Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN KHẮC NAM SƠN
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ …………/………… ……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN KHẮC NAM SƠN
HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc
rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định
Tác giả
Nguyễn Khắc Nam Sơn
Trang 41.2.1 Khái niệm giám sát của HĐND cấp tỉnh 8 1.2.2 Cấu thành giám sát của HĐN cấp tỉnh 10
1.3 Yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh 26 1.3.1 Cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát của HĐND 26 1.3.2 Tổ chức bộ máy, hoạt động của Thường trực HĐND và các Ban
2.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội ảnh
hưởng đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận 33 2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh
2.1.2 Về cơ cấu, chất lượng đại biểu HĐND tỉnh Bình Thuận 36
2.2 Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận 38
2.2.2 Đánh giá chung về hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận 48
2.3 Một số kinh nghiệm rút ra qua thực tiễn giám sát của HĐND tỉnh
Trang 52.3.1 Giám sát cần có thông tin 57
2.3.3 Các thành viên HĐND tỉnh phải hoạt động đều tay, tránh phó thác
2.3.4 Cần phân định rạch ròi giữa giám sát của HĐND và thanh tra, kiểm
2.3.5 Đảm bảo tính độc lập về vị thế giám sát của HĐND 59 2.3.6 Đảm bảo tính hiệu quả trong giám sát 60 2.3.7 Giám sát cần dựa trên tinh thần sẵn sàng hợp tác 2.3.8 Cần phối hợp để giám sát hiệu quả 61
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ GIÁM SÁT
3.1.1 Xác định rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND tỉnh, các bộ phận
hợp thành HĐND tỉnh, mối quan hệ giữa HĐND tỉnh với TAND, VKSND 64 3.1.2 Quốc hội cần tiếp tục hoàn thiện các cơ sở pháp lý về hoạt động
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
HĐND : Hội đồng Nhân dân TAND
UBND VBQPPL VKSND
: : : :
Tòa án Nhân dân
Ủy ban Nhân dân Văn bản quy phạm pháp luật Viện kiểm sát Nhân dân
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Đại hội XII của Đảng đánh dấu một bước chuyển mới quan trọng trong
sự phát triển đất nước; nền kinh tế đất nước đã thật sự bước vào nền kinh tế thị trường và trở thành một bộ phận của nền kinh tế toàn cầu Đất nước đang cần những khuôn khổ phát triển mới không chỉ trên phương diện kinh tế mà còn trên phương diện chính trị và dân chủ để có thể tranh thủ được các vận hội vượt qua mọi thách thức để chấn hưng đất nước Do vậy, tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa đang và luôn đòi hỏi có tính cấp thiết, là một trong những nhiệm vụ quan trọng có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển bền vững của đất nước
Trong bộ máy nhà nước, HĐND vừa là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, vừa là cơ quan đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân Vì vậy, xây dựng HĐND các cấp có thực quyền để đảm đương đầy đủ vai trò, trách nhiệm của mình là một yêu cầu bức xúc hiện nay
HĐND có hai chức năng cơ bản: chức năng quyết định và chức năng giám sát Trong hai chức năng đó, giám sát có một vị trí, vai trò rất quan trọng bảo đảm HĐND thực sự là cơ quan đại diện cho ý chí và nguyện vọng của nhân dân, thực hiện đúng nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân Thực hiện tốt chức năng giám sát là một trong những yêu cầu cơ bản để nâng cao hiệu quả hoạt động của HĐND Trước yêu cầu đó, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân được Quốc hội ban hành năm 2015 đã quy định một cách toàn diện và có
hệ thống chức năng giám sát của HĐND Điều đó thể hiện yêu cầu bức xúc phải nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước
Trang 9Tại tỉnh Bình Thuận, trong những năm qua, Hội đồng nhân dân tỉnh đã thực hiện khá tốt chức năng giám sát theo quy định, hoạt động giám sát của các chủ thể tham gia giám sát ngày càng đi vào nền nếp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ và nguyện vọng của cử tri tỉnh nhà Tuy nhiên, hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND và đại biểu HĐND tỉnh trong thời gian qua còn một số tồn tại, hạn chế như: số lượng, quy mô, hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND, Thường trực HĐND và các Ban HĐND tỉnh tuy có tăng lên nhưng mới chỉ đáp ứng được một phần đòi hỏi của thực tế cuộc sống và mong muốn của cử tri; số lượng đại biểu thực hiện quyền chất vấn tại kỳ họp còn ít, chỉ tập trung ở một số đại biểu; hoạt động chất vấn giữa hai kỳ họp còn hạn chế; nhiều cuộc giám sát giữa hai kỳ họp chủ yếu nghe trình bày báo cáo của đối tượng được giám sát; việc tổ chức giám sát các vấn đề, vụ việc cụ thể chưa nhiều (trừ lĩnh vực khiếu nại, tố cáo); một số đại biểu HĐND tỉnh là thành viên các Ban hoạt động kiêm nhiệm chưa dành thời gian thỏa đáng cho hoạt động giám sát của Ban; việc theo dõi, đôn đốc, tổ chức tái giám sát kết quả thực hiện kiến nghị sau giám sát có lúc chưa thường xuyên, kịp thời, một số vấn đề kiến nghị qua giám sát do ngân sách của tỉnh còn khó khăn nên chưa thể giải quyết ngay được
Xuất phát từ những yêu cầu bức xúc về lý luận và thực tiễn nêu trên,
tác giả chọn đề tài "Hoạt động giám sát của Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình
Thuận" làm luận văn Thạc sĩ Quản lý công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Qua quá trình, bản thân học viên nhận thấy nhiều nội dung liên quan đến hoạt động giám sát của Hội đồng Nhân dân đã được các nhà khoa học và thực tiễn quan tâm nghiên cứu như:
- Nguyễn Quốc Tuấn, Một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động
của Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân các cấp, Tạp chí Tổ chức nhà
Trang 10nước, số 6/2002
- Trương Đắc Linh, Tổ chức và hoạt động của các ban của Hội đồng
nhân dân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 2/2003
- Đinh Ngọc Quang, Về đổi mới tổ chức và hoạt động của Hội đồng
nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2004-2009, Tạp chí Quản lý nhà nước, số 2/2005
- Phạm Thị Thảo, Giám sát của Hội đồng Nhân dân tỉnh - Qua thực
tiễn tỉnh Hưng Yên, Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội,
2015
- Tạ Thu Thủy, Hiệu quả giám sát của Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình
Phước trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Luật học, Học viện chính
trị-hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2010
- Vũ Mạnh Thông, Nâng cao hiệu lực giám sát của Hội đồng nhân
dân cấp tỉnh trong điều kiện đổi mới ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ
Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 1998
- Nguyễn Ngọc Thanh, Hoạt động giám sát của HĐND huyện Phong
Điền - Thành phố Cần Thơ, Luận văn thạc sĩ Hành chính, Học viện Hành
chính Quốc gia, 2015
- Nguyễn Thị Kim Chung, Hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Đồng
Nai, Luận văn thạc sĩ Hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia, 2015
- Nguyễn Thị Kim Thúy, Giám sát của HĐND thành phố Đà Nẵng,
Luận văn thạc sĩ Hành chính, Học viện Hành chính Quốc gia, 2016
Các bài nghiên cứu trên báo, tạp chí, Website…
Tại tỉnh Bình Thuận, cho đến thời điểm hiện nay chưa có đề tài nghiên cứu khoa học nào đề cập một cách có hệ thống, toàn diện đến hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận
Như vậy, với đề tài “Hoạt động giám sát của Hội đồng Nhân dân tỉnh Bình Thuận” sẽ cung cấp thêm một góc nhìn tổng thể về hoạt động giám sát
Trang 11của HĐND tỉnh nhà Đồng thời, đề tài cũng đưa ra một số giải pháp, kiến nghị
để nâng cao chất lượng hoạt động giám sát
3 Mục đích và nhiệm vụ của Luận văn
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu lý luận chung về hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận; đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn hiện nay
Luận văn sử dụng phương pháp tư duy biện chứng, duy vật lịch sử làm
cơ sở phương pháp luận để nghiên cứu các đối tượng trong mối quan hệ vận động và phát triển Đồng thời dựa trên các quan điểm, chủ trương, đường lối
Trang 12của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước về HĐND và hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh
- Phương pháp nghiên cứu:
Ngoài ra, để nghiên cứu các nội dung mang tính lý luận và thực tiễn, tác giả luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kế, so sánh, phương pháp chuyên gia… để thu thập số liệu, phân tích, tổng hợp các thông tin
Khi viết, tác giả còn tham khảo các công trình khoa học của các nhà nghiên cứu, tài liệu của các cuộc hội thảo, các luận văn tốt nghiệp, các tiểu luận để làm tài liệu tham khảo
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Khái quát những nét cơ bản về nội dung giám sát cũng như đặc điểm giám sát của HĐND cấp tỉnh
- Làm rõ về mặt lý luận khái niệm giám sát của HĐND, cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động giám sát
- Đánh giá một cách hệ thống, toàn diện thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận trong nhiệm kỳ 2011 - 2016 và từ năm 2016 đến nay
Đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn chia thành 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh Chương 2: Thực trạng hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận Chương 3: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận trong giai đoạn hiện nay
Trang 13có hai tính chất pháp lý cơ bản: “là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương” và “là cơ quan đại biểu của nhân dân ở địa phương”
Theo quy định của Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, HĐND được tổ chức ở các đơn vị hành chính, theo đó, HĐND được thành lập
ở ba cấp: tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (gọi chung là cấp tỉnh); huyện, quận, thị xã và thành phố thuộc tỉnh, đơn vị hành chính tương đương (gọi chung là cấp huyện) và xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã)
Như vậy, HĐND là cơ quan nằm trong hệ thống tổ chức chính quyền địa phương, có vị trí hết sức quan trọng trong việc góp phần thực hiện chế độ dân chủ xã hội chủ nghĩa, xây dựng và quản lý mọi mặt của đời sống nhân dân địa phương về kinh tế - xã hội, văn hóa, an ninh - quốc phòng là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân, trực tiếp đưa đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước vào cuộc sống
1.1.2 Chức năng của HĐND cấp tỉnh
Chức năng của HĐND là những phương diện, mặt hoạt động cơ bản của HĐND, phản ánh địa vị pháp lý của HĐND, được quyết định bởi vị trí, tính chất, nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND
Trang 14Chức năng của HĐND được pháp luật quy định là xuất phát từ vị trí, vai trò của HĐND với tính chất là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên HĐND thực hiện những nhiệm vụ và sử dụng những quyền hạn theo phân định thẩm quyền, phân quyền, phân cấp và ủy quyền, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của Trung ương đồng thời phát huy quyền chủ động sáng tạo của địa phương [26]
- Chức năng quyết định
Chức năng cơ bản nhất của HĐND là căn cứ vào Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên để ra các quyết định (dưới hình thức ban hành nghị quyết) về những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND Chẳng hạn như: các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của HĐND
Nội dung, phạm vi điều chỉnh nghị quyết của HĐND các cấp phụ thuộc vào nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND từng cấp do Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan quy định Có thể kể một số nghị quyết của HĐND về các lĩnh vực như: tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật; xây dựng chính quyền; kinh tế, tài nguyên, môi trường; giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, thông tin, thể dục, thể thao; y tế, lao động, chính sách xã hội; dân tộc, tôn giáo; quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự, an toàn xã hội
Dựa vào tính chất pháp lý, nghị quyết của HĐND gồm hai loại: nghị quyết quy phạm và nghị quyết cá biệt Nghị quyết quy phạm pháp luật là những nghị quyết chứa quy phạm pháp luật
Nghị quyết cá biệt là những nghị quyết về một vấn đề cụ thể được áp dụng một lần đối với một hay một số đối tượng cụ thể Ví dụ: nghị quyết bãi
Trang 15bỏ một phần hay toàn bộ quyết định của ủy ban nhân dân; nghị quyết thông qua ngân sách, phê duyệt ngân sách, nghị quyết về trả lời chất vấn, nghị quyết miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch HĐND, Phó chủ tịch HĐND, Trưởng ban, Phó trưởng ban của HĐND, Chủ tịch UBND, Phó chủ tịch UBND và ủy viên UBND
- Chức năng giám sát
Ngoài chức năng ra quyết định, HĐND còn thực hiện chức năng giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, việc thực hiện nghị quyết của HĐND mỗi cấp; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp, các ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HĐND cấp dưới
Tóm lại, chức năng của HĐND thể hiện trên hai hướng: Một là, quyết
định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND (dưới hình thức
ban hành Nghị quyết); Hai là, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật
ở địa phương, việc thực hiện Nghị quyết của HĐND mỗi cấp; giám sát hoạt động của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND từng cấp, các ban của HĐND cấp mình; giám sát văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp và văn bản của HĐND cấp dưới
1.2 HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HĐND CẤP TỈNH
1.2.1 Khái niệm giám sát của HĐND cấp tỉnh
Có nhiều khái niệm về giám sát, cách hiểu chung nhất, theo Từ điển
Tiếng Việt, giám sát là "theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ" [10, tr.728]
Có quan niệm, giám sát mang tính quyền lực nhà nước là “sự theo dõi, quan
sát hoạt động của một chủ thể quyền lực mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoat động của các tổ chức quyền lực chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, đúng quy chế nhằm giới hạn quyền lực, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ
Trang 16nghiêm minh" [29, tr.14-15]
Với quan niệm trên, giám sát có những đặc trưng sau:
- Giám sát luôn gắn với một chủ thể nhất định, tức là phải trả lời được câu hỏi ai (người hoặc tổ chức nào) có quyền thực hiện việc theo dõi, xem xét, kiểm tra và đưa ra những nhận định, đánh giá về một việc làm nào đó đã được thực hiện đúng hoặc không đúng với những điều đã quy định, quyết định
