1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)

104 323 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của UBND quận 3, Tp.HCM (LV thạc sĩ)

Trang 1

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 3- TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ

HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA

NGUYỄN SĨ QUÝ

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA

ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN 3- TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Quản lý công

Mã số: 60 34 04 03

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN VĂN Y

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của tôi dưới sự hướng dẫn của người hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Văn Y

Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào Các số liệu, tài liệu tham khảo được trích dẫn nguồn theo đúng hướng dẫn của Học viên Hành chính Quốc gia về cách thức trình bày luận văn

Tác giả

Nguyễn Sĩ Quý

Trang 4

Đặc biệt tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc nhất đến TS Nguyễn Văn Y đã tận tình hướng dẫn, hỗ trợ và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn đến Sở Thông tin truyền thông Tp Hồ Chí Minh, UBND quận 3, Văn phòng HĐND-UBND quận 3 đã tạo điều kiện và

hỗ trợ cung cấp các số liệu và các thông tin để tôi hoàn thành luận văn này

Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người đã không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn

Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến các anh chị và các bạn đồng nghiệp, các bạn học viên trong khóa học đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài luận văn thạc sĩ một cách hoàn chỉnh

Do năng lực nghiên cứu còn hạn chế cũng như thời gian tìm hiểu ngắn, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tác giả mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp của Quý Thầy Cô để luận văn và bản thân tôi hoàn thiện hơn trong quá trình học tập, nghiên cứu khoa học và làm việc sau này

Trân trọng cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 6

MỤC LỤC

Trang Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Danh mục các từ viết tắt

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài luận văn 1

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 3

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn 6

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Kết cấu của luận văn 8

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN……… 9

1.1 Những vấn đề liên quan 9

1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin 9

1.1.2 Khái niệm thủ tục hành chính 9

1.1.3 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin 11

1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyên 12

1.2.1 Khái niệm 12

1.2.2 Các quy định pháp lý về ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính 13

1.2.3 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện 14

Trang 7

1.3 Sự cần thiết ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục

hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện 19

1.3.1 Ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng cải cách hành chính 19

1.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng hội nhập 21

1.4 Kinh nghiệm của các địa phương trong ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính 23

1.4.1 Kinh nghiệm của các địa phương 23

1.4.2 Một số bài học kinh nghiệm 27

Tiểu kết chương 1 30

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN 3- TP HỒ CHÍ MINH………31

2.1 Khái quát về quận 3- Tp Hồ Chí Minh 31

2.2 Khái quát chung về cải cách hành chính trên địa bàn quận 3- Tp Hồ Chí Minh 33

2.3 Tổng quan về thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính của Uỷ ban nhân dân Quận 3- Tp Hồ Chí Minh 36

2.3.1 Xây dựng cơ sở hạ tầng và nhân lực công nghệ thông tin 36

2.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện các thủ tục hành chính nội bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước 43

2.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động mô hình một cửa, một cửa liên thông 48

2.3.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào cung ứng dịch vụ công trực tuyến 55

2.4 Đánh giá thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính của Uỷ ban nhân dân Quận 3- Tp Hồ Chí Minh………… 64

2.4.1 Thành tựu 64

Trang 8

2.4.2 Hạn chế 66

2.4.3 Nguyên nhân của hạn chế 69

Tiểu kết chương 2 72

CHƯƠNG 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN 3- TP HỒ CHÍ MINH 73

3.1 Một số định hướng của Đảng và Nhà nước về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước 73

3.2 Các giải pháp đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện thủ tục hành chính của Uỷ ban nhân dân quận 3- Tp Hồ Chí Minh 75

3.2.1 Nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ công chức 75

3.2.2 Xây dựng cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin 77

3.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức công nghệ thông tin cho đội ngũ cán bộ công chức 80

3.2.4 Ứng dụng các phần mềm, các tiện ích vào thực hiện thủ tục hành chính 83

3.2.5 Kết hợp đồng bộ ứng dụng công nghệ thông tin với các nội dung cải cách hành chính khác 85

3.2.6 Nâng cao khả năng tiếp cận của người dân, doanh nghiệp 88

Tiểu kết chương 3 91

KẾT LUẬN 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 94

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong quá trình hoạt động quản lý nhà nước thì TTHC đóng vai trò hết sức quan trọng TTHC là công cụ quan trọng để nhà nước đưa pháp luật vào trong cuộc sống, giúp các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm

vụ của mình Đối với người dân TTHC cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng TTHC góp phần cho người dân bảo vệ và thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp của mình TTHC đã góp phần giải quyết mối quan hệ giữa nhà nước với người dân, các doanh nghiệp Chất lượng của TTHC sẽ ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả của công tác quản lý nhà nước TTHC đơn giản, thuận lợi sẽ tạo điều kiện cho hoạt động thực thi công vụ của cơ quan nhà nước, cán

bộ công chức Đồng thời nó cũng tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong giao dịch với các cơ quan nhà nước nước Tuy nhiên trong thực tế hiện nay thì TTHC ở Việt Nam còn nhiều hạn chế TTHC còn chồng chéo và rườm rà

“Hình thức đòi hỏi quá nhiều giấy tờ, gây phiền hà cho Nhân dân; nặng nề,

nhiều cửa, nhiều cấp trung gian, rườm rà, không rõ ràng về trách nhiệm Những nhược điểm trên đã gây ra phiền hà cho việc thực hiện quyền tự do, lợi

ích và công việc chung của cơ quan” Việc TTHC hiện nay rườm rà đã ảnh

hưởng lớn đến hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước cũng như đảm bảo các quyền và lợi ích của người dân

Nhận thức được tầm quan trọng của TTHC và thực trạng TTHC hiện nay, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng công tác cải cách TTHC Nếu như trong chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001-2010 theo Quyết định 136/2001/QĐ-TTg thì TTHC là một nội dung cải cách hành chính nằm trong cải cách thể chế, thì đến Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020 đã tách thành một nội dung cải cách hành

Trang 10

chính độc lập Nhà nước ta đã có nhiều chương trình, đề án để cải cách TTHC như Đề án 30 về đơn giản hóa TTHC,…

Một trong những biện pháp để nhằm cải cách thủ tục hành chính là áp dụng CNTT vào thực hiện TTHC Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC vừa là một giải pháp đồng thời là một mục tiêu hướng đến trong cải cách hành chính CNTT và truyền thông đang được xem là công cụ quan trọng hàng đầu

để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đẩy nhanh hội nhập kinh

tế quốc tế ở nước ta, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Ứng dụng CNTT có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện TTHC

Đảng và Nhà nước đã có nhiều chương trình đề án để ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan nhà nước Chính phủ đã ban hành Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của chính phủ

về ứng dụng CNTT trong hoạt động của cơ quan nhà nước Đảng cũng có định hướng ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lý như Nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 1 tháng 7 năm 2014 của Bộ chính trị về đẩy mạnh và ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế Để cụ thể hóa, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 26/NQ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện nghị quyết số 36/NQ-TW ngày 01 tháng

7 năm 2014 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh và ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế Việc ứng dụng CNTT góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước

Quận 3- Tp Hồ Chí Minh là một trong những quận có tốc độ phát triển kinh tế cao của Tp Hồ Chí Minh nói riêng và của các nước nói chung Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội thì hoạt động cải cách hành chính cũng được

Ủy ban nhân dân quận đẩy mạnh Một trong những nội dung được chú trọng

Trang 11

trong cải cách hành chính của quận là ứng dụng CNTT trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nói chung và ứng dụng công nghệ thông tin vào thực hiện TTHC nói riêng Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã góp phần giải quyết TTHC một cách nhanh chóng Tuy nhiên bên cạnh những kết quả đạt được thì việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC của UBND quận cũng có những hạn chế nhất định Việc ứng dụng công nghệ thông tin chưa tiến hành đồng bộ Bên cạnh đó cơ sở hạ tầng cho việc ứng dụng CNTT chưa đáp ứng yêu cạnh Ngoài ra việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức về CNTT còn những hạn chế nhất định và chưa đáp ứng yêu cầu Trước đòi hỏi của sự phát triển của các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội và bản thân hoạt động của các

cơ quan hành chính nhà nước trên địa bàn quận thì việc ứng dụng CNTT là hết sức cần thiết

Xuất phát từ những lý do cơ bản trên, tác giả chọn đề tài “Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân quận 3- Tp Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sĩ Quản lý công

2 Tình hình nghiên cứu

Việc ứng dụng CNTT vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước là một nội dung được quan tâm và nghiên cứu Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, ấn phẩm khoa học đề cập trong các hội thảo, trong các sách chuyên khảo, tạp chí, luận văn, bao gồm:

“Ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính nhà nước thành phố Hà Nội thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa” của tác giả Nguyễn Xuân Thái Luận văn đã chỉ ra được thực

trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan hành chính nhà nước

và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước

Trang 12

“Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Hà Nam” năm 2016 của Lã Thị Huyền đăng trên tạp

chí Tổ chức nhà nước Công trình nghiên cứu này đã khái quát quá trình ứng dụng CNTT vào cải cách hành chính trên địa bàn tỉnh Hà Nam trong những năm qua Đặc biệt công trình nghiên cứu này đã khái quát những chương trình, dự án mà tỉnh Hà Nam đã triển khai áp dụng trong quá trình ứng dụng CNTT vào cải cách hành chính Công trình nghiên cứu này đã chỉ rõ những thành tựu cũng như những hạn chế trong quá trình ứng dụng CNTT vào cải cách hành chính tại tỉnh Hà Nam Tuy nhiên công trình nghiên cứu này tiếp cận ứng dụng CNTT vào cải cách hành chính chung chứ chưa gắn nhiều với cải cách TTHC

“Ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành của UBND huyện từ thực tiễn huyện Bến Lức, tỉnh Long An” của tác giả

Nguyễn Tường Lam Luận văn đã tập trung làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thông tin, công nghệ thông tin cũng như cơ sở lý luận về ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý hành chính nhà nước Bên cạnh đó, luận văn còn nêu bật lên tầm quan trọng của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong chỉ đạo, điều hành của các cơ quan hành chính nhà nước

“Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác cải cách thủ tục hành chính của Ngân hàng nhà nước” năm 2011 của tác giả Đào Minh Tú

Công trình nghiên cứu này đã khái quát thực trạng ứng dụng CNTT vào công tác cải cách TTHC tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, trong đó đặc biệt đã chỉ rõ những thành tựu cũng như những hạn chế trong quá trình này Dựa trên các hạn chế, công trình nghiên cứu này đã đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT vào cải cách hành chính tại Ngân hàng nhà nước Việt Nam Công trình nghiên cứu này cũng đã đưa ra một số định hướng trong ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC Tuy nhiên các giải pháp công trình nghiên

Trang 13

cứu này nêu ra mang nặng tính kỹ thuật trong khi đó yếu tố con người và các TTHC ít được đề cập

“Ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính tại UBND cấp xã tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” năm 2013 của Đào Mai Cường

Công trình này đã làm rõ các cơ sở lý luận về công nghệ thông tin, cơ chế một cửa, một cửa liên thông và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính tại UBND cấp xã Ngoài ra công trình nghiên cứu này cũng đã làm rõ thực trạng ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính tại UBND cấp xã tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Trong đó đã đánh giá được những ưu, nhược điểm và chỉ ra các hạn chế cũng như nguyên nhân của các hạn chế Đồng thời công trình nghiên cứu này cũng đã đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính tại UBND cấp xã tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Các công trình nghiên cứu, các ấn phẩm khoa học trong thời gian qua đều khẳng định sự cần thiết của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Tuy nhiên đa phần các công trình nghiên cứu tiếp cận việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước nói chung mà chưa gắn với việc thực hiện thủ tục hành chính Với Ủy ban nhân dân quận 3- Tp Hồ Chí Minh, đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào về nội dung này được công bố chính thức

Vì vậy nội dung lựa chọn nghiên cứu là vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu làm rõ

Trang 14

từ đó luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC của UBND quận 3- Tp Hồ Chí Minh

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được các mục đích nêu trên, luận văn tập trung thực hiện nhiệm

vụ dưới đây:

- Nghiên cứu cơ sở lý luận và pháp lý về ứng dụng CNTT trong thực

hiện TTHC của UBND cấp huyện

- Đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC của UBND quận 3, Tp Hồ Chí Minh

- Đề xuất các giải pháp đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong thực hiện

TTHC của UBND quận 3- Tp Hồ Chí Minh

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn có đối tượng nghiên cứu là ứng dụng CNTT trong thực hiện

TTHC của UBND quận 3- Tp Hồ Chí Minh

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Về nội dung: Luận văn nghiên cứu việc ứng dụng CNTT trong thực

hiện TTHC trên 4 nội dung, bao gồm: Xây dựng hạ tầng và đội ngũ nhân lực CNTT; Ứng dụng CNTT vào việc thực hiện TTHC nội bộ giữa các cơ quan hành chính nhà nước; Ứng CNTT vào hoạt động của mô hình một cửa, một

cửa liên thông; Ứng dụng CNTT vào việc cung ứng dịch vụ công trực tuyến

- Về không gian nghiên cứu: Ủy ban nhân dân quận 3- Tp Hồ Chí

Minh

- Về thời gian nghiên cứu: từ năm 2011 đến nay

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận

Trang 15

Đề tài sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê Nin; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và nhà nước làm cơ sở phương pháp luận

5.2 Các phương pháp cụ thể

Để giải quyết những vấn đề cụ thể mà nội dung của đề tài hướng đến, các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành đều được áp dụng như:

5.2.1 Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp

Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích các tài liệu nghiên cứu

có liên quan đến ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Các tài liệu nghiên cứu chủ yếu là:

- Các bài báo, bài viết khoa học

- Các báo cáo của các cấp chính quyền ở quận 3- Tp Hồ Chí Minh

Từ những phân tích tài liệu thứ cấp sẽ cung cấp những số liệu, những đánh giá tổng quan phục vụ cho việc nghiên cứu luận văn Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp cung cấp những luận cứ, luận điểm cả về mặt lý luận và thực tiễn

6 Đóng góp của đề tài

6.1 Đóng góp về lý luận

Trang 16

Luận văn giúp hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện TTHC của UBND cấp huyện

6.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Luận văn xây dựng các giải pháp nhằm đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC của UBND quận 3- Tp Hồ Chí Minh Các giải pháp có thể áp dụng và mang lại hiệu quả trên thực tế

Mặc dù luận văn chỉ nghiên cứu ở phạm vi UBND Quận 3, tuy nhiên ở những nơi có đặc điểm tương đồng thì các giải pháp luận văn đưa ra vẫn có thể áp dụng và đem lại hiệu quả

Luận văn là nguồn tài liệu cung cấp cho việc nghiên cứu về ứng dụng CNTT trong thực hiện TTHC trên địa bàn cấp huyện trong thời gian tới

Trang 17

1.1.1 Khái niệm công nghệ thông tin

CNTT là thuật ngữ được sử dụng khá phổ biến trong các lĩnh vực KHCN Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về CNTT Mỗi quan niệm tiếp cận CNTT ở những góc độ khác nhau

CNTT dùng để chỉ các ngành khoa học và công nghệ liên quan đến thông tin và các quá trình xử lý thông tin CNTT là một hệ thống các phương pháp khoa học, công nghệ, phương tiện, công cụ, chủ yếu là máy tính, mạng truyền thông và hệ thống các kho dữ liệu nhằm tổ chức, lưu trữ, truyền dẫn và khai thác, sử dụng có hiệu quả các nguồn thông tin trong mọi lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội, văn hóa

Ở Việt Nam thì khái niệm CNTT được hiểu và định nghĩa trong nghị quyết 49/CP ký ngày 04/08/1993 về phát triển CNTT của chính phủ Việt Nam, như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, các phương tiện và công cụ kỹ thuật hiện đại – chủ yếu là kỹ thuật máy tính

và viễn thông – nhằm tổ chức khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thông tin rất phong phú và tiềm năng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và xã hội

Ở Việt Nam, theo Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử thì

CNTT được định nghĩa như sau: “Công nghệ thông tin là tập hợp các phương pháp khoa học, công nghệ và công cụ kỹ thuật hiện đại để sản xuất, truyền đưa, thu thập, xử lý, lưu trữ và trao đổi thông tin số” [16][17]

1.1.2 Khái niệm thủ tục hành chính

Trang 18

Thuật ngữ thủ tục được sử dụng khá phổ biến và có nhiều quan niệm

khác nhau Theo từ điển Tiếng Việt thì “thủ tục là cách thức tiến hành thực

hiện công việc với nội dung, trình tự nhất định, theo quy định nhà nước”[24] Theo cách tiếp cận thì thủ tục được hiểu là cách thực hiện một công việc, trong đó có nội dung và trình tự thực hiện công việc đó, thủ tục sẽ được quy định Cùng quan điểm này về thủ tục thì Từ điển Hán – Việt của Giáo sư Đào Duy Anh cũng giải thích “thủ tục là trình tự, cách thức thực hiện”[1, tr.144]

Đối với hoạt động quản lý nhà nước hay các công việc của người dân trong giao dịch với cơ quan nhà nước cũng phải tiến hành theo một thủ tục nhất định Hoạt động quản lý nhà nước bao gồm ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp Tương ứng với việc thực hiện ba quyền này sẽ có ba loại thủ tục, trong đó TTHC là thủ tục trong lĩnh vực thực thi quyền hành pháp

Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về TTHC Mỗi quan niệm tiếp cận TTHC ở những góc độ khác nhau

Có quan niệm cho rằng “TTHC là toàn bộ quy tắc, trình tự do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định, theo đó cơ quan hành chính nhà nước, các

tổ chức, cá nhân phải tuân theo trong khi giải quyết các công việc giữa các cơ quan nhà nước với nhau và giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức xã hội, công dân”[13] Theo cách tiếp cận này thì TTHC gắn với hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Trong đó TTHC diễn ra ở hai phạm vi: giữa nội

bộ các cơ quan nhà nước với nhau và giữa cơ quan HCNN với các cá nhân, tổ chức trong xã hội

Theo giáo trình “Hành chính học đại cương” của Giáo sư Đào Trọng Truyến thì TTHC được hiểu là “trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước trong mối quan hệ với cơ quan, tổ chức, cá nhân công dân Nó được đặt ra để các cơ quan nhà nước có thể thực hiện một hình thức hoạt động cần thiết của mình, trong đó

Trang 19

bao gồm cả trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, trình

tự điều hành, tổ chức các hoạt động tác nghiệp hành chính”[19, tr.208] Theo

cách tiếp cận này thì TTHC cũng được hiểu là trình tự, cách thực thực hiện và cũng được xem xét ở cả hai phạm vi

Mặc dù có nhiều quan niệm khác nhau như vậy nhưng nhìn chung các cách tiếp cận này đều có những điểm chung nhất định TTHC được hiểu là trình tự thực hiện một công việc nhất định TTHC gồm hai loại: TTHC nội bộ (giải quyết mối quan hệ giữa nội bộ các cơ quan nhà nước với nhau) và TTHC bên ngoài (giải quyết mối quan hệ giữa cơ quan nhà nước với các tổ chức, cá nhân trong xã hội)

Trong các quy định của nhà nước về kiểm soát TTHC cũng đã giải thích thuật ngữ TTHC Trong khuôn khổ nghiên cứu, luận văn sẽ sử dụng định nghĩa TTHC trong Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm

2010 của Chính phủ về kiểm soát TTHC Theo đó TTHC được hiểu là “trình

tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan

đến cá nhân, tổ chức”[5]

Bên cạnh việc đưa ra định nghĩa về TTHC thì Nghị định

63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 của Chính phủ cũng đã làm rõ các nội dung của TTHC Theo đó, TTHC bao gồm các bộ phận cơ bản sau: tên TTHC; trình tự thực hiện; cách thức thực hiện; hồ sơ; thời gian giải quyết; đối tượng thực hiện TTHC; cơ quan thực hiện TTHC; kết quả thực hiện TTHC; các bộ phận khác nếu các mẫu như: mẫu đơn, mẫu tờ khai, mẫu kết quả thực hiện, phí, lệ phí,…

1.1.3 Khái niệm ứng dụng công nghệ thông tin

Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ thì việc ứng dụng CNTT vào các lĩnh vực đời sống kinh tế - xã hội là hết sức cấp bách

Trang 20

và cần thiết Việc áp dụng các tiến bộ khoa học công nghệ vào các lĩnh vưc kinh tế - xã hội góp phần thúc đẩy sự phát triển của các lĩnh vực đời sống kinh

tế - xã hội Ứng dụng CNTT là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh và các hoạt động

khác nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của các hoạt động này

Ứng dụng CNTT trong các hoạt động quản lý HCNN, hướng đến xây dựng một chính phủ hiện đại và hiệu quả là một trong những điểm trọng tâm trong quá trình xã hội hóa thông tin, phát triển dân chủ và củng cố bộ máy chính quyền các cấp

1.2 Ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện

1.2.1 Khái niệm

Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của các lĩnh vực của đời sống kinh

tế - xã hội, đặc biệt là sự phát triển của khoa học kỹ thuật thì việc ứng dụng CNTT vào các hoạt động của con người là hết sức cần thiết Trong hoạt động QLNN nói chung và thực hiện TTHC nói riêng cũng hết sức cần thiết Công nghệ thông tin và truyền thông là công cụ quan trọng hàng đầu để thực hiện mục tiêu thiên niên kỷ, hình thành xã hội thông tin, rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ứng dụng rộng rãi CNTT và truyền thông

là yếu tố có ý nghĩa chiến lược, góp phần tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội và tăng năng suất, hiệu suất lao động Ứng dụng CNTT và truyền thông phải gắn với quá trình đổi mới và bám sát mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, phải được lồng ghép trong các chương trình, hoạt động chính trị, quản lý, kinh

tế, văn hóa, xã hội, khoa học công nghệ và an ninh quốc phòng

TTHC liên quan trực tiếp và mật thiệt tới quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân, tổ chức Vì vậy việc giải quyết TTHC nhanh chóng, thuận lợi sẽ

Trang 21

mang lại nhiều lợi ích cho các cá nhân, tổ chức Để giải quyết TTHC nhanh chóng thì cần chú trọng việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC

Ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC của UBND cấp huyện là việc sử dụng CNTT vào việc thực hiện các TTHC của UBND cấp huyện nhằm giải quyết TTHC một cách nhanh chóng, dễ dàng và thuận lợi

Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC được thực hiện ở các khâu, các bước trong quá trình thực hiện TTHC nhằm làm cho việc thực hiện TTHC mới nhanh chóng

1.2.2 Các quy định pháp lý của ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện

Để tạo cơ sở pháp lý cho việc ứng dụng CNTT vào hoạt động của các CQNN nói chung và việc thực hiện TTHC nói riêng, các CQNN đã ban hành nhiều văn bản Có thể kể đến một số văn bản sau đây:

- Luật Công nghệ thông tin ngày 29 tháng 6 năm 2006 và Nghị định số 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước

- Quyết định số 93/2007/QĐ-TTg ngày 22/6/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các

cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương

- Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 03/6/2011 của Chính phủ quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước

Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020

Việc ứng dụng CNTT vào hoạt động của các CQNN nói chung và ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC tập trung vào các vấn đề sau đây [6]:

Trang 22

Một là, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong

hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước Các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc; bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan; hầu hết các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên Mạng thông tin điện tử hành chính của Chính phủ ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau [4]

Hai là, ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong quy trình xử

lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công [4]

Ba là, công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên Mạng thông

tin điện tử của các CQNN trên Internet Xây dựng và sử dụng thống nhất biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức và cá nhân, đáp ứng yêu cầu đơn giản và cải cách thủ tục hành chính [4]

1.2.3 Nội dung ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính của Uỷ ban nhân dân cấp huyện

Để ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC, đòi hỏi các CQNN tcủa UBND cấp huyện phải tiến hành một số hoạt động cơ bản sau:

1.2.3.1 Xây dựng hạ tầng và đội ngũ nhân lực công nghệ thông tin

Để ứng dụng CNTT thì đòi hỏi các CQNN phải xây dựng hạ tầng CNTT Đây là cơ sở vật chất, kỹ thuật cho việc ứng dụng CNTT vào việc

Trang 23

thực hiện TTHC trên địa bàn cấp huyện Hạ tầng CNTT bao gồm các máy móc, thiết bị, hệ thống mạng phục vụ cho việc ứng dụng CNTT Các CQNN trên địa bàn cấp huyện cần trang bị máy móc, thiết bị

Hạ tầng truyền thông với dung lượng đáp ứng nhu cầu sử dụng phần mềm ứng dụng vào hoạt động chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo đơn vị, nhu cầu

sử dụng của từng cán bộ, công chức trong thực hiện nhiệm vụ được phân công Đồng thời, đảm bảo truy cập thông tin của người dân, doanh nghiệp thông qua cổng thông tin điện tử do cơ quan hành chính nhà nước cung cấp

Hệ thống các thiết bị mạng (máy chủ, thiết bị an toàn sao lưu, thiết bị chuyển mạch…), hệ thống mạng (mạng nội bộ và mạng Internet) phải được trang bị đồng bộ, đáp ứng nhu cầu triển khai phần mềm ứng dụng tại từng đơn

vị, đảm bảo an toàn thông tin mạng trong quá trình sử dụng phần mềm ứng dụng

Máy vi tính (máy trạm) và các trang thiết bị liên quan (máy in, máy fax, máy scan, máy photocopy…) được trang bị đầy đủ cho cán bộ, công chức; máy lấy số thứ tự tự động, máy tra cứu giải quyết hồ sơ hành chính, tivi thông tin các hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước… cần xem xét, đầu tư trang bị để người dân thuận tiện, dễ dàng trong thực hiện các giao dịch với chính quyền

Ngoài hệ thống máy móc, thiết bị thì các CQNN trên địa bàn cấp huyện cũng cần tiến hành đào tạo đội ngũ nhân lực CNTT trong cơ quan mình Đội ngũ nhân lực CNTT này là những chủ thể sẽ vận hành hệ thống CNTT trong tổ chức Nhân sự CNTT này gồm 2 đối tượng cơ bản là: Đội ngũ CBCC thực thi công vụ và đội ngũ IT trong các CQNN trên địa bàn cấp huyện Đội ngũ CBCC cần phải được trang bị các kỹ năng, kiến thức về CNTT để phục vụ cho quá trình thực thi công vụ Hiện nay hoạt động thực thi công vụ, đặc biệt là việc thực hiện các TTHC của đội ngũ CBCC gắn liền với

Trang 24

việc sử dụng CNTT, do đó CBCC cần được trang bị, cập nhật các kiến thức,

kỹ năng về CNTT Ngoài ra các CQNN trên địa bàn cấp huyện cũng có đội ngũ nhân sự chuyên về CNTT riêng để vận hành hệ thống CNTT Đội ngũ nhân sự này am hiểu sâu sắc về CNTT để có thể vận hành hệ thống CNTT

1.2.3.2 Ứng dụng trong thực hiện thủ tục hành chính nội bộ giữa các

cơ quan hành chính nhà nước

TTHC bao gồm nhiều loại khác nhau, trong đó thông thường người ta chia thành 2 loại cơ bản là TTHC nội bộ (giải quyết mối quan hệ giữa các CQNN với nhau hoặc trong nội bộ CQNN) và TTHC bên ngoài (giải quyết mối quan hệ giữa các CQNN với các cá nhân, tổ chức trong xã hội) Do đó việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC nội bộ giữa các CQNN với nhau là hết sức quan trọng và cần thiết Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC nội bộ giữa các CQNN với nhau sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc TTHC bên ngoài với các cá nhân, tổ chức trong xã hội

Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC nội bộ bao gồm các hoạt động như ứng dụng CNTT vào công tác chỉ đạo, điều hành của các CQNN trong việc thực hiện các TTHC; ứng dụng vào việc hội họp, ứng dụng vào việc liên thông trong thực hiện các TTHC

Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện các TTHC nội bộ giữa các CQHCNN góp phần làm cho việc giải quyết các TTHC một cách nhanh gọn, các CQHCNN phối hợp với nhau một cách đồng bộ và nhịp nhàng

Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện các TTHC nội bộ tập trung vào các hoạt động như:

+ Ứng dụng CNTT vào các cuộc họp

+ Ứng dụng CNTT vào chỉ đạo, điều hành trong hoạt động của CQNN + Xây dựng mạng thông tin nội bộ giữa các CQHCNN với nhau

Trang 25

+ Sử dụng thư điện tử trong giao dịch giữa các CQHCNN, CBCC với nhau

Ứng dụng CNTT trong công tác quản lý điều hành của các CQHCNN

là việc sử dụng CNTT vào các hoạt động quản lý điều hành, giải quyết công việc của CQHCNN nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động Chẳng hạn như việc áp dụng các hệ thống phần mềm, phần mềm chuyên ngành, hay

sử dụng hộp thư điện tử, sử dụng Trang thông tin điện tử, cung cấp dịch vụ công trực tuyến cho cá nhân, tổ chức,

1.2.3.3 Ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động của mô hình một cửa, một cửa liên thông

Hiện nay các TTHC với người dân chủ yếu được thực hiện thông qua

mô hình một cửa, một cửa liên thông Vì vậy hoạt động ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC với bên ngoài được thực hiện thông qua ứng dụng CNTT vào vận hành của mô hình một cửa, một cửa liên thông

Cơ chế một cửa là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức, cá nhân, bao gồm cả tổ chức, cá nhân nước ngoài (sau đây gọi là tổ chức, cá nhân) thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước, từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ, hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của cơ quan hành chính nhà nước [20]

Cơ chế một cửa liên thông là cơ chế giải quyết công việc của tổ chức,

cá nhân thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cấp hành chính từ hướng dẫn, tiếp nhận giấy tờ,

hồ sơ, giải quyết đến trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước

Trang 26

Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC tại mô hình một cửa, một cửa liên thông được thực hiện thông qua việc ứng dụng các phần mềm, các tiện ích vào hoạt động của bộ phận một cửa, một cửa liên thông

1.2.3.4 Ứng dụng công nghệ thông tin trong việc cung ứng dịch vụ công trực tuyến

Trong xu thế phát triển hiện nay thì các cơ quan nhà nước đang dần chuyển sang cung ứng dịch vụ công trực tuyến Việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến góp phần tiết kiệm nhiều thời gian, chi phí cho người dân, doanh nghiệp cũng như các CQNN Yếu tố quyết định chất lượng, hiệu quả cung ứng dịch vụ công trực tuyến là CNTT Vì vậy việc ứng dụng CNTT vào việc cung ứng dịch vụ công trực tuyến là hết sức cần thiết

Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 1: là dịch vụ bảo đảm cung cấp đầy

đủ các thông tin về thủ tục hành chính và các văn bản có liên quan quy định

về thủ tục hành chính đó [7]

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 2: là dịch vụ công trực tuyến mức độ

1 và cho phép người sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ [7]

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 3: là dịch vụ công trực tuyến mức độ

2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp [7]

Trang 27

Dịch vụ công trực tuyến mức độ 4: là dịch vụ công trực tuyến mức độ

3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ [7]

Việc ứng dụng CNTT vào cung ứng dịch vụ công trực tuyến tập trung vào các vấn đề cơ bản sau đây:

- Xây dựng cổng thông tin điện tử để tiến hành cung cấp dịch vụ công trực tuyến

- Công bố công khai TTHC trên cổng thông tin điện tử

- Công bố các biểu mẫu, hồ sơ về TTHC trên cổng thông tin điện tử

- Tiếp nhận và trả hồ sơ TTHC qua môi trường mạng

Việc ứng dụng CNTT vào cung ứng dịch vụ công trực tuyến nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho CQNN và người dân trong việc thực hiện TTHC Việc ứng dụng này sẽ góp phần làm cho giao dịch giữa các CQNN và người dân được tiến hành thuận lợi, nhanh chóng

1.3 Sự cần thiết ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện thủ tục hành chính

Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của CNTT và Internet, việc ứng dụng các thành tựu nghiên cứu của CNTT vào hoạt động công tác quản lý HCNN đã đem lại không ít những thành công và hiệu quả to lớn Trong công tác CCHC nói chung và thực hiện TTHC nói riêng, việc ứng dụng CNTT đã làm thay đổi cách thức giải quyết công việc, ngày càng nâng cao mức độ hài lòng của người dân đối với nền hành chính nhà nước

1.3.1 Ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng cải cách hành chính

Những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ của CNTT, truyền thông cùng với nhiều ngành công nghệ cao khác đã và đang làm biến đổi sâu sắc đời

Trang 28

sống kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trên thế giới Việc ứng dụng CNTT đã góp phần giải phóng sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của xã hội, thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống của mỗi người dân

Đảng và Nhà nước ta luôn coi CNTT và truyền thông là một trong những phương tiện khoa học, kỹ thuật quan trọng phục vụ cho quá trình cải cách hành chính, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của nền hành chính nhà nước Nghị quyết 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn

2011 - 2020 nêu rõ các nội dung hiện đại hoá hành chính: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT - truyền thông trong hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước

để đến năm 2020: 90% các văn bản, tài liệu chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử; cán bộ, công chức, viên chức thường xuyên sử dụng hệ thống thư điện tử trong công việc; bảo đảm dữ liệu điện tử phục vụ hầu hết các hoạt động trong các cơ quan; hầu hết các giao dịch của các cơ quan hành chính nhà nước được thực hiện trên môi trường điện tử, mọi lúc, mọi nơi, dựa trên các ứng dụng truyền thông đa phương tiện; hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên mạng ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau; ứng dụng CNTT - truyền thông trong quy trình xử lý công việc của từng cơ quan hành chính nhà nước, giữa các cơ quan hành chính nhà nước với nhau và trong giao dịch với

tổ chức, cá nhân, đặc biệt là trong hoạt động dịch vụ hành chính công, dịch vụ công của đơn vị sự nghiệp công; công bố danh mục các dịch vụ hành chính công trên mạng thông tin điện tử hành chính; xây dựng và sử dụng thống nhất biểu mẫu điện tử trong giao dịch giữa cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức

và cá nhân, đáp ứng yêu cầu đơn giản và cải cách thủ tục hành chính

Trang 29

Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC sẽ góp phần nâng cao tính minh bạch và tinh cậy của chính phủ thông qua việc đẩy nhanh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và điều hành cũng như mở ra các cơ hội mới cho người dân được chủ động trong quá trình tham gia vào việc hoạch định chính sách của Chính phủ Bên cạnh đó, việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC cũng hỗ trợ việc cung cấp thông tin một cách đầy đủ và nhanh chóng Tính minh bạch của thông tin sẽ không chỉ thể hiện sự dân chủ mà còn gây dựng sự tin cậy giữa nhà lãnh đạo chính phủ và các hoạt động hiệu quả bắt buộc trong việc điều hành của chính phủ

Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC sẽ góp phần nâng cao năng suất lao động của cán bộ, công chức chính phủ, giảm chi phí hành chính qua việc cắt giảm văn phòng và việc quản lý giấy tờ, nâng cao năng lực quản lý kế hoạch của chính phủ và nâng cao doanh thu khi doanh nghiệp và người dân xin cấp phép nhiều hơn do một thực tế là thủ tục đã trở nên dễ dàng hơn và tình trạng tham nhũng cũng giảm bớt Bên cạnh đó chính phủ điện tử giúp tiết kiệm chí phí thời gian trung và dài hạn (trong thời gian ngắn hạn thì các chi phí có khuynh hướng tăng vì chính phủ phải tạo nền tảng cơ sở dữ liệu, các phần mềm ứng dụng, các thiết bị điện tử…) Giúp đơn giản hóa các hoạt động của Chính phủ qua việc đơn giản hóa hành chính, xóa bỏ các khâu thủ tục rườm rà và giảm thời gian trong truyền, tiếp nhận và xử lý thông tin

1.3.2 Ứng dụng công nghệ thông tin đáp ứng hội nhập

Ngày nay Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập quốc tế một cách sâu rộng Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC cũng hỗ trợ đắc lực ho việc hội nhập của Việt Nam Theo đó, công nghệ thông tin là một chất xúc tác trong nâng cao năng suất lao động và phát triển kinh tế Chính phủ điện tử sẽ giúp tạo ra một môi trường thúc đẩy kinh doanh thông qua việc cải thiện mối tác động qua lại và tương tác giữa chính phủ và doanh nghiệp, đặc biệt là

Trang 30

doanh nghiệp nước ngoài bằng cách giảm bớt các khâu rườm rà trong thủ tục, chú trọng đến việc cung cấp các dịch vụ nhanh chóng Có thể nói rằng thông qua viêc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC sẽ góp phần đơn giản hoá các TTHC, góp phần cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam Nhờ vào đó

mà các doanh nghiệp nước ngoài ngày càng lựa chọn Việt Nam làm môi trường đầu tư Có thể nói rằng việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC sẽ

hỗ trợ đắc lực cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam nói riêng

và quá trình hội nhập toàn diện của chúng ta nói chung

Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC sẽ góp phần hướng tới xây dựng một Chính phủ điện tử nhằm mục tiêu tăng cường năng lực của chính phủ theo hướng quản lý, điều hành có hiệu quả và nâng cao tính minh bạch nhằm quản lý tốt hơn các nguồn lực kinh tế và xã hội của đất nước vì mục tiêu phát triển Chính phủ điện tử sẽ giúp tăng cường năng lực điều hành nhà nước của Chính phủ, từ đó có thể quản lý hiệu quả nền kinh tế - xã hội khi Việt Nam hội nhập Quá trình hội nhập quốc tế tạo cho Việt Nam nhiều thời

cơ nhưng cũng chứa đựng không ít thách thức Để có thể khắc phục những hạn chế này đòi hỏi Chính phủ phải hoạt động thực sự hiệu lực, hiệu quả Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC sẽ góp phần xây dựng một Chính phủ thực sự hiệu lực, hiệu quả

Ứng dụng CNTT trong giải quyết TTHC không nằm ngoài mục tiêu phục vụ cho công cuộc cải cách hành chính, thay đổi cung cách làm việc của những người trong đó, nhằm nâng cao năng suất lao động, phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính và nhất là đem lại tiện ích cho người dân trong cung ứng dịch vụ công

Tóm lại, việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC là một đòi hỏi tất yếu mang tính khách quan của quá trình phát triển đất nước nhằm hướng đến việc xây dựng Chính phủ hiện đại, nâng cao tính chuyên nghiệp, văn minh,

Trang 31

lịch sự và minh bạch của nền hành chính Ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC với mục đích cuối cùng là xây dựng một chính quyền thân thiện, nâng cao mức độ hài lòng của người dân

1.4 Kinh nghiệm của các địa phương về ứng dụng công nghệ thông tin thực hiện thủ tục hành chính

1.4.1 Kinh nghiệm của các địa phương

1.4.1.1 Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh

Quảng Ninh hiện nay là một trong những địa phương đi đầu trong cả nước về cải cách hành chính Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh thì Thành phố Cẩm Phả được coi là một điểm sáng trong cải cách hành chính nói chung và ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC nói riêng Để ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC một cách có hiệu quả, UBND Thành phố Cẩm Phả đã áp dụng các biện pháp sau đây:

Thứ nhất, về cơ sở hạ tầng: Cẩm Phả rất chú trọng hoàn thiện hạ tầng

kỹ thuật phục vụ ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước cần được quan tâm đầu tư, bao gồm hạ tầng kỹ thuật dùng chung, hạ tầng kỹ thuật nội bộ các cơ quan nhà nước

Đối với hiện đại trụ sở, trang thiết bị làm việc: Thành phố Cẩm Phả

đầu tư xây dựng Trung tâm Hành chính công với tổng mức đầu tư trên 19 tỷ đồng, bao gồm tòa nhà 4 tầng cùng các trang thiết bị, hạng mục công trình phụ trợ Trung tâm Hành chính công được bố trí làm việc với 18 quầy tiếp dân, phòng đặt máy chủ và phòng làm việc dành cho cán bộ, nhân viên chuyên trách của Trung tâm Bên cạnh việc đầu tư cơ sở vật chất, Trung tâm Hành chính công thành phố Cẩm Phả được mua sắm, bổ sung một loạt trang thiết bị hiện đại từ dàn máy vi tính, máy in, máy quét, máy fax, máy photo copy, các kiosk lấy số thứ tự và hiển thị thông tin, hệ thống camera IP giám sát cùng các phần mềm tác nghiệp hiện đại [12] Trung tâm Hành chính công

Trang 32

bao gồm hai bộ phận nghiệp vụ: Bộ phận Hành chính – Tổng hợp gồm các cán bộ, công chức chuyên trách và bộ phận tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, đội ngũ cán bộ, công chức được cử đến từ các phòng chuyên môn và cơ quan chuyên môn ngành dọc đóng trên địa bàn

Thứ hai, về phần mềm ứng dụng

Song song với đầu tư về hạ tầng kỹ thuật là nhiệm vụ triển khai ứng dụng công nghệ thông tin trong các cơ quan nhà nước, bao gồm: Hệ thống Quản lý văn bản và Điều hành thành phố; Phần mềm một cửa liên thông; Phần mềm quản lý hộ tịch đến quận, huyện, thị xã; Hệ thống cấp Giấy đăng

ký kinh doanh hộ cá thể; Phần mềm quản lý đơn thư khiếu nại tố cáo đến các quận, huyện, thị xã; Phần mềm quản lý cán bộ công chức đến các sở, ban, ngành, quận, huyện, thị xã; Văn bản điện tử có chữ ký điện tử trong giao dịch hành chính trên môi trường mạng đến các sở, ban, ngành, quận, huyện thị xã

và xã, phường, thị trấn

Thứ ba, đối với việc ứng dụng công nghệ thông tin

Trung tâm Hành chính công thành phố Cẩm Phả hiện đang sử dụng phần mềm tác nghiệp trong môi trường mạng Internet, quản lý điều hành hết sức thuận lợi, người dân có thể tra cứu kết quả hồ sơ thủ tục hành chính thông qua máy quét mã vạch hoặc nhập trực tiếp số biên nhận vào kiosk hiển thị thông tin hoặc trên trang web của Trung tâm Tất cả các văn bản chỉ đạo, điều hành của Trung tâm đều quét và gửi đến cho cán bộ, công chức, viên chức thông qua email hoặc trên trang web của trung tâm để nắm bắt được thông tin kịp thời, triển khai thực hiện tốt Từ việc rà soát, chuẩn hóa các thủ tục hành chính, đến nay UBND thành phố Cẩm Phả đã thành lập, kiện toàn Ban chỉ đạo, các Tổ công tác, áp dụng thành công hệ thống quản lý Trung tâm có chất lượng, xây dựng được quy trình giải quyết công việc và quản lý hành chính theo hướng hiện đại, điện tử hóa Đến nay, Tổ công tác và các phòng, ban

Trang 33

chuyên môn đã rà soát, bổ sung, điều chỉnh và đưa vào phần mềm một cửa điện tử thực hiện tại Trung tâm Hành chính công được 261 thủ tục hành chính, 100% thủ tục thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND thành phố

1.4.1.2 Kinh nghiệm của quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng

Liên Chiểu là một trong những quận dẫn đầu về công tác CCHC, đặc biệt là ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC trên địa bàn thành phố Đà Nẵng Trong những năm qua, công tác ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC đã đem lại những thành tựu to lớn, góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn quận Có được kết quả đó là do quận triển khai nhiều mô hình và cách làm hiệu quả, cụ thể như sau [19]:

Một là, quận xác định việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC là

một nội dung trọng tâm để xây dựng một nền hành chính minh bạch, trong sạch, chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu quả, đáp ứng yêu cầu quản lý

xã hội Từ việc xác định đó, quận chú trọng xây dựng các kế hoạch, tập trung đầu tư, đẩy mạnh công tác ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC nhằm phục

vụ người dân và doanh nghiệp ngày càng tốt hơn

Hai là, quận triển khai xây dựng mô hình “Quận điện tử” với việc áp

dụng cơ chế “một cửa hiện đại” trên địa bàn quận UBND quận đã chú trọng đầu tư hệ thống trang thiết bị đồng bộ, ứng dụng công nghệ thông tin vào giải quyết công việc Các phường trên địa bàn quận hầu hết đã xây dựng phòng

“một cửa hiện đại”, đầu tư đầy đủ trang thiết bị cho bộ phận “một cửa”, sử dụng máy bấm số xếp hàng tự động, hệ thống tra cứu thông tin và hệ thống camera giám sát để quản lý hoạt động, sử dụng hộp thư điện tử để thuận tiện trong trao đổi công việc

Ba là, với cam kết lấy sự hài lòng của công dân làm tiêu chí đánh giá,

coi tinh thần phục vụ là phương châm hoạt động, Liên Chiểu cũng chú trọng xây dựng và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực CNTT Quận đã triển khai,

Trang 34

hưởng ứng cuộc vận động đoàn viên, thanh niên là cán bộ, công chức, viên chức “nhanh hơn, hợp lý hơn, thân thiện hơn” trong công tác cải cách hành chính Cán bộ khi tiếp dân đều tỏ thái độ niềm nở, tận tình hướng dẫn và giải thích cặn kẽ cho từng người dân đến giải quyết công việc, xem công dân như

là một khách hàng, được quan tâm và tạo điều kiện thuận lợi nhất có thể để thực hiện công việc nhanh chóng Bên cạnh đó, nhằm giúp cán bộ, công chức trên địa bàn nâng cao nhận thức về cải cách hành chính, hằng năm Liên Chiểu

tổ chức các cuộc thi liên quan đến CCHC, tiêu biểu là Hội thi "Thanh niên Liên Chiểu chung tay cải cách hành chính"

Hình 1.1: Hội thi "Thanh niên Liên Chiểu chung tay cải cách hành chính"

“Nguồn: Trang thông tin điện tử quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng”

Quận Liên Chiểu là khu vực đông dân cư, với số lượng hồ sơ hành chính cần giải quyết hàng ngày rất nhiều, công tác hiện đại hóa hành chính được coi trọng đã giúp cho công việc được giải quyết nhanh chóng, được chính quyền cấp trên đánh giá cao và được người dân địa phương hài lòng khen ngợi Qua khảo sát trực tuyến, mức độ hài lòng của tổ chức, công dân

Trang 35

đối với dịch vụ công của quận Liên Chiểu hằng năm luôn đạt tỷ lệ 95% hài lòng và rất hài lòng Từ vị trí thứ 2 trong bảng xếp hạng cải cách hành chính khối quận, huyện trên địa bàn thành phố Đà Nẵng vào năm 2011, quận Liên Chiểu đã vươn lên dẫn đầu liên tiếp từ năm 2012 đến năm 2014 Đây là kết quả của sự nỗ lực không ngừng nâng cao chất lượng công tác CCHC của quận, trong đó hiện đại hóa hành chính là nội dung quan trọng tạo nên thành

công đó

Về việc xây dựng và ứng dụng các phần mềm ứng dụng: Quận Liên Chiểu luôn chú trọng và xây dựng các phần mềm, ứng dụng CNTT phục vụ cho việc thực hiện các TTHC Hiện nay UBND quận đã xây dựng kiến trúc Tổng thể (EA) Ứng dụng công nghệ thông tin; thiết lập môi trường, ứng dụng nền tảng: một cửa, Văn phòng không giấy, chữ ký điện tử…; cơ sở dữ liệu cán bộ công chức (LDAP), dân cư, doanh nghiệp, công nghệ nền SOA; xây dựng các hệ thống tương tác: cổng thông tin điện tử, 25 dịch vụ công mức độ

3, cổng thương mại điện tử, Hải quan điện tử; xây dựng hệ thống trợ giúp: giao ban điện tử đa phương tiện, tiếp dân trực tuyến, đào tạo từ xa…; Thí điểm xong mô hình phường, quận, sở điện tử dựa trên kiến thức tổng thể

Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng ban hành Quyết định số UBND phê duyệt lộ trình cung cấp dịch vụ công trực tuyến trên địa bàn Theo

2614/QĐ-đó, mục tiêu hướng đến là 517 dịch vụ công được cung cấp trực tuyến ở mức

3 và 4, chiếm 43,9 % tổng số dịch vụ công của thành phố vào năm 2015 và nâng tỷ lệ này lên mức 100% vào năm 2020

1.4.2 Bài học kinh nghiệm rút ra

Từ kinh nghiệm của các địa phương có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm cơ bản sau đây:

Một là, về nhận thức

Trang 36

Trước hết phải nâng cao nhận thức của CQNN, CBCC về tầm quan trọng của việc ứng dụng CNTT vào hoạt động của các CQNN nói chung và thực hiện TTHC nói riêng Các CQNN, CBCC cần nhận thức được rằng ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC vừa là một nội dung đồng thời là một yêu cầu trong quá trình cải cách hành chính Để nâng cao nhận thức của đội ngũ CBCC thì cần tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục đội ngũ CBCC

Hai là, về xây dựng cơ sở hạ tầng CNTT

Để có thể ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC một cách hiệu quả thì các CQNN cần chú trọng việc xây dựng hạ tầng CNTT Trong đó chú trọng đầu tư máy tính và phương tiện CNTT phục vụ cho việc thực hiện TTHC, đồng thời chú trọng xây dựng cổng thông tin điện tử

Ba là, đội ngũ CBCC

Để ứng dụng CNTT đạt hiệu quả cao thì đòi hỏi phải có đội ngũ CBCC

có kỹ năng, kiến thức về CNTT Muốn có Chính phủ điện tử thì các CQNN phải xây dựng được những con người điện tử Muốn vậy các CQNN cần chú trọng bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng về CNTT cho đội ngũ CBCC Cần trang

bị, cập nhật kịp thời kiến thức về CNTT cho CBCC

Bốn là, về kinh phí, cơ chế đầu tư cho CNTT

Các CQNN cần tăng cường kinh phí cho hoạt động ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC Cần bổ sung kinh phí để đầu tư cho việc ứng dụng CNTT Ngoài kinh phí từ Ngân sách nhà nước thì cần chú trọng huy động nguồn ngân sách từ xã hội hóa để tăng nguồn kinh phí phục vụ cho quá trình ứng dụng CNTT

Năm là, về việc thực hiện các nội dung cải cách hành chính

Để ứng dụng CNTT một cách có hiệu quả thì các CQNN cần kết hợp việc ứng dụng CNTT với các nội dung cải cách hành chính khác như cải cách

Trang 37

thể chế hành chính nhà nước, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức

Những bài học kinh nghiệm nêu trên của Thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quãng Ninh và quận Liên Chiểu, Thành phố Đà Nẵng đều cần thiết cho các địa phương, tuy nhiên các địa phương cần căn cứ vào thực tiễn của địa phương mình để vận dụng các giải pháp, biện pháp này cho phù hợp, nhằm ứng dụng có hiệu quả CNTT vào thực hiện các TTHC tại địa phương mình

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế - xã hội thì việc ứng dụng CNTT vào hoạt động của các CQNN nói chung và vào thực hiện các TTHC nói riêng là hết sức cấp thiết và quan trọng Việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC vừa là một nội dung đồng thời cũng là môt yêu cầu trong quá trình cải cách hành chính Ứng dụng CNTT vào thực hiện các TTHC sẽ góp phần giải quyết TTHC một cách nhanh chóng và hiệu quả Vì vậy các CQNN cần chú trong việc ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC tại cơ quan của mình

Trong chương 1, luận văn đã tiếp cận và hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC trên địa bàn cấp huyện Đặc biệt trong chương 1, luận văn đã làm rõ các khái niệm có liên quan như CNTT, TTHC, Ứng dụng CNTT Ngoài ra chương 1 của luận văn đã làm rõ các nội dung ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC trên địa bàn cấp huyện Bên cạnh đó tác giả cũng đã giới thiệu kinh nghiệm trong ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC của các địa phương từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm

Kết quả nghiên cứu cơ sở lý luận ở chương 1 là tiền đề để luận văn tiến hành đánh giá thực trạng ứng dụng CNTT vào thực hiện TTHC của UBND quận 3- Tp Hồ Chí Minh

Trang 39

Chương 2 THỰC TRẠNG ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN

TRONG THỰC HIỆN THỦ TỤC HÀNH CHÍNH CỦA UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN 3- TP HỒ CHÍ MINH

2.1 Khái quát về Quận 3- Tp Hồ Chí Minh

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

Quận 3 là một quận nội thành của Thành phố Hồ Chí Minh, là một trong các quận trung tâm và cũng thuộc khu vực Sài Gòn, Bến Nghé trước đây Diện tích của quận 3 là 4,92 km2, chỉ lớn hơn 3 quận 4,5 và quận Phú Nhuận Quận 3 nằm trong khu vực trung tâm của Thành Phố, có địa giới hành chính như sau:

- Bắc giáp quận Phú Nhuận ( dài 2.276m)

- Đông giáp quận 1 (dài 4.285m)

- Nam giáp quận 10 (dài 50m)

- Tây giáp quận 10 (dài 4.427m)

- Tây Bắc giáp quận Tân Bình (dài 654m) Quận gồm 14 phường, bao

gồm: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14 Trong đó, phường 3 là trung tâm của quận

Mật độ dân số là 38.733 người/km2, là quận có dân số cao thứ 5 trong

24 quận huyện của Thành phố Hồ Chí Minh Diện tích tự nhiên của quận 3 là 4,92 km2

Trang 40

Bảng 2.1: Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2015 của Quận 3

TỔNG SỐ

Số

tổ dân phố

Số khu phố/ấp

Diện tích

tự nhiên (km2)

Dân số trung bình (người)

Mật độ dân số (người/km 2)

“Nguồn: Cổng thông tin điện tử Quận 3, Tp Hồ Chí Minh”

2.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Kinh tế quận phát triển theo đúng định hướng, chất lượng các ngành thương mại-dịch vụ ngày càng được nâng lên, doanh thu thương mại và dịch

vụ bình quân đạt 17,32%/năm, công tác thu ngân sách hàng năm đều đạt và

Ngày đăng: 18/12/2017, 12:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w