1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)

96 405 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 631,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ VĂN QUÝ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

LÊ VĂN QUÝ

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC

VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số : 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHAN HẢI HỒ

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn thạc sỹ Quản lý công với đề tài “Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” là công trình nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự

hướng dẫn khoa học của TS Phan Hải Hồ và hoàn thành vào tháng 4 năm 2017

tại Học viện hành chính quốc gia

Học viên

Lê Văn Quý

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

TTATGTĐB Trật tự an toàn giao thông đường bộ

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Danh mục các chữ viết tắt ii

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 4

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 4

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6

7 Kết cấu của luận văn 7

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 7

1.1 Khái niệm quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông trên địa bàn cấp tỉnh 7

1.1.1 Quản lý nhà nước 8

1.1.2 Trật tự an toàn giao thông 9

1.1.3 Địa bàn cấp tỉnh 9

1.1.4 Quản lý nhà nước về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh 10

1.2 Đặc điểm quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn cấp tỉnh 11

1.2.1 QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước ở địa phương 11

1.2.2 QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt động chấp hành và điều hành 11

Trang 6

1.2.3 QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt động có tính thống

nhất, được tổ chức chặt chẽ; đảm bảo tính nghiêm minh của pháp

luật 12

1.3 Nội dung quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn cấp tỉnh 13

1.4 Vai trò của quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn cấp tỉnh 22

Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 26

2.1 Thực trạng tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 26

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang 26

2.2.1 Xây dựng và ban hành văn bản quản lý Nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ 29

2.2.2 Triển khai thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ 32

2.2.3 Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ 37

2.2.4 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ 41

2.3 Đánh giá chung 43

2.3.1 Ưu điểm 43

2.3.2 Hạn chế 44

Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 51

Trang 7

3.1 Dự báo công tác quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông trên địa bàn

tỉnh Kiên Giang 51

3.1.1 Dự báo những yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội 51

3.1.2 Dự báo những yếu tố cần phải tăng cường QLNN về TTATGTĐB……… ……… 53

3.2 Các giải pháp cơ bản nhằm tăng cường quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ 57

3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật 57

3.2.2.Tăng cường công tác tổ chức thực hiện pháp luật GTĐB……… 64

3.2.3 Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, hướng dẫn pháp luật về trật tự, an toàn giao thông đường bộ 75

3.2.4 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra 79

KẾT LUẬN 85

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 87

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Kiên Giang nằm tận cùng phía Tây nam của Tổ quốc, trong đó lãnh thổ bao gồm đất liền và hải đảo Phía Đông tiếp giáp với các tỉnh là An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang, phía Tây giáp vịnh Thái Lan, phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, phía Bắc giáp Campuchia, đường biên giới dài 56,8 km, với các tuyến quốc lộ qua địa bàn tỉnh, gồm: Quốc lộ 61, 63, 80, đường N1 có tổng chiều dài 292km Do đó, Kiên Giang có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa, xã hội với các tỉnh lân cận và với nước bạn Campuchia, trong đó, giao thông đường bộ đóng vai trò rất quan trọng

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển chung của đất nước, tỉnh Kiên Giang có sự chuyển biến sâu sắc về mọi mặt trên tất cả các lĩnh vực Vì vậy, đời sống nhân dân được nâng cao, cơ sở hạ tầng phát triển nhanh, các khu công nghiệp, cụm dân cư được xây dựng ngày càng nhiều, nhất là hệ thống các công trình giao thông với mạng lưới dày đặc được phủ rộng khắp cả tỉnh Nhiều tuyến đường huyết mạch như quốc lộ 61, 63, 80, đường N1 và các tuyến liên tỉnh, liên huyện, liên xã với lưu lượng phương tiện lưu thông qua các tuyến rất lớn đã tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, văn hoá - xã hội, cũng như sự giao lưu phát triển với các vùng khác, phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân và củng cố an ninh quốc phòng

Tuy nhiên, trong thập kỷ qua, sự gia tăng về kinh tế, thu nhập và sự phát triển của kết cấu hạ tầng giao thông vận tải đã thúc đẩy số lượng phương tiện cơ giới đường bộ, đặc biệt là ôtô, môtô, xe gắn máy trên địa bàn tỉnh Kiên Giang gia tăng một cách nhanh chóng Lưu lượng và khối lượng giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang tăng nhanh kéo theo các vấn đề liên quan như xung đột giao thông, tai nạn giao thông, ùn tắc giao thông bắt đầu gia tăng Mặt khác, mức độ hiểu biết

và ý thức chấp hành các yêu cầu về an toàn giao thông của người tham gia giao thông của cộng đồng vẫn còn rất thấp Công tác quản lý về an toàn GTĐB của các

Trang 9

cấp chính quyền tỉnh Kiên Giang đã được cải thiện rõ rệt nhưng vẫn còn những bất cập, chưa đáp ứng nhu cầu Chính vì vậy, TNGT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã trở thành một vấn đề xã hội nghiêm trọng Tốc độ gia tăng số vụ TNGT hàng năm

đã được kiềm chế, tuy nhiên số người chết, bị thương vẫn còn ở mức độ cao và tính nghiêm trọng càng gia tăng

Nhằm kiềm chế và giảm thiểu TNGT, Chính phủ đã ban hành các Nghị định,

và Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang đã ban hành các Quyết định quy định thực hiện các biện pháp cấp bách Tuy nhiên, hiệu quả chưa cao do ý thức chấp hành luật của người tham gia giao thông thấp, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông chưa đồng bộ, yếu kém, hiệu lực quản lý nhà nước chưa cao

Sau hơn chín năm thực hiện Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP của Chính phủ về một số giải pháp cấp bách kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông và Chỉ thị số 25-CT/TU ngày 21/10/2007 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về tăng cường các biện pháp bảo đảm trật tự giao thông trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, tình hình trật tự ATGT đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang đã có chuyển biến tích cực, TNGT giảm đáng kể ở cả ba tiêu chí trong điều kiện phương tiện cơ giới đường bộ tiếp tục tăng nhanh, tuy nhiên tình hình diễn biến rất phức tạp, nhất là tai nạn đặc biệt nghiêm trọng và ùn tắc giao thông trong khu vực đô thị Luật GTĐB đã được sửa đổi năm 2008 và các Nghị định hướng dẫn thi hành đã và đang được sửa đổi ban hành, các quyết định của UBND tỉnh Kiên Giang cho thấy quyết tâm của Đảng, Nhà nước và Chính quyền tỉnh trong việc tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện các giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu lực, hiệu quả của QLNN đối với công tác đảm bảo TTATGTĐB

Bên cạnh đó, những yếu tố đặc thù của địa bàn tỉnh Kiên Giang (kinh tế, văn hóa - xã hội, kết cấu hạ tầng, phương tiện, môi trường) góp phần làm cho tình hình đảm bảo TTATGTĐB càng trở lên phức tạp

Trang 10

Với những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” làm luận văn thạc sỹ

quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong những năm gần đây, đã có một số luận văn, công trình nghiên cứu khoa học, bài viết chuyên đề có liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận văn như:

- Thạch Như Sỹ: “Phối hợp dịch vụ công cộng và trật tự công cộng trong

QLNN về giao thông đô thị trên địa bàn thành phố Hà Nội Luận văn thạc sĩ Quản

lý hành chính công, năm 2009 Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất một số giải pháp về công tác phối hợp giữa dịch vụ công và trật tự công cộng trong QLNN vê giao thông đô thị trên địa bàn thành phố

Hà Nội mà không đề cập về TTATGTĐB

- Nguyễn Huy Bằng: “Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực

giao thông đường bộ ở nước ta hiện nay”, Luận văn thạc sĩ Luật học, năm 2001

Luận văn đã làm rõ lịch sử phát triển tư tưởng pháp chế; khái niệm pháp chế, quan niệm pháp chế trong lĩnh vực GTĐB; tỉnh tất yếu phải tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa (XHCN) trong lĩnh vực GTĐB; thực trạng, phương hướng và giải pháp tăng cường pháp chế trong lĩnh vực GTĐB Như vậy, luận văn đã không đề ra mục tiêu nghiên cứu về QLNN về TTATGTĐB

- Mai Văn Đức: “Nghiên cứu tình hình an toàn giao thông đường bộ và các

biện pháp khắc phục”, Luận văn thạc sĩ Khoa học - Kỹ thuật, năm 2000 Luận văn

không nghiên cứu về an toàn GTĐB dưới góc độ của khoa học quản lý hành chính công mà chỉ tập trung nghiên cứu về an toàn GTĐB dưới góc độ ứng dụng những thành tựu của khoa học kỹ thuật để quản lý, duy trì và khắc phục những hạn chế trong lĩnh vực GTĐB