- Giám sát bao giờ cũng cần 2 giai đoạn: giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra và giai đoạn đánh giá, đưa ra kết luận Trong đó, giai đoạn thứ nhất là
cơ sở để thực hiện giai đoạn thứ hai Nếu giai đoạn theo dõi, xem xét, kiểm tra làm tốt thì việc đánh giá, kết luận sẽ đúng đắn, chính xác và cuộc giám sát sẽ
có hiệu quả và ngược lại
- Giám sát cũng luôn gắn với một đối tượng cụ thể, tức là phải trả lời được câu hỏi giám sát ai? giám sát việc gì? Đặc điểm cơ bản này cho chúng ta phân biệt giữa giám sát và kiểm tra Bởi nói tới kiểm tra thì chủ thể hoạt động kiểm tra và đối tượng chịu sự tác động này có thể đồng nhất là một Đó là trường hợp chủ thể tự kiểm tra hoạt động của mình, tức là tự xem xét đánh giá tình trạng tốt xấu của công việc đang làm để từ đó uốn nắn, sửa chữa Nhưng trong hoạt động giám sát thì không thể có tình trạng tự chủ thể hoạt động quan sát chính hành vi của mình mà phải là hoạt động theo dõi, thẩm tra và xem xét của một chủ thể khác, từ đó đưa ra kết luận và xử lý Khác với kiểm tra, thanh tra, nội dung hoạt động giám sát bao giờ cũng được báo trước cho đối tượng bị giám sát một thời gian nhất định
- Giám sát phải thể hiện được quan hệ giữa các chủ thể tham gia vào hoạt động giám sát Nội dung của quan hệ này biểu hiện ở những quyền và nghĩa vụ của chủ thể giám sát và đối tượng chịu giám sát
- Giám sát phải được tiến hành trên những căn cứ do pháp luật quy định Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bởi vì: nếu như thiếu những quy định
Trang 17này thì chủ thể giám sát không có cơ sở để thực hiện quyền giám sát và tiêu chí
để đưa ra những nhận định về hoạt động của đối tượng chịu giám sát
- Giám sát là hoạt động có tính mục đích Trước hết, mục đích của giám sát là đưa ra được những nhận định chính xác của chủ thể giám sát đối với hoạt động của đối tượng chịu giám sát, từ đó có các biện pháp xử lý đối với những việc làm sai trái nhằm bảo đảm cho những quy định của pháp luật được thực hiện đúng và có hiệu quả Như vậy, mục đích chung của giám sát nhà nước cũng như giám sát xã hội là bảo đảm cho sự hoạt động đúng đắn, minh bạch, liên tục của các cơ quan tổ chức, cá nhân có chức vụ quyền hạn trong BMNN, trên cơ sở tuân thủ thường xuyên, nghiêm chỉnh pháp luật về nghĩa vụ, chức năng và thẩm quyền của họ
Tóm lại, thuật ngữ "giám sát" nếu hiểu theo nghĩa chung thì phạm vi áp
dụng của nó rất rộng, muốn có một khái niệm cụ thể thì hoạt động giám sát bao giờ cũng gắn với một chủ thể xác định chẳng hạn như giám sát của Quốc hội, giám sát của HĐND, giám sát của nhân dân
Căn cứ vào các yếu tố cấu trúc của khái niệm giám sát, căn cứ vào những quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND và các văn bản pháp luật
khác, hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh được hiểu như sau: việc HĐND,
Thường trực HĐND, Ban của HĐND, Tổ đại biểu HĐND, đại biểu HĐND giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý [25,tr.01]
1.2.2 Cấu thành giám sát của HĐND cấp tỉnh
1.2.2.1 Chủ thể giám sát của HĐND cấp tỉnh
Theo quy định tại Điều 57, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003,
Trang 18giám sát của HĐND bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, giám sát của các Ban của HĐND và giám sát của đại biểu HĐND [27]
Như vậy, chủ thể thực hiện hoạt động giám sát của HĐND tỉnh theo Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 bao gồm: HĐND (một tập thể các đại biểu HĐND tại kỳ họp), Thường trực HĐND, các Ban của HĐND, đại biểu HĐND tỉnh
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 87, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015, giám sát của HĐND bao gồm: giám sát của HĐND tại kỳ họp, giám sát của Thường trực HĐND, giám sát của các Ban của HĐND, các
Tổ đại biểu HĐND và đại biểu HĐND [26]
Như vậy, so với Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 và Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 mở rộng chủ thể tham gia giám sát khi quy định thêm Tổ đại biểu HĐND cấp tỉnh là chủ thể tham gia hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh
- Giám sát của HĐND tỉnh:
HĐND làm việc tập trung và có hiệu quả nhất trong các kỳ họp của mình Thông qua kỳ họp, ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương được chuyển thành quyết định của cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, có ý nghĩa bắt buộc
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 58 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 thì chậm nhất là ngày 01 tháng 3 của năm trước, các Ban của HĐND, đại biểu HĐND, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và cử tri ở địa phương gửi đề nghị, kiến nghị giám sát của HĐND đến Thường trực HĐND Văn phòng HĐND cấp tỉnh, bộ phận giúp việc HĐND cấp huyện, cấp xã tập hợp, tổng hợp đề nghị, kiến nghị giám sát
Trang 19và báo cáo Thường trực HĐND Thường trực HĐND thảo luận và lập dự kiến chương trình giám sát của HĐND đề trình HĐND xem xét, quyết định chậm nhất là 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp giữa năm của HĐND [25] Như vậy, việc lập chương trình giám sát của Thường trực HĐND theo quy định của pháp luật hiện hành là để tạo sự chủ động, bắt buộc các tập thể và cá nhân
có liên quan phải chủ động trong việc đề nghị, kiến nghị chương trình giám sát hơn so với quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
Hoạt động giám sát của HĐND tại kỳ họp bao gồm một số nội dung chính như xem xét báo cáo của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND tỉnh, chất vấn, nghe trả lời chất vấn, xem xét văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của HĐND cùng cấp, chất vấn, lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND tỉnh bầu hoặc phê chuẩn Giám sát tại kỳ họp là hình thức giám sát theo quy định của HĐND, mang tính chất tổng hợp toàn diện đối với tất cả các đối tượng thuộc phạm vi giám sát của HĐND
- Giám sát của Thường trực HĐND cấp tỉnh
Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003: Hoạt động giám sát của Thường trực HĐND tập trung vào UBND và các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, TAND, VKSND cùng cấp, hoạt động của các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiến pháp, luật, các văn bản của cơ quan Nhà nước cấp trên và các nghị quyết của HĐND cùng cấp
Căn cứ vào chương trình giám sát của HĐND, theo đề nghị của các Ban của HĐND, Đại biểu HĐND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp và
ý kiến, kiến nghị của cử tri địa phương, Thường trực HĐND quyết định chương trình giám sát hàng quý, hàng năm của mình phù hợp với nhiệm vụ,
Trang 20quyền hạn và điều kiện kinh tế - xã hội ở địa phương Trên cơ sở chương trình giám sát đã được thông qua, Thường trực HĐND phân công các thành viên của mình thực hiện các nội dung trong chương trình giám sát, có thể giao cho các Ban của HĐND thực hiện một số nội dung theo chương trình và báo cáo kết quả với Thường trực HĐND khi cần thiết
Theo quy định tại Điều 67 Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 thì chậm nhất là 05 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp cuối năm của HĐND, các Ban của HĐND, đại biểu HĐND, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp gửi Thường trực HĐND đề nghị giám sát đưa vào chương trình giám sát của Thường trực HĐND Văn phòng HĐND cấp tỉnh,
bộ phận giúp việc HĐND cấp huyện, cấp xã tập hợp, tổng hợp đề nghị giám sát trình Thường trực HĐND Chương trình giám sát hàng năm được Thường trực HĐND xem xét, quyết định chậm nhất là 15 ngày kể từ ngày bế mạc kỳ họp cuối năm trước của HĐND [25] Như vậy, việc lập chương trình giám sát của Thường trực HĐND theo quy định của pháp luật hiện hành là để tạo sự chủ động, bắt buộc các tập thể và cá nhân có liên quan phải chủ động trong việc đề nghị, kiến nghị chương trình giám sát hơn so với quy định của Luật
Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
Thường trực HĐND có thể thành lập Đoàn giám sát trong trường hợp cần thiết trên cơ sở căn cứ vào chương trình giám sát của Thường trực HĐND hoặc theo yêu cầu của HĐND, đề nghị của các Ban của HĐND, Đại biểu HĐND Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức thì Thường trực HĐND có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền áp dụng các biện pháp cần thiết, kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật, xem xét trách nhiệm, xử lý vi phạm
Đối với kiến nghị, chất vấn của Đại biểu HĐND, Thường trực HĐND
Trang 21có trách nhiệm có trách nhiệm tiếp nhận để chuyển đến người bị chất vấn; thông báo cho người bị chất vấn thời hạn và hình thức trả lời chất vấn
Thường trực HĐND làm việc theo nguyên tắc tập thể Mỗi tháng, Thường trực HĐND họp ít nhất một lần để kiểm điểm việc thực hiện các Nghị quyết của HĐND và các quyết định của mình, đề ra nhiệm vụ công tác tháng sau Thường trực HĐND có thể họp bất thường theo đề nghị của từng thành viên Thường trực Hôi đồng nhân dân
- Giám sát của các Ban của HĐND cấp tỉnh
Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 thì các Ban của HĐND được thành lập ở HĐND cấp tỉnh và cấp huyện để giúp HĐND trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND Hoạt động giám sát của các Ban được quy định tại Điều 74 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003
Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cơ cấu thêm các Ban của HĐND xuống tận chính quyền địa phương cấp xã Cụ thể Khoản 3, Điều
32 quy định HĐND xã thành lập Ban Pháp chế, Ban Kinh tế - Xã hội Đây là điểm mới đáng chú ý trong cơ cấu tổ chức của HĐND cấp xã
Hình thức giám sát của các Ban chuyên môn chủ yếu được thực hiện giữa hai kỳ họp HĐND Các Ban của HĐND không chỉ giám sát tính hợp pháp với những văn bản, báo cáo, đề án mà còn tập trung vào việc tổ chức các đoàn giám sát thực tế tại cơ sở, phát hiện những vấn đề để kiến nghị với cơ sở hoặc trình HĐND quyết định Các kiến nghị của Ban có giá trị bắt buộc các
cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và các cơ quan hữu quan xem xét và thực hiện Kết quả phải báo cáo lại cho Ban biết Ngoài ra, các Ban của HĐND thực hiện giám sát theo chuyên đề
Thông qua hoạt động giám sát của các Ban chuyên môn, giúp HĐND nắm bắt được tình hình hoạt động của các cơ quan, tổ chức từ đó có biện pháp
Trang 22đôn đốc, kiểm tra và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm pháp luật, văn bản trái với pháp luật Nhà nước và Nghị quyết của HĐND
Thường trực HĐND chỉ đạo, điều hòa, phối hợp hoạt động của các Ban của HĐND Các Trưởng ban được dự các phiên họp hàng tháng của Thường trực HĐND cùng cấp
- Giám sát của Đại biểu HĐND cấp tỉnh
Đại biểu HĐND là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của Nhân dân địa phương, chịu trách nhiệm trước cử tri địa phương và trước HĐND về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đại biểu của mình Đại biểu HĐND bình đẳng trong thảo luận và quyết định các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND" [26]
Như vậy, xét về mặt cơ cấu tổ chức thì Đại biểu HĐND không phải là một cơ cấu riêng biệt của HĐND vì HĐND là một cơ quan hoạt động tập thể
có hình thức hoạt động chủ yếu là kỳ họp Ở đó, tất cả các đại biểu đều tham
dự, bình đẳng trong thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND Có một số đại biểu còn tham gia vào các cơ quan thuộc HĐND như: Thuờng trực HĐND, các Ban của HĐND Một số đại biểu khác còn tham gia vào công việc của UBND Một số hoạt động của đại biểu cùng với tổ đại biểu tại đơn vị bầu cử trực tiếp liên hệ với cử tri, thu thập ý kiến của họ, báo cáo hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết Tuy nhiên, cần phải thấy rằng hoạt động của đại biểu HĐND cũng có tính độc lập nhất định Bởi lẽ, họ là người phải chịu ữách nhiệm trước cử tri và chịu trách nhiệm trước cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương Khi làm việc, đại biểu HĐND phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân địa phương Chính họ là người thay mặt Nhân dân địa phương quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương, biến ý chí, tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân thành pháp luật thông qua hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của HĐND dưới hình
Trang 23thức nghị quyết
Với vị trí, vai trò quan trọng như vậy, hơn ai hết đại biểu HĐND phải gương mẫu chấp hành chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước, vận động gia đình, nhân dân thực hiện, đồng thời vận động nhân dân phát huy tính tích cực chính trị và trách nhiệm công dân vào quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội ở địa phương
Trong phạm vi, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình, Đại biểu HĐND thực hiện hoạt động giám sát thông qua các hoạt động chủ yếu sau:
Thứ nhất, tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của HĐND, tham gia
thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn của HĐND
Đại biểu HĐND có nhiệm vụ tham gia đầy đủ các kỳ họp, phiên họp của HĐND, hoàn thành những nhiệm vụ được giao Phản ánh các ý kiến của
cử tri với HĐND
Trong kỳ họp, đại biểu HĐND có quyền đề nghị ghi vào chương trình nghị sự những vấn đề mà đại biểu xét thấy cần thiết để HĐND xem xét và quyết định; thảo luận, phát biểu ở tổ và tại hội trường; biểu quyết các nghị quyết và kết luận của kỳ họp; chất vấn Chủ tịch và các thành viên của UBND, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Chánh án TAND và Viện thưởng Viện kiểm sát nhân dần cùng cấp Đại biểu HĐND dân có quyền tham
dự các phiên họp của HĐND cấp dưới nơi bầu ra mình, có quyền phát biểu nhưng không biểu quyết Nếu là thành viên của các cơ quan của HĐND thì đại biểu có trách nhiệm tham gia đầy đủ các hoạt động của các cơ quan đó, hoàn thành nhiệm vụ được phân công
Thứ hai, thực hiện nhiệm vụ tiếp xúc với cử tri, thu thập và phản ánh
trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri, phổ biến và giải thích các nghị quyết của HĐND
Theo quy định Đại biểu HĐND phải liên hệ chặt chẽ với cử tri tại đơn
Trang 24vị bầu ra mình, chịu sự giám sát của cử tri, có trách nhiệm thu thập, phản ánh trung thực ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri, thực hiện chế độ tiếp xúc và ít nhất mỗi năm một lần báo cáo với cử tri về hoạt động của mình và của HĐND, trả lời những yêu cầu và kiến nghị của cử tri [27]
Thứ ba, hoạt động tiếp công dân
Trước hết cần phân biệt sự khác nhau giữa hai hoạt động tiếp xúc cử tri và hoạt động tiếp công dân để có nhận thức đúng đắn, từ đó thực hiện tốt hai hoạt động này
Đại biểu HĐND tiếp công dân nhằm thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của công dân; giải thích, tuyên truyền chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước cho công dân; hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật
Tiếp xúc cử tri và tiếp công dân đều nhằm thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của công dân, nhưng cách thức tổ chức khác nhau, mục đích khác nhau Nếu như tiếp xúc cử tri là đại biểu tìm đến dân (xuống đến tận địa bàn, mời cử tri đến dự) thì tiếp công dân là Nhân dân tìm đến đại biểu (đại biểu có địa điểm tiếp công dân để những người dân có nhu cầu tìm gặp) Tiếp xúc cử tri là thu thập ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri chủ yếu về nội dung, chương trình sẽ thông qua tại kỳ họp HĐND (nhưng thực tế thì cử tri phát biểu cả những vấn đề không liên quan đến kỳ họp, những vấn đề dân sinh ở địa phương), tiếp công dân là lắng nghe mọi ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cử tri
Nội dung nổi bật của tiếp công dân chính là hướng dẫn, giúp đỡ công dân thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và nhận đơn thư của công dân để chuyển đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết theo quy định
Trang 25của pháp luật Sau đó, đại biểu theo dõi, đôn đốc quá trình giải quyết, trả lời của cơ quan chức năng để có thông tin phản hồi, trả lời cho cử tri rõ
Thứ tư, hoạt động giám sát trực tiếp
Đại biểu có thể tham gia cùng đoàn giám sát của Thường trực HĐND, Ban HĐND nếu được mời hoặc khi đại biểu biết thông tin và liên hệ với Thường trực HĐND, Ban HĐND đề nghị được tham gia với tư cách thành viên Việc tham gia của đại biểu là hợp lý và vừa giúp đại biểu thực hiện quyền, trách nhiệm của mình, vừa giúp nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động giám sát của Thường trực HĐND, Ban HĐND Trong trường hợp nội dung giám sát phù hợp với kiến thức chuyên môn, chuyên ngành của đại biểu hoặc giám sát trên địa bàn đại biểu ứng cử, hoặc các nội dung nổi cổm và bức xúc mà đại biểu cũng đang theo dõi và quan tâm Cùng với đó, đại biểu có quyền đơn phương việc giám sát với tư cách cá nhân thông qua việc tự liên hệ với các đơn vị và yêu cầu được thông tin rõ về các vấn đề mình quan tâm, hoặc tự đi khảo sát thực tế và sưu tầm tư liệu (quay phim, chụp ảnh, sưu tầm hiện vật,…) nếu đại biểu có điều kiện vật chất, phương tiện và thời gian cũng như kiến thức, kỹ năng để thực hiện Trường hợp cần có sự trợ giúp về thông tin, tài liệu, phương tiện…, đại biểu có thể liên hệ với Văn phòng HĐND tỉnh, cũng như đại biểu có thể đề nghị Thường trực HĐND tỉnh thanh toán chi phí hoặc một phần chi phí thực hiện giám sát từ nguồn kinh phí nhà nước cấp cho hoạt động của HĐND tỉnh trong năm
Tuy nhiên, thực tế việc giám sát trực tiếp của đại biểu HĐND tỉnh trong thời gian qua cho thấy, việc này mới là quy định của pháp luật, không bắt buộc cũng như không cấm đại biểu thực hiện, nhưng có rất ít đại biểu tự tổ chức thực hiện việc này do không đủ thời gian, thiếu điều kiện, kinh phí
1.2.2.2 Đối tượng giám sát của HĐND cấp tỉnh
Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và Luật
Trang 26Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng như Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015, đối tượng giám sát của HĐND rất phong phú và đa dạng bao gồm tất cả các cơ quan nhà nước, đơn vị kinh tế, tổ chức
xã hội, đơn vị vũ trang Nhân dân và mọi công dân ở địa phương Cụ thể gồm: Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp; chủ tịch HĐND, Chủ tịch UBND, các thành viên khác của UBND, thủ trưởng cơ quan chuyên môn thuộc UBND, Viện trưởng VKSND, Chánh án TAND cùng cấp; các cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang Nhân dân và công dân
ở địa phương
Hiện nay, pháp luật không phân cấp giám sát giữa HĐND các cấp, điều
đó không có nghĩa là HĐND mỗi cấp thực hiện thẩm quyền giám sát như nhau đối với mọi hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát Đối tượng, phạm
vi, mức độ giám sát của HĐND phụ thuộc vào vị trí, vai trò và sự phân cấp, tính chất và mối quan hệ giữa HĐND với đối tượng chịu sự giám sát Chẳng hạn, cùng một đối tượng là UBND huyện nhưng HĐND tỉnh giám sát việc triển khai thực hiện nghị quyết của HĐND tỉnh, nhưng HĐND huyện giám sát toàn diện UBND huyện dưới góc độ cơ quan chấp hành của mình Cũng như vậy, xét về mối quan hệ chấp hành của cơ quan này với HĐND mà phạm vi, mức độ giám sát của HĐND bao trùm mọi hoạt động của UBND Nhưng với TAND, VKSND thì hoạt động giám sát của HĐND chủ yếu ở việc xem xét tính pháp chế của các bản án đã được giải quyết và sự phối hợp của Tòa án, Viện kiểm sát với địa phương trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương
Trang 27HĐND, quy định của pháp luật, của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân ở địa phương
- Xem xét, đánh giá hiệu quả của các nghị quyết do HĐND tỉnh ban hành, tác động của chúng đối với sự ổn định, phát triển của đời sống xã hội
- Xem xét, đánh giá tính hợp pháp của các nghị quyết do HĐND tỉnh ban hành có mâu thuẫn với Hiến pháp, các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên, với các quy định khác trong hệ thống pháp luật hiện hành không?
- Xem xét những văn bản quy phạm pháp luật của UBND và nghị quyết của HĐND cấp dưới trực tiếp có dấu hiệu trái với văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND tỉnh hay không
để từ đó xem xét, bãi bỏ
- Thu thập ý kiến, tâm tư nguyện vọng của Nhân dân địa phương, để từ
đó nghiên cứu, xây dựng pháp luật
- Xem xét, đánh giá phẩm chất và năng lực tổ chức điều hành của chức danh lãnh đạo do HĐND bầu hoặc phê chuẩn; xem xét tư cách của Đại biểu HĐND tỉnh và Thường trực HĐND cấp huyện [26], [27]
1.2.2.4 Nội dung giám sát của HĐND cấp tỉnh
Hoạt động giám sát của HĐND được tiến hành thường xuyên, gắn liền với việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do pháp luật quy định Về nhiệm vụ quyền hạn của HĐND tỉnh bao trùm trên các lĩnh vực kinh tế, giáo dục, y tế,
xã hội, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, khoa học, công nghệ, tài nguyên
và môi trường, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, chính sách dân tộc
và chính sách tôn giáo, thi hành pháp luật, xây dựng chính quyền địa phương
và quản lý địa giới hành chính [27, đ11-17, đ57], [26, đ87] Như vậy, nội dung giám sát của HĐND tỉnh rất rộng, bao quát toàn bộ hoạt động quản lý nhà nước trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội, quốc phòng-an
Trang 28ninh, xây dựng và củng cố chính quyền địa phương, quản lý đô thị, thực hiện pháp luật, đảm bảo phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên địa bàn tỉnh
1.2.2.5 Hình thức giám sát của HĐND cấp tỉnh
Hình thức thực hiện quyền giám sát là cách thức mà mỗi chủ thể giám sát tổ chức hoạt động giám sát của mình Mỗi chủ thể thực hiện quyền giám sát có những hình thức giám sát khác nhau, thực hiện theo yêu cầu, trình tự, thủ tục riêng Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 (Điều 58), Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm 2015 (Khoán 3, Điều 87) quy định hình thức thực hiện quyền giám sát của HĐND các cấp cơ bản là giống nhau, cụ thể:
Thứ nhất, HĐND xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND,
UBND, TAND, VKSND cùng cấp
Mục đích của việc xem xét báo cáo công tác của Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp và các văn bản, tài liệu khác được trình bày trong kỳ họp của HĐND trong đó có cả các dự thảo nghị quyết của HĐND làm cơ sở để đại biểu HĐND tham gia vào việc quyết định các vấn đề quan trọng của địa phương trên tất cả các lĩnh vực thuộc chức năng, nhiệm vụ của HĐND và sự thể hiện tập trung nhất là việc đại biểu HĐND biểu quyết thông qua nghị quyết của HĐND trong kỳ họp
Thứ hai, đại biểu tiến hành chất vấn và nghe chất vấn tại kỳ họp
Chất vấn là việc đại biểu HĐND nêu vấn đề thuộc trách nhiệm của Chủ tịch UBND, thành viên khác của UBND, Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND, Thủ trưởng cơ quan thuộc UBND cùng cấp và yêu cầu những người này trả lời về trách nhiệm của mình đối với vấn đề được nêu [3]
Tại Điều 115 Hiến pháp 2013 có nêu rõ nội dung về quyền chất vấn của đại biểu HĐND Tại Điều 41 Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Điều
Trang 2996 Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 cũng quy định quyền chất vấn của đại biểu đối với người đứng đầu các tổ chức, đơn vị có thẩm quyền và thời gian, hình thức, thể thức chất vấn, trả lời chất vấn Trên cơ sở đó, thiết lập khung pháp lý cần thiết, đầy đủ và đủ mạnh để bảo đảm cho đại biểu HĐND thực hiện quyền chất vấn một cách chủ động
Chất vấn có 3 mục đích cơ bản, đó là: Để làm rõ trách nhiệm của người
bị chất vấn trong việc điều hành, thực hiện nhiệm vụ chưa tốt, còn có sai sót, hiệu quả chưa cao; kiểm tra, đánh giá hiệu quả hoạt động và trách nhiệm của người bị chất vấn trong thực hiện nhiệm vụ được giao, uy tín của người bị chất vấn nhanh chóng được đánh giá qua việc trả lời chất vấn; sự cảnh báo của HĐND giúp người bị chất vấn có cơ hội tự rà soát lại việc thực hiện nhiệm vụ của mình
Thứ ba, xem xét VBQPPL của UBND cùng cấp, nghị quyết của
HĐND cấp dưới trực tiếp khi phát hiện có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước cấp trên và nghị quyết của HĐND cùng cấp
Đây là hình thức HĐND giám sát tính hợp Hiến, hợp pháp của các VBQPPL do các đối tượng chịu sự giám sát của HĐND ban hành Để thực hiện tốt nhiệm vụ trên, tại các kỳ họp HĐND cũng như giữa hai kỳ họp, Thường trực HĐND, các Ban và từng đại biểu HĐND phải thường xuyên thực hiện giám sát các văn bản thuộc thẩm quyền của mình để có những kiến nghị, đề xuất kịp thời
HĐND bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật của UBND cùng cấp, văn bản quy phạm pháp luật của HĐND cấp dưới trái với nghị quyết của mình, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên [24, đ164]
Trang 30HĐND, UBND các cấp có trách nhiệm tự kiểm tra VBQPPL
do mình ban hành; HĐND, UBND cấp trên kiểm tra VBQPPL do HĐND, UBND cấp dưới ban hành
Khi phát hiện VBQPPL do mình ban hành trái pháp luật thì HĐND, UBND có trách nhiệm tự mình bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn bản
Chủ tịch UBND cấp tỉnh tổ chức kiểm tra VBQPPL do HĐND, UBND cấp huyện ban hành
Chủ tịch UBND cấp huyện tổ chức kiểm tra VBQPPL do HĐND, UBND cấp xã ban hành
Chủ tịch UBND cấp tỉnh đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của HĐND cấp huyện và đề nghị HĐND cấp tỉnh bãi
bỏ
Chủ tịch UBND cấp huyện đình chỉ việc thi hành nghị quyết trái pháp luật của HĐND cấp xã và đề nghị HĐND cấp huyện bãi bỏ
Chủ tịch UBND cấp trên trực tiếp đình chỉ việc thi hành, bãi
bỏ một phần hoặc toàn bộ VBQPPL trái pháp luật của UBND cấp dưới [24, đ167]
Các bước để HĐND xem xét tính hợp Hiến, hợp pháp của VBQPPL được quy định như sau: Đại diện Thường trực HĐND trình bày VBQPPL có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên; HĐND thảo luận; người đứng đấu cơ quan đã ban hành VBQPPL trình bày bổ sung những vấn đề có liên quan; HĐND ra nghị quyết về việc xem xét văn bản, hệ quả của hoạt động này có thể dẫn đến hai khả năng: HĐND ra nghị quyết khi VBQPPL đó không trái với Hiến pháp, luật và VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên, hoặc quyết định bãi bỏ một phần hoặc toàn bộ văn
Trang 31bản đó
Quy định của pháp luật về quy trình HĐND xem xét tính hợp Hiến, hợp pháp của VBQPPL và việc phân cấp giải quyết trong nhiệm kỳ 2011-2016 chưa cụ thể, rõ ràng Tuy nhiên, từ khi Luật ban hành VBQPPL năm 2015 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/6/2016 đã giải quyết cơ bản những hạn chế của nhiệm kỳ trước trong việc xem xét tính hợp Hiến, hợp pháp của VBQPPL
Thứ tƣ, thành lập Đoàn giám sát khi xét thấy cần thiết
Trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình, khi xét thấy cần thiết phải xác minh, làm rõ hoặc muốn biết một số thông tin cụ thể trong quá trình hoạt động của các đối tượng chịu sự giám sát thì HĐND thành lập Đoàn giám sát Kế hoạch hoạt động của Đoàn giám sát được thông báo trước cho đối tượng giám sát trong thời hạn chậm nhất là 7 ngày trước thời điểm giám sát [27] (Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 quy định 10 ngày) Trong quá trình làm việc, Đoàn có quyền xem xét, xác minh tất cả các vấn đề mà Đoàn xét thấy cần thiết Khi phát hiện có hành vi vi phạm pháp luật, gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân thì Đoàn giám sát có quyền yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu quan áp dụng các biện pháp cần thiết để kịp thời chấm dứt hành vi vi phạm pháp luật và khôi phục lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân bị vi phạm; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xử lý, xem xét trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân
có hành vi vi phạm theo quy định của pháp luật [25]
Thứ năm, hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với
người giữ chức vụ do HĐND bầu
Lấy phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội, HĐND thực hiện quyền giám sát, đánh giá mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc xem xét đánh giá cán bộ
Trang 32Bỏ phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội, HĐND thể hiện sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn đề nghị miễn nhiệm người không được Quốc hội, HĐND tín nhiệm [28]
Việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, HĐND; nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước; giúp người được lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, làm cơ sở để cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xem xét, đánh giá cán bộ
Theo quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003, chỉ mới quy định hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm, chưa quy định hoạt động lấy phiếu tín nhiệm Hoạt động bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu là quy định mới nhằm đảm bảo hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động giám sát của HĐND, được xem như là một công cụ giám sát mới của HĐND
Trong hoạt động lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ
do HĐND bầu, HĐND các cấp thực hiện theo Nghị quyết số 35/2012/QH13 của Quốc hội khóa XIII, Nghị quyết số 561/2013/UBTVQH13 hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 35/2012/QH13 Theo đó, quy định HĐND tổ chức lấy phiếu tín nhiệm định kỳ hàng năm từ năm thứ hai của nhiệm kỳ; riêng đối với nhiệm kỳ 2011-2016 thì việc lấy phiếu tín nhiệm lần đầu tiến hành tại kỳ họp đầu năm 2013 Có 3 mức độ là “Tín nhiệm cao”,
“Tín nhiệm”, “Tín nhiệm thấp” Người được lấy phiếu tín nhiệm có quá nửa tổng số đại biểu HĐND đánh giá “Tín nhiệm thấp” thì có thể xin từ chức Người có trên hai phần ba tổng số đại biểu HĐND đánh giá “Tín nhiệm thấp” hoặc 02 năm liên tiếp có quá nửa tổng số đại biểu HĐND đánh giá “Tín nhiệm thấp” thì Thường trực HĐND trình HĐND bỏ phiếu tín nhiệm theo
Trang 33quy định tại Điều 12 và Điều 13 của Nghị quyết 35/2012/QH13
Ngoài các trường hợp quy định trên, HĐND còn bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do HĐND bầu khi có đề nghị của ít nhất một phần ba tổng số Đại biểu HĐND hoặc kiến nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (UBMTTQ) Việt Nam cùng cấp
Hiện nay, hoạt động lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do HĐND bầu thực hiện theo Nghị quyết số 85/2014/QH13, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2015 và thay thế Nghị quyết
số 35/2012/QH13 Theo đó, quy định HĐND tổ chức lấy phiếu tín nhiệm một lần trong mỗi nhiệm kỳ vào kỳ họp thường lệ cuối năm thứ ba của nhiệm kỳ
Hệ quả đối với người được lấy phiếu tín nhiệm cũng được quy định khắc khe hơn so với trước
1.3 YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HĐND CẤP TỈNH
1.3.1 Cơ sở pháp lý về hoạt động giám sát của HĐND
Đây là yếu tố đầu tiên tác động rất lớn đến hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh Các quy định pháp luật về giám sát có vai trò tạo cơ sở pháp lý cho HĐND thực hiện quyền năng giám sát của mình Nếu luật không quy định một cách cụ thể về hoạt động giám sát của HĐND thì việc ghi nhận chức năng giám sát của HĐND trong Hiến pháp cũng chỉ là hình thức Điều này đã được minh chứng trong thực tiễn phát triển của Luật Tổ chức HĐND và UBND Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 1989 và năm 1994 có quy định
về chức năng giám sát của Hội đồng nhưng rất khái quát, chung chung Điều này đã gây nên những khó khăn cho hoạt động của HĐND và là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiệu quả hoạt động giám sát của HĐND tỉnh thời gian qua rất thấp Nhưng từ năm 2003, Luật Tổ chức HĐND và UBND đã cụ thể, chi tiết hoá chức năng giám sát của Hội đồng, nhờ đó hiệu quả giám sát
Trang 34của Hội đồng trong thực tiễn được nâng lên rất nhiều
Nhất là trong giai đoạn hiện nay, hoạt động giám sát của HĐND ngày càng được quan tâm và đặt đúng vị trí để phát huy vai trò thật sự của HĐND, biểu hiện rõ nhất là lần đầu tiên chức năng giám sát của HĐND được quy định tại Hiến pháp [23, đ113], điều này nâng cao tầm quan trọng và vị thế ổn định của chức năng giám sát HĐND Cùng với đó, chức năng giám sát của HĐND còn được quy định tại Luật Tổ chức Chính quyền địa phương năm
2015, và cũng là lần đầu tiên có Luật dành riêng cho hoạt động giám sát của HĐND được ghi nhận tại Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015 Với những cơ sở pháp lý vững chắc như trên, tin rằng trong thời gian đến, hoạt động giám sát của HĐND các cấp, trong đó có cấp tỉnh, sẽ ngày càng được nâng cao về chất lượng, hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động giám sát
Như vậy, vấn đề đặt ra là để nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND tỉnh đòi hỏi Nhà nước phải ban hành đầy đủ các văn bản pháp luật trong lĩnh vực giám sát cho HĐND nói riêng và toàn bộ hoạt động của HĐND nói chung
1.3.2 Tổ chức bộ máy, hoạt động của Thường trực và các Ban HĐND cấp tỉnh
Yếu tố này đòi hỏi HĐND phải có một bộ máy hoạt động đủ khả năng thực hiện một cách tốt nhất chức năng giám sát trong phạm vi quyền hạn của mình Bất kỳ cơ quan nào, nếu có một tổ chức hợp lý và đồng bộ sẽ tạo nên guồng máy làm việc nhịp nhàng và dễ mang lại hiệu quả
HĐND ở nước ta là cơ quan hoạt động không thường xuyên, cùng với đặc điểm đại biểu HĐND làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên ảnh hưởng rất lớn, trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của HĐND nói chung và giám sát nói riêng Để thực hiện tốt chức năng giám sát của mình, HĐND ngày càng được chú ý hoàn thiện về mặt tổ chức Từ khi HĐND mới chỉ có một ban thư ký
Trang 35đại biểu, không có thường trực, đến nay HĐND đã thành lập các cơ quan của mình: Thường trực HĐND, các Ban HĐND, Tổ đại biểu HĐND, trong đó quy định cụ thể những chức danh phải là đại biểu hoạt động chuyên trách, phần nào đáp ứng được nhu cầu hiện nay
Hơn nữa, các chủ thể tham gia hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh được mở rộng hơn so với trước Nếu như Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 không quy định Tổ đại biểu HĐND như là một chủ thể tham gia hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh, thì đến Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, Tổ đại biểu HĐND được quy định là chủ thể tham gia hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh
1.3.3 Nhóm yếu tố thuộc về năng lực của HĐND
Chất lượng hoạt động giám sát của HĐND phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của các chủ thể tham gia giám sát, tựu trung lại là chất lượng của từng đại biểu HĐND Vì suy cho cùng, các chủ thể tham gia giám sát của HĐND cấp tỉnh cũng đều được cấu thành từ các đại biểu HĐND Do vậy, nhóm yếu tố này có thể xem xét ở một số gốc độ sau:
Một là, trình độ hiểu biết của từng Đại biểu HĐND Đây là yếu tố hết
sức quan trọng đối với chất lượng giám sát của HĐND, bởi giám sát mang đậm bản chất của hoạt động tư duy Nếu hiểu biết toàn diện, sẽ có khả năng tiếp cận toàn diện, đầy đủ, đánh giá vấn đề một cách khoa học, từ đó đưa ra phương hướng, biện pháp giải quyết vấn đề một cách đúng đắn, kịp thời và hiệu quả Ngược lại, vấn đề sẽ bị nhìn nhận một cách phiến diện, đánh giá không đúng thực tế và không đưa ra được phương hướng, giải pháp phù hợp, gây tốn kém, thậm chí gây ra nhiều vấn đề phức tạp khác cho quản lý nhà nước và xã hội
Hai là, phẩm chất chính trị, đạo đức, trách nhiệm của đại biểu HĐND
Đây là yếu tố giữ vai trò cốt lõi, nền tảng hết sức quan trọng Phẩm chất chính
Trang 36trị, đạo đức, trách nhiệm được nhìn nhận vừa dưới góc độ của cá nhân đại biểu, vừa dưới góc độ tập thể HĐND, đồng thời với tính cách là chủ quan của đại biểu
Một mặt, đại biểu phải thực sự thấm nhuần lý tưởng, đạo đức cách mạng, thực sự đại diện và có trách nhiệm với cử tri và Nhân dân địa phương, luôn trăn trở để thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình Do đó, đại biểu phải không ngừng học tập nâng cao trình độ lý luận chính trị, tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng Đây là những đòi hỏi từ phía chủ quan của đại biểu Mặc khác, phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng của đại biểu không chỉ đơn thuần là ý chí chủ quan của họ, mà chịu tác động của nhiều yếu tố, đặc biệt là các lợi ích vật chất cũng như chính trị Khó có thể nói khách quan, chất lượng, khi một đại biểu kiêm nhiệm thực hiện giám sát đối với cấp trên của mình Đây là một thực tế khách quan Vì vậy, để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND, phải chú ý đến vấn đề cơ cấu giữa đại biểu chuyên trách và đại biểu kiêm nhiệm, giữa các đại biểu kiêm nhiệm trong hệ thống hành pháp với đại biểu trong các cơ quan, tổ chức khác
Ba là, chương trình, kế hoạch, phương thức giám sát của HĐND
Xây dựng chương trình, kế hoạch và lựa chọn hình thức giám sát phù hợp là điều kiện đảm bảo tính chủ động cho HĐND khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ và cũng là một trong những yếu tố góp phần nâng cao hiệu quả giám sát HĐND tỉnh cần ra nghị quyết tổ chức giám sát, các cuộc giám sát đều phải lập kế hoạch, xây dựng chương trình cụ thể, thông báo sớm về nội dung, thời gian và thống nhất cách thức thực hiện, các thành viên của đoàn giám sát phải nắm vững mục đích yêu cầu, phương pháp giám sát Quy trình thực hiện giám sát cần thực hiện đúng theo quy định của Luật hoạt động giám sát của Quốc hội và HĐND năm 2015
Trang 37Trong xây dựng chương trình, kế hoạch giám sát cần xác định vấn đề
ưu tiên để tránh dàn trãi Thời gian của HĐND rất ít, trong khi đó hoạt động của chính quyền có rất nhiều nội dung, tập trung giám sát tất cả là điều không thể đối với HĐND và cách làm đó không hiệu quả Vì vậy, xác định thứ tự ưu tiên giám sát là quan trọng nhất Hội đồng phải biết chọn đúng việc, sử dụng các công cụ thích hợp theo chức năng, vai trò của mình; phải tổ chức hoạt động giám sát để phát huy tiếng nói đại diện và vị thế độc lập để việc giám sát
có ý nghĩa tác động tích cực tới hoạt động hoạch định chính sách của hội đồng và hỗ trợ hiệu quả hoạt động của cơ quan chấp hành Do đó, nếu không biết chọn trọng tâm mà chỉ dàn trải các hoạt động giám sát về bề mặt sẽ dẫn đến tình trạng “nói để làm ví dụ răn đe”, thiếu tính xây dựng, không làm cơ quan chấp hành hợp tác để đạt mục đích chung tốt hơn
Cũng cần phải thấy rằng mọi cố gắng trong việc xây dựng chương trình, lập kế hoạch và lựa chọn hình thức giám sát có thể sẽ không đưa lại một kết quả nào nếu HĐND thiếu kiểm tra, đôn đốc các kết luận sau khi giám sát Việc kiểm tra, đôn đốc các kết luận sau khi giám sát buộc đối tượng bị giám sát phải kịp thời uốn nắn, chấn chỉnh hoạt động của mình theo đúng quy định của pháp luật và Nghị quyết của HĐND, và đó cũng là một trong những điều kiện nâng cao hiệu lực, hiệu quả giám sát hiện nay
1.3.4 Các điều kiện bảo đảm cho hoạt động giám sát
Thứ nhất, phải bảo đảm các điều kiện để thực hiện hoạt động giám sát
Yêu cầu này đòi hỏi các chủ thể tham gia giám sát của HĐND cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện chương trình, kế hoạch giám sát; tham gia đầy đủ Đoàn giám sát mà mình là thành viên Các chủ thể giám sát còn được quyền tổ chức lấy ý kiến, trưng cầu giám định khi cần thiết theo quy định của pháp luật Các
cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm cung cấp thông tin, tài liệu cho các chủ thể giám sát và chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung
Trang 38thực của thông tin, tài liệu cung cấp Ngoài ra, cơ quan thông tin đại chúng có quyền tiếp cận, đưa tin về hoạt động giám sát theo quy định của pháp luật
Thứ hai, các kết luận, kiến nghị giám sát phải được thực hiện trong
thực tế Nghị quyết về giám sát của HĐND tỉnh có giá trị pháp lý bắt buộc thực hiện Do đó, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND tỉnh có trách nhiệm thường xuyên theo dõi, đôn đốc việc thực hiện nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát; trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu giám sát không thực hiện hoặc thực hiện không đúng yêu cầu trong nghị quyết, kết luận, kiến nghị giám sát thì xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị
cơ quan có thẩm quyền xử lý
Thứ ba, kinh phí và tổ chức phục vụ hoạt động giám sát của HĐND
tỉnh
Kinh phí và điều kiện vật chất cho hoạt động giám sát đóng vai trò quan trọng, ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả của hoạt động giám sát Hoạt động giám sát nếu được đầu tư thỏa đáng sẽ góp phần tích cực nâng cao hiệu quả giám sát của HĐND Việc đầu tư kinh phí cho hoạt động giám sát phải tối ưu
Bên cạnh đó, chất lượng hoạt động giám sát cũng phụ thuộc rất nhiều đến chất lượng tham mưu, giúp việc của Văn phòng HĐND cấp tỉnh Văn phòng HĐND phải là đầu mối và là cánh tay đắc lực của HĐND, đảm bảo các điều kiện vật chất, tổ chức phục vụ cho hoạt động giám sát của HĐND
Trang 39Tiểu kết chương 1
Quyền giám sát của HĐND cấp tỉnh là một bộ phận cấu thành của quyền lực nhà nước và là chức năng quan trọng của HĐND cấp tỉnh Những
cơ sở lý luận về hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh chính là căn cứ pháp
lý để HĐND cấp tỉnh thực hiện quyền năng giám sát và triển khai các hoạt động giám sát trên thực tế Pháp luật Việt Nam kể từ Hiến pháp năm 1946 đến nay không ngừng hoàn thiện các quy định về hoạt động giám sát của HĐND
Trong xu hướng đổi mới hoạt động của cả bộ máy Nhà nước thì việc đổi mới hoạt động giám sát của HĐND cấp tỉnh nói chung, hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận nói riêng là tất yếu khách quan Trong những năm tới, để tiếp tục đổi mới hoạt động giám sát của HĐND tỉnh Bình Thuận
đòi hỏi phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện và làm tốt tất cả các yêu cầu trên
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HĐND
TỈNH BÌNH THUẬN
2.1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ TÌNH HÌNH KINH TẾ - XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HĐND TỈNH BÌNH THUẬN
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bình Thuận
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên của tỉnh Bình Thuận
Bình Thuận là dải đất hẹp nằm cuối dãy Trường Sơn và duyên hải miền Trung, có tọa độ địa lý từ 10o33'42" đến 11o33'18" vĩ độ Bắc, từ 107o
23'41" đến 108o52'18" kinh độ Ðông Phía Bắc của tỉnh Bình Thuận giáp với tỉnh Lâm Đồng, phía Đông Bắc giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Tây giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây Nam giáp Bà Rịa - Vũng Tàu, ở phía Đông và Nam giáp Biển Đông với đường bờ biển dài 192 km kéo dài từ mũi Đá Chẹt giáp Cà Ná thuộc tỉnh Ninh Thuận đến bãi bồi Bình Châu thuộc địa phận tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu [0]
Tỉnh lỵ của Bình Thuận là thành phố Phan Thiết, cách Thủ đô Hà Nội 1.532 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 198 km về phía Nam [5]
Diện tích tự nhiên của tỉnh Bình Thuận là 781.282 ha Địa hình Bình Thuận chủ yếu là đồi núi thấp, đồng bằng ven biển nhỏ hẹp, địa hình hẹp ngang kéo theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, phân hoá thành 4 dạng địa hình chính gồm đất cát và cồn cát ven biển chiếm 18,22%, đồng bằng phù sa chiếm 9,43%, vùng đồi gò chiếm 31,65% và vùng núi thấp chiếm 40,7% diện tích đất tự nhiên (núi cao nhất với độ cao 1.642m ở tại huyện Đức Linh, còn phần lớn là núi thấp có độ cao dưới 750m) [5]