Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh Bình Dương (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
./
/
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THÁI QUỲNH NHƯ
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
THUỘC UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ - -
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN THÁI QUỲNH NHƯ
BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN
THUỘC UBND TỈNH BÌNH DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN TRỌNG ĐỨC
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2017
Trang 3i
LỜI CẢM ƠN
Tôi chân thành cảm ơn sự quan tâm giúp đỡ của Lãnh đạo Ban Văn hóa –
Xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh, Lãnh đạo và công chức các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, công chức của Ban Tổ chức Tỉnh ủy, một số cán bộ hưu trí của ngành tổ chức đã cung cấp số liệu, thông tin cùng những đóng góp ý kiến quý báu cho luận văn và sự góp ý, hướng dẫn nhiệt tình, trách nhiệm của thầy Trần Trọng Đức, giảng viên Học viện Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh
đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn!
Trang 4ii
CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Học viên thực hiện luận văn
Nguyễn Thái Quỳnh Nhƣ
Trang 5iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU, HÌNH
Trang Hình 2.1 Cán bộ, công chức, viên chức, tỉnh 45 Bảng 2.1 Tổng hợp số liệu công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND tỉnh về giới tính,
đảng viên, dân tộc, tôn giáo, ngạch
47-48
Bảng 2.2 Tổng hợp số liệu công chức các cơ quan
chuyên môn thuộc UBND tỉnh về trình độ
chuyên môn, chính trị, tin học, ngoại ngữ
49-51
Trang 61
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn… ……… ……… i
Lời cam đoan……… ……… ……….ii
Danh mục bảng biểu, hình…… ………… ….……….……… iii
Mục lục……… ……….……… 1
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH ……… 11
1.1 Khái quát về công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 11
1.1.1 Khái niệm công chức 11
1.1.2 Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh 12
1.1.3 Công chức và vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh 16
1.2 Bồi dưỡng công chức 16
1.2.1 Khái niệm bồi dưỡng công chức 17
1.2.2 Vai trò của bồi dưỡng công chức 17
1.2.3 Quản lý nhà nước về bồi dưỡng công chức 25
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng công chức 25
1.3 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra từ việc đào tạo, bồi dưỡng công chức ở các nước có thể vận dụng và thực hiện ở Bình Dương 35
1.3.1 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức của một số quốc gia trên thế giới 35
1.3.2 Bài học kinh nghiệm rút ra từ việc đào tạo, bồi dưỡng công chức ở các nước có thể vận dụng và thực hiện ở Bình Dương 38
Tiểu kết chương 1: 40
Chương 2:THỰC TRẠNG BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG 41
Trang 72
2.1 Tổng quan về tỉnh Bình Dương 41 2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, dân số, đơn vị hành chính: 41 2.1.2 Tình hình hình tế - xã hội 42 2.2 Thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh 43 2.2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương: 43 2.2.2 Số lượng, độ tuổi, trình độ, ngạch của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương 44 2.2.3 Thực trạng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh 52 2.3 Công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015 56 2.3.1 Các quy định và định hướng quan điểm, nguyên tắc của Trung ương, của tỉnh Bình Dương về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức 56 2.3.2 Thực trạng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh 58 2.3.3 Kết quả bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh giai đoạn 2011-2015 65 2.3.4 Đánh giá kết quả công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương giai đoạn 2011-2015 69 Tiểu kết chương 2: 76
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN MÔN THUỘC ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG TRONG THỜI GIAN TỚI 773.1 Phương hướng, mục tiêu công tác cán bộ của tỉnh Bình Dương đến năm 2020 77 3.1.1 Phương hướng 77 3.1.2 Mục tiêu 78 3.2 Mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương giai đoạn 2015 - 2020 80 3.3 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương trong thời gian tới 82
Trang 83
3.3.1 Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, xác định rõ và quán triệt tiêu chuẩn cán bộ
cơ quan cấp tỉnh theo yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
và hội nhập quốc tế 82
3.3.2 Nâng cao chất lượng xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 84
3.3.3 Xây dựng và sử dụng có hiệu quả, đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh 90
Tiểu kết chương 3 101
Kiến nghị 101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 110
PHỤ LỤC 114
Trang 94
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài luận văn
Trải qua quá trình hoạt động cách mạng, Đảng ta đã lựa chọn, rèn luyện và
hình thành được đội ngũ cán bộ, công chức dày dạn kinh nghiệm trong chiến đấu và công tác, nắm vững và biết vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin, gắn bó chặt chẽ với quần chúng, có uy tín cao trong Đảng và nhân dân Tuy nhiên, bước sang giai đoạn thực hiện công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức còn có những hạn chế, chưa theo kịp sự tiến triển của tình hình mới Đảng ta đã chỉ ra rằng, sự trì trệ, bảo thủ trên nhiều mặt của công tác cán bộ trong nhiều năm qua là một trong những nguyên nhân chủ yếu của sự trì trệ trong tổ chức thực hiện và nhiều mặt khác Ngay từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V, Đảng ta đã nêu rõ “Sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa và bảo vệ
Tổ quốc càng phức tạp, vai trò lãnh đạo của Đảng càng tăng thì vị trí quyết định của công tác cán bộ, đặc biệt là của việc bồi dưỡng, đào tạo, bố trí đội ngũ cán bộ chủ chốt càng lớn” [16, tr.110]
Hiện nay, nước ta đang ở chặng đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội và đang trong giai đoạn đầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Quy mô, tầm cỡ, tính chất phức tạp của nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; cuộc chiến đấu không khoan nhượng về ý thức chính trị giữa nhân dân ta với các thế lực thù địch và ngay trong nội bộ đất nước đang đòi hỏi phải không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng Muốn thế, Đảng phải tiếp tục đổi mới về nhiều mặt: đổi mới tư duy trước hết là tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức, đổi mới công tác cán
bộ và đội ngũ cán bộ, đổi mới phong cách lãnh đạo Trong đó đổi mới về công tác cán
bộ là khâu trọng yếu có quan hệ khăng khít và tác động qua lại với đổi mới tư duy, đổi mới tổ chức, đổi mới phong cách Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại việc tổ chức thực hiện mọi đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, là nhân tố quyết định việc thực hiện thành công quá trình đổi mới sự lãnh đạo của Đảng
về kinh tế - xã hội cũng như tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội
Trang 105
nhập quốc tế Do đó, phải xây dựng được đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất và năng lực tốt, có cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội và bảo vệ Tổ quốc, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ mới
Bình Dương là một tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân Bình Dương đã ra sức thi đua, nỗ lực phấn đấu hoàn thành thắng lợi nhiều nhiệm vụ, mục tiêu quan trọng, đưa Bình Dương trở thành nhóm tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước trong sự nghiệp đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt, là tỉnh duy nhất trong cả nước không còn
hộ nghèo theo tiêu chí quốc gia… Đạt được những thành tựu trên, bên cạnh sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của các ngành, các cấp ở Trung ương, sự chỉ đạo, quyết đoán cùng với tầm nhìn chiến lược của lãnh đạo tỉnh,…còn có sự đóng góp không nhỏ của đội ngũ công chức của tỉnh nói chung và đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương nói riêng
Là những người làm việc trong các cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh vừa là những người tham gia hoạch định vừa thực thi chính sách, quyết định của Nhà nước, vừa là yếu tố quyết định sự thành bại của các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ở địa phương; hoạt động thực thi công vụ của họ có vai trò quan trọng, quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý hành chính Nhà nước của tỉnh; do đó, trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh không chỉ ảnh hưởng trực tiếp mà còn chi phối đến chất lượng, hiệu quả hoạt động và uy tín đối với nhân dân cũng như các tổ chức, cá nhân có quan hệ, giao dịch, sử dụng dịch vụ của những cơ quan này Tuy nhiên, chất lượng của đội ngũ công chức đang làm việc tại các cơ quan chuyên môn hiện nay cũng còn nhiều hạn chế, vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển của tỉnh, vừa không đồng đều, vừa