- Trần Văn Quan: “Tăng cường QLNN về vận tải đường bộ - thực tiễn tỉnh

Đồng Nai”, Luận văn thạc sĩ Quản lý hành chính công, năm 2014 Luận văn tập

trung nghiên cứu những vấn đề lý luận chung của QLNN về vận tải đường bộ trong

Trang 11

nền kinh tế thị trường; phân tích và đánh giá thực trạng QLNN về vận tải đường bộ trên địa bàn tỉnh Đồng Nai; từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm tăng cường QLNN về vận tải đường bộ Như vậy, luận văn chỉ nghiên cứu một vấn đề

về vận tải đường bộ

- Trần Đào: “Tai nạn giao thông đường bộ, thực trạng, nguyên nhân và giải

pháp phòng ngừa của lực lượng cảnh sát giao thông’'’ - Đề tài nghiên cứu khoa

học cấp Bộ, năm 1998 Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu một vấn đề về TNGT, cụ thể là: Khái niệm tai nạn GTĐB; nguyên nhân tai nạn GTĐB; đánh giá thực trạng tai nạn GTĐB; từ đó đề xuất những giải pháp phòng ngừa tai nạn GTĐB của lực lượng cảnh sát giao thông

Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu về hoạt động quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu QLNN về trật tự an toàn giao thông đường bộ tỉnh Kiên Giang trong giai đoạn 2010 - 2015, luận văn đề ra các giải pháp tăng cường QLNN về trật tự an toàn giao thông đường bộ tỉnh Kiên Giang

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Phân tích cơ sở lý luận của QLNN về trật tự an toàn giao thông đường bộ

- Phân tích vai trò của QLNN về trật tự an toàn giao thông đường bộ

- Đánh giá thực trạng, phân tích nguyên nhân hạn chế của QLNN về trật tự

an toàn giao thông đường bộ tỉnh Kiên Giang từ năm 2010 đến 2016

- Xác định các phương hướng và đề xuất các giải pháp tăng cường QLNN về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 12

QLNN về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: QLNN về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2010 – 2016

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; các quan điểm của Đảng và Nhà nước trong công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các văn bản pháp luật, các công trình nghiên cứu, các tài liệu khác có liên quan đến quản lý nhà nước về trật tự

an toàn giao thông đường bộ

- Phương pháp thống kê: Thu thập, hệ thống, phân tích, tổng hợp, đánh giá các tài liệu, số liệu phản ánh công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ

- Phương pháp điều tra điển hình: Nghiên cứu sâu một số trường hợp điển hình về công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ Từ đó rút

ra những kết luận phù hợp với mục đích nghiên cứu

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Thông qua công tác khảo sát tình hình quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ, từ đó nghiên cứu, tổng hợp, rút ra các nguyên nhân, bài học kinh nghiệm làm giải pháp đề ra các biện pháp tăng cường hoạt động này trên địa bàn tỉnh trong thời gian tới

- Phương pháp toạ đàm, lấy ý kiến chuyên gia: Trực tiếp toạ đàm, trao đổi với các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu lý luận cũng như các đồng chí có chức năng, thẩm quyền, trực tiếp làm công tác quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang để rút ra những kinh nghiệm phục vụ nghiên cứu luận văn

Trang 13

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn đã làm rõ được một số vấn đề lý luận, thực tiễn về hoạt động quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang, góp phần hệ thống hóa hệ thống lý luận về hoạt động quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ

- Luận văn đã đề ra được một số giải pháp góp phần tăng cường quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể vận dụng vào thực tiễn công tác của địa phương để tăng cường hoạt động quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang và những địa bàn có tình hình tương tự

Ngoài ra, luận văn này còn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham khảo cho giảng viên, học viên Học viện Hành chính Quốc gia

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông

đường bộ trên địa bàn cấp tỉnh

Chương 2: Thực trạng quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường

bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao

thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Trang 14

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO

THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN CẤP TỈNH 1.1 Khái niệm quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông trên địa bàn cấp tỉnh

1.1.1 Quản lý Nhà nước

Quản lý là một hoạt động có từ lâu đời trong xã hội Nói đến hoạt động quản

lý trong xã hội là trực tiếp đề cập đến sự tác động, chỉ huy, điểu khiển các quá trình

xã hội và hành vi hoạt động của con người phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đề ra và đúng với ý chí của chủ thể quản lý Quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý bằng các phương pháp nhất định nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra của nhà quản lý Chủ thể quản lý là những cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền; đối tượng quản lý là các quá trình xã hội và hành vi của con người có liên quan[1, tr.16]

Xét từ phía đối tượng quản lý, các hoạt động quản lý có thể phân chia thành

ba nhóm chủ yếu: quản lý giới vô sinh, quản lý giới sinh vật và quản lý xã hội Như vậy, quản lý xã hội với tư cách là quản lý các hoạt động của con người, giữa con người với nhau trong xã hội loài người là một bộ phận của quản lý chung

Trong hoạt động quản lý xã hội, có rất nhiều chủ thể tham gia: các đảng phái chính trị, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp, trong đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng Nhà nước là trung tâm của hệ thống chính trị, là công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội, bảo đảm trật tự xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển

Quản lý Nhà nước là một dạng của quản lý xã hội nhưng là dạng quản lý xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của nhà nước Đó chính là hoạt động quản lý gắn liền với hệ thống các cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước - bộ phận quan trọng của quyền lực chính trị trong xã hội, có tính chất

Trang 15

cưỡng chế đơn phương đối với xã hội Trong hoạt động quản lý xã hội, có rất nhiều chủ thể tham gia: Đảng phái chính trị, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội, các hội nghề nghiệp trong đó Nhà nước giữ vai trò quan trọng Quản lý Nhà nước được hiểu trước hết là hoạt động của các cơ quan Nhà nước thực thi quyền lực Nhà nước

Quản lý Nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì trật tự và đảm bảo sự phát triển của xã hội theo một định hướng thống nhất [1, tr.55-57]

Như vậy, quản lý Nhà nước là hoạt động mang tính chất quyền lực Nhà nước của các cơ quan Nhà nước và cán bộ, công chức có thẩm quyền, được sử dụng quyền lực Nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội Đối tượng của quản lý Nhà nước là hệ thống các hành vi, hoạt động của con người, các tổ chức con người trong cuộc sống xã hội, bao trùm lên mọi lĩnh vực trong xã hội Có thể chia đối tượng của quản lý Nhà nước theo các lĩnh vực của đời sống xã hội như: Kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng Khi đối tượng của quản lý Nhà nước là đấu tranh phòng, chống tội phạm thì đó là quản lý Nhà nước đối với đấu tranh phòng, chống tội phạm [1, tr.46]

Quản lý Nhà nước do các cơ quan Nhà nước và cán bộ, công chức thực hiện tác động lên xã hội tập trung vào các hoạt động chủ yếu sau:

- Ban hành các quy định để làm căn cứ điều chỉnh các quan hệ xã hội trong những lĩnh vực cụ thể nhất định;

- Tổ chức xây dựng bộ máy và nhân sự để thực hiện các quy định đó;

- Kiểm soát việc thực hiện các quy định;

- Hỗ trợ các đối tượng trong trường hợp cần thiết

Trang 16

Hành chính Nhà nước được hiểu là một bộ phận của quản lý Nhà nước Trong hoạt động của Nhà nước, hoạt động hành chính Nhà nước gắn liền với việc thực hiện một bộ phận quan trọng của quyền lực Nhà nước là quyền hành pháp Đó

là hoạt động thực thi quyền hành pháp hay "hành pháp trong hành động" [32, tr.24]

Có thể hiểu hành chính Nhà nước là "sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của công dân, do các cơ quan trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội, duy trì trật tự, an ninh, thoả mãn các nhu cầu hợp pháp của các công dân" [32,tr.24],[1, tr.57-59] Như vậy, hoạt động hành chính Nhà nước là hoạt động quan trọng, chủ yếu và phổ biến nhất trong hoạt động thực thi quyền lực Nhà nước vì bộ máy hành chính Nhà nước được trao quyền trực tiếp điều hành các hành

vi của mọi cá nhân và tổ chức trong xã hội, định hướng cho xã hội phát triển

Hành chính Nhà nước do hệ thống cơ quan hành chính Nhà nước từ Trung ương tới địa phương tiến hành Mỗi cơ quan hành chính Nhà nước đảm nhiệm các chức năng, nhiệm vụ quản lý theo quy định của pháp luật

1.1.2 Trật tự an toàn giao thông

Trật tự an toàn giao thông là trạng thái xã hội có trật tự được hình thành và điều chỉnh bởi các vi phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng, nhằm đảm bảo cho giao thông thông suốt, trật tự an toàn, hạn chế đến mức thấp nhất tai nạn giao thông Đảm bảo trật tự an toàn giao thông là một yêu cầu và nhiệm vụ cơ bản của mọi quốc gia và xem đó là điều kiện cần thiết để phát triển kinh tế, cũng cố an ninh quốc phòng và ổn định trật tự xã hội

Trang 17

thuộc tỉnh; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện, thị xã và đơn

vị hành chính tương đương; Huyện chia thành xã, thị trấn; Thị xã và thành phố

thuộc tỉnh chia thành phường và xã; Quận chia thành phường

Như vậy, theo quy định của Hiến pháp 2013, có thể thấy địa bàn hành chính cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh) là đơn vị hành chính cấp cao nhất trong tổ chức chính quyền địa phương của nước ta Đây là một địa bàn rộng, mang tính đặc riêng của mỗi địa phương trên cơ sở vị trí địa lý và đặc điểm dân cư, kinh tế, văn hóa xã hội

1.1.4 Quản lý nhà nước về TTATGT đường bộ trên địa bàn cấp tỉnh

Quản lý trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn cấp tỉnh là một nội dung quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông, trật tự an toàn xã hội do các

cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương luôn ổn định, trật tự, thông suốt và an toàn

