng giới được thực hiện trong các lĩnh vực của đời sống xã hội

Các lĩnh vực của đời sống xã hội như trong lao động, việc làm và thu nhập; trong nông nghiệp và phát triển nông thôn; trong xây dựng đô thị văn minh; trong y tế; trong đào tạo, bồi dưỡng, học tập; trong cơ hội, điều kiện thăng tiến trong công việc; trong lĩnh vực văn hóa thông tin, thể dục thể thao,

du lịch và trong gia đình Từ năm 1986 đến nay Nhà nước ta đã ban hành trên

40 luật, bộ luật có liên quan đến vấn đề phụ nữ và bình đẳng giới Đặc biệt Nghị quyết số 11-NQ/TƯ ngày 27/4/2007 của Bộ Chính trị nêu rõ “phát huy vai trò, tiềm năng to lớn của phụ nữ trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nâng cao địa vị phụ nữ, thực hiện bình đẳng giới trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam trong thời

kỳ mới” [1, tr.3]

Bên cạnh đó, từ năm 2011 đến năm 2015 đã có 63 văn bản quy phạm pháp luật có lồng ghép vấn đề bình đẳng giới [phụ lục 01] Ngoài ra, các văn bản quy phạm pháp luật của các địa phương, bộ, ban ngành trung ương khi xây dựng và ban hành phải có lồng ghép giới

1.4 Yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh

1.4.1 Yếu tố chính trị và pháp lý

Đây là yếu tố quan trọng, tiên quyết cho mục tiêu bình đẳng giới được thực hiện có hiệu quả Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề bình

Trang 38

đẳng nam nữ và đảm bảo để phụ nữ được tham gia các mặt của đời sống xã hội

Bình đẳng về chính trị là nội dung đầu tiên của bình đẳng giới, vì vậy quốc gia có một nền chính trị ổn định, thể chế pháp lý đầy đủ sẽ quyết định hiệu quả, kết quả thực hiện bình đẳng giới của quốc gia

Nếu chế độ chính trị bất ổn, cơ chế pháp lý không ổn định, thường xuyên thay đổi thì công tác bình đẳng giới khó mà triển khai đồng bộ, hiệu quả, thậm chí không thể triển khai thực hiện

Kể từ khi thành lập cho đến nay, Đảng ta luôn ý thức và đánh giá cao vai trò của phụ nữ Việt Nam - một lực lượng quan trọng trong suốt chặng đường phát triển của đất nước Trong thời kỳ đổi mới, xây dựng đất nước, Đảng đã

ban hành Chỉ thị số 44- CT/TW (năm 1984) về Công tác cán bộ nữ, đến Nghị

quyết số 04-NQ/TW (năm 1993) của Bộ Chính trị về Đổi mới và tăng cường công tác vận động phụ nữ trong tình hình mới và gần đây nhất là Nghị quyết

số 11-NQ/TW (năm 2007) của Bộ Chính trị về Công tác phụ nữ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, trong đó nhấn mạnh phấn đấu đến năm 2020 nước ta trở thành một trong các quốc gia có thành tích bình đẳng giới tiến bộ nhất khu vực Điều đó thể hiện cam kết chính trị của Đảng trong việc thúc đẩy vai trò, vị thế của phụ nữ trong bối cảnh đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập quốc tế sâu rộng Tuy nhiên, có một thực tế là từ quyết tâm chính trị và chủ trương, đường lối đến việc triển khai thực hiện vẫn còn

có khoảng cách, nhất là trong bối cảnh đất nước bị ảnh hưởng nặng nề của tư tưởng Nho giáo và các quan niệm truyền thống về phụ nữ như ở Việt Nam

Việt Nam là một trong số các nước có nhiều thành tựu về thực hiện bình đẳng giới đã được ghi nhận, như: xây dựng và ban hành văn bản pháp quy thể hiện nguyên tắc về bình đẳng giới, là một trong các quốc gia xóa bỏ khoảng cách giới nhanh nhất trong vòng 20 năm qua, đã hoàn thành trước thời hạn

Trang 39

mục tiêu bình đẳng nam nữ và nâng cao vị thế cho phụ nữ; Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội cao ở khu vực và thế giới (đứng thứ 43/143 nước trên thế giới và thứ 2 trong ASEAN); là nước dẫn đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương về các chỉ số bình đẳng giới thông qua việc cung cấp các dịch vụ y tế, giáo dục tới trẻ em gái, trẻ em trai, phụ nữ, nam giới, tỷ lệ mù chữ của nữ giới so với nam giới ngày càng giảm

Trong thời kỳ đổi mới, chủ trương về công tác phụ nữ và bình đẳng giới được thể hiện xuyên suốt trong các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, đặc biệt, Đảng luôn chú trọng đến vấn đề xây dựng đội ngũ cán bộ nữ tương xứng với lực lượng phụ nữ trong xã hội, có phẩm chất, trình độ và năng lực tham gia mọi lĩnh vực của đời sống

1.4.2 Điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, môi trường của tỉnh

Điều kiện phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường của tỉnh là yếu

tố tác động đến việc triển khai thực hiện bình đẳng giới, ở từng mặt có những tác động tích cực hoặc tiêu cực cụ thể Nếu điều kiện kinh tế, xã hội phát triển kéo theo nhận thức, trình độ của người dân được nâng lên, từ đó việc thực hiện bình đẳng được thực hiện ở các lĩnh vực như hoạt động quản lý kinh doanh, giáo dục đào tạo, tham gia các hoạt động văn hóa, thông tin thể thao, tiếp cận và sử dụng các nguồn thông tin, chăm sóc sức khỏe

Điều kiện về môi trường, bao gồm môi trường bên ngoài và môi trường bên trong

+ Môi trường bên ngoài gồm các môi trường tác động như môi trường giáo dục, các hoạt động truyền thông

+ Môi trường bên trong chính là bản thân người phụ nữ quyết định thực hiện bình đẳng giới, nâng quyền cho bản thân mình thông qua việc bản thân người phụ nữ phải tự tin, khẳng định mình và phấn đấu vươn lên trong học tập, công tác, tự chủ trong mọi hoạt động và tự ra quyết định

Trang 40

1.4.3 Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất

Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất là một trong những yếu tố tác động

và quyết định đến hiệu quả công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới cấp tỉnh Nếu nguồn lực tài chính không đảm bảo thì cũng khó mà đảm bảo thực hiện quản lý nhà nước về bình đẳng giới đạt hiệu quả cao, theo kế hoạch, chương trình đã đề ra

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng cũng nhấn mạnh: “Nâng cao trình độ mọi mặt và đời sống vật chất, tinh thần, thực hiện bình đẳng giới Tạo điều kiện để phụ nữ thực hiện tốt vai trò người công dân, người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con người Bồi dưỡng, đào tạo để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơ quan lãnh đạo và quản lý ở các cấp”

1.4.4 Năng lực và kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ quản lý và thực hiện chuyên môn về bình đẳng giới

Năng lực, kiến thức, kinh nghiệm thực tiễn của đội ngũ cán bộ quản lý

và thực hiện chuyên môn làm công tác quản lý nhà nước về bình đẳng giới là một trong những yếu tố quan trọng và quyết định việc triển khai, tổ chức thực hiện cũng như hiệu quả công tác bình đẳng giới bình đẳng giới Tất cả các Luật, quy định, hướng dẫn thực hiện đều từ con người mà ra, đều do đội ngũ cán bộ, công chức đề xuất, thực hiện, kiểm tra, đánh giá

Cùng một chủ trương, nghị quyết, nội dung nếu cán bộ quản lý và thực hiện chuyên môn về bình đẳng giới có năng lực, kinh nghiệm và trách nhiệm thực hiện thì hiệu quả sẽ cao, và ngược lại nếu cán bộ quản lý và thực hiện chuyên môn về bình đẳng giới năng lực yếu, không có kinh nghiệm, thiếu trách nhiệm thì chủ trương, nội dung đó khi triển khai thực hiện hiệu quả sẽ không cao, thậm chí không thể triển khai thực hiện

Ngày đăng: 18/12/2017, 13:33

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm