1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Một số đặc điểm về hình thái và sinh lý của học sinh trường tiểu học Xuân Hoà - thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc

59 306 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 59
Dung lượng 179,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực tế trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứucác chỉ số hình thái và sinh lý của trẻ em Việt Nam, chủ yếu là trên đối tượnghọc sinh và đã trở thành vấn đề được nhiều

Trang 1

1 Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Nhằm đẩy mạnh công cuộc đổi mới, thực hiện chiến lược công nghiệphóa, hiện đại hoá đất nước, một trong những nhiệm vụ quan trọng là xây dựngnguồn lực mới tạo động lực cho sự phát triển, trong đó nhân lực đóng vai trò

quan trọng Chính vì thế, việc đào tạo nguồn nhân lực mới có chất lượng cao

cho xã hội là một yêu cầu cấp thiết

Sự nghiệp giáo dục với mục tiêu “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực vàbồi dưỡng nhân tài” cho đất nước, luôn được sự quan tâm của Đảng, Nhànước và toàn xã hội Giáo dục được coi là quốc sách hàng đầu, khẳng địnhđầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, toàn xã hội đặt nhiều kỳ vọngvào sự phát triển của sự nghiệp giáo dục, vào việc đào tạo nguồn nhân lực trítuệ cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước Việc đổi mới trong hệ thống giáodục các cấp hiện nay ở nước ta đang là mục tiêu của chiến lược phát triển đấtnước, trong đó giáo dục tiểu học một bậc học nền tảng của giáo dục phổ thôngtrong hệ thống giáo dục quốc dân có ý nghĩa rất quan trọng

Sự phát triển hình thái cơ thể, sinh lý nói chung và phát triển trí tuệ nóiriêng của trẻ là nền tảng cho sự phát triển năng lực trí tuệ sau này của chúng

Do đó lĩnh vực này cần được quan tâm nghiên cứu một cách cơ bản để quátrình phát triển của nó đạt tối ưu Vì vậy, việc đổi mới giáo dục phổ thông nóichung và giáo dục bậc tiểu học nói riêng không chỉ là quan tâm đổi mới vềnội dung, chương trình, sách giáo khoa, đổi mới phương pháp, trang thiết bịdạy học hiện đại mà còn quan tâm đến việc nghiên cứu những đặc điểm sinhhọc theo lứa tuổi và năng lực trí tuệ của học sinh, nhằm thích ứng với nhữngđịnh hướng đổi mới kể trên

Trang 2

Thực tế trong những năm gần đây, đã có nhiều công trình nghiên cứucác chỉ số hình thái và sinh lý của trẻ em Việt Nam, chủ yếu là trên đối tượnghọc sinh và đã trở thành vấn đề được nhiều người quan tâm, không chỉ đối vớicác nhà sinh học mà còn đối với các nhà y học, tâm lý học - giáo dục học, xãhội học và việc nghiên cứu được tiến hành theo các góc độ, phương phápnghiên cứu khác nhau Kết quả các nghiên cứu đã cho ra một phổ thông tinkhá đa dạng về các lĩnh vực tâm lý- giáo dục, sinh lý trí tuệ, thể lực,… Mặc

dù vậy, ở nước ta việc nghiên cứu về các chỉ số sinh học và trí tuệ của họcsinh tiểu học ở các vùng miền khác nhau, đặc biệt là các địa phương vùng sâu,vùng xa còn phiến diện và thiếu tính hệ thống Điều này đã có những ảnhhưởng nhất định đến sự phát triển đồng đều về giáo dục tiểu học giữa cácvùng miền trong toàn quốc

Để tìm hiểu thực trạng, hình thái và các giá trí sinh lý chức năng một số

hệ cơ quan trong cơ thể người ở học sinh tiểu học, nhằm thực hiện tốt việc đổi

mới giáo dục hiện nay chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu " Một số đặc điểm về hình thái và sinh lý của học sinh Trường Tiểu học Xuân Hòa- thị

xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc ".

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá thực trạng một số chỉ tiêu về hình thái, sinh lý và quy luậttăng trưởng cơ thể của học sinh trường tiểu học Xuân Hòa- Phúc Yên- VĩnhPhúc

- Các số liệu thu được qua nghiên cứu có thể sử dụng làm dữ liệu thamchiếu trong giảng dạy y, sinh học trong nhà trường

Trang 3

trẻ em độ tuổi 6-10 Trường tiểu học Xuân Hòa- Phúc Yên- Vĩnh Phúc.

- So sánh một số chỉ số hình thái và thể lực của HS nam và HS nữTrường tiểu học Xuân Hòa- Phúc Yên- Vĩnh Phúc

- Nghiên cứu sự thay đổi thời gian cảm giác – vận động của học sinhtiểu học từ đó đề ra các phương pháp dạy học phù hợp với trí tuệ của học sinhtiểu học

4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Tìm hiểu ảnh hưởng của điều kiện kinh tế, xã hội, thói quen sinh hoạt,môi trường sống lên sự tăng trưởng cơ thể của học sinh tiểu học

- Bước đầu đề xuất các biện pháp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho họcsinh tiểu học

- Đưa ra một số ý kiến đóng góp cho sự phát triển năng lực trí tuệ đốivới học sinh tiểu học và đề ra các phương pháp dạy học mới phù hợp với trítuệ của các em

Trang 4

NỘI DUNGCHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Hình thái và các chỉ tiêu đánh giá

Hình thái và thể lực là khái niệm phản ánh đặc điểm, cấu trúc tổng hợpcủa cơ thể, có liên quan chặt chẽ tới sức lao động và thẩm mỹ của con người

Sự phát triển hình thái gắn liền với sự vận động các hoạt động của con người.Phản ánh mức độ phát triển tổng hợp của hệ thống cơ quan trong một cơ thểhoàn chỉnh thống nhất

Các chỉ tiêu về hình thái thể lực mang tính đặc thù về mặt giới tính,chủng tộc, lứa tuổi, nghề nghiệp trong môi trường sống nhất định Trong mốiquan hệ giữa môi trường và sức khoẻ các thông số hình thái thể lực được coi

là thước đo sức khoẻ, khả năng lao động và học tập của mỗi con người.Nghiên cứu và ứng dụng các chỉ số hình thái, thể lực được phổ biến rộng rãitrong các lĩnh vực như y học, thể thao, giáo dục

Việc nghiên cứu hình thái thể lực ngày càng phát triển Để đánh giá thểlực người ta dùng các chỉ tiêu khác nhau, tùy vào mục đích nghiên cứu mà lựachọn các chỉ tiêu riêng Các chỉ tiêu về hình thái, thể lực được lựa chọn trong

đề tài này là: chiều cao, trọng lượng, vòng ngực, BMI, Pignet

1.1.1 Lược sử nghiên cứu về hình thái thể lực của trẻ em trên thế giới

Một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm khi nghiên cứucon người là hình thái Từ thế kỉ thứ XIII Tenon đã coi cân nặng là một chỉ sốquan trọng để đánh giá thể lực [22] Sau này các nhà giải phẫu học kiêm học

sĩ thời phục hưng Leonard De Vinci, Mikenlangielo, Raphael đã tìm hiểu rất

Trang 5

Những nghiên cứu về sự tăng trưởng và phát triển của trẻ em đầu tiênvào khoảng giữa thế kỷ XVIII Quyển sách đầu tiên về sự tăng trưởng chiềudài ở người “Wachstum der ménchen in die Lange” của J.A.Stoeller đượcxuất bản ở Magdeburg (Đức) vào năm 1729, trước khi có sách giáo khoa bệnhhọc trẻ em của Rosen von Rosenstein (1753) Tuy nhiên, các nghiên cứu nàychưa có số liệu đo đạc cụ thể.

Nghiên cứu đầu tiên về sự tăng trưởng của trẻ em được trình bày trongluận án tiến sĩ của Christian Friedrich Jumpert ở Halle (Đức) năm 1754.Trong đó đã trình bày các số liệu đo đạc về cân nặng, chiều cao và các đạilượng khác của một loạt trẻ trai và trẻ gái từ 1-25 tuổi tại các trại mồ côihoàng gia ở Berlin và một số nơi khác ở Đức Đây là công trình được nghiêncứu theo phương pháp cắt ngang (Cross- Sectional Study), là phương phápđược dùng phổ biến do có ưu điểm là rẻ tiền, nhanh và thực hiện được trênnhiều đối tượng cùng một lúc [5]

Nghiên cứu dọc đầu tiên về chiều cao được thực hiện bởi PhilibertGuéneau de Montbeilard ở con trai của mình từ năm 1759-1777 Trong 18năm liên tục, mỗi năm được đo 2 lần cách nhau 6 tháng Đây là một phươngpháp tốt nhất đã được ứng dụng cho đến nay Từ đó Thompson đã đưa ra kháiniệm tốc độ tăng trưởng (growth velocity) vào trong nghiên cứu về tăngtrưởng(Auxology), cùng với 2 đại lượng khác của tăng trưởng là chiều cao vàcân nặng như là những chỉ tiêu về sức khỏe, đã được sử dụng trong cácnghiên cứu về tăng trưởng trước đó

Năm 1892 Louis- Réné villermé (1782-1863) người sáng lập ra ngành

y tế cộng đồng ở Pháp đã đưa ra quan niệm tăng trưởng “Tăng trưởng là tấmgương phản chiếu của điều kiện xã hội” Một nghiên cứu tương tự theohướng sức khỏe công cộng đã đựợc Edewin Chadwick thực hiện ở Anh năm

1883, trong đó ông đã trình bày tầm vóc nhỏ bé ở trẻ em đang làm việc trong

Trang 6

các nhà máy dệt ở miền Bắc nước Anh và nêu lên cần phải cải cách xã hội,cải thiện điều kiện và thời gian làm việc cho tốt hơn Hướng nghiên cứu nàyvẫn được tiếp tục cho đến nay và người ta sử dụng chiều cao của trẻ em vàngười trưởng thành như một chỉ số để đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xãhội Từ đó nêu lên quy luật tăng trưởng theo thời gian.

Nghiên cứu tăng trưởng cũng được sử dụng trong y tế học đường.Nghiên cứu đầu tiên thực hiện ở Carlschule(Đức) từ 1772 -1794 Số lượnghọc sinh được đo là 92 ở 8 tuổi, tăng lên 442 ở 15 tuổi và giảm xuống 155 ở

21 tuổi Đây là một nghiên cứu dọc khá lớn

1.1.2 Các nghiên cứu về hình thái và thể lực của trẻ em ở Việt Nam

Lịch sử nước ta bị thực dân Pháp xâm lược và đô hộ nhiều năm nên y tế

và giáo dục hạn chế, việc quan tâm chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân còn gặpnhiều khó khăn

Những nghiên cứu đầu tiên về chỉ số sinh học ở trẻ em được bắt đầu từnhững năm 1930 tại ban nhân trắc học thuộc viện Viễn Đông Bác Cổ

Những kết quả nghiên cứu ở Việt Nam thời kỳ này được tiến hành hầunhư lẻ tẻ với những số liệu chưa được xử lý Năm 1938 Bigot và Đỗ xuânHợp nghiên cứu trên 897 nữ sinh tuổi từ 5-18 tại Hà Nội Kết quả này đượccông bố trong 9 tập tạp chí “Các công trình nghiên cứu của viện giải phẫu họctrường đại học Y Khoa Đông Dương” [5]

Sau cách mạng tháng 8/1945 thành công và sau năm 1954 việc chămsóc sức khoẻ cho nhân dân miền bắc được quan tâm hơn Từ khi thành lập bộmôn nhân trắc học ở một số viện nghiên cứu và trường ĐH thì lúc này việc

Trang 7

về số lượng, quy mô và đạt được các kết quả đáng kể trên các đối tượng khácnhau về lứa tuổi, giới tính và thành phần dân tộc [5].

Những năm 1967 và 1972 tiến hành hai hội nghị về nhân trắc học ViệtNam là những sự kiện lớn trong ngành nhân trắc học Tại đây, nhiều côngtrình nghiên cứu được báo cáo thống kê và đã có nhiều kết luận quan trọngcần thiết về chỉ số người Việt Nam lúc bấy giờ Các công trình nghiên cứu đãđược ghi nhận và tập hợp lại trong cuốn sách “Hằng số sinh học Việt Nam”làm cơ sở so sánh, đánh giá cho nhiều ngành nghiên cứu khác nhau Cùng với

đó Nguyễn Quang Quyền cho xuất bản cuốn “Nhân trắc học và những ứngdụng nghiên cứu trên cơ thể người Việt Nam”, được coi là cuốn sách đầu taycho những người nghiên cứu nhân trắc học ở Việt Nam [21]

Từ sau 1975 thì các công trình nghiên cứu về hình thái sinh lý ngườiViệt Nam được triển khai rộng rãi trên toàn quốc với những quy mô côngtrình nghiên cứu khác nhau: 1975-1978 Trần Văn Dần, Nguyễn Xuân Côn,nghiên cứu trên học sinh 15-18 tuổi ở một số vùng ở Hà Nội, Hải Phòng.Phan Hồng Minh và cộng sự nghiên cứu trên học sinh 7-17 tuổi ở Hoàng LiênSơn, Bắc Thái, Vĩnh Phú, Hậu Giang

Năm 1980 Đoàn Yên và các cộng sự nghiên cứu chỉ số về chiều cao, cânnặng người Việt Nam và đưa ra các nhận xét so sánh với các chỉ số khác.Những năm 1986 Vũ Hưng và cộng sự biên soạn cuốn Atlat nhân trắchọc người Việt Nam trong lứa tuổi lao động

Năm 1980-1990 Thẩm Thị Hoàng Điệp tiến hành nghiên cứu dọc trên

101 học sinh Hà Nội từ 16-17 tuổi và có nhận xét: chiều cao phát triển mạnhnhất là lúc 11-12 tuổi ở nữ và 13-15 tuổi ở nam Cân nặng phát triển mạnhnhất lúc 13 tuổi ở nữ và 15 tuổi ở nam

Dự án điều tra cơ bản về kết quả bước đầu nghiên cứu một số chỉ tiêusinh học của người Việt Nam Đã thống kê được nhiều nghiên cứu và so sánh

Trang 8

với Hằng số sinh học Việt Nam 1975 về các chỉ tiêu hình thái, sinh lý củanhiều vùng khác nhau trong những năm 1990.

Trong những năm gần đây có nhiều nghiên cứu về hình thái thể lực củangười Việt Nam và đặc biệt là ở lứa tuổi học sinh Các nghiên cứu như:Nghiên cứu luận án thạc sỹ của Phó Thị Bích Hằng, nghiên cứu sự hiểu biếtmột số kiến thức sức khoẻ sinh sản vị thành niên của học sinh dân tộc một sốtrường nội trú tỉnh Sơn La Luận án thạc sỹ của Nguyễn Thị Lan: nghiên cứumột số chỉ tiêu về thể lực sinh lý tuổi dậy thì của các em gái, trai thuộc một

số dân tộc ít người tại Vĩnh Phúc-Phú Thọ…Các nghiên cứu cho thấy các em

ở thành phố, thị xã có tầm vóc thể lực phát triển hơn các em vùng nông thôn.Đồng thời tuổi dậy thì của các em ngày càng đến sớm hơn Ở nước ta trongthời kì đổi mới, kinh tế có những bước phát triển nhảy vọt, đời sống nhân dânngày càng được nâng cao đồng thời dẫn đến sự khác biệt các chỉ số hình tháisinh lý giữa nam và nữ, giữa thành thị và nông thôn, giữa đồng bằng và miềnnúi là tương đối rõ rệt Những nghiên cứu về các em lứa tuổi học sinh, nhữngchủ nhân tương lai của đất nước cần được thường xuyên và tiến hành sâu rộnghơn Chính những nghiên cứu này sẽ đóng góp cho y tế, giáo dục và đặt yêucầu cụ thể cho việc chăm sóc sức khoẻ phục vụ và nâng cao đời sống chonhân dân Những công trình nghiên cứu sẽ là nguồn thông tin cho việc nângcao tầm vóc thể lực của học sinh, sinh viên, nguồn lực tương lai của đất nước

1.2 Sinh lý và các chỉ tiêu đánh giá

1.2.1 Đặc điểm tâm, sinh lý của học sinh tiểu học

Thế giới tâm lý của các em rất phong phú và đa dạng Không thể coi trẻ

Trang 9

dục - đào tạo Các hoạt động này làm bộc lộ những cái bí ẩn để cải tạo chúngtheo mục đích của mình [1].

Theo nguyên lý phát triển, sự hình thành- phát triển bao giờ cũng đitheo qui luật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, có sự thay đổi vềlượng dẫn đến chất thay đổi, có sự đột biến để tạo ra chất mới bằng sự đấutranh giữa các mặt đối lập Sự phát triển đó diễn ra theo quy luật như sau [1]:

Đ Trẻ càng nhỏ, cường độ phát triển càng lớn, tốc độ phát triểncàng nhanh, sau đó yếu đi và chậm dần

Đ Có sự phát triển không cân đối và không đồng đều giữa các yếu

tố trong cấu tạo tâm - sinh lý

 Có nhiều biến động và rất nhanh chóng

1.2.2 Đặc điểm sinh lý lứa tuổi

Cơ thể của trẻ em là nền tảng vật chất của trí tuệ và tâm hồn, nền tảng

có vững thì trí tuệ và tình cảm mới có khả năng phát triển tốt „„thân thể khoẻmạnh thì chứa đựng một tinh thần sáng suốt’’, ngược lại „„tinh thần sáng suốtthì cơ thể có điều kiện phát triển’’ [15]

Sự phát triển thể chất của học sinh tiểu học có những đặc điểm sau:

- Thể lực của các em phát triển tương đối êm ả, đồng đều Chiều caomỗi năm tăng trên dưới 4cm, trọng lượng cơ thể tăng mỗi năm tăng trên dưới2kg Bộ xương đang ở giai đoạn cứng dần nhưng còn nhiều mô sụn Vì thế,cần quan tâm đến thế đi, đứng, ngồi, chạy, nhảy của các em để đề phòngcong, vẹo, gẫy xương ở trẻ Tránh để các em mang, xách những vật quá nặng,tránh để các em viết lâu, làm những việc quá tỉ mỉ gây mệt mỏi cho các em[2]

- Hệ thần kinh của học sinh tiểu học đang thời kỳ phát triển mạnh, bộnão của các em phát triển về khối lượng, trọng lượng và cấu tạo Đến 9-10tuổi, hệ thần kinh của trẻ căn bản được hoàn thiện và chất lượng của nó sẽ

Trang 10

được giữ lại trong suốt đời người [7] Khả năng kìm hãm (khả năng ức chế)của hệ thần kinh còn yếu, trong khi đó bộ não và hệ thần kinh của các emđang phát triển đi dần đến hoàn thiện nên các em dễ bị kích thích.

- Tim của các em đập nhanh (85 90 lần/phút) [7], mạchmáu tương

đối mở rộng, huyết áp động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh, vì vậycần tránh gây cho các em những xúc động mạnh tiêu cực làm ảnh hưởng đếnhoạt động của các em

1.2.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học

- Cảm giác

Cảm giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách riêng lẻ, từngthuộc tính của sự vật và hiện tượng trong thực tại khách quan, khi chúng đangtrực tiếp tác động vào giác quan của ta Ở con người, cảm giác là mức độ địnhhướng sơ khai, đơn giản nhất mang bản chất xã hội- lịch sử, được phát triểnnhờ hoạt động - giao tiếp Trong cơ chế sinh lý của nó, ngoài hệ thống tínhiệu thứ nhất ra, còn có cả cơ chế thuộc hệ thống tín hiệu thứ hai Cảm giácđóng vai trò là cơ sở cho mọi hoạt động nhận thức của con người Cảm giác

có các đặc điểm cơ bản như mang tính xã hội - lịch sử, có tính quá trình, phảnánh một cách trực tiếp từng thuộc tính riêng rẽ của sự vật, hiện tượng Ngônngữ có tác dụng làm tăng hay giảm cảm giác [1]

- Tri giác

Tri giác là một quá trình tâm lý phản ánh một cách trọn vẹn các thuộctính bề ngoài của sự vật và hiện tượng trong thực tại khách quan khi chúngđang trực tiếp tác động vào giác quan của ta Được hình thành trên cơ sở các

Trang 12

Tri giác của học sinh tiểu học mang tính chất đại thể, ít đi sâu vào chitiết mang tính không chủ động Do đó, các em phân biệt những đối tượng cònchưa chính xác, dễ mắc sai lầm, có khi còn lẫn lộn Thí dụ, không nên nghĩrằng học sinh tiểu học (lớp 1, lớp 2) chưa có khả năng phân tích, tách các dấuhiệu, các chi tiết nhỏ của đối tượng nào đó Vấn đề là ở chỗ khi tri giác, sựphân tích một cách có tổ chức, và sâu sắc ở học sinh các lớp đầu bậc Tiểu họccòn yếu Như vậy là học sinh thường “thâu tóm” sự vật về toàn bộ, về đại thể

để tri giác Thí dụ: người ta cho các em xem một bức tranh vẽ con sóc rất đẹp,sau khi cất bức tranh, yêu cầu các em vẽ lại thì các em không nhận thấy rấtnhiều chi tiết, các em hỏi nhau: con sóc lông màu gì? Có ria mép hay không?Mắt nó thế nào? [7]

Ở các lớp đầu bậc tiểu học, tri giác của các em thường gắn với hànhđộng, với hoạt động thực tiễn của trẻ Tri giác sự vật có nghĩa là phải làm gì

đó với sự vật: cầm, nắm, sờ mó sự vật ấy Những gì phù hợp với nhu cầu củahọc sinh, những gì giáo viên chỉ dẫn thì mới được các em tri giác Vì thế,trong giáo dục, nên vận dụng các điều sau đây:“ Trăm nghe không bằng mộtthấy, trăm thấy không bằng một làm” [7]

Kỹ năng hoạt động nhận thức bước đầu được hình thành trong hoạtđộng học tập Hành động sư phạm của giáo viên giữ vai trò quyết định trongviệc thực hiện thao tác nhận thức của học sinh tiểu học Năng lực nhận thứccủa các em đang được phát triển thông qua quá trình giải quyết các nhiệm vụhọc tập Đảm bảo được tính trực quan cũng như tính thẩm mỹ và có thái độcảm xúc tích cực khi thực thi các hoạt động dạy học sẽ là một điều kiện quan

Trang 13

của cơ thể đối với tác nhân kích thích tác động vào nó và do “linh khí” củađộng vật gây ra, phản xạ là sự phản ánh của cảm giác thành vận động.

Cabanit (thế kỷ XVIII) cũng xác định vai trò của não đối với hoạt động

tư duy, nhưng quan niệm của ông rất đơn giản Theo ông thì não tiêu hoácảm giác và bài tiết tư duy một cách hữu cơ Tương tự như vậy, Vóc (thế kỷXVIII) cho rằng não tiết ra tư duy đại loại như gan tiết ra mật, thận tiết ra nư-

ớc tiểu [14]

Như vậy trước thế kỷ XIX các tác giả tuy đã có những quan điểm duyvật về thần kinh cấp cao nhưng quan điểm của họ còn mang tính chất chủquan và đơn giản

Sechenov (1829-1905) [18] cho rằng việc hình thành phản xạ không chỉ

có sự tham gia của hưng phấn mà còn có sự tham gia của ức chế Trong tácphẩm nổi tiếng của mình “Các phản xạ của não” ông chỉ ra rằng “mọi biểuhiện của hoạt động tinh thần, kể cả những dạng phức tạp nhất, nếu xét về mặtbản chất thì đều là những phản xạ”

Kế thừa và phát triển quan điểm của Sechenov, Pavlov (1849-1936) đãxây dựng lên học thuyết duy vật hoàn chỉnh về hoạt động thần kinh cấp caovới cơ sở của các thực nghiệm sâu sắc Ông là người khai sinh ra khái niệm

“Phản xạ có điều kiện” và coi nó là đơn vị cơ bản của hoạt động thần kinh cấpcao ở động vật và người [18]

Nghiên cứu về phản xạ cảm giác - vận động trên người Việt Nam đãđược các nhà sinh lý học, y học và tâm lý học quan tâm [18] Tuy nhiên dophương pháp nghiên cứu không giống nhau nên kết quả thu được có sự khácnhau [18]

Đỗ Công Huỳnh và cộng sự đã nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác vận động của thanh thiếu niên từ 6 đến 18 tuổi ở khu vực Nam, Bắc sân bayBiên Hòa và xã Vạn Phúc Hà Đông Ông cho thấy thời gian phản xạ cảm giác

Trang 14

vận động giảm dần theo tuổi, càng lớn (không quá 18 tuổi) thời gian phản xạcàng ngắn Điều này, chứng tỏ qui trình xử lý thông tin ngày càng tốt hơntheo lứa tuổi Phương pháp đo của Đỗ Công Huỳnh do dựa vào kỹ thuật xử lýtrên máy vi tính, cho phép xác định chính xác thời gian phản xạ thị giác vàthính giác - vận động đã được nhiều tác giả sử dụng [17].

Năm 2000, Trần Trí Bảo đã xây dựng phương pháp xác định tốc độ xử

lý thông tin (R) trên cơ sở thời gian phản xạ thị giác - vận động và cho thấy Rbình thường là 3-5 bit/s

Năm 2001, Nguyễn Thị Ngọc Thanh áp dụng phương pháp này đểnghiên cứu tốc độ xử lý thông tin của 806 học sinh cuối bậc Tiểu học ở HàNội Kết quả cho thấy, khả năng xử lý thông tin của những học sinh nàykhông cao, biểu hiện ở chỗ tốc độ xử lý thông tin và độ thông suốt thấp, điềunày phù hợp với thời gian phản xạ tương đối lớn ở lớp tiểu học trong các côngtrình của Đỗ Công Huỳnh và cộng sự

Nghiên cứu của Tạ Thuý Lan và cộng sự về thời gian phản xạ thị giác vận động và thính giác- vận động của học sinh- sinh viên từ 15 đến 21 tuổicho thấy, thời gian phản xạ thị giác- vận động và thính giác- vận động tăngdần theo lứa tuổi và có liên quan đến giới tính, trong đó thời gian phản xạ ở

-nữ dài hơn so với nam [13]

Trần Thị Loan [17] đã nghiên cứu thời gian phản xạ cảm giác- vậnđộng của học sinh phổ thông Kết quả cho thấy thời gian phản xạ cảm giác-vận động của nam và nữ biến động theo thời gian, giảm dần từ 6 đến 14 tuổi.Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Tạ Thuý Lan [13]

Trang 15

CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Đối tượng nghiên cứu

Học sinh độ tuổi từ 6 (học sinh lớp 1) đến 10 (học sinh lớp 5) có trạng

thái tâm lý và sức khoẻ bình thường, không có các dị tật về tai, mắt.

Tổng số đối tượng nghiên cứu là 300 học sinh, trong đó có 150 họcsinh nam và 150 học sinh nữ Sự phân bố đối tượng nghiên cứu có thể thấy ởbảng 1

Bảng 1 Phân bố đối tượng nghiên cứu

Trang 16

Trường tiểu học Xuân Hòa, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Trang 17

Phòng thí nghiệm nhân học, Trung tâm nhân học và phát triển trí tuệ,ĐHQGHN.

2.2.2 Thời gian.

Luận văn này được bắt đầu thực hiện từ tháng 2009 đến tháng 2010

5-2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Chọn mẫu nghiên cứu.

Mẫu được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên trong nhóm học sinh có

độ tuổi từ 6 đến 10 ở các khối lớp 1, lớp 2, lớp 3, lớp 4, lớp 5 của trường tiểuhọc Xuân Hòa, Thị xã Phúc Yên Các chỉ số được nghiên cứu

* Các chỉ số hình thái thể lực: Chiều cao, cân năng, vòng ngực, BMI,pignet

* Các chỉ số sinh lý: thời gian phản xạ thị vận động và thính vận động

giác-2.3.2 Phương pháp nghiên cứu các chỉ số.

2.3.2.1 Chỉ số hình thái

*Phương pháp đo chiều cao đứng:

Dùng thước Adam do Hàn Quốc sản xuất độ chính xác đến mm Đo từgót chân sát mặt đất lên đỉnh đầu Học sinh phải đứng ở tư thế nghiêm trênnền phẳng, hai gót chân chạm vào nhau, hai tay buông thẳng, sao cho 4 điểmchẩm, lưng, mông, gót chân chạm vào thước đo

- Chiều cao đứng được tính theo đơn vị là (cm)

*Phương pháp đo trọng lượng:

- Dựng cõn Laica của Thuỵ sỹ, độ chính xác với các cân chuẩn khác chiavạch đến 0,01kg Đặt cân trên mặt phẳng, yêu cầu học sinh bỏ giầy dép, mặc

Trang 19

quần áo mỏng, đứng thẳng sao cho trọng tâm cơ thể rơi vào điểm giữa củacân Đơn vị trọng lượng là (kg).

* Phương pháp đo vòng ngực trung bình:

Dụng cụ là thước dây Hàn Quốc Đo ở tư thế thẳng đứng, vòng thướcdây quanh ngực, vuông góc với cột sống đi qua xương bả vai ở phía sau vàmũi ức ở phía trước Đo ở 2 kỳ hít vào và thở ra hết sức sau đó lấy trung bìnhcộng Đơn vị đo là (cm)

2.3.2.2 Chỉ số thể lực

* BMI:

Trọng lượng kết hợp với chiều cao đứng, vòng ngực trung bình

sẽ cho ta những BMI, Pignet là cơ sở quan trọng để đánh giá về tầm vóc vàthể lực BMI là chỉ số cho phép đánh giá thể lực tương đối của những người

có chiều cao khác nhau BMI được đo bằng thương số giữa trọng lượng cơ thểvới bình phương chiều cao đứng

BMI= P/h2

Trong đó :P: Khối lượng cơ thể(kg) h: Chiều cao đứng(m)BMI càng cao thì sức khoẻ càng tốt và ngược lại BMI ở ở lứa tổi 5-10 tuổi nằm trong: Khoảng < 13 là gầy

Khoảng > 17 là béoKhoảng 13 17 bình thường

* Chỉ số Pignet:

Pignet= h-(P+T)

Trong đó:

Trang 20

h:Chiềucaođứng(cm)

Trang 21

P: Trọng lượng cơ thể (kg)T: Số đo vòng ngực trung

2.3.2.3 Thời gian phản xạ cảm giác - vận động

Dụng cụ đo là máy vi tính với phần mềm đồ hoạ Senue của Đỗ CôngHuỳnh và cộng sự [10]

- Phương pháp đo thời gian phản xạ thị giác-vận động: Học sinh ngồithoải mái trước màn hình máy vi tính và đặt ngón tay thuận lên phím Entercủa bàn phím Mắt nhìn lên màn hình Khi thấy trên màn hình xuất hiện hệthống đèn đỏ (đèn báo hiệu) sáng lên thì dùng ngón tay đặt sẵn ấn xuống phímEnter với tốc độ nhanh nhất để tắt đèn Thao tác này được lặp lại 5 lần theothứ tự đã được lập trình trên máy

- Phương pháp đo thời gian phản xạ thính giác-vận động: Được thựchiện ngay sau khi đo thời gian phản xạ thị giác-vận động, các thao tác tương

tự như nhau, nhưng chỉ khác là thấy tín hiệu đèn đỏ sáng lên bằng tiếng kêu

“tít” trên máy vi tính

Các kết quả của hai thực nghiệm trên được tính riêng cho mỗi lần đo vàtrung bình của cả 5 lần cho mỗi thực nghiệm

2.3.3 Xử lý số liệu

Xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê trong sinh học

Các số liệu sau khi thu thập đạt yêu cầu, được nhập kết quả vào máy vitính bằng chương trình Excel trong quá trình nhập, các số liệu luôn được kiểmtra để đảm bảo tính chính xác

Các số liệu nhập đầy đủ hết, được máy vi tính xử lý theo các chỉ số sau:

số lượng, tỷ lệ%, giá trị trung bình ( X ), sai số của số trung bình (SD), hệ sốbiến thiên CV

Trang 22

2 _ n

(Xi X )

i1

2 _ n

X : là giá trị trung bình

Xi : là giá trị thứ i của đại lượng

n: là số cá thể ở mẫu nghiên cứu

Trang 23

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

3.1 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VỀ HÌNH THÁI VÀ THỂ LỰC CƠ THỂ HỌC SINH.

3.1.1 Kết quả nghiên cứu chiều cao cơ thể của học sinh

Chiều cao được nghiên cứu là chiều cao đứng của học sinh, đây

là chỉ tiêu cơ bản trong việc nhận xét đánh giá sự phát triển cơ thể

3.1.1.1 Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của học sinh nam

Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của nam được thể hiện trong bảng 2

Bảng 2 Sự biến đổi chiều cao đứng của học sinh nam theo tuổi (cm).

Trang 24

Biểu đồ 1 Sự biến đổi chiều cao đứng (cm) của học sinh nam theo tuổi

Qua kết quả ở bảng 2 và các biểu đồ 1 về chiều cao đứng cho thấy:

Nam HS ở 5 lứa tuổi trên có chiều cao TB là 126.1± 0.8 (cm).Chiều cao của HS nam tăng dần theo lứa tuổi Lúc 6 tuổi chiều cao trung bình

là 116.9± 0.8 (cm), đến năm 10 tuổi chiều cao trung bình là 138.4 ± 0.9 (cm).Trong vòng 5 năm chiều cao của HS nam tăng thêm 21.5 (cm), trung bìnhmỗi năm tăng thêm 4.3±0.1 (cm) Chiều cao của các em nam tăng nhanh nhất

ở lứa tuổi 9 sang 10 đạt đến 7.4 cm/năm

Trong từng giai đoạn phát triển của cơ thể tốc độ tăng chiều caocủa HS không giống nhau Điều này được thể hiện trong biểu đồ 1 và bảng 2

3.1.1.2 ết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của học sinh nữ

Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng của nữ được thể hiện trong bảng 3

Trang 26

Các số liệu trong bảng 3 và biểu đồ 2 cho thấy:

Trang 27

Nữ HS ở 5 lứa tuổi có chiều cao TB là 123.5±0.8 (cm) Chiềucao của HS nữ tăng dần theo lứa tuổi Lúc 6 tuổi chiều cao trung bình là115.1±0.6 (cm), đến năm 10 tuổi chiều cao trung bình là 136.8±0.8 (cm).Trong vòng 5 năm chiều cao của các em tăng thêm 21.7 (cm), trung bình mỗinăm tăng thêm 4.3± 0.2 (cm) Chiều cao của HS nữ tăng nhanh nhất ở lứa tuổi

9 sang 10 đạt đến 9.9± 0.1 cm/năm Như vậy, trong từng giai đoạn phát triểncủa cơ thể tốc độ tăng chiều cao của HS không giống nhau

3.1.1.3 So sánh chiều cao đứng của nam và nữ học sinh

Kết quả nghiên cứu được trình bày trong bảng 4 và biểu đồ 3

Bảng 4 So sánh chiều cao đứng của nam và nữ học sinh (cm)

Trang 28

nam nu

nam nu

Biểu đồ 4 Mức tăng chiều cao đứng(cm) của HS theo lứa tuổi và giới tính

Qua bảng 4 và biểu đồ so sánh 3 và 4 cho thấy:

Trang 29

Nguyên nhân là do HS nam hiếu động hơn, chính vì vậy hoạt động trao đổichất nhanh dẫn tới sự sinh trưởng sẽ nhanh hơn so với HS nữ.

Chiều cao HS nam tăng qua các năm là 2.9 7.4(cm) còn

HS nữ chiều cao qua các năm tăng 2.1 9.9 (cm) Có những điều trên

là do một số em nữ có biểu hiện dậy thì đến sớm hơn, giai đoạn chiều caotăng mạnh là 9- 10 tuổi Ở các em nam giai đoạn chiều cao tăng mạnhcũng vào tuổi 9-10 tuổi, nhưng thấp hơn so với nữ Sau đó chiều cao củacác em còn tiếp tục tăng cho đến 25 tuổi ở nam và 21 tuổi ở nữ

Chiều cao phản ánh sự lớn lên cơ thể trong đó yếu tố quyết định

là sự kéo dài xương đùi và xương ống chân Chiều cao của cơ thể được quyđịnh bởi các yếu tố di truyền, hocmon và chịu ảnh hưởng của điều kiện môitrường

3.1.2 Kết quả nghiên cứu trọng lƣợng (cân nặng) cơ thể của học sinh

Trọng lượng cơ thể là chỉ tiêu thứ 2 không thể thiếu được trongviệc đánh giá tầm vóc và thể lực của người Việt Nam nói chung và của các

em học sinh nói riêng Trọng lượng là đặc điểm tổng hợp biểu thị mức độ, tỉ

lệ hấp thụ và tiêu hao năng lượng So với chiều cao, cân nặng ít phụ thuộc vàoyếu tố di truyền mà nó liên quan chủ yếu đến điều kiện dinh dưỡng Mặc dùcân nặng không nói lên tầm vóc, nhưng sự phát triển của nó liên quan đếnnhiều kích thước khác nhau của cơ thể do đó thường được khảo sát nhằmđánh giá thể lực

3.1.2.1 Kết quả nghiên cứu trọng lượng trung bình của học sinh nam

Bảng 5 Sự biến đổi trọng lượng (kg) của học sinh nam theo tuổi

Ngày đăng: 18/12/2017, 12:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w