Từ những khái niệm nêu trên, có thể rút ra khái niệm quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn cấp tỉnh như sau: Quản lý Nhà nước về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là sự điều chỉnh, tác động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (bao gồm UBND cấp tỉnh và các cơ quan tham mưu như: Sở Giao thông vận tải, Công an cấp tỉnh) bằng pháp luật, chính sách, quy hoạch… lên các tổ chức, cá nhân có các hành vi về giao thông đường bộ nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông đường bộ luôn ổn định, trật tự, thông suốt và an toàn; góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật trên lĩnh vực giao thông đường bộ, bảo đảm quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân khi tham gia giao thông; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương

Như vậy, thông qua việc xác lập trật tự quản lý Nhà nước về giao thông đường bộ góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương xã hội, bảo đảm giao thông thông

Trang 18

suốt, trật tự, an toàn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của tỉnh, thành đó

1.2 Đặc điểm quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn cấp tỉnh

1.2.1 QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước ở địa phương

Tính quyền lực Nhà nước ở địa phương trong bảo đảm TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh thể hiện ở chỗ hoạt động QLNN ở lĩnh vực này được tiến hành bởi nhiều cơ quan hành chính Nhà nước của địa phương, với những thẩm quyền khác nhau cùng tham gia bảo đảm TTATGTĐB Đó là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Sở Giao thông vận tải, Công an cấp tỉnh, Ngoài ra, còn có những cơ quan khác giữ vai trò phối hợp như Mặt trận Tổ quốc, Sở Y tế, Sở Xây dựng, Sở Giáo dục và Đào tạo, cơ quan thông tin đại chúng, v.v…

Các cơ quan hành chính Nhà nước có thẩm quyền trên địa bàn cấp tỉnh căn

cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của pháp luật để ban hành

ra các văn bản quản lý hành chính Nhà nước có tính chất bắt buộc các đối tượng tham gia giao thông đường bộ phải thực hiện, nhằm đảm bảo duy trì thường xuyên TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh, đảm bảo trật tự, an toàn, thông suốt Bên cạnh

đó, QLNN trong bảo đảm TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh còn có tác động rất lớn đến đời sống xã hội và phát triển kinh tế của địa phương; khi giao thông đường

bộ thông suốt, an toàn, tiện lợi sẽ là tiền đề quan trọng để thúc đẩy sản xuất phát triển, giao lưu kinh tế giữa các vùng miền được đẩy mạnh, nhu cầu đi lại, giao lưu văn hóa, giáo dục, sẽ sôi động hơn, góp phần tích cực vào quá trình phát triển kinh

tế - xã hội của địa phương

1.2.2 QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt động chấp hành

và điều hành

Tính chấp hành và điều hành trong hoạt động QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành trên cơ sở

Trang 19

các quy định của pháp luật và nhằm mục đích thực hiện pháp luật Các cơ quan Nhà nước, các cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước được pháp luật quy định tiến hành hoạt động QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh không chỉ tự mình thực hiện pháp luật mà còn tổ chức để mọi đối tượng có liên quan thực hiện pháp luật nhằm hiện thực hóa các quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước Các cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức hành chính Nhà nước căn cứ vào thẩm quyền, trình tự, thủ tục đã được pháp luật quy định mà tổ chức cho các đối tượng quản lý thực hiện những quy định pháp luật Việc tổ chức, thực hiện những nội dung và yêu cầu QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh được tiến hành công khai, thống nhất, đồng bộ bởi các cơ quan Nhà nước, người có thẩm quyền dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật, nghiêm cấm tình trạng cửa quyền, hách dịch, lạm quyền, sách nhiễu các chủ thể tham gia hoạt động giao thông đường bộ Bên cạnh đó, việc xử lý các vi phạm pháp luật về TTATGTĐB dù ở mức độ xử lý vi phạm hành chính hay truy cứu trách nhiệm hình sự đều phải được tiến hành trên cơ sở pháp luật, theo pháp luật Có như thế mới đảm bảo tính pháp chế trong xử lý vi phạm pháp luật về TTATGTĐB, góp phần giữ vững trật tự, kỷ cương trong hoạt động đảm bảo TTATGTĐB, khắc phục được tình trạng tùy tiện, lạm quyền, đùn đẩy, né tránh bỏ sót vi phạm trong xử lý

Như vậy, trong hoạt động QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh, tính chấp hành và tính điều hành luôn đan xen, song song tồn tại, tạo nên sự đặc thù của hoạt động quản lý trật tự an toàn giao thông trên địa bàn tỉnh, thành phố

1.2.3 QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ; đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật

Để đảm bảo tính pháp chế trong hoạt động quản lý TTATGTĐB, bộ máy các

cơ quan quản lý hành chính Nhà nước ở địa bàn cấp tỉnh được tổ chức thành một khối thống nhất từ cấp tỉnh đến cấp cơ sở Cụ thể, ở cấp tỉnh là bộ máy quản lý, điều hành gồm các sở, ban, ngành như: Ủy ban nhân dân, Sở GTVT, Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, ở cấp huyện là các Phòng, Ban, Đội; ở cấp xã là

Trang 20

các Tổ, Đội; nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành thống nhất, đảm bảo lợi ích chung của địa phương, đảm bảo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương trên địa bàn cấp tỉnh, tránh sự phân hóa, cục bộ giữa các khu vực, vùng miền khác nhau trong hoạt động quản lý TTATGTĐB

Bên cạnh đó, hoạt động QLNN về TTATGTĐB là lĩnh vực quản lý hết sức phức tạp, bởi vì hoạt động giao thông có tính xã hội rộng lớn, phổ biến nhất, phương tiện giao thông rất đa dạng, người tham gia giao thông có đủ mọi thành phần, ở nhiều lứa tuổi Trong khi đó, trình độ nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật về TTATGTĐB nói riêng của đại đa số người tham gia giao thông còn thấp Để đảm bảo TTATGTĐB, tránh ùn tắc GTĐB, tai nạn GTĐB

và tổn thất do tai nạn GTĐB gây ra, pháp luật GTĐB quy định rất cụ thể người tham gia GTĐB được làm và không được làm những gì mà pháp luật cấm, hoặc nghiêm cấm Mọi hành vi vi phạm các quy định về đảm bảo TTATGTĐB đều phải được xử lý, đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời giáo dục ý thức chấp hành pháp luật về đảm bảo TTATGTĐB, đảm bảo an toàn tính mạng, tài sản của nhân dân, góp phần phát triển kinh tế - xã hội của địa phương

1.3 Nội dung quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn cấp tỉnh

Điều 84, Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định nội dung quản lý nhà nước về giao thông đường bộ bao gồm:

1 Xây dựng quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển giao thông đường bộ; xây dựng và chỉ đạo thực hiện chương trình quốc gia về an toàn giao thông đường bộ;

2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giao thông đường bộ; quy chuẩn, tiêu chuẩn về giao thông đường bộ;

3 Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ;

4 Tổ chức quản lý, bảo trì, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

Trang 21

5 Đăng ký, cấp, thu hồi biển số phương tiện giao thông đường bộ; cấp, thu hồi giấy chứng nhận chất lượng, an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường của phương tiện giao thông đường bộ;

6 Quản lý đào tạo, sát hạch lái xe; cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ;

7 Quản lý hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải; tổ chức cứu nạn giao thông đường bộ;

8 Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ về giao thông đường bộ; đào tạo cán bộ và công nhân kỹ thuật giao thông đường bộ;

9 Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo; xử lý vi phạm pháp luật

về giao thông đường bộ;

10 Hợp tác quốc tế về giao thông đường bộ

Như vậy, có thể khái quát những nội dung cơ bản của QLNN về trật tự, an

toàn giao thông đường bộ bao gồm:

Xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ

Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước về trật

tự, an toàn giao thông đường bộ nói riêng trước hết là hoạt động thực hiện pháp luật Để tạo cơ sở cho việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về trật tự,

an toàn giao thông đường bộ, nhà nước đã xây dựng và ban hành các văn bản quản

lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ Luật Giao thông đường bộ năm 2008 được xây dựng, ban hành dựa trên quan điểm quán triệt đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và các nguyên tắc sau:

- Bảo đảm tính kế thừa các nội dung phù hợp của Luật năm 2001, bổ sung những nội dung chưa được Luật năm 2001 điều quy định hoặc quy định chưa rõ, không phù hợp; bãi bỏ những quy định không còn phù hợp với thực tiễn và xu thế phát triển, hội nhập của ngành giao thông vận tải;

Trang 22

- Đáp ứng nhu cầu phát triển, hội nhập theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần đắc lực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc;

- Bảo đảm tính phù hợp, thống nhất với Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành thuộc hệ thống pháp luật Việt Nam;

- Bảo đảm tuân thủ các Điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam là thành viên, đồng thời vận dụng quy định của các điều ước, tập quán quốc tế và luật nước ngoài phù hợp với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam và xu thế, thực tiễn của hoạt động giao thông vận tải đường bộ trong nước