có nhiều mặt chưa đáp ứng yêu cầu; một số công chức có nhiều bằng cấp nhưng không thể sử dụng hiệu quả trong công tác chuyên môn; trình độ ngoại ngữ và kỹ năng giao tiếp còn yếu, hầu hết công chức lãnh đạo, quản lý chưa được đào tạo cơ bản về quản lý
Trang 116
đô thị, về kinh tế thị trường, ngoại ngữ… dẫn đến việc chất lượng chưa đủ mạnh; chưa thật sự đảm bảo tính kế thừa, liên tục, làm cho công tác quy hoạch, đào tạo và sử dụng cán bộ luôn bị động, chắp vá ít nhiều gây trở ngại cho việc kiện toàn tổ chức bộ máy Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay là một đòi hỏi cần phải được thực hiện có hiệu quả nhất là khi Bình Dương đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển dịch vụ - công nghiệp gắn với quá trình đô thị hóa, đầu tư phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao
Xuất phát từ thực tiễn trên và từ sự cần thiết phải nâng cao chất chất lượng đội ngũ công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương để đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn hiện nay, tôi chọn đề tài “Bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh Bình Dương” nhằm mục đích nâng cao nhận thức cá nhân và góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn
đề phát sinh trong thực tế cần được giải quyết để xây dựng đội ngũ này ngày càng phù hợp và ngang tầm với nhiệm vụ hiện nay
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Sau ngày thống nhất đất nước, đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau bao gồm cán bộ, công chức là người địa phương đã kinh qua kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và số mới tuyển dụng; cán bộ, công chức
do Trung ương tăng cường và các địa phương khác được điều động đến; cán bộ, công chức của các đơn vị được sáp nhập, cán bộ, công chức ngành khác chuyển sang… Phần lớn đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh có trình độ từ trung cấp chuyên môn trở xuống, trong số này có số ít người tốt nghiệp đại học, được đào tạo về quản lý Nhà nước, quản lý kinh tế, quản trị doanh nghiệp theo mô hình của các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu nên khi vận dụng trong thực tế và công tác chuyên môn có nhiều điểm bất cập hoặc không phù hợp; số cán bộ, công chức sử dụng được ngoại ngữ và tin học trong công tác chuyên môn hầu như không có; số cán bộ, viên chức khoa học
kỹ thuật, nghiệp vụ lưu dụng của chế độ cũ phải mất một thời gian nhất định mới thích nghi được với phương pháp vận hành tổ chức, bộ máy, với sự điều hành, lãnh đạo của
Trang 127
các cán bộ kháng chiến và cán bộ được tăng cường từ miền Bắc vào đang là lãnh đạo
cơ quan, đơn vị…trong khi khối lượng công việc cần giải quyết rất lớn Những yếu tố trên ảnh hưởng không ít đến định hướng lãnh đạo của tổ chức đảng, của cấp ủy về công tác cán bộ, về thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự điều hành của các cấp chính quyền và đoàn thể trong toàn tỉnh
Mặc dù Trung ương đã có nhiều văn bản chỉ đạo về công tác cán bộ nhưng Bình Dương cũng như một số nơi khác trong cả nước chưa nhận thức đầy đủ ý nghĩa
và tầm quan trọng của công tác này, phần nào chạy theo chỉ đạo những nhiệm vụ cấp bách trước mắt của đảng bộ, chưa quan tâm đúng mức đến công tác cán bộ nên không tránh khỏi khó khăn do hậu quả của tình hình trên để lại như chưa kết hợp tốt giữa quản lý đảng viên của tổ chức đảng và quản lý cán bộ của chính quyền, đoàn thể để kiểm tra, giáo dục và lựa chọn cán bộ, vì vậy có trường hợp đánh giá cán bộ không rõ, thiếu sự nhất trí và chưa loại trừ được yếu tố ngẫu nhiên, tùy tiện trong công tác cán
bộ Công tác đề bạt, bổ nhiệm cán bộ còn bị chi phối khá nặng bởi quan điểm đánh giá
và lựa chọn người theo lối cũ, quá nhấn mạnh đến quá trình công tác, cống hiến, nặng
về tác phong, thái độ, về cấp bậc, chức vụ đã qua, chưa thật sự lấy hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu của phẩm chất và năng lực cán bộ
So sánh về chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp tỉnh từ năm 2010 trở về trước với hiện nay thì đội ngũ này từng bước được kiện toàn, số lượng ngày càng đủ
và chất lượng từng bước được nâng cao; có bước trưởng thành trong việc lãnh đạo xây dựng và quản lý kinh tế, quản lý hành chính Nhà nước Nhưng nhìn chung, sự tiến bộ vẫn còn chậm, chất lượng vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu, thể hiện rõ nhất là năng lực lãnh đạo, trình độ quản lý chưa toàn diện, năng lực tổ chức thực tiễn còn yếu Nhận thấy rõ những bất cập trên, thời gian qua Bình Dương cũng đã đề ra nhiều giải pháp để xây dựng đội ngũ cán bộ ngang tầm nhiệm vụ chính trị mà tỉnh được giao; qua
05 năm thực hiện Chương trình hành động số 20-CTrHĐ/TU, ngày 20/7/2011 của Tỉnh ủy về nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của Tỉnh giai đoạn 2011 – 2015, Bình Dương đã cơ bản tạo được nguồn cán bộ, công chức có bản lĩnh chính trị vững vàng,
có trình độ chuyên môn, lý luận chính trị cao, có kiến thức vận dụng sáng tạo vào thực
Trang 138
tiễn…Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ, công chức này nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới, trình độ và năng lực quản lý kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, ngoại ngữ còn yếu, chất lượng phục vụ một số dịch vụ hành chính công chưa đạt yêu cầu, thiếu nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho quá trình phát triển và hội nhập kinh tế của tỉnh…Vấn đề này đặt ra cho Bình Dương phải tiếp tục có những giải pháp tốt hơn để hoàn thiện đội ngũ cán bộ, công chức của tỉnh ngang tầm với giai đoạn phát triển hiện nay của Bình Dương
Và làm thế nào để hoàn thiện, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức là câu hỏi được nhiều ngành chức năng của Việt Nam nói chung và của tỉnh Bình Dương nói riêng quan tâm nghiên cứu, nhằm tìm ra giải pháp phù hợp để xây dựng đội ngũ này ngày một vững mạnh hơn Và bản thân, với tư cách là một công chức của tỉnh Bình Dương cũng quan tâm tới vấn đề này Một trong những giải pháp được xem là quan trọng hàng đầu và có hiệu quả đó chính là đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng cán bộ, công chức Về nội dung này, có rất nhiều đề tài nghiên cứu nhưng chưa có đề tài nào phân tích, nghiên cứu có hệ thống về một đối tượng chuyên biệt đó là “bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh” Tại Bình Dương, tính đến thời điểm hiện nay, ngoài các văn bản của Tỉnh có liên quan đến việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức thì trước tôi chưa có tác giả nào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện về nội dung này Thông qua những nội dung được đề cập trong luận văn của mình, tôi mong muốn góp một phần rất nhỏ để tìm ra hướng giải quyết phù hợp, hiệu quả cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức của tỉnh nói chung và bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh nói riêng trong thời gian tới, qua đó góp phần xây dựng đội ngũ này ngày càng phù hợp và ngang tầm với nhiệm vụ hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích: luận văn phân tích, làm rõ thực trạng đội ngũ công chức và công
tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn; trên cơ sở nhận thức những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng trong xây dựng đất nước, xây dựng cán bộ thời
kỳ mới, định hướng phát triển của Bình Dương và từ thực trạng của công tác này để đề
Trang 149
xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh trong thời gian tới, từ đó góp phần xây dựng đội ngũ này đáp ứng yêu cầu phát triển của Tỉnh trong giai đoạn hiện nay
- Nhiệm vụ: luận văn hệ thống hóa cơ sở lý luận về công chức, bồi dưỡng công
chức, các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng công chức, phân tích thực trạng và đánh giá
đúng thực chất, toàn diện, khách quan công tác bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương để tìm ra những ưu điểm, hạn chế thiếu sót cùng những nguyên nhân và rút ra bài học kinh nghiệm, trên cơ sở lý luận và thực trạng của địa phương đề ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
- Phạm vi nghiên cứu:
Không gian: tại tỉnh Bình Dương
Thời gian: từ giai đoạn 2011-2015
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
- Phương pháp luận: luận văn sử dụng phương pháp duy vật biện chứng của
Chủ nghĩa Mac-Lênin, quan điểm Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước có liên quan đến công chức
và công tác bồi dưỡng công chức
- Phương pháp nghiên cứu: luận văn sử dụng phương pháp thu thập và xử lý
thông tin để phân tích, so sánh, tổng hợp số liệu, nghiên cứu các bài viết trên tạp chí, website, các sách chuyên khảo có liên quan, sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và tiến hành khảo sát 126 đối tượng là công chức đang công tác tại các cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh, phỏng vấn 23 chuyên gia là lãnh đạo các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, lãnh đạo Ban Văn hóa-Xã hội Hội đồng nhân dân tỉnh, một số cán bộ hưu trí của ngành tổ chức để đánh giá thực trạng đội ngũ công chức và tình hình bồi dưỡng công chức từ đó đề xuất giải pháp sát thực nhằm
Trang 1510
nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: luận văn cung cấp cấp hệ thống lý luận cơ bản về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để làm cơ sở so sánh, đánh giá thực tiễn
Về thực tiễn: luận văn tổng kết thực tiễn và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương Ngoài ra, luận văn còn là tài liệu tham khảo cho những cá nhân quan tâm đến đề tài này
7 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 03 phần: phần mở đầu, phần nội dung và phần kết luận
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Chương 2 Thực trạng bồi dưỡng công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy
ban nhân dân tỉnh Bình Dương
Chương 3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bồi dưỡng công chức
các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương trong thời gian tới
Trang 1611
Chương 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƯỠNG CÔNG CHỨC CÁC CƠ QUAN CHUYÊN
MÔN THUỘC UỶ BAN NHÂN DÂN CẤP TỈNH 1.1 Khái quát về công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
1.1.1 Khái niệm công chức
Không có một khái niệm chung hay tên gọi chung về công chức cho các quốc gia trên thế giới, tùy theo cách thức quan niệm của mỗi quốc gia mà phạm vi công chức có thể rộng, hẹp ở mỗi quốc gia Quan niệm về công chức mang tính lịch sử và
xã hội nhiều hơn là mang tính khoa học Do đó, khi nghiên cứu công chức của một quốc gia nào thì ta phải đặt trong bối cảnh lịch sử và xã hội của quốc gia đó để hiểu rõ hơn Các nước trên thế giới có quan niệm về công chức khác nhau nhưng đa phần đều
có điểm chung là công chức chỉ có trong bộ máy nhà nước Riêng ở Việt Nam, công chức còn có trong các tổ chức chính trị - xã hội và khái niệm về công chức đã nhiều lần thay đổi qua các thời kỳ lịch sử Hiện nay, công chức được xác định theo khoản 2
và 3, điều 4 của Luật cán bộ, công chức năm 2008 như sau:
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức
vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản
lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Ở cấp xã, công chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương
từ ngân sách nhà nước
Trang 1712
Như vậy, theo quy định trên, căn cứ để xác định một người là công chức, thì người đó phải đảm bảo các tiêu chí sau:
- Là công dân Việt Nam;
- Được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh;
- Trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước hoặc được đảm bảo từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật;
- Làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân, Công an nhân dân; trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, trong Ủy ban nhân dân cấp xã
Ngoài ra, những trường hợp đã đủ căn cứ xác định là công chức theo các tiêu chí trên mà kiêm nhiệm một số chức danh, chức vụ được bầu cử (không chuyên trách) theo quy định của pháp luật hoặc theo điều lệ của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội thì được xác định là công chức và những người đang làm viêc chuyên trách công tác Đảng, công đoàn, đoàn thanh niên tại các cơ quan nhà nước, ở trong biên chế công chức, hưởng lương từ ngân sách nhà nước, được bổ nhiệm vào một ngạch thì cũng được xác định là công chức [10]
Những người đang làm việc ở các vị trí được pháp luật quy định là công chức trong đơn vị sự nghiệp công lập mà chưa được tuyển dụng (đang thực hiện chế độ hợp đồng lao động) và những người là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong quân đội nhân dân Việt Nam và sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong Công an nhân dân Việt Nam không phải là công chức [10]
1.1.2 Các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003 bị thay thế bởi Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 Hiện Chính phủ chưa ban hành Nghị định quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo Luật Tổ chức chính quyền địa phương nên trong luận văn này, về vị trí, chức năng của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ trình bày theo Luật Tổ
Trang 1813
chức chính quyền địa phương, còn việc tổ chức bộ máy của các cơ quan này sẽ trình bày theo Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04/4/2014 của Chính phủ Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Nghị định 24, Nghị định này hướng dẫn thực hiện Luật
Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003)
1.1.2.1 Tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Điều 8 và 9, Nghị định số 24 của Chính phủ quy định cơ quan chuyên môn
thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gồm có các sở và cơ quan tương đương sở, bao gồm:
- Các sở được tổ chức thống nhất ở các địa phương: Sở Nội vụ, Sở Tư pháp, Sở
Kế hoạch và đầu tư, Sở Tài chính, Sở Công thương, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Sở Giao thông vận tải, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Thông tin và truyền thông, Sở Lao động – Thương binh và xã hội, Sở Văn hóa, thể thao và du lịch, Sở Khoa học và công nghệ, Sở Giáo dục và đào tạo, Sở Y tế, Thanh tra tỉnh, Văn phòng Ủy ban nhân dân
- Các sở đặc thù được tổ chức ở một số địa phương:
+ Sở Ngoại vụ được thành lập khi đáp ứng các tiêu chí sau:
Có đường biên giới trên bộ và có cửa khẩu quốc tế hoặc quốc gia;
Đối với những tỉnh không có đường biên giới, nhưng phải có đủ các điều kiện sau:
Có các Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao, Khu kinh tế
mở, Khu kinh tế cửa khẩu được Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập;
Có khu du lịch quốc gia hoặc di sản văn hóa được UNESCO công nhận Những tỉnh không đủ tiêu chí thành lập Sở Ngoại vụ thì được thành lập Phòng Ngoại vụ thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Phòng Ngoại vụ chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh bảo đảm
cơ sở vật chất và hành chính quản trị cho hoạt động của Phòng Ngoại vụ
+ Ban dân tộc được thành lập ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khi
đảm bảo có 2 trong 3 tiêu chí sau:
Trang 19số nước ta và nước láng giềng thường xuyên qua lại
Ðối với những tỉnh có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống nhưng chưa đáp ứng các tiêu chí như trên thì thành lập Phòng Dân tộc (hoặc bố trí công chức) làm công tác dân tộc thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Phòng Dân tộc (hoặc công chức) làm công tác dân tộc chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đảm bảo cơ sở vật chất và hành chính quản trị cho hoạt động của Phòng Dân tộc
+ Sở Quy hoạch - Kiến trúc: được thành lập ở thành phố Hà Nội và thành phố
Hồ Chí Minh
+ Cơ quan chuyên môn đặc thù khác: chỉ được tổ chức khi thật cần thiết, phù
hợp với đặc điểm, tình hình phát triển kinh tế - xã hội và đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước ở địa phương Căn cứ tiêu chí do Thủ tướng Chính phủ quy định, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xây dựng đề án thành lập cơ quan chuyên môn đặc thù khác, trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định Bộ Nội vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ quy định lĩnh vực đặc thù, tiêu chí thành lập cơ quan chuyên môn về một số lĩnh vực đặc thù khác
Các cơ quan: Ban Quản lý các Khu công nghiệp, Khu công nghệ cao, Khu kinh
tế và Ban Quản lý có tên gọi khác thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh, Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh; các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và các tổ chức thuộc cơ quan Trung ương được tổ chức theo ngành dọc đặt tại địa phương không phải là cơ quan chuyên
môn của Ủy ban nhân dân tỉnh
Trang 20- Đơn vị sự nghiệp công lập
Không nhất thiết các sở đều có các tổ chức Thanh tra, Chi cục, Đơn vị sự nghiệp công lập Riêng Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh có Cổng Thông tin điện tử
Các sở có người đứng đầu và cấp phó của người đứng đầu (gọi chung là giám đốc sở và phó giám đốc sở)
Số lượng phó giám đốc sở không quá 03 người; riêng số lượng Phó Giám đốc các sở thuộc Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội và Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh không quá 04 người
1.1.2.3 Vị trí, chức năng của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh
Khoản 1 và 2, Điều 9, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định: “cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân được tổ chức ở cấp tỉnh là cơ quan tham mưu giúp Ủy ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện các nhiệm vụ quyền hạn theo sự phân cấp, ủy quyền của cơ quan nhà nước cấp trên Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của Ủy ban nhân dân, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra về nghiệp vụ của cơ quan quản lý nhà nước về ngành,
lĩnh vực cấp trên”
Như vậy, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh là cơ quan tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh quản lý Nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương, đồng thời thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên ủy quyền, phân cấp Do đó, vai trò của các cơ quan này rất quan trọng, điều đó cũng có nghĩa là
Trang 2116
công chức của các cơ quan này cũng có vai trò rất quan trọng, năng lực công chức tốt góp phần giúp cho việc tham mưu và thực hiện các chủ trương, quyết định được tốt hơn
1.1.3 Công chức và vai trò của công chức các cơ quan chuyên môn thuộc
Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh
Căn cứ khoản 2, Điều 20, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 quy định cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh và Nghị định số 06/2010/NĐ-
CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những người là công chức, Thông tư số 08/2011/TT-BNV ngày 02/6/2011 của Bội Nội vụ hướng dẫn thêm một số điều của Nghị định 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ, thì công chức các cơ quan
chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh bao gồm:
Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; người giữ chức vụ cấp trưởng, cấp phó và người làm việc trong các
tổ chức không phải là đơn vị sự nghiệp công lập thuộc cơ cấu tổ chức của cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh; người đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập được ngân sách nhà nước cấp kinh phí hoạt động thuộc cơ quan chuyên môn của Ủy ban nhân dân tỉnh
Theo quy định này công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh bao gồm:
Giám đốc sở, phó giám đốc sở, trưởng phòng, phó trưởng phòng, những người làm việc trong các phòng chuyên môn, nghiệp vụ của sở (đã được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách Nhà nước), người đứng đầu các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc sở
Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh có vai trò quan trọng nên công chức của các cơ quan này cũng có vai trò quan trọng Họ là những người vừa tham gia hoạch định vừa thực thi chính sách, quyết định của Nhà nước, là yếu tố quyết định sự thành bại của các chủ trương, chính sách, trình độ, năng lực, tinh thần trách nhiệm và thái độ phục vụ nhân dân của họ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả công tác, hoạt động của các cơ quan này Điều đó cũng có nghĩa các cơ quan chuyên môn hoạt
Trang 2217
động có hiệu quả tức là thực hiện tốt chức năng tham mưu sẽ giúp cho Ủy ban nhân dân tỉnh điều hành, quản lý tốt các hoạt động ở địa phương, qua đó góp phần vào sự phát triển chung của Tỉnh ngược lại các cơ quan này hoạt động không hiệu quả, sẽ kìm hãm, gây khó khăn cho sự phát triển của Tỉnh Do đó, công chức của các cơ quan này
có vai trò vô cùng quan trọng, hoạt động thực thi công vụ của họ có vai trò quan trọng, quyết định đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính Nhà nước ở địa phương
Tiêu chuẩn công chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh gồm có tiêu chuẩn chung và tiêu chuẩn cụ thể đối với từng nhóm công chức Tiêu chuẩn chung là điều kiện cần thiết, bắt buộc đầu tiên đối với tất cả công chức bao gồm
là công dân Việt Nam, từ 18 tuổi trở lên, đủ sức khỏe công tác, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, tin học, ngoại ngữ Bên cạnh các tiêu chuẩn chung còn có tiêu chuẩn
cụ thể, tiêu chuẩn này gắn với vị trí việc làm cụ thể mà công chức đảm nhận, chẳng hạn công chức chuyên môn sở xây dựng phải có đại học chuyên ngành xây dựng hoặc kiến trúc, công chức chuyên môn tư pháp phải có đại học chuyên ngành luật…Trên thực tế việc ban hành tiêu chuẩn cụ thể chưa làm được nhiều, chỉ một số bộ, ngành ban hành tiêu chuẩn như Bộ Giao thông Vận tải ban hành tiêu chuẩn của Giám đốc Sở Giao thông Vận tải tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hay Bộ Nội vụ ban hành tiêu chuẩn công chức ngạch hành chính…vẫn còn nhiều chức vụ hay công chức khác chưa
có tiêu chuẩn cụ thể
1.2 Bồi dưỡng công chức
1.2.1 Khái niệm bồi dưỡng công chức
Có nhiều khái niệm khác nhau như:
Theo quy định của Chính phủ thì bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc [13]
Theo Trần Anh Tuấn và Nguyễn Hữu Hải thì bồi dưỡng là quá trình cập nhật kiến thức và trang bị các kỹ năng cần thiết cho người lao động trong quá trình thực thi công vụ [37, tr.188]
Trang 2318
Theo Hoàng Mạnh Đoàn thì bồi dưỡng là cập nhật, bổ túc thêm một số kiến
thức, kỹ năng cần thiết, nâng cao hiểu biết sau khi đã được đào tạo cơ bản, cung cấp thêm những kiến thức chuyên ngành, mang tính ứng dụng [22];
Từ những khái niệm trên cho ta thấy các tác giả tiếp cận theo cách khác nhau nên có các khái niệm khác nhau về bồi dưỡng nhưng đều có nhận định chung là bồi dưỡng nhằm để bổ sung kiến thức, trang bị kỹ năng làm việc Do đó, trong luận văn này tác giả thống nhất đưa ra khái niệm bồi dưỡng như sau:
Bồi dưỡng công chức là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc cho công chức
Bồi dưỡng bao gồm: bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức; Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý và Bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng chuyên ngành
Nội dung bồi dưỡng gồm có Lý luận chính trị; Chuyên môn, nghiệp vụ; Kiến thức pháp luật; kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước và quản lý chuyên ngành; Tin học, ngoại ngữ, tiếng dân tộc (bồi dưỡng ở trong nước) và Kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng quản lý hành chính nhà nước và quản lý chuyên ngành; Kiến thức, kinh nghiệm hội nhập quốc tế (bồi dưỡng ở ngoài nước)
1.2.2 Vai trò của bồi dưỡng công chức
là một khâu của công tác cán bộ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và bồi dưỡng công chức nói riêng có vị trí, vai trò rất quan trọng, giúp xây dựng đội ngũ cán bộ có trình độ, năng lực, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế
1.2.2.1 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin về đào tạo, bồi dưỡng cán
bộ
Công tác cán bộ bao giờ cũng gắn liền với vị trí của đội ngũ cán bộ Cán bộ là một trong những nhân tố quan trọng, quyết định sự thành công hay thất bại của cách mạng Lênin đã chỉ rõ “Trong lịch sử chưa hề có một giai cấp nào giành được quyền
1 Cán bộ ở đây được hiểu một cách chung bao gồm cán bộ, công chức, viên chức; không phân biệt cán bộ và công chức theo luật cán bộ, công chức
Trang 2419
thống trị, nếu nó không đào tạo ra được trong hàng ngũ của mình những lãnh tụ chính trị, những đại biểu tiên phong có đủ khả năng tổ chức và lãnh đạo phong trào” [29, tr.473] Theo Lênin, muốn lật đổ chế độ Nga hoàng và giành chính quyền phải có đội
bộ được huấn luyện và đào tạo như thế Khi có chính quyền lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Lênin yêu cầu bộ máy của Đảng và Nhà nước phải thông thạo công việc và có uy tín chuyên môn Người đã chỉ ra rằng “Muốn quản lý được thì cần phải am hiểu công việc” [28, tr.257], không thể quản lý được “Nếu không có được uy tín chuyên môn, không có kiến thức đầy đủ, không tinh thông khoa học quản lý” [28, tr.257] Phân tích tình hình nước Nga năm 1922 – 1923, Lênin nói:
Sức mạnh của chúng ta ở đâu và chúng ta thiếu cái gì? Chính quyền chúng ta có đầy đủ, lực lượng kinh tế cơ bản chúng ta nắm trong tay Tất cả những xí nghiệp lớn
có tính chất quyết định, những đường sắt… đều nằm trong tay chúng ta Như vậy thì thiếu cái gì? Rõ ràng cái còn thiếu chính là trình độ văn hóa của những người cộng sản Do đó, việc xây dựng xã hội cộng sản chủ nghĩa, chỉ có thể được thực hiện trên cơ
sở một nền học vấn hiện đại, nếu không có nền học vấn đó thì chủ nghĩa cộng sản vẫn chỉ là một nguyện vọng mà thôi [30, tr.365]
Từ sự phân tích trên, Lênin tiến hành đánh giá, sắp xếp lại cán bộ; đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo yêu cầu và đòi hỏi của nhiệm vụ mới Người đặt ra nhiệm vụ cho cho những người cộng sản là phải làm phong phú đầu óc của mình bằng tất cả kiến thức của nhân loại Người kêu gọi: “Học, học nữa và học mãi” Qua thực tiễn, Người khẳng định: “Nghiên cứu con người, tìm ra cán bộ có bản lĩnh, hiện nay đó là then
Trang 251.2.2.2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Điều lệ Đảng cộng sản Việt Nam khẳng định “Đảng lấy Chủ nghĩa Mác – Lênin
và Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động” Trên thực tế, từ lâu Đảng ta đã coi Tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và toàn xã hội Song phải từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng, vị trí của Tư tưởng Hồ Chí Minh mới được khẳng định chính thức trong văn kiện của Đảng Công tác cán bộ và cán bộ là một trong những nội dung quan trọng trong Tư tưởng Hồ Chí Minh Vấn đề này được đề cập trong rất nhiều tác phẩm, bài nói, bài viết của Người Đó là một chỉnh thể thống nhất gồm ba nội dung
lớn, gắn bó chặt chẽ với nhau:
+ Tư tưởng về đào tạo, bồi dưỡng các thế hệ cán bộ cho cách mạng
+ Về nội dung, yêu cầu của công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cách mạng + Về vấn đề sử dụng đội ngũ cán bộ
Theo quan điểm của Hồ Chí Minh thì cách mạng không phải là sự nghiệp của một người hay một nhóm người mà là sự nghiệp của quần chúng Quần chúng nhân dân nếu được giác ngộ cách mạng thì sẽ làm nên sự nghiệp vĩ đại Để giác ngộ quần chúng cần phải có một đội ngũ cán bộ cách mạng được đào tạo, được rèn luyện Người khẳng định: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc, công việc thành công hay thất bại đều do cán bộ tốt hay kém” [25, tr.40] Trong ngôn ngữ Hồ Chí Minh, khi đề cập đến
nội dung đào tạo cán bộ, chúng ta thường gặp các thuật ngữ “tài, đức; hồng, chuyên;
có tài, có đức”; đó chính là sự thống nhất giữa đạo đức và năng lực của người cán bộ
mà biểu hiện của nó là động cơ và hiệu quả Tài năng của người cán bộ phải được thể hiện trong hoạt động giúp ích cho xã hội, không có tài năng thì mọi nguyện vọng tốt đẹp sẽ không bao giờ trở thành hiện thực Muốn có tài, có đức theo Hồ Chí Minh thì
Trang 2621
phải học tập và tu dưỡng Người cho rằng nội dung chủ yếu trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng cán bộ bao gồm:
Huấn luyện nghề nghiệp: … làm việc gì học việc ấy
Huấn luyện chính trị: … thời sự và chính sách
Huấn luyện văn hóa
Huấn luyện lý luận
Trong nội dung đào tạo, Hồ Chí Minh đặt rất cao vị trí của việc học tập Chủ nghĩa Mác – Lênin; theo Người, cái cốt lõi nhất trong nội dung đào tạo cán bộ là: “Học
để củng cố đạo đức cách mạng, nâng cao sự hiểu biết và trình độ chính trị mới làm tốt được công tác Đảng giao phó cho mình”; nói chuyện tại Trường Nguyễn Ái Quốc tháng 9/1949, Người nói: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ” Đề cập đến vấn
đề sử dụng cán bộ, Hồ Chí Minh nhấn mạnh dùng cán bộ phải xuất phát từ lợi ích của cách mạng, lợi ích của Đảng, của Nhà nước; Người căn dặn chúng ta khi sử dụng cán
bộ phải: “ Hiểu cán bộ Khéo dùng cán bộ Cất nhắc cán bộ Thương yêu cán bộ Phê bình cán bộ” [26, tr.277] Người nhấn mạnh một chính sách tốt đẹp nhưng nếu nó không được thực hiện nghiêm túc thì cũng chẳng có ý nghĩa gì; Người đòi hỏi những người làm công tác cán bộ phải thật khách quan, công minh, không thiên vị, Người chỉ rõ:
Bất kỳ ai có khả năng, đủ tiêu chuẩn, cần cho nhu cầu của cách mạng là phải dùng Những cán bộ được lựa chọn để sử dụng phải đạt những tiêu chuẩn sau đây: Trung thành và hăng hái trong công việc; liên hệ mật thiết với quần chúng, vì lợi ích của dân chúng; có thể phụ trách giải quyết công việc trong những hoàn cảnh gặp khó khăn; luôn giữ đúng kỷ luật Đảng ta là đảng của giai cấp, đồng thời là của cả dân tộc, không thiên tư, thiên vị Đảng không lo riêng cho một đồng chí nào hết Đảng lo việc
Trang 27Hồ Chí Minh cũng như trong công tác, sinh hoạt thường ngày
Tư tưởng Hồ Chí Minh rất đề cao công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, Người cho rằng đó là một việc làm rất quan trọng và rất cần thiết để tạo ra được đội ngũ cán
bộ có khả năng giác ngộ quần chúng
1.2.2.3 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức
Đảng ta nhận thức sâu sắc rằng, mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ cách mạng cần có một đội ngũ cán bộ thích ứng, có phẩm chất, năng lực, đáp ứng được sự đòi hỏi của nhiệm vụ trong từng giai đoạn, từng thời kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng, đại hội đầu tiên sau ngày thống nhất đất nước đã chỉ rõ: “Xây dựng và chỉ đạo thực hiện tốt quy hoạch cán bộ là một biện pháp đặc biệt trọng yếu có tính quyết định
để tăng cường công tác cán bộ về mọi mặt” [15, tr.169] và “Chất lượng người cán bộ
là sự thống nhất giữa phẩm chất chính trị và năng lực công tác, thể hiện ở kết quả hoàn thành nhiệm vụ Không thể tách rời và đối lập yêu cầu về phẩm chất chính trị với yêu cầu về năng lực công tác, vì thiếu một mặt nào cũng là không đủ tiêu chuẩn người cán
bộ của Đảng và Nhà nước” [15, tr.196] Trên cơ sở tư tưởng chỉ đạo này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Muốn có đủ cán bộ có chất lượng
để chủ động đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ thì vấn đề cơ bản là phải có quy hoạch cán bộ, trên cơ sở đó có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ theo yêu cầu trước mắt và lâu dài Coi đây là khâu trung tâm của toàn bộ công tác cán bộ” [16, tr.114] Từ Đại hội đại biểu lần thứ VI, Đảng đã đề ra chủ trương đổi mới tư duy, đổi mới cán bộ, đổi mới phong cách công tác Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành Trung ương khóa VII chỉ rõ, trong công cuộc đổi mới đất nước cán bộ có vai trò cực kỳ quan trọng, hoặc thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình đổi mới Trong xây dựng Đảng, cán bộ và công tác cán bộ là khâu then chốt, là việc cấp bách cần phải làm ngay Hội nghị lần thứ 3, Ban
Trang 2823
chấp hành Trung ương khóa VIII khẳng định: “Phải lấy hiệu quả thực hiện nhiệm vụ chính trị làm thước đo phẩm chất và năng lực, lấy nhu cầu nhiệm vụ làm căn cứ để bố trí cán bộ” [18, tr.77]
Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ độ chính xác của đường lối, chính sách đều tùy thuộc cuối cùng ở chất lượng cán bộ Chính vì thế, Đảng ta luôn chú trọng đến công tác cán bộ, xem đây là khâu then chốt trong toàn bộ hoạt động của Đảng, là nguyên nhân của những nguyên nhân Khi khởi xướng và lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đồng thời đặt ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp mới cho công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác cán bộ nói riêng Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng nhấn mạnh: Tình hình và nhiệm vụ mới đòi hỏi toàn Đảng phải chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ chủ chốt các cấp, chuẩn bị tốt đội ngũ cán bộ kế cận; sớm xây dựng cho được một chiến lược cán bộ của thời kỳ mới Tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986 – 2006) Đảng đề ra nhiệm vụ
“Chấn chỉnh tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, làm cho Đảng có đủ bản lĩnh chính trị,
có kiến thức, năng lực và sức chiến đấu cao trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, môi trường quốc tế rất phức tạp, có nhiều nguy cơ và thách thức mới” [2, tr.167] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định:
Mục tiêu chung là xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, lối sống lành mạnh, không quan liêu, tham nhũng, lãng phí, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; có tư duy đổi mới, sáng tạo, có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hoá; có tinh thần đoàn kết, hợp tác, ý thức tổ chức, kỷ luật cao và phong cách làm việc khoa học, tôn trọng tập thể, gắn bó với nhân dân, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm Đội ngũ cán bộ phải đồng bộ, có tính kế thừa và phát triển, có số lượng
Trang 29Có thể khẳng định, quan điểm của Đảng về cán bộ và công tác cán bộ là nhất
quán, xuyên suốt và ngày càng hoàn thiện hơn để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc trong mọi tình huống, mọi giai đoạn của cách mạng Các quan điểm đó của Đảng đã được cụ thể hóa thành Luật cán bộ, công chức và được Quốc hội khóa XII thông qua ngày 13/11/2008 tại kỳ họp thứ 4; Chủ tịch nước công bố ngày 28/11/2008 Mỗi tổ chức đảng, mỗi tổ chức thành viên trong hệ thống chính trị và mỗi cán bộ, đảng viên nếu không nắm vững quan điểm chỉ đạo này thì không thể đảm đương và hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân giao phó Vì vậy, đổi mới công tác cán bộ và đội ngũ cán bộ, kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan trong toàn hệ thống chính trị đang là yêu cầu bức bách, là mắt xích quan trọng nhất mà Đảng yêu cầu các cấp ủy Đảng phải nắm chắc, thực hiện có hiệu quả trong thời gian sớm nhất để thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện đất nước tiến lên Đổi mới cán bộ phải bắt đầu từ đổi mới tư duy về công tác cán bộ xem đây là vấn cốt lõi; là chìa khóa cho phép sử dụng một cách
có hiệu quả nhất các tiềm năng, khả năng to lớn về kinh tế - xã hội và chỉ có làm tốt công tác này thì phẩm chất và năng lực của cán bộ mới trở thành lực lượng vật chất Ý thức được trách nhiệm, vị trí của một Đảng cầm quyền đối với sự tồn vong của chế độ, của dân tộc; ngay từ khi mới thành lập, Đảng ta đã xác định và kiên trì thực hiện chủ trương xây dựng tổ chức Đảng luôn trong sạch vững mạnh; đây là một chủ trương đúng đắn, có tính chiến lược Do đó, việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nói chung
và bồi dưỡng công chức nói riêng trong tình hình hiện nay lại càng quan trọng và là bức thiết trong việc thực hiện chủ trương của Đảng, vì đội ngũ này là những người trực tiếp tham mưu, tham gia hoạch định các chính sách cũng như thực hiện các quyết định, chủ trương của Đảng và Nhà nước Vai trò của đội ngũ này rất quan trọng, đòi
Trang 3025
hỏi năng lực của họ phải không ngừng được nâng cao, phải được thường xuyên quan tâm bồi dưỡng, rèn luyện; nếu không như thế năng lực của họ sẽ kém dần đi dẫn đến việc ban hành các chính sách xa rời thực tế, không được lòng dân, không thể đi vào đời sống … Điều này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước, đến sự tồn vong của đất nước Đảng ta khẳng định “nâng cao chất lượng công tác đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng cán bộ, công chức theo quy hoạch, theo tiêu chuẩn chức danh cán bộ, coi đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ trong giai đoạn mới” [20, tr.249-250] Như vậy, để nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức ngang tầm với giai đoạn mới phải coi việc đào tạo, bồi dưỡng công chức là một nhiệm vụ quan trọng, giải pháp hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ Đào tạo, bồi dưỡng góp phần nâng cao năng lực cho công chức thông qua việc trang bị kiến thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện tốt nhiệm vụ của mình Đào tạo, bồi dưỡng công chức còn góp phần xây dựng đội ngũ công chức chuyên nghiệp có đủ kỹ năng xây dựng nền hành chính tiên tiến, hiện đại Đây là giải pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiện lược cán bộ trong giai đoạn mới
Tóm lại, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nói chung và bồi dưỡng công chức nói riêng có vai trò rất quan trọng và rất cần thiết, là giải pháp quan trọng hàng đầu trong thực hiện chiến lược cán bộ trong giai đoạn mới, nhằm tạo ra được đội ngũ cán
bộ chuyên nghiệp có khả năng giác ngộ quần chúng, có bản lĩnh để xây dựng được chủ nghĩa xã hội
1.2.3 Quản lý nhà nước về bồi dưỡng công chức
Điều 48, Luật cán bộ công chức năm 2008 quy định trách nhiệm của cơ quan, đơn vị trong đào tạo, bồi dưỡng công chức, theo đó:
Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý công chức có trách nhiệm xây dựng và công
khai quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để tạo nguồn và nâng cao năng lực, trình
độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức
Cơ quan, tổ chức, đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm tạo điều kiện để
công chức tham gia đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của công chức
Trang 3126
Kinh phí đào tạo, bồi dưỡng công chức do ngân sách nhà nước cấp và các
nguồn thu khác theo quy định của pháp luật
Bên cạnh đó, tại điều 25 đến điều 29 Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức thì cơ quan quản lý nhà nước về bồi dưỡng bao gồm Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và đơn vị sử dụng công chức, theo đó:
Bộ Nội vụ có nhiệm vụ và quyền hạn: Xây dựng, trình cấp có thẩm quyền ban
hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các văn bản quy phạm pháp luật, chế độ, chính sách về đào tạo, bồi dưỡng công chức; Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng công chức trình cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc ban hành theo thẩm quyền; tổ chức, hướng dẫn thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng sau khi được ban hành; theo dõi, tổng hợp kết quả đào tạo, bồi dưỡng công chức của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Xây dựng kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng công chức
ở ngoài nước theo thẩm quyền; Tổng hợp nhu cầu, đề xuất kinh phí đào tạo, bồi dưỡng hàng năm, trung hạn, dài hạn; hướng dẫn các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện sau khi được Chính phủ phê duyệt; Quản lý chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức, chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý; Quy định tiêu chuẩn cơ sở đào tạo, bồi dưỡng; Thanh tra, kiểm tra hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức; Tổ chức các hoạt động thi đua, khen thưởng trong đào tạo, bồi dưỡng công chức; Hướng dẫn việc tổ chức bồi dưỡng công chức ở ngoài nước bằng nguồn ngân sách nhà nước
Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có nhiệm vụ và quyền hạn:
Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức thuộc phạm vi quản lý; Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định; báo cáo kết quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức hàng năm để Bộ Nội vụ theo dõi, tổng hợp; Cử công chức đi đào tạo, bồi dưỡng theo thẩm quyền; Tổ chức các khoá bồi dưỡng công chức ở ngoài nước; Tổ chức quản lý và biên soạn các chương
Trang 3227
trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng công chức thuộc phạm vi trách nhiệm được giao; Quản lý cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên trong phạm vi thẩm quyền; Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi thẩm quyền
Bộ Tài chính có nhiệm vụ và quyền hạn: Cân đối, bố trí kinh phí đào tạo, bồi
dưỡng hàng năm, trung hạn, dài hạn, trong nước và ở ngoài nước trình cấp có thẩm quyền phê duyệt; Hướng dẫn, kiểm tra việc quản lý, sử dụng kinh phí đào tạo, bồi dưỡng
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có nhiệm vụ và quyền hạn: Xây dựng, ban hành chế độ khuyến khích công chức không ngừng học tập nâng
cao trình độ, năng lực công tác; bố trí kinh phí bảo đảm hoạt động đào tạo, bồi dưỡng; Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng thuộc phạm vi quản lý; Tổ chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định; báo cáo kết quả hoạt động đào tạo, bồi dưỡng công chức hàng năm để Bộ Nội vụ theo dõi, tổng hợp; Tổ chức quản lý và biên soạn chương trình, tài liệu đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi trách nhiệm được giao; Quản lý cơ sở đào tạo, bồi dưỡng và đội ngũ giảng viên trong phạm vi thẩm quyền; Thanh tra, kiểm tra việc thực hiện chế độ, chính sách đào tạo, bồi dưỡng trong phạm vi thẩm quyền
Đơn vị sử dụng công chức có trách nhiệm: Thực hiện chế độ hướng dẫn tập sự;
Đề xuất việc biên soạn và lựa chọn chương trình đào tạo, bồi dưỡng phù hợp với vị trí việc làm của công chức; Tạo điều kiện để công chức thực hiện chế độ đào tạo, bồi dưỡng theo quy định
25/01/2011 hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức ở nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước, theo đó Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước trên cơ sở:
Xây dựng và phê duyệt kế hoạch bồi dưỡng công chức ở nước ngoài; Xây dựng nội dung, chương trình chi tiết của khóa bồi dưỡng khi kế hoạch được phê duyệt; Xây
Trang 3328
dựng và ký hợp đồng với các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nước ngoài Hợp đồng bồi dưỡng phải nêu rõ những cam kết của hai bên về hình thức, thời gian, nội dung, chương trình, kinh phí, điều kiện sinh hoạt, học tập và những nội dung khác liên quan; Quyết định thành lập đoàn và cử trưởng đoàn đi bồi dưỡng ở nước ngoài Thẩm quyền quyết định cử công chức đi bồi dưỡng ở nước ngoài thực hiện theo quy định tại Điều
32 Nghị định số 136/2007/NĐ-CP
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến bồi dưỡng công chức
1.2.4.1 Về tiêu chuẩn cán bộ thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Từ Đại hội đại biểu lần thứ VI, Đảng đã đề ra chủ trương đổi mới tư duy, đổi mới cán bộ, đổi mới phong cách công tác Kinh nghiệm thực tiễn đã chỉ rõ độ chính xác của đường lối, chính sách đều tùy thuộc cuối cùng ở chất lượng cán bộ Chính vì thế, Đảng ta luôn chú trọng đến công tác cán bộ, xem đây là khâu then chốt trong toàn
bộ hoạt động của Đảng, là nguyên nhân của những nguyên nhân Khi khởi xướng và lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đồng thời đặt ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp mới cho công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác cán bộ nói riêng Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng nêu yêu cầu: “Quy định các chế độ đào tạo, tuyển dụng,
sử dụng công chức Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao vừa giác ngộ về chính trị, có tinh thần trách nhiệm, tận tụy, công tâm, vừa có đạo đức liêm khiết khi thi hành công vụ” [17, tr.132]
Toàn Đảng phải hết sức chăm lo xây dựng thật tốt đội ngũ cán bộ, chú trọng đội ngũ cán bộ kế cận vững vàng, đủ bản lĩnh về các mặt… Trên cơ sở bảo đảm tiêu chuẩn, thực hiện trẻ hóa đội ngũ cán bộ đồng thời kết hợp tốt các độ tuổi, bảo đảm tính liên tục, tính phát triển trong đội ngũ cán bộ Có chính sách đoàn kết, tập hợp rộng rãi các loại cán bộ, trọng dụng nhân tài của đất nước, trong Đảng và ngoài Đảng Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ toàn diện cả về lý luận chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản
lý, các nhà doanh nghiệp và các chuyên gia, trước hết là đội ngũ cán bộ chủ chốt trong
hệ thống chính trị; coi trọng cả đức và tài, đức là gốc Việc học tập của cán bộ phải được quy định thành chế độ và phải được thực hiện nghiêm ngặt Mọi cán bộ phải
Trang 3429
thường xuyên nâng cao trình độ mọi mặt, rèn luyện, trau dồi phẩm chất chính trị, lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, ý chí kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, ý thức tổ chức kỷ luật, gương mẫu trong đạo đức và lối sống, kết hợp hài hòa giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung, khi lợi ích cá nhân mâu thuẫn với lợi ích chung phải biết đặt lợi ích chung lên trên hết, trước hết [17, tr.145-146]
“Học tập là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành chế độ Lười học tập, lười suy nghĩ, không thường xuyên tiếp nhận những thông tin mới, những hiểu biết mới, cũng là biểu hiện của sự suy thoái” [17, tr.141] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng xác định “Xây dựng đội ngũ cán bộ đồng bộ, có cơ cấu hợp lý, chất lượng tốt, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo kế tiếp vững vàng Có cơ chế, chính sách bảo đảm phát hiện, đánh giá, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng và đãi ngộ xứng đáng người có đức, có tài, dù là đảng viên hay người ngoài Đảng ” [19, tr.51] Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng một lần nữa nhấn mạnh: “Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ năng lực và phẩm chất, ngang tầm nhiệm vụ Có cơ chế, chính sách phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài” [21, tr.207]
Hướng dẫn số 15-HD/BTCTW ngày 05/11/2012 của Ban Tổ chức Trung ương
về công tác quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý theo tinh thần Nghị quyết số NQ/TW ngày 30/11/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) và Kết luận số 24-KL/TW ngày 05/6/2012 của Bộ Chính trị (khóa XI) nêu rõ “Căn cứ để lựa chọn, giới thiệu cán bộ vào quy hoạch là tiêu chuẩn chức danh cán bộ, bao gồm tiêu chuẩn chung của cán bộ nêu trong Nghị quyết Trung ương 3 (khóa VIII) và tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danh cán bộ theo các nội dung cơ bản sau:
42 Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống: nhận thức, tư tưởng chính trị; việc
chấp hành chủ trương, đường lối, quy chế, quy định của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; việc giữ gìn đạo đức, lối sống, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí
và các biểu hiện tiêu cực khác; tinh thần tự học tập nâng cao trình độ; tính trung thực, công bằng, khách quan, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trong công tác; việc chấp hành chính sách, pháp luật của vợ, chồng, con; mối quan hệ với nhân dân
Trang 3530
- Năng lực thực tiễn: thể hiện ở kết quả, hiệu quả công tác; mức độ hoàn thành
chức trách, nhiệm vụ được giao; khả năng đoàn kết, tập hợp, quy tụ cán bộ; năng lực điều hành, tổ chức thực hiện; khả năng dự báo tình hình, xử lý những tình huống phức tạp phát sinh trong ngành, lĩnh vực, địa phương công tác
- Uy tín: thể hiện thông qua việc lấy phiếu tín nhiệm hàng năm và kết quả đáng
giá cán bộ
- Sức khỏe: bảo đảm sức khỏe để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ của chức
danh quy hoạch
- Chiều hướng, triển vọng phát triển: khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ khi
được bố trí vào chức vụ cao hơn
Riêng đối với cán bộ, công chức đang đảm nhiệm hoặc được quy hoạch để đảm nhiệm các chức danh chủ chốt có cơ cấu cấp ủy được Bộ Chính trị quy định rõ trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30/5/2014 về Đại hội Đảng các cấp tiến tới đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng là phải đảm bảo tiêu chuẩn chung của cán bộ theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII) về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời nhấn mạnh các tiêu chuẩn sau:
- Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, có tinh thần yêu nước sâu sắc, tận tụy phục vụ nhân dân, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; phấn đấu thực hiện có kết quả đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước
- Cần, kiệm, liêm chính, chí công, vô tư Không tham nhũng và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng Có ý thức tổ chức kỷ luật Trung thực, không cơ hội; gắn bó mật thiết với nhân dân, được nhân dân tín nhiệm
- Có trình độ hiểu biết về lý luận chính trị, quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; có trình độ học vấn, chuyên môn, đủ năng lực
và sức khỏe để làm việc có hiệu quả, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao
- Trong đó nhấn mạnh tiêu chuẩn về lập trường tư tưởng chính trị; năng lực thực tiễn thể hiện bằng hiệu quả công việc; uy tín trong Đảng, trong nhân dân; tư duy đổi mới, sáng tạo, khả năng tiếp cận, nắm bắt, xử lý có hiệu quả những vấn đề mới
Trang 3631
phát sinh; đoàn kết, quy tụ đội ngũ cán bộ; phong cách công tác khoa học, dân chủ, sâu sát, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; minh bạch, công tâm, khách quan trong công tác cán bộ; khả năng phát hiện và sử dụng người có đức, có tài; không tham ô, tham nhũng; có thái độ kiên quyết đấu tranh với các biểu hiện tham ô, tham nhũng, tiêu cực và phản bác các luận điệu xuyên tạc, phản động, trái với Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Có thái độ nghiêm túc khắc phục, sửa chữa kịp thời những tồn tại, yếu kém và khuyết điểm sau kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI Lãnh đạo chủ chốt của cấp
ủy phải thực sự tiêu biểu về trí tuệ, đạo đức, uy tín, năng lực thực tiễn và sự cống hiến, được cán bộ, đảng viên và nhân dân tín nhiệm; nói chung phải kinh qua lãnh đạo chủ chốt của cấp ủy cấp dưới Trung ương cũng chỉ đạo dứt khoát: Không cơ cấu vào cấp
ủy những đồng chí không gương mẫu thực hiện các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước hoặc vi phạm những điều đảng viên, cán bộ, công chức không được làm
Bình Dương đã chấp hành nghiêm túc và triển khai thực hiện đúng thời gian, đúng nội dung các quy định của Trung ương về cán bộ và tiêu chuẩn cán bộ, không
viện lý do “đặc thù hay yêu cầu của địa phương” tự đặt thêm hoặc bỏ bớt bất kỳ tiêu
chí nào Trên cơ sở các tiêu chuẩn Trung ương quy định cho từng nhóm đối tượng cán
bộ (cán bộ công tác đảng – đoàn thể, cán bộ quản lý Nhà nước, cán bộ trong doanh nghiệp…), Bình Dương đã và đang tiếp tục điều chỉnh quy hoạch; rà soát, đối chiếu lại
để xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ cơ bản đạt chuẩn, từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của địa phương
1.2.4.2 Về chiến lược phát triển kinh tế - xã hội
Để thực hiện thắng lợi Nghị quyết đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII và Nghị quyết đại hội đại biểu lần thứ X của Tỉnh đảng bộ, Bình Dương đã và đang ra sức nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng về mọi mặt, đặc biệt là đổi mới đội ngũ cán bộ; sắp xếp, cơ cấu lại để kiện toàn tổ chức bộ máy của các cơ quan trong
hệ thống chính trị của tỉnh
Mục tiêu tổng quát đến năm 2020 là:
Trang 3732
Tập trung nâng cao chất lượng tăng trưởng, tăng quy mô nền kinh tế, đảm bảo phát triển bền vững và tăng trưởng hợp lý Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ưu tiên phát triển dịch vụ - công nghiệp gắn với quá trình đô thị hóa, đầu tư phát triển nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao Giải quyết tốt các vấn đề xã hội; nâng cao đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần của người dân Đảm bảo an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Xây dựng Bình Dương trở thành đô thị văn minh, giàu đẹp, thành phố trực thuộc Trung ương trước năm 2020” [14, tr.90-91]
Trên cơ sở mục tiêu tổng quát đã nêu trên, Bình Dương tiếp tục thực hiện một
số chương trình đột phá là:
- Tập trung phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao có hàm lượng tri thức, công nghệ và giá trị gia tăng cao gắn với phát triển công nghiệp, đô thị theo hướng văn minh, hiện đại
- Huy động các nguồn lực từ các thành phần kinh tế, tiếp tục đầu tư phát triển đồng bộ, hiện đại kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội của tỉnh nhất là các công trình mang tính động lực Gắn kết và khai thác tối đa lợi thế từ hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam
- Tập trung đầu tư xây dựng khu đô thị mới gắn với nâng cấp, chỉnh trang Thành phố Thủ Dầu Một và các đô thị vệ tinh Thuận An, Bến Cát, Tân Uyên theo hướng văn minh, sạch, đẹp và nâng cao chất lượng sống của nhân dân
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, cán bộ khoa học kỹ thuật và đội ngũ công nhân lao động, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong giai đoạn mới
Phấn đấu đến năm 2020 đạt các chỉ tiêu cơ bản sau [14, tr.207-210]:
Về kinh tế: Tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) tăng bình quân 8,3%/năm (tương
ứng GDP là 13,3%) Cơ cấu kinh tế (GRDP): công nghiệp – dịch vụ - nông nghiệp – thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm tương ứng đạt 63,2% - 26% - 3% - 7,8% Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng bình quân 8,7%/năm GRDP bình quân đầu người đạt 142,6 triệu đồng vào năm 2020 Thu ngân sách tăng 8,9%/năm (Dự kiến đến năm 2020 thu ngân sách đạt 52.000 tỷ đồng và chi ngân sách đạt 19.000 tỷ đồng) Tăng giá trị
Trang 3833
tuyệt đối xuất khẩu vào năm 2020 lên 42 tỷ USD, duy trì xuất siêu 9, 68 tỷ USD; bình quân 1% tăng trưởng xuất khẩu đạt 281 triệu USD cao hơn bình quân 1% tăng trưởng nhập khẩu là 217 triệu USD.Tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 35% GRDP Tỷ lệ đô thị hóa đạt 82% Thu hút đầu tư nước ngoài đạt trên 7 tỷ USD
Về xã hội: Tỷ lệ trường chuẩn quốc gia đạt 70 – 75% Tỷ lệ bác sĩ/ vạn dân đạt
7,5 vào cuối năm 2020 Số gường bệnh/vạn dân đạt 27 giường (không tính tuyến xã) Hàng năm giải quyết việc làm cho 45.000 lao động, tỷ lệ lao động qua đào tạo là 80.000 người Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí mới giảm hàng năm, đến năm 2020 cơ bản xóa hộ nghèo Diện tích nhà ở bình quân đạt 30m2/người, tỷ lệ hộ dân sử dụng điện lưới quốc gia đạt 99,97% 100% xã đạt tiêu chí nông thôn mới
Về môi trường: 100% chất thải rắn y tế được thu gom và xử lý; 100% dân số
nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh và 100% dân số thành thị sử dụng nước sạch; tỷ
lệ độ che phủ rừng, cây lâm nghiệp, cây công nghiệp lâu năm đạt 57,5%
Về công tác xây dựng Đảng: Tăng cường xây dựng cơ sở đảng trong sạch, vững
mạnh; 85% đảng viên trở lên hoàn thành tốt nhiệm vụ
Với những mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội nêu trên, Bình Dương cần có một đội ngũ cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng một cách bài bản, toàn diện để đủ sức tham mưu và lãnh đạo nhân dân hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu do Trung ương giao cũng như các chỉ tiêu mà Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh lần thứ X đề ra
1.2.4.3 Yêu cầu cải cách hành chính
Ở Bình Dương cải cách hành chính nói chung, cải cách thủ tục hành chính nói riêng đã, đang và sẽ luôn luôn là yêu cầu bức thiết mang tính “sống còn” đối với hoạt động của tất cả các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị Tuy là tỉnh nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là địa phương được đánh giá rất tự chủ, năng động, sáng tạo trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao nhưng tổ chức bộ máy của các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh vẫn còn tình trạng cồng kềnh, chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ Tình trạng “thoát ly thực tế” do chỉ giải quyết công việc trong phòng làm việc; nghe thông tin một chiều và quá tin vào các báo cáo của cơ quan, tổ chức, cá nhân cấp dưới; bệnh thành tích tương đối nặng nề; không
Trang 3934
sát cơ sở và ít tiếp xúc với nhân dân, với doanh nghiệp… dẫn đến giải quyết một số vấn đề, vụ việc không đúng với chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; cá biệt có trường hợp chính cách làm, cách xử sự như trên của cán bộ, công chức là nguyên nhân chính gây ra việc khiếu nại, tố cáo vượt cấp, kéo dài nhiều năm liên tục, gây bất bình trong nhân dân và xã hội Cũng do cách giải quyết công việc không sát thực tế, làm cho công chức chậm hoặc không nhìn ra những yếu kém, hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; về tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân của mình nên không chủ động đề ra hướng khắc phục nhanh nhất, hiệu quả nhất Thấy rõ những yếu kém này, các cấp chính quyền trong tỉnh đã có nhiều cố gắng nhằm kiện toàn tổ chức bộ máy; chăm lo đào tạo, bồi dưỡng công chức để nâng cao năng lực, hiệu lực, hiệu quả quản lý điều hành, tập trung giải quyết các vấn đề bức xúc, có bước đột phá trong cải cách hành chính được nhân dân và các doanh nghiệp ủng hộ Trên cơ sở mục tiêu của Nghị quyết hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương (khóa X) về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước, tỉnh Bình Dương xác định mục tiêu chung trong giai đoạn 2016-2020
là:
Kiện toàn tổ chức bộ máy chính quyền các cấp; chú trọng phân công, phân cấp gắn với cải cách hành chính … Trong đó, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, vận hành có hiệu quả khu hành chính mở để giải quyết thủ tục hành chính cho người dân
và doanh nghiệp một cách thuận tiện, nhanh chóng, góp phần cải thiện môi trường đầu
tư, nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh” [14, tr.159]
Từ mục tiêu trên, tỉnh đã xây dựng trung tâm hành chính tập trung tại khu đô thị mới; kiện toàn tổ chức bộ máy và từng bước nâng cao chất lượng công chức làm việc tại bộ phận một cửa theo chủ trương cải cách hành chính của tỉnh Cử nhiều đoàn cán
bộ do các đồng chí lãnh đạo chủ chốt dẫn đầu tham quan, học tập, rút kinh nghiệm cách làm hay trong cải cách hành chính của các địa phương khác trong nước; đồng thời, thông qua làm việc với các đối tác nước ngoài đang đầu tư dự án và hợp tác về kinh tế – văn hóa – xã hội trên địa bàn để nghiên cứu, học tập, điều chỉnh các thủ tục hành chính phù hợp hơn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân
Trang 40ý kiến để nâng cao hơn chất lượng của công tác cải cách thủ tục hành chính; thẳng thắn góp ý cho từng công chức chưa thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình để
họ tự sửa chữa, khắc phục các hạn chế, khuyết điểm hoàn thành nhiệm vụ được giao
và được nhân dân tin tưởng hơn Thành công trong thu hút đầu tư, trong phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội – an ninh, quốc phòng của Bình Dương thời gian qua có sự đóng góp không nhỏ từ cải cách hành chính và thủ tục hành chính; tuy nhiên, lãnh đạo tỉnh khẳng định đó mới chỉ là những kết quả bước đầu chưa thật sự căn cơ và tính ổn định chưa cao, tỉnh cần có nhiều giải pháp quyết liệt hơn để cải cách hành chính và thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu hội nhập và phục vụ nhân dân, doanh nghiệp ngày càng hiệu quả hơn, chất lượng hơn
1.3 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức của một số quốc gia trên thế giới và bài học kinh nghiệm rút ra từ việc đào tạo, bồi dưỡng công chức ở các nước có thể vận dụng và thực hiện ở Bình Dương
1.3.1 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức của một số quốc gia trên thế giới
1.3.1.1 Kinh nghiệm đào tạo, bồi dưỡng công chức của Singapore
Singapore là một quốc gia nằm trong khu vực Châu Á, các nhà Lãnh đạo đã đưa Singapore từ vùng nước tù đọng của thế giới thứ ba lên hàng ngũ của thế giới thứ nhất
mà theo cựu Thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu “yếu tố quyết định duy nhất dẫn đến sự phát triển của Singapore là năng lực của các bộ trưởng và các công chức chất lượng cao hỗ trợ họ”
Như nhiều quốc gia khác, Singapore cũng cho rằng con người là chìa khóa của
sự thành công nên họ luôn coi trọng yếu tố con người, trọng dụng nhân tài Vậy để có được những bộ trưởng và công chức chất lượng cao, họ đã làm gì? Bên cạnh chính