Luật giao thông đường bộ năm 2008 có tính xã hội hóa cao, phù hợp với tình hình xã hội hiện nay, tác động trực tiếp đến nhiều mặt của đời sống xã hội Việc ban hành Luật Giao thông đường bộ năm 2008 là yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền Việt nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân, phục vụ đắc lực cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Dựa trên các văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ, chính quyền địa phương tiến hành xây dựng và ban hành các văn bản quản lý căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương mình Việc xây dựng và ban hành các văn bản quản lý của chính quyền địa phương tạo cơ sở thuận lợi cho việc tiến hành các bước tổ chức thực hiện, chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan Hoạt động này còn thể hiện chủ trương, chính sách cũng như ý chí của chính quyền địa phương đối với hoạt động quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ

Để QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh đòi hỏi các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền của địa phương phải ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực giao thông đường bộ Đây là hoạt động không thể thiếu trong cơ chế lãnh đạo, quản lý lĩnh vực TTATGTĐB của mỗi địa phương

Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước, các cơ quan quản lý Nhà nước về lĩnh vực TTATGTĐB cấp tỉnh căn cứ vào chức năng, nhiệm

vụ, quyền hạn của mình và thực trạng hoạt động QLNN về TTATGT để xây dựng

Trang 23

và ban hành các văn bản có liên quan đến các lĩnh vực cụ thể như: quy tắc giao thông đường bộ; các điều kiện bảo đảm an toàn giao thông đường bộ của kết cấu hạ tầng giao thông; phương tiện và người tham gia đường bộ; hoạt động vận tải đường bộ; cơ chế giám sát, thanh tra, kiểm tra; quy trình tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm trong việc chấp hành pháp Luật Giao thông đường bộ; quy định về khiếu nại; khởi kiện với những quyết định, biện pháp xử lý, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật giao thông làm cơ sở để đảm bảo hoạt động QLNN về TTATGT được an toàn, thông suốt Đồng thời, trong quá trình xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về hoạt động QLNN về TTATGTĐB ở địa bàn cấp tỉnh cần chú trọng đến yếu tố hợp lý và đồng bộ của các văn bản được ban hành Có nghĩa là, khi xây dựng và ban hành văn bản QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh phải đảm bảo phù hợp với Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước, đồng thời phải xuất phát từ điều kiện thực tế của địa phương Có như vậy, hoạt động QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn mới mang lại hiệu quả như mong muốn

Tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ

Việc tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ là quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của chính quyền địa phương và tất cả mọi người sinh sống trên địa bàn Xét về chủ thể quản lý nhà nước, UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm của cấp trên

Cụ thể hóa chúng bằng việc xây dựng và ban hành, chỉ đạo thực hiện các văn bản

đó tại địa phương Sở Giao thông vận tải, Công an tỉnh là cơ quan tham mưu trực tiếp cho UBND cùng cấp quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ,

tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh UBND cấp huyện, cấp xã thực hiện trực tiếp các văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ Phối hợp với các cơ quan, ban, ngành hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, quản lý chặt chẽ đảm bảo quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ tại địa phương Huy động các

Trang 24

ngành, đoàn thể, nhân dân cùng tham gia công tác quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ

Đối tượng quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ là tất cả các cơ quan, tổ chức, nhóm người, cộng đồng người, các cá nhân tham gia các mối quan hệ thuộc phạm trù trật tự an toàn giao thông đường bộ Quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ giành ưu tiên cho mục tiêu đảm bảo cho các quá trình xã hội, các hoạt động trong đời sống xã hội diễn ra một cách bình thường,

an toàn trên cơ sở tôn trọng và tuân thủ các quy định của pháp luật và các quy tắc của lối sống, đạo đức xã hội Giữa trật tự an toàn giao thông và sự phát triển đất nước có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau Trật tự an toàn giao thông được đảm bảo sẽ tác động tích cực đến mục tiêu phát triển bề vững, tăng cường lòng tin của quần chúng nhân dân vào Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa Cần nhấn mạnh rằng: Nếu tình hình trật tự an toàn giao thông diễn biến phức tạp, tai nạn nghiêm trọng không giảm, không kiểm soát được sẽ gây ảnh hưởng rất xấu, thậm chí ảnh hưởng đến uy tín của nhà nước Điều 85, Luật Giao thông đường bộ quy định trách nhiệm thự hiện chức năng quản lý nhà nước về giao thông đường bộ như sau:

1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giao thông đường bộ;

2 Bộ Giao thông vận tải chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ;

3 Bộ Công an thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan; thực hiện các biện pháp bảo đảm trật tự, an toàn giao thông; phối hợp với Bộ Giao thông vận tải bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ;

4 Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải có trách nhiệm phối hợp trong việc cung cấp số liệu đăng ký phương tiện giao thông đường bộ, dữ liệu về tai nạn giao thông và cấp, đổi, thu hồi giấy phép lái xe;

Trang 25

5 Bộ Quốc phòng thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan;

6 Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Giao thông vận tải thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ;

7 Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về giao thông đường bộ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan trong phạm vi địa phương

Ngoài ra, trên cơ sở kinh nghiệm của các địa phương và các nước phát triển

về hoạt động quản lý TTATGTĐB, để thực hiện có hiệu quả các văn bản quản lý nhà nước trên lĩnh vực này, các địa bàn cấp tỉnh cần có kế hoạch áp dụng rộng rải các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào công tác tổ chức, chỉ huy điều khiển giao thông theo điều kiện hoàn cảnh cụ thể của địa phương mình, có kết hợp tranh thủ sự giúp

đỡ của các nước phát triển Trước mắt cần có kế hoạch trang bị các loại phương tiện thông tin liên lạc và phương tiện giao thông cá nhân cơ động, đảm bảo được sự linh hoạt trong việc giải toả những ách tắc giao thông và kịp thời phối hợp với lực lượng khác khi có yêu cầu của tình huống đặt ra

Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ

Vấn đề tuyên truyền giáo dục cho mỗi công dân trên địa bàn hiểu pháp luật

và có ý thức chấp hành pháp luật trong đó có luật giao thông là vấn đề có tính chất tiền đề để xây dựng một trật tự xã hội mới Mặc dù thời gian qua, công tác tuyên truyền Luật giao thông đường bộ đối với cộng đồng đã có những bước tiến bộ đáng

kể, có sự kết hợp đồng bộ nhiều cơ quan, ban, ngành, nhiều tổ chức xã hội và huy động được nhiều tầng lớp nhân dân cùng tham gia Tuy nhiên, hiệu quả của công tác này vẫn còn hạn chế, chưa được phát huy tối đa, đã đến lúc vấn đề này cần có

sự trợ giúp của ngân sách Nhà nước để lực lượng Cảnh sát giao thông phối hợp với

Trang 26

các ban, ngành thực hiện một cách thường xuyên, sâu rộng thì mới mang lại hiệu quả trong thực tiễn

Tại khoản 2 Điều 7 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định “ Uỷ ban nhân dân các cấp trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tổ chức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ tại địa phương, có hình thức tuyên truyền, phổ biến phù hợp đến đồng bào các dân tộc

thiểu số”

So với Luật giao thông đường bộ năm 2001, Luật giao thông đường bộ năm

2008 đã bổ sung quy định về việc tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật về giao thông đường bộ đến đồng bào các dân tộc thiểu số Quy định này đòi hỏi phải

có chương trình, nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp với đặc điểm văn hoá, ngôn ngữ của đồng bào dân tộc để nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo dục, bảo đảm các quy định của pháp luật đi vào đời sống, đến được với mọi đối tượng trong xã hội vì đây là một Luật có tính xã hội hóa cao, ảnh hưởng trực tiếp đến người dân Muốn tạo điều kiện và phát huy vai trò của nhân dân trong quản lý nhà nước về trật

tự, an toàn giao thông đường bộ thì các cơ quan chức năng cần làm tốt công tác tuyên truyền Thông qua việc tuyên truyền, các cá nhân, tổ chức thấy được vai trò, trách nhiệm của mình trong quản lý nhà nước, góp phần đẩm bảo, giữ gìn trật tự, an toàn cho giao thông Các bộ phận có trách nhiệm tổ chức phối hợp tuyên truyền cho nhân dân về mục đích, ý nghĩa, tác dụng của trật tự, an toàn xã hội, đảm bảo thực hiện các kế hoạch phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, con người ở địa phương

Sở văn hóa – thông tin, sở tư pháp, sở kế hoạch và đầu tư, sở tài chính phối hợp với nhau và phối hợp với công an tỉnh theo sự chỉ đạo của UBND tỉnh hướng dẫn cơ quan báo chí xây dựng chuyên trang, chuyên mục pháp luật, dành diện tích, thời lượng thích hợp để tuyên truyền, phổ biến pháp luật về trật tự, an toàn xã hội;

bố trí cân đối kinh phí cho việc thực hiện tuyên truyền pháp luật Ngoài ra, UBND các cấp tại địa phương cần chỉ đạo các bộ phận chuyên môn tăng cường cán bộ cóa năng lực, phẩm chất đạo đức tốt, có uy tín và được người dân địa phương tin cậy để

Trang 27

làm công tác tuyên truyền, hướng dẫn tận tình, thấu đáo cho người dân hiểu và thực hiện pháp luật đầy đủ, nghiêm túc, có hiệu quả

Kiểm tra, thanh tra thực hiện văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ

Vị trí vai trò của công tác thanh tra được thể hiện cụ thể trong các văn bản pháp luật về thanh tra, nhất là từ Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đến Luật Thanh tra năm 2004, Luật Thanh tra năm 2010 Hoạt động thanh tra được xem như một khâu

quan trọng của quản lý nhà nước, thể hiện qua các vai trò và ý nghĩa sau: Thứ nhất,

Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước Tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện quyết định là những giai đoạn tiếp theo của quá trình quản lý Kiểm tra là hình thức tác động có hướng đích nhằm quan sát cả hệ thống để phát hiện những sai lệch so với yêu cầu đề ra, tìm ra nguyên nhân và từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp đảm bảo để đối tượng bị quản lý tự điều chỉnh hoạt động để đạt tới mục tiêu mà chủ thể quản lý đã xác định.Việc tìm ra và áp dụng các giải pháp phù hợp phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố thuộc về chất lượng và hiệu quả của hoạt động kiểm tra Thanh tra là một phương thức của kiểm tra, là chức năng của quản lý, là công cụ của người lãnh đạo, người quản lý Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, các cơ quan quản lý Nhà nước nhất thiết phải tiến hành hoạt động thanh tra đối với việc thực hiện các quyết định

mà mình đã ban hành Đó là một khâu không thể thiếu được trong quá trình hoạt động quản lý Nhà nước Chính vì vậy thanh tra được xác định là chức năng thiết

yếu của quản lý Nhà nước Thứ hai, Thanh tra góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu

quả quản lý Nhà nước Để quyết định quản lý Nhà nước được các cơ quan, tổ chức

và cá nhân chấp hành đầy đủ thì các cơ quan, cá nhân đã ban hành quyết định phải

đề ra quy trình thực hiện quyết định Trong quy trình đó hoạt động thanh tra, kiểm tra không thể thiếu được Thanh tra, kiểm tra là để đánh giá, nhận xét tình hình và kết quả thực hiện quyết định quản lý; xem xét lại nội dung và chất lượng quản lý; khi cần thiết phải bổ sung, sửa đổi, thậm chí phải huỷ bỏ một phần hay toàn bộ

Trang 28

quyết định quản lý Trong trường hợp nội dung và chất lượng quyết định quản lý được thực tế kiểm nghiệm là đúng, là phù hợp, nhưng đối tượng thi hành vẫn không tuân thủ và không chấp hành nghiêm chỉnh thì khi đó hoạt động thanh tra, kiểm tra phải làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan, xác định rõ trách nhiệm thuộc khâu nào, thuộc cá nhân, tổ chức nào để chấn chỉnh hoặc xử lý khi có vi phạm Với ý

nghĩa đó thanh tra thực chất đã góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước Thứ

ba, Thanh tra là một phương thức bảo đảm pháp chế XHCN Một trong những

nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của hệ thống chính trị và bộ máy Nhà nước ta là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc pháp chế thể hiện ở việc chấp hành pháp luật cả từ phía các cơ quan Nhà nước và từ phía các cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước Về phía các cơ quan Nhà nước, nguyên tắc pháp chế thể hiện ở việc các cán bộ, công chức Nhà nước thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình mà pháp luật đã quy định Ngay trong hoạt động ban hành các quyết định, các văn bản quản lý, nguyên tắc pháp chế cũng được thể hiện ở việc văn bản của cơ quan cấp dưới phải phù hợp với các quy định trong các văn bản của cơ quan cấp trên, văn bản có hiệu lực thấp hơn phải phục tùng những văn bản có hiệu lực cao hơn và mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp - đạo luật gốc, có hiệu lực pháp lý cao nhất Với tư cách là một chức năng của quản lý Nhà nước, thanh tra chính là hoạt động xem xét việc làm của các

cơ quan, tổ chức, cá nhân có thực hiện đúng chính sách, pháp luật hay không Nếu

cơ quan, tổ chức, cá nhân làm sai hoặc làm chậm thì hướng dẫn sửa chữa và thực hiện đúng quy định Mục đích của thanh tra là phát hiện, phát huy những nhân tố tích cực, phòng ngừa, xử lý những vi phạm, bảo đảm để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành đầy đủ và nghiêm túc các quy định của pháp luật Thông qua công tác thanh tra tuyên truyền, giáo dục pháp luật, góp phần tích cực vào việc giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu đúng và chấp hành nghiêm chỉnh

pháp luật và đó cũng là một hoạt động bảo đảm tăng cường pháp chế Thứ tư,

Thanh tra là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm

Trang 29

pháp luật Điều 2 Luật Thanh tra năm 2010 khẳng định “Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện

và xử lý hành vi vi phạm pháp luật”; Thanh tra cùng với các phương thức kiểm tra, giám sát luôn luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật Chỉ riêng sự hiện diện của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát đã là một sự nhắc nhở thường xuyên đối với tất cả các đối tượng chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát phải tuân thủ pháp luật

từ đó hạn chế sự vi phạm pháp luật Các kiến nghị, yêu cầu được đưa ra từ hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ hướng vào việc phát hiện, xử lý hành

vi vi phạm pháp luật mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật tương tự xảy ra ở một nơi khác hoặc vào một thời điểm khác Vai trò phòng ngừa của thanh tra, kiểm tra, giám sát được đề cập ở đây là vai trò phòng ngừa mang tính chủ động Trong rất nhiều trường hợp, qua thanh tra, kiểm tra, giám sát mà có thể dự báo được một hành vi vi phạm pháp luật sẽ xảy ra trong tương lai nếu không có sự chấn chỉnh, định hướng lại cho các đối tượng một cách kịp thời Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; pháp luật được xây dựng để thể hiện ý chí của nhân dân cho nên thanh tra góp phần tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật cũng chính

là góp phần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa

1.4 Vai trò của quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường

bộ trên địa bàn cấp tỉnh

Quản lý Nhà nước về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là sự điều chỉnh, tác động của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bằng pháp luật, chính sách, quy hoạch…lên các tổ chức, cá nhân có các hành vi về giao thông đường bộ nhằm đảm bảo cho hoạt động giao thông đường bộ luôn ổn định, trật tự, thông suốt và an toàn; góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật trên lĩnh vực giao thông đường bộ, bảo đảm quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân khi tham

Trang 30

gia giao thông; đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương

QLNN về TTATGTĐB là phương thức quản lý hiệu quả nhất nhằm phát huy tối đa vai trò của giao thông đường bộ trong sự nghiệp phát triển kinh tế - văn hóa -

xã hội của đất nước nói chung, địa bàn cấp tỉnh nói riêng Cụ thể:

- Một là, QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh đảm bảo cho hoạt động giao thông đường bộ luôn ổn định, trật tự, thông suốt và an toàn

Quản lý TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh là một lĩnh vực quan trọng trong hoạt động quản lý TTATGT, do nhiều cấp, nhiều ngành, nhiều lực lượng của địa phương cùng có trách nhiệm thực hiện Quá trình tổ chức quản lý TTATGTĐB đòi hỏi các chủ thể quản lý phải dựa vào các quy định của pháp luật để tiến hành quản

lý các nội dung, đối tượng cụ thể trong hoạt động giao thông vận tải đường bộ Việc dựa vào các quy định của pháp luật để tiến hành các biện pháp quản lý Nhà nước nói chung và QLNN về TTATGTĐB nói riêng là một vấn đề có tính nguyên tắc, không những đảm bảo xác định đúng yêu cầu, nhiệm vụ, quyền hạn và phạm vi điều hành của chủ thể quản lý mà còn là cơ sở để xác định hành vi vi phạm TTATGTĐB, hình thức và mức độ xử lý…Từ đó giúp các chủ thể quản lý tiến hành quản lý TTATGTĐB áp dụng các biện pháp giải quyết phù hợp nhằm đáp ứng yêu cầu, nội dung quản lý theo chức năng, nhiệm vụ được giao; phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, làm giảm tai nạn và ùn tắc giao thông trên các tuyến đường, địa bàn giao thông công cộng, nhằm đảm bảo hoạt động giao thông đường bộ trên địa bàn cấp tỉnh được thuận lợi, thông suốt, trật

tự và an toàn

- Hai là, QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật trên lĩnh vực giao thông đường bộ, đảm bảo TTATGT, trật tự an toàn xã hội

QLNN về TTATGTĐB luôn hướng tới mục tiêu là làm sao đảm bảo cho mọi hoạt động giao thông vận tải đường bộ được trật tự, an toàn, nhanh chóng, tiện lợi,

Trang 31

thông suốt và hạn chế thấp nhất các vi phạm pháp luật về TTATGTĐB, hạn chế ùn tắc, kiềm chế tai nạn giao thông, ngăn ngừa thiệt hại do tai nạn giao thông đường

tổ chức, có kỷ cương, mọi lợi ích chính đáng được bảo đảm, không bị xâm hại

Hoạt động giao thông đường bộ diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc, liên quan đến mọi tầng lớp dân cư, mọi chủ thể trong xã hội, cho nên đảm bảo TTATGTĐB là điều kiện góp phần để đảm bảo trật tự an toàn xã hội TTATGTĐB được đảm bảo tức giao thông được thông suốt, tài sản, tính mạng, mọi lợi ích chính đáng khác của những chủ thể tham gia giao thông được đảm bảo, người dân có cuộc sống yên lành, ổn định, nhu cầu đi lại, phát triển kinh tế… được thuận lợi

Như vậy, TTATGTĐB có đảm bảo thì mới góp phần đảm bảo TTATGT, trật

tự an toàn xã hội Bởi lẽ TTATGTĐB là một bộ phận của trật tự an toàn xã hội Do vậy, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo vững chắc là cơ sở, là điều kiện để giữ vững TTATGT nói chung và TTATGTĐB nói riêng

- Ba là, QLNN về TTATGTĐB trên địa bàn cấp tỉnh đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của địa phương

QLNN về TTATGTĐB là một yêu cầu tất yếu để có một hệ thống giao thông đường bộ thông suốt, trật tự, an toàn, thuận lợi, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Bởi vì, một khi tình hình TTATGT nói chung và TTATGTĐB nói riêng được đảm bảo, việc đi lại, vận chuyển hàng hóa và trao đổi, giao thương giữa các địa phương với nhau được thuận lợi, an toàn thì sẽ kích cầu được quá trình giao lưu, trao đổi hàng hóa giữa các địa phương, vùng

Trang 32

miền với nhau, giúp nâng cao giá trị hàng hóa, phục vụ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội của địa phương

Ngoài việc đảm bảo phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo trật tự an toàn xã hội; QLNN về TTATGTĐB còn nhằm đảm bảo an ninh quốc phòng Bởi lẽ, một hệ thống đường bộ thông suốt, an toàn, trật tự, liên tục, thuận lợi là mục tiêu của QLNN về TTATGTĐB, đồng thời nó cũng là một cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng cho an ninh, quốc phòng

Giao thông vận tải nói chung và giao thông đường bộ nói riêng có vai trò rất quan trọng đối với việc đảm bảo an ninh, quốc phòng Giao thông đường bộ nối liền các vùng, các miền, các địa phương, giảm bớt độ chênh lệnh về mọi mặt của các vùng, tăng cường sự hiểu biết, đoàn kết giữa các cộng đồng dân cư, góp phần

ổn định chính trị Bên cạnh đó, giao thông đường bộ đảm bảo cung cấp hậu cần, kỹ thuật, tăng tính năng cơ động cho các lực lượng an ninh, quốc phòng làm nhiệm vụ giữ gìn bảo vệ chủ quyền, trọn vẹn lãnh thổ, phòng chống mọi vi phạm pháp luật về

an ninh quốc gia, bảo vệ vững chắc chủ quyền và thành quả cách mạng Do đó, cần tăng cường QLNN trong lĩnh vực TTATGTĐB để giao thông đường bộ thật sự là

cơ sở vật chất cho an ninh, quốc phòng; phải kết hợp chặt chẽ giữa phát triển giao thông đường bộ với an ninh quốc phòng, coi phát triển giao thông đường bộ là yếu

tố quan trọng không thể thiếu đối với an ninh quốc phòng của địa phương; đồng thời, coi QLNN bằng pháp luật trong lĩnh vực TTATGTĐB là biện pháp quản lý hàng đầu để phát huy tối đa vai trò của giao thông đường bộ trong củng cố an ninh quốc phòng

Trang 33

Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TRẬT TỰ AN TOÀN GIAO

THÔNG ĐƯỜNG BỘ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG

2.1 Thực trạng tình hình trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Tình hình ùn tắc giao thông, theo thống kê của Phòng Cảnh sát giao thông, từ

năm 2011 đến hết năm 2015, toàn tỉnh đã xảy ra 55 vụ ùn tắc giao thông (UTGT) kéo dài, năm 2011: 10 vụ, năm 2012: 09 vụ, 2013: 11 vụ, năm 2014: 10 vụ, năm 2015: 15 vụ Nguyên nhân chủ yếu do tổ chức giao thông còn chưa hợp lý; phương tiện giao thông tăng nhanh; ý thức của người tham gia giao thông chưa cao (khi xảy

ra sự cố thường cố tình chen lấn bất chấp các quy định về chiều đường, làn đường làm cho tình trạng ùn tắc càng phức tạp thêm); nhiều đoạn đường vừa sử dụng vừa thi công nâng cấp; trong những giờ cao điểm (giờ tan tầm, lễ, tết) lưu lượng phương tiện quá lớn, hạ tầng không đáp ứng đủ; các tuyến phố trong đô thị hẹp lại ngắn, giao cắt liên tục, hầu hết giao cắt đồng mức

Thời gian gần đây, thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, tỉnh Kiên Giang tiếp tục triển khai đồng bộ nhiều giải pháp kiềm chế UTGT, như: cấm một số loại phương tiện hoạt động trên một số tuyến phố trong giờ cao điểm; cấm đỗ xe trên một số tuyến phố; phân làn, phân tuyến; huy động các lực lượng khác phối hợp với lực lượng CSGT điều khiển giao thông tại các nút giao thông trọng điểm vào giờ cao điểm Hiện nay, trên địa bàn tỉnh chỉ còn 12 điểm nút thường xuyên xảy ra UTGT,

đã giải quyết giảm 32,43% điểm ùn tắc so với cuối năm 2011 (49 điểm), tình trạng UTGT đang có chiều hướng chuyển biến tích cực Tình trạng UTGT chủ yếu do ý thức chấp hành của người tham gia giao thông còn kém như: đi không đúng phần đường, làn đường, chen lấn, đậu đỗ xe tuỳ tiện không đúng quy định, lấn chiếm lòng đường, vỉa hè Mặt khác, do yếu kém trong việc quản lý đô thị, hạ tầng Trong nội đô được quy hoạch xây dựng đã lâu, tuy được nâng cấp nhưng vẫn bất cập so với sự gia tăng dân số và phương tiện giao thông; vận tải công cộng còn yếu kém;

Trang 34

công tác tổ chức, điều hành GTĐB, giao thông đô thị còn nhiều bất hợp lý; việc giải quyết lấn chiếm vỉa hè, đường phố và hành lang an toàn giao thông đạt kết quả thấp

Tình hình tai nạn giao thông đường bộ, để thực hiện Nghị quyết số

32/NQ-CP, Nghị quyết số 88/NQ-CP của Chính phủ về tăng cường thực hiện các giải pháp trọng tâm bảo đảm TTATGT và Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo đảm TTATGT đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa và khắc phục UTGT, nên TNGT đường bộ trên địa bàn tỉnh đã được kiềm chế và có chiều hướng giảm, nhưng chưa bền vững trên cả ba tiêu chí về số vụ, số người chết và số người bị thương Theo thống kê của Phòng Cảnh sát giao thông, từ năm 2011 đến hết năm

2015, toàn tỉnh xảy ra 2.410 vụ TNGT, làm chết 135 người và bị thương 589 người; ngoài ra còn xảy ra trên 2.000 vụ va chạm giao thông Trong đó, đã xảy ra

167 vụ TNGT đặc biệt nghiêm trọng, làm chết 95 người, bị thương 341 người

Nguyên nhân TNGT, hầu hết các vụ TNGT đường bộ trên địa bàn tỉnh đều được xác định là do lỗi của người tham gia giao thông Trong đó, có 15% chạy quá tốc độ quy định; 26,6% đi không đúng phần đường, làn đường; 16,4% tránh vượt sai quy định; 4,3% say rượu bia khi điều khiển phương tiện, đường xá không đảm bảo 3,9%, thiết bị an toàn không đảm bảo 4,6%, v.v ; xảy ra 31,2% trên quốc lộ; 18,4% trên tỉnh lộ; 22,3% do lái xe ô tô; 69,4% do lái xe mô tô Chạy quá tốc độ quy định tránh vượt sai quy định say rượu, bia đường xá không đảm bảo thiết bị an toàn không đảm bảo 38%

Vi phạm của người tham gia giao thông, những năm qua nhờ tích cực thực

hiện những biện pháp bảo đảm TTATGT, nhất là biện pháp tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật TTATGT và cưỡng chế thi hành pháp luật TTATGT nên nhận thức và ý thức của người người tham gia giao thông đã có chuyển biến tích cực hơn

so với trước đây Tuy nhiên, tình hình vi phạm TTATGT đường bộ của người tham gia giao thông vẫn còn mang tính phổ biến, nhất là tính tự giác còn kém, còn tùy

Trang 35

tiện khi điều khiển phương tiện, vi phạm quy tắc giao thông khi không có lực lượng CSGT giám sát Phân tích 15.792 trường hợp vi phạm do CSGT xử phạt: vi phạm chạy quá tốc độ quy định (38,5%); tránh vượt không đúng quy định, vi phạm phần đường, làn đường (16,3%); vi phạm quy định về nồng độ cồn (5,3%); chở quá số người quy định (3,9%); không có GPLX (11,9%); chở quá tải (5,3%); không đội

mũ bảo hiểm, đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách (9,9%), v.v Đây là những nguyên nhân trực tiếp gây ra TNGT hoặc làm tăng mức độ nghiêm trọng khi xảy ra TNGT

Hành vi vi phạm rõ nhất, dễ nhận thấy và rất đáng phê phán là khi có ùn ứ giao thông xảy ra trên tuyến hoặc tại đô thị, người tham gia giao thông bất chấp các quy định về TTATGT, không tự giác chấp hành về phần đường, làn đường, thậm chí cả hiệu lệnh điều khiển của người thi hành công vụ mà lưu thông theo kiểu

“dòng nước chảy” mạnh ai nấy đi, chen lấn, quay ngang, quay dọc, đi trên vỉa hè, v.v làm cho tình hình UTGT càng thêm trầm trọng Điều đó cho thấy ý thức tự giác chấp hành các quy định về TTATGT của người tham gia giao thông hiện còn kém, chưa có khái niệm về thực hiện văn hóa giao thông

Tình trạng vi phạm hành lang ATGT, tình trạng vi phạm hành lang ATGT

vẫn diễn ra nghiêm trọng ở nhiều nơi Các vi phạm chủ yếu: lấn chiếm, chiếm dụng vỉa hè, lòng đường trái phép để buôn bán hoặc làm nơi trông giữ xe, vi phạm hành lang bảo vệ đường bộ, tập kết vật liệu xây dựng, phơi lúa, rơm rạ trên mặt đường; dừng, đỗ phương tiện giao thông trên lòng đường

Tình trạng tụ tập điều khiển phương tiện chạy lạng lách đánh võng, đua xe trái phép, những năm qua, tình trạng điều khiển mô tô lạng lách, đánh võng diễn ra

nhiều tại một số địa phương như: Thành phố Rạch Giá, thị xã Hà Tiên, huyện Phú Quốc.v.v Riêng năm 2015, Rạch Giá đã xảy ra 04 vụ tụ tập, có dấu hiệu đua xe trái phép, đã bắt giữ 32 đối tượng; Hà Tiên bắt giữ 12 đối tượng điều khiển xe ô tô chạy tốc độ cao, lạng lách, đánh võng qua các tuyến phố gây mất TTATGT, trật tự công cộng

Trang 36

2.2 Thực trạng quản lý Nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường

bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

2.2.1 Xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước về trật tự, an toàn giao thông đường bộ

Để thực hiện nhiệm vụ kiềm chế, giảm TNGT và UTGT có hiệu quả, ngay sau khi Ban Bí thư Trung ương Đảng khóa IX ban hành Chỉ thị số 22-CT/TW và thực hiện Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29 tháng 6 năm 2007, Nghị quyết số 16/2008/NQ-CP ngày 31 tháng 7 năm 2008 của Chính phủ, UBND tỉnh Kiên Giang

đã ban hành các kế hoạch, quyết định như: Kế hoạch số 42/KH- UBND ngày 22 tháng 11 năm 2010 về việc đẩy mạnh triển khai các giải pháp nhằm kiềm chế gia tăng và tiến tới giảm dần TNGT và UTGT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang; Kế hoạch

số 322/KH-UBND, ngày 02 tháng 4 năm 2014; Quyết định số 751/QĐ-UBND, ngày 03 tháng 4 năm 2017 quy định mức chi bảo đảm TTATGT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang; Kế hoạch số 599/KH-UBND, ngày 11 tháng 6 năm 2014 về tăng cường thực hiện các giải pháp cấp bách để nâng cao chất lượng và chống tiêu cực trong công tác đăng kiểm phương tiện giao thông vận tải trên địa bàn tỉnh Kiên Giang; Kế hoạch số 665/KH-UBND ngày 25 tháng 6 năm 2015 về tăng cường các giải pháp nhằm bảo đảm TTATGT trong hoạt động kinh doanh vận tải hành khách bằng ô tô trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Đã chỉ đạo Sở Giao thông vận tải; Công an tỉnh và UBND các huyện, thị xã, thành phố đã ban hành và phối hợp ban hành các văn bản triển khai Chỉ thị số 22-CT/TW, Nghị quyết số 16/2008/NQ-CP và Kế hoạch số 42/KH- UBND ngày 30/12/2008 của UBND tỉnh Kiên Giang, cụ thể như: các kế hoạch liên ngành Giao thông vận tải - Công an tỉnh trong công tác phối hợp bảo đảm TTATGTĐB và trật tự đô thị trên địa bàn tỉnh; Xây dựng các kế hoạch liên ngành về tổ chức triển khai phục vụ vận tải hành khách trong dịp Tết Dương lịch, Tết Nguyên đán và dịp Lễ hội, v.v ; Triển khai các kế hoạch thực hiện đề cương tuyên truyền phổ biến Luật GTĐB theo chủ đề; về các hoạt động chào mừng tháng ATGT trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Trang 37

Là một lực lượng đóng vai trò chủ đạo trong bảo đảm TTATGTĐB, Đảng

ủy, Ban Giám đốc Công an tỉnh đã tổ chức Hội nghị quán triệt đến cán bộ, đảng viên của Công an tỉnh với các nội dung của Chỉ thị 22, trong đó, tập trung vào 5 chủ trương, giải pháp cơ bản, lâu dài cũng như những giải pháp cấp bách trước mắt cần thực hiện Trên cơ sở chỉ đạo của Công an tỉnh, các phòng nghiệp vụ và Công

an các huyện, thị xã, thành phố xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể của đơn vị mình trên từng lĩnh vực, địa bàn phụ trách Hàng năm, Công an tỉnh đều có kế hoạch triển khai công tác bảo đảm TTATGTĐB, trật tự đô thị đến các đơn vị thực hiện, trong đó, xác định mục tiêu kiềm chế UTGT và TNGT trên địa bàn tỉnh là mục tiêu quan trọng hàng đầu, trong từng thời điểm cụ thể, Công an tỉnh đã nghiên cứu triển khai các biện pháp phù hợp với tình hình thực tế, nhằm không ngừng tăng cường hiệu quả xử lý vi phạm, ổn định tình hình TTATGT, trong đó tập trung xử lý các lỗi vi phạm Luật GTĐB là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến ùn tắc và tai nạn giao thông Công an tỉnh đã tổ chức 02 đợt điều tra cơ bản bổ sung về tình hình liên quan đến TTATGTĐB, trật tự đô thị nhằm đánh giá đúng thực trạng, đưa ra biện pháp chỉ đạo đúng, hiệu quả, cụ thể: ngày 20/7/2011, Công an tỉnh đã xây dựng và thực hiện Kế hoạch số 65 KH/CAT-PV11 về điều tra cơ bản, đánh giá toàn diện thực trạng tình hình, kết quả công tác đảm bảo TTATGTĐB trên địa bàn tỉnh; ngày 11/12/2014, Công an tỉnh xây dựng và triển khai thực hiện Kế hoạch số 91/KH-CAT-PV11 về điều tra cơ bản bổ sung thực trạng tình hình, kết quả công tác đảm bảo TTATGTĐB trên địa bàn tỉnh

Để bảo đảm tính thống nhất trong công tác tuần tra, kiểm soát, kiểm tra, xử

lý các vi phạm Luật GTĐB, Công an tỉnh đã triển khai các Quyết định như: Quyết định số 12/QĐ-CAT-PV11 ngày 15/02/2010 về việc ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ các Đội tuần tra, kiểm soát giao thông đường bộ; Quyết định số 78 /QĐ-CAT-PV11, ngày 24/11/2012, ban hành quy định cấp, thu hồi đăng ký, biển số các loại phương tiện giao thông cơ giới đường bộ; Quyết định số 12/QĐ- CAT-PV11, ngày 22/02/2012, về việc ban hành quy định quản lý và sử dụng tiền thu từ xử phạt

Trang 38

vi phạm hành chính trong lĩnh vực đảm bảo trật tự ATGT thuộc Công an tỉnh Kiên Giang Đồng thời, tổ chức tập huấn cho 100% cán bộ chiến sỹ làm công tác bảo đảm TTATGTĐB, trật tự đô thị về Luật GTĐB 2008; Thông tư 58, 60, 61/2009/TT-BCA; Thông tư 36, 37, 38/2010/TT-BCA của Bộ Công an;

Quán triệt nội dung Chỉ thị số 25-CT/TU ngày 21/10/2007 của Tỉnh ủy về

việc tăng cường các biện pháp bảo đảm trật tự ATGT trên địa bàn tỉnh, Nghị quyết

số 12/2004/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định về 06 giải pháp nhằm ổn định tình hình TTATGT trong đó có các giải pháp như: Hạn chế gia tăng môtô, xe máy; Tăng cường quản lý các phương tiện giao thông lưu hành trong nội đô Kế hoạch số 55/KH-UBND của UBND tỉnh về triển khai thực hiện Nghị quyết

số 16/2008/NQ-CP về từng bước khắc phục ùn tắc giao thông trên địa bàn tỉnh, Công an tỉnh đã phối hợp với Sở Giao thông vận tải tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các quy định hạn chế phương tiện trên địa bàn tỉnh và tăng cường quản lý hoạt động của các loại phương tiện tham gia giao thông, cụ thể như:

Để hạn chế gia tăng môtô, xe máy, trong 2013, đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành Quyết định số 53/2013/QĐ-UB quy định việc đăng ký phương tiện môtô,

xe máy trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 12/2015/QĐ-UB quy định việc phải có xác nhận có nơi để xe, hợp đồng trông giữ xe mới được đăng ký xe ôtô

Để tăng cường quản lý hoạt động của các loại phương tiện tham gia giao thông, đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các Quyết định số 03, 34, 73 QĐ-

UB quy định về hoạt động của các phương tiện trên địa bàn tỉnh, điều chỉnh thời gian hoạt động của xe tải, xe khách (trừ xe buýt) không được hoạt động vào các giờ cao điểm có đông phương tiện tham gia giao thông, như: cấm hoạt động từ 6giờ đến 22 giờ hàng ngày với các loại xe ôtô vận tải có tải trọng trên 2,5 tấn; các loại xe máy thi công, v.v ; Quyết định số 86/2011/QĐ-UB ban hành quy định về trông giữ, quản lý tang vật, phương tiện tham gia giao thông bị tạm giữ do vi phạm pháp luật về TTATGT đường bộ trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

Trang 39

Bên cạnh đó, để đảm bảo trật tự đô thị, Công an tỉnh và Sở Giao thông vận tải đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành các Quyết định số 36/QĐ-UB và Quyết định số 77/QĐ-UB về quản lý và sử dụng hè phố, lòng đường; Quyết định 20/QĐ-

UB và Quyết định số 56/QĐ-UB về quản lý hàng rong trên địa bàn tỉnh; xác định

10 tuyến phố cấm để xe đạp, xe máy, ôtô trên hè phố, lòng đường và cấm kinh doanh buôn bán trên hè phố; ban hành Quyết định số 14/2014/QĐ-UB quy định về việc thu, sử dụng tiền phạt và trông giữ xe, kinh phí tạm giữ xe do vi phạm

2.2.2 Triển khai thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ

Nhằm thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bản tỉnh Kiên Giang, UBND tỉnh đã xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chiến lược, chính sách phát triển phương tiện giao thông đường bộ Để xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, chính sách phát triển phương tiện giao thông đường bộ, UBND tỉnh chỉ đạo các Sở chuyên môn như: Kế hoạch - Đầu tư, Xây dựng, Giao thông vận tải, Công an tỉnh và các đơn vị chức năng tổ chức hoàn thiện các đề án về phát triển vận tải hành khách công cộng của tỉnh Kiên Giang đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020; đề án nghiên cứu, sắp xếp mạng lưới điểm

đỗ xe và bến bãi đồ xe công cộng trên địa bàn tỉnh đến năm 2020 Xây dựng quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh đến năm 2020, tầm nhìn 2050 Trong đó, Công an tỉnh đã phối hợp với Sở Giao thông vận tải tham mưu cho UBND tỉnh triển khai các giải pháp, biện pháp về hạ tầng giao thông đường bộ như duy tu, duy trì đảm bảo TTATGTĐB các tuyến đường trên địa bàn tỉnh, qua việc vá ổ gà, thảm duy tu mặt đường, sơn kẻ tổ chức giao thông; chỉnh sửa, tháo dỡ, thay thế, lắp đặt mới biển báo các loại, v.v Đồng thời, từng bước hoàn thiện, mở rộng, nâng cấp các tuyến Quốc lộ hướng tâm như Quốc lộ 80, 63, 61, N1, tuyến tránh thành phố Rạch Giá và kiểm định cầu Kênh Nhánh, cầu Phó Cơ điều, cầu An Hòa, cầu Rạch Sỏi, xây mới cầu 3/2, cầu Tắc Cậu, cầu Cái Tư

Trang 40

Tỉnh đã và đang phát triển các loại hình vận tải hành khách công cộng, trong

đó ưu tiên phát triển các loại hình vận tải hành khách bằng xe buýt, với các tuyến

xe buýt đặt hàng và các tuyến xe buýt thực hiện theo phương thức xã hội hóa, hiện nay có 1.000 xe buýt loại 29 chỗ đang hoạt động Phát triển loại hình xe buýt chuyên trách phục vụ cán bộ, công nhân viên, học sinh, sinh viên Xây dựng phương án xe buýt nhanh trên một số trục đường chính như Quốc lộ 80, Quốc lộ

61, Quốc lộ 63 Theo phương án này, một số tuyến xe buýt hạn chế điểm dừng để giảm thời gian một chuyến đi và vẫn đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân

UBND tỉnh đã chỉ đạo các Sở ngành trong việc tổ chức và hoàn thành đưa vào sử dụng các công trình cầu đường trọng điểm, góp phần giải quyết UTGT và TNGT trên địa bàn tỉnh, tiếp tục triển khai thi công các dự án đang thực hiện nhằm cải thiện tình hình TTATGTĐB trên các trục, tuyến đường chính như cầu kiểm định cầu Kênh Nhánh, cầu Phó Cơ điều, cầu An Hòa, cầu Rạch Sỏi, xây mới cầu 3/2, cầu Tắc Cậu, cầu Cái Tư

Bên cạnh đó, UBND tỉnh chỉ đạo Sở Giao thông vận tải và các đơn vị quản

lý cầu, đường tăng cường công tác duy tu, duy trì bảo đảm ATGT trên 1.000 km đường, cầu trên địa bàn toàn tỉnh được quản lý, đáp ứng nhu cầu đi lại của nhân dân Kết quả từ năm 2010 đến năm 2015 đã vá 91.500 m2

ổ gà, thảm duy tu 132.345 m2 mặt đường; sơn kẻ tổ chức giao thông 82.517 m2; Chỉnh sửa, tháo dỡ, thay thế, lắp đặt mới 1.967 biển báo các loại

Hoàn thành công tác tiếp nhận và quản lý, duy tu hơn 95 km đường, cầu các loại do Bộ Giao thông vận tải và các chủ đầu tư khác trên địa bàn quản lý như quốc

lộ 61, 63, N1, tuyến tránh thành phố Rạch Giá

Thực hiện và hoàn thành công tác duy tu, chỉnh trang thảm mặt đường, sơn

kẽ, tổ chức giao thông trên 12 tuyến phố như Nguyễn Trung Trực, đường ba tháng

hai, đường Tôn Đức Thắng, đường Ngô Quyền với hơn 12.451 m2

sơn kẻ, tổ chức giao thông; 11.831 m2

mặt đường được thảm, chỉnh trang góp phần cải thiện

mỹ quan đô thị

Ngày đăng: 18/12/2017, 13:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Khắc Ánh (2013), Quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở, Nxb. Chính trị-Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý nhà nước của chính quyền cơ sở
Tác giả: Đặng Khắc Ánh
Nhà XB: Nxb. Chính trị-Hành chính
Năm: 2013
3. Bộ Công an - Viện Nghiên cứu Chiến lược và Khoa học Công an (2005), Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam , Nxb. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Bách khoa Công an nhân dân Việt Nam
Tác giả: Bộ Công an - Viện Nghiên cứu Chiến lược và Khoa học Công an
Nhà XB: Nxb. Công an nhân dân
Năm: 2005
5. C.Mác (1960), Tư bản, quyển 1, tập 2, Nxb. Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư bản, quyển 1, tập 2
Tác giả: C.Mác
Nhà XB: Nxb. Sự thật
Năm: 1960
6. Chính phủ (2007), Nghị định số 146/2007/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 146/2007/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2007
7. Chính phủ (2010), Nghị định số 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Nxb.Giao thông vận tải, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định số 34/2010/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
Tác giả: Chính phủ
Nhà XB: Nxb.Giao thông vận tải
Năm: 2010
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (1999), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1999
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2001
16. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2006
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2011
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2015), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2015
19. Học viện Cảnh sát nhân dân (2003), Giáo trình một số lí luận cơ bản về hoạt động nghiệp vụ của lực lượng cảnh sát quản lí hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình một số lí luận cơ bản về hoạt động nghiệp vụ của lực lượng cảnh sát quản lí hành chính
Tác giả: Học viện Cảnh sát nhân dân
Năm: 2003
20. Học viện Cảnh sát nhân dân (2007), Giáo trình quản lí nhà nước về an ninh trật tự, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lí nhà nước về an ninh trật tự
Tác giả: Học viện Cảnh sát nhân dân
Năm: 2007
21. Học viện Chính trị quốc gia (2005), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước đối với ngành, lĩnh vực (chương trình chuyên viên chính), Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý hành chính nhà nước đối với ngành, lĩnh vực (chương trình chuyên viên chính)
Tác giả: Học viện Chính trị quốc gia
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 2005
22. Học viện Hành Chính (2006), Tài liệu tham khảo quản lí hành chính nhà nước về văn hoá - xã hội, giáo dục - y tế, an ninh - quốc phòng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tham khảo quản lí hành chính nhà nước về văn hoá - xã hội, giáo dục - y tế, an ninh - quốc phòng
Tác giả: Học viện Hành Chính
Năm: 2006
23. Học viện hành chính quốc gia(1998), Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập II, Nxb. Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình quản lý hành chính nhà nước, tập II
Tác giả: Học viện hành chính quốc gia
Nhà XB: Nxb. Lao động
Năm: 1998
24. Nguyễn Duy Lãm (1996), Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng, Nxb. Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay thuật ngữ pháp lý thông dụng
Tác giả: Nguyễn Duy Lãm
Nhà XB: Nxb. Giáo dục
Năm: 1996
25. Nguyễn Lân (2003), Từ điển Từ và Ngữ Hán - Việt, Nxb. Văn học, Hà Nội 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Từ và Ngữ Hán - Việt
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb. Văn học
Năm: 2003
26. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập tập 5
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
27. Hồ Chí Minh (1995), Toàn tập tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập tập 6
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1995
28. Hồ Chí Minh (1996), Toàn tập tập 12, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập tập 12
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm