Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
NGUYỄN VIỆT BẰNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
Trang 2Trong quá trình học và thực hiện luận văn tốt nghiệp, còn có sự giúp
đỡ, tạo điều kiện tốt nhất của Ban Giám đốc và đồng nghiệp Sở Lao động – Thương binh và X hội tỉnh Kiên Giang, của đồng nghiệp, cơ quan ban ngành
có liên quan Tôi xin chân thành cảm ơn và trân trọng sự quan tâm, giúp đỡ
đó
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
N uyễn V ệt Bằn
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Luận văn “Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang” được thực hiện từ tháng 10/2016 đến tháng 3/2017 Luận văn sử dụng
thông tin từ nhiều nguồn khác nhau Các thông tin này đ được chỉ rõ nguồn gốc, có một số thông tin thu thập từ thực tế của địa phương, một số tài liệu đ được phân tích, tổng hợp và xử lý với mục đích nghiên cứu khoa học trong phạm vi đề tài luận văn
Tôi xin cam đoan:
1 Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này hoàn toàn trung thực
và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng, đảm bảo
2 Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này hoàn toàn vì mục đích khoa học, cống hiến, không có mục đích vụ lợi hoặc làm sai lệch thông tin ảnh hưởng đến đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
3 Cam kết đ nghiêm túc nghiên cứu, minh bạch trong sử dụng thông tin, không làm ảnh hưởng đến uy tín của bất cứ nhà nghiên cứu nào có liên quan đến đề tài của luận văn
Trang 45 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 8
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ
1.1.5 Việc làm và người có việc làm 13
1.1.6 Thất nghiệp và người thất nghiệp 15 1.2 Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước và quản lý nhà nước về
Trang 51.6.1 Hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước về lao
1.6.2 Dân số - chất lượng nguồn lao động 26
1.6.3 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước 27
1.6.4 Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện
Quản lý nhà nước về lao động 30
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO
2.1 Vị trí địa lý, đặc điểm kinh tế - x hội của tỉnh Kiên Giang 33
2.3.1 Ban hành văn bản quy phạm pháp luật 39
2.3.2 Ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật của
2.3.3 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về lao động 42
2.3.4 Về đội ngũ cán bộ, công chức 43 2.4 Một số kết quả về quản lý lao động, giải quyết việc làm thời
CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG 59
Trang 63.1 Dự báo tình hình 59
3.2.1 Chủ trư ng, quan điểm của Trung ư ng 60
3.2.2 Chủ trư ng, quan điểm của tỉnh Kiên Giang 61 3.3 Đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động
3.3.1 Tiếp t c xây dựng và hoàn thiện văn bản quản lý nhà nước
3.3.2 Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật 63
3.3.3 Kiện toàn tổ chức, bộ máy quản lý nhà nước 64
3.3.4 Tăng cường phối hợp giữa c quan quản lý nhà nước về
lao động, việc làm với các c quan, tổ chức khác 70 3.3.5 Tăng cường sử d ng các nguồn lực khác có hiệu quả 70
3.3.6 Đ y mạnh nâng cao chất lượng nguồn lao động và giải
quyết việc làm cho người lao động 72 3.3.6.1 Đào tạo nghề 72
3.3.6.2 Phát triển thị trường lao động 77
3.3.7 Giải quyết việc làm thông qua chư ng trình, đề án 80
3.3.8 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra; giải quyết khiếu
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý o ọn đề tà
Lực lượng lao động là yếu tố không thể thiếu để thực hiện các hoạt động lao động – hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho x hội Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức rất lớn, trong đó có vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động x hội Hơn lúc nào hết, nguồn lao động Việt Nam đang đứng trước nguy cơ gia tăng thất nghiệp do không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, đặc biệt ở các lĩnh vực hoạt động đòi hỏi trình độ chuyên môn,
kỹ năng nghề nghiệp cao do quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế…
Kiên Giang là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có kinh
tế chủ yếu là nông nghiệp và đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, du lịch - thương mại và dịch vụ; nguồn lao động dồi dào Tuy nhiên, do chất lượng nguồn lao động còn thấp nên chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại và xu hướng phát triển trong tương lai Là một trong những tỉnh kinh tế trọng điểm phía Nam và đang vươn lên, phát triển mạnh
m , đang hình thành các khu, cụm công nghiệp đòi hỏi phải có lực lượng lao động có trình độ, tay nghề cao với cơ cấu hợp lý, giải quyết việc làm hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia của các cấp, các ngành chức năng của tỉnh, đặc biệt là cơ quan quản lý nhà nước về lao động của tỉnh
Tương đồng với các tỉnh, thành phố khác, tỉnh Kiên Giang dư thừa sức lao động ở nông thôn thì khu vực thành thị, đặc biệt ở những nơi ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch phát triển lại thiếu hụt lao động trầm trọng; nguồn lao lao động dồi dào nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề thấp và chủ yếu đào tạo nghề trong lĩnh vực nông
Trang 8nghiệp Điều này dẫn đến việc Nhà nước phải điều tiết về quy luật cung cầu nguồn lao động trong x hội, nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm hạn chế tình trạng lao động thất nghiệp do chất lượng lao động không đáp ứng được yêu cầu công việc; do cung, cầu lao động chưa được liên thông hiệu
quả
Trước yêu cầu mới hiện nay, việc tăng cường công tác quản lý nhà
nước về lao động là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Để
nguồn lực lao động sử dụng hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là đòi hỏi cấp thiết
Để giải quyết những vấn đề đặt ra và góp phần vào phát triển kinh tế
x hội của tỉnh nhà, tôi mạnh dạn chọn nội dung "Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang" làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên ứu l ên qu n đến đề tà luận văn
Quản lý nhà nước về lao động luôn là một trọng tâm của đời sống x hội không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, ngay cả ở những quốc gia phát triển và giàu có nhất thì đây vẫn là nhiệm vụ cần quan tâm hàng đầu của các nhà l nh đạo quốc gia, cũng như các nhà quản lý nhà nước ở nhiều cấp độ Nghiên cứu về lao động,việc làm, quản lý nhà nước về lao động, giải quyết việc làm đ được nhiều nhà khoa học x hội học; kinh
tế học, quản lý học…) đề cập Có thể kể ra một số trong số các công trình đó
Trang 9tăng khả năng có được việc làm của người lao động, yêu cầu về trình độ này làm tăng khả năng có việc làm của nữ cao hơn so với nam Như vậy trình độ văn hóa, đào tạo nghề có ảnh hưởng lớn đến cơ hội có việc làm của người lao động Trong nghiên cứu này, tác giả cũng chỉ ra rằng lao động là người thuộc các hộ gia đình nghèo có khả năng có được việc làm cao hơn ở những
hộ gia đình không nghèo Nguyên nhân có thể là do gia đình nghèo thì động lực thúc đẩy các thành viên tìm kiếm việc làm để cải thiện cuộc sống mạnh
m hơn Ngoài ra nó cũng phù hợp với cơ cấu việc làm hiện nay đối với người nghèo, phổ biến nhiều công việc lao động chân tay và việc làm trong khu vực phi kết cấu Đối với nữ trong các gia đình nghèo, xác suất có việc làm cũng cao hơn so với nam giới
Nguyễn Trọng Vân, Luận văn Thạc sĩ, bảo vệ năm 2014, Trường Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội Trong đề tài “Giải quyết việc làm cho
thanh niên nông thôn tỉnh Hà Tĩnh” Tác giả đ phân tích làm rõ thực trạng việc làm, các yếu tố tác động đến giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn ở tỉnh Hà Tĩnh phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương Kết quả của nghiên cứu đ chỉ ra rằng, ngoài các yếu tố về đặc điểm kinh tế x hội, điều kiện tự nhiên thì các yếu tố ảnh hưởng lớn đến công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn như các chính sách tạo việc làm cho thanh niên, hỗ trợ về vốn sản xuất, kỹ thuật, đào tạo nghề
- Bài viết của ông Lê Quang Trung – Phó Cục trưởng Cục việc làm:
Những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực lao động – việc làm thời kỳ hội nhập,
tháng 12/2016, Tạp chí Lao động và X hội số 521
Bài viết đ đề cặp đến cơ hội và thách thức khi Việt Nam đ và đang hội nhập sâu rộng với khu vực và các nước trên thế giới, các vấn đề đó là:
Trang 10Hội nhập s tạo được nhiều việc làm và nâng cao chất lượng việc làm; nguồn lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng còn hạn chế cả về chuyên môn, kỹ thuật, thể lực và cả về ý thức, tác phong làm việc; năng suất lao động thấp; vấn đề di chuyển lao động tạo ra nhiều cơ hội về việc làm nhưng cũng có nhiều mặt trái cần giải quyết; hệ thống thông tin thị trường lao động còn nhiều hạn chế; cần quan tâm đến đảm bảo an sinh x hội, hỗ trợ kịp thời cho người lao động mất việc làm trong quá trình cạnh tranh về lao động Tác giả bài viết cũng đề nghị thời gian tới cần quan tâm đến các nội dung: Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lao động, việc làm
và các văn bản liên quan cho phù hợp với các cam kết và điều kiện của Việt Nam; Hoàn thiện và phát triển thị trường lao động để tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển đúng theo quy luật của nó; Nâng cao chất lượng nguồn lao động về trình độ chuyên môn, tay nghề và kỹ năng hành nghề; Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động trong nước và pháp luật lao động khu vực và các nước có hợp tác về lao động; Xây dựng mối quan hệ lao động minh bạch, lành mạnh nhằm ngăn ngừa và hạn chế tranh chấp lao động; Hoàn thiện hệ thống an sinh x hội
- Bài viết của Thạc sĩ Trịnh Hoàng Lâm: Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam, tháng 6/2016, Tạp chí Lao động và
X hội số 528
Nội dung bài viết, tác giả đ nêu bật đặc điểm nguồn nhân lực Việt Nam, về dân số đông thứ 13 trên thế giới; lực lượng lao động Việt Nam dồi dào với hơn 53 triệu người, trong đó 50% lao động có độ tuổi từ 15 đến 39; trình độ qua đào tạo thấp, phân bố lao động trẻ khu vực nông thôn nhiều hơn thành thị; và tình hình sử dụng nhân lực với tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp còn cao Tác giả bài viết đ phân tích những mặt hạn chế của nguồn nhân lực Việt Nam, nguyên nhân của những hạn chế đó Từ đó đ đề xuất
Trang 11các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian tới: Tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước, hoàn thiện bộ máy và đổi mới phương pháp quản lý, tạo cơ chế chính sách để phát triển nguồn nhân lực; Đảm bảo nguồn lực về tài chính; Đẩy mạnh cải cách giáo dục; Chủ động hội nhập
- Bài viết của Phó Giáo sư, tiến sĩ Vũ Hoàng Ngân và Thạc sĩ Hoàng
Thị Huệ: Giải pháp nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam, tháng 8/2016, Tạp chí Lao động và X hội số 532
Bài viết đ đề cặp đến năng suất lao động doanh nghiệp Việt Nam, qua nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu điều tra doanh nghiệp từ năm 2011 đến năm 2014, năng suất lao động Việt Nam tăng dần qua các năm, năng suất lao động bình quân chung năm 2011 đạt 241,29 triệu đồng/lao động, đến năm 2014 tăng lên 306,83 triệu đồng/lao động, giai đoạn này tăng bình quân hàng năm là 8,34%/năm Tác giả bài viết đ đề xuất một số giải pháp
để nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam: Cải thiện hoạt động quản trị doanh nghiệp; Đầu tư cho khoa học và công nghệ; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển doanh nghiệp
Phùng Ngọc Triều, Luận văn Thạc sĩ, bảo vệ năm 2007, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh Trong luận văn Thạc sĩ “Các nhân tố ảnh
hưởng đến việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp” đ xác định mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội làm việc phi nghiệp của lao động nông thôn đó là: Giới tính của lao động có tác động nhiều đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của lao động trong vùng Tác động của yếu tố này thể hiện nữ giới có khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp tại địa phương cao hơn nam giới, họ tham gia dưới các hình thức việc làm tự tạo như buôn bán, may
Trang 12mặc, thiêu hay việc làm hàng gia công tại nhà; Trình độ giáo dục ảnh hưởng đến khả năng tham gia việc làm phi nông nghiệp, xu hướng chung là trình độ giáo dục của lao động càng cao thì khả năng tham hoạt động phi nông nghiệp càng lớn Bên cạnh đó học nghề cũng có tác động rất lớn thúc đẩy lao động tham gia hoạt động phi nông nghiệp và đặc biệt đối với lao động nữ thì học nghề có tác động mạnh hơn lao động nam; Thông tin việc làm có tác động khá lớn đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của lao động, nhưng là tác động ngược chiều Lao động có biết nguồn cung cấp thông tin về việc làm phi nông nghiệp nhưng khả năng tham gia rất ít do chất lượng nguồn thông tin kém và việc làm không phù hợp; Các nhà máy, tổ hợp sản xuất chưa thể hiện tác động rõ nét đối với vùng nghiên cứu trong hiện tại nhưng sự xuất hiện và phát triển của chúng s có tác động tích cực đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của người lao động
Các giáo trình, công trình nghiên cứu, bài viết nói trên đ có đóng góp hết sức quan trọng vào lý luận cũng như thực tiễn quản lý nhà nước về lao động và giải quyết việc làm nói chung Tuy nhiên, mới chỉ đề cập đến từng vấn đề, từng khía cạnh hoặc tập trung giải quyết một số vấn đề riêng lẻ về lao động hoặc giải quyết việc làm hoặc chỉ là những nghiên cứu chung toàn quốc hoặc địa phương khác Chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết vấn đề quản lý nhà nước về lao động, giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Kiên Giang Luận văn này là một hướng cứu của tác giả nhằm khắc phục điều đó
3 Mụ đí và n ệm vụ
- Mục đích: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý nhà nước về
lao động; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về lao động trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Kiên Giang; tác giả tập trung đánh giá về công tác triển khai và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật; công tác đào tạo
Trang 13nâng cao chất lượng nguồn lao động; công tác thông tin thị trường lao động
và công tác giải quyết việc làm; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi
phạm pháp luật về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
đó trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
4 Đố tượn và p ạm v n ên ứu
- Đối tượng: Quản lý nhà nước về lao động
Quản lý nhà nước về lao động là một lĩnh vực quản lý rất rộng, có nhiều nội dung như quản lý nguồn lao động, thông tin thị trường lao động, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho đến quản lý mối quan hệ lao động như hợp đồng lao động, nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương, hòa giải tranh chấp lao động, đình công l n công… Với thời gian xác định, tác giả giới hạn nội dung nghiên cứu tập trung vào vấn đề quản lý nhà nước
về lao động, nghiên cứu chủ yếu đối với nguồn lao động, chất lượng lao động và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
- Phạm vi về không gian: Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
- Phạm vi về thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2016, tầm nhìn đến năm 2020 và những năm tiếp theo
Trang 145 P ươn p áp n ên ứu
- Phương pháp luận: Đề tài luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp
chủ nghĩa duy vật biện chứng và logic
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp tổng hợp, phân tích nhằm tạo lập thông tin phục vụ cho nghiên cứu, đánh giá các khía cạnh thực hiện công tác quản lý nhà nước
về lao Sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu những kết quả từ thực tiễn để làm sáng tỏ những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý nhà nước về lao động; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
6 Ý n ĩ ủ luận văn
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như phân
tích và đánh giá về thực trạng công tác quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
- Ý nghĩa thực tiễn:
Nêu được những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về lao động
tại tỉnh Kiên Giang;
Đề xuất, giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về
lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới;
Luận văn mang ý nghĩa tham khảo đối với bộ máy quản lý nhà nước các cấp, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các doanh nghiệp, hộ gia đình và Người lao động trong việc quản lý, sử dụng lao động hiệu quả, tạo
mở việc làm, chắp nối cung cầu lao động và góp phần nâng cao hình ảnh lao động Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế
7 Kết ấu ủ luận văn
Trang 15Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương với những nội dung chính:
Chương 1 Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về lao động;
Chương 2 Thực trạng quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;
Chương 3 Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
1 1 Một số á n ệm ơ bản
1.1.1 Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người
nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho x hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế
1.1.2 Nguồn lao động
Nguồn lao động là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm
và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác
Như vậy, khái niệm về nguồn lao động hẹp hơn so với khái niệm nguồn nhân lực Nguồn lao động không bao gồm lao động trẻ em Nguồn lao động gồm hai bộ phận: bộ phận hoạt động tích cực) và bộ phận chưa hoạt động tiềm tàng)
Bộ phận hoạt động của nguồn lao động gồm những người đang và sẵn sàng tham gia lao động, những người đang tích cực tìm việc làm và những người thực tế đang làm việc
Bộ phận chưa hoạt động của nguồn lao động gồm những người có khả năng lao động nhưng tạm thời chưa tham gia lao động vì những lý do như đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, chưa có nhu cầu làm việc…
1.1.3 Lực lượng lao động
Quan niệm về lực lượng lao động nhìn chung tương đối thống nhất
Trang 17giữa các tổ chức và quốc gia trên thế giới
Theo Tổ chức Lao Động Quốc Tế ILO), lực lượng lao động là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp
Trong khái niệm của ILO không đề cập đến phạm trù “có khả năng lao động” và không bao gồm số người “trên độ tuổi lao động đang làm việc”
Nhiều học giả cho rằng, lực lượng lao động bao gồm tất cả những người có việc làm và những người thất nghiệp, tức là ngoài bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, trong lực lượng lao động cần tính thêm cả lao động trẻ em và lao động cao tuổi Quan điểm này thực tế hơn quan điểm của ILO vì ở các nước đang phát triển, số Người lao động dưới tuổi và trên tuổi thực tế đang làm việc chiếm một tỷ lệ khá cao trong dân số
Trong nhân khẩu học và kinh tế lao động, người ta còn xác định nhân khẩu hoạt động kinh tế và nhân khẩu không hoạt động kinh tế Theo cách hiểu của Tổ chức khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và Tổng cục thống kê Việt Nam, khái niệm lực lượng lao động được hiểu đồng nghĩa với khái niệm dân số hoạt động kinh tế Khái niệm “lực lượng lao động” hẹp nghĩa hơn so với khái niệm "nguồn lao động” Theo nghĩa đ nêu, lực lượng lao động chính là bộ phận hoạt động của nguồn lao động không tính bộ phận chưa hoạt động) Cụ thể: Lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp
Để thấy rõ hơn về những khái niệm trên, có thể biểu diễn mối quan hệ giữa dân số, nguồn nhân lực, nguồn lao động và lực lượng lao động theo sơ
đồ sau:
Trang 18Ghi chú: Lực lượng vũ trang thường xuyên không thuộc đối tượng thống kê dân sự.;…[8, trang 11].
1.1.4 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong thời kỳ xác định của một địa phương, một ngành, một vùng, một quốc gia, một khu vực hay trên toàn thế giới Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế - x hội,
là nguồn cung cấp sức lao động cho x hội, đóng vai trò tạo ra mọi giá trị của cải vật chất, văn hóa và dịch vụ cho x hội
Quan niệm về nguồn nhân lực có một số sự khác biệt giữa các quốc gia Theo từ điển Thuật ngữ Pháp 1977-1985), nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có
Trang 19việc làm Như vậy, những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không mong muốn có việc làm, theo quan niệm này, không được tính vào nguồn nhân lực Một số quốc gia khác có quan niệm ở chỗ nguồn nhân lực không có giới hạn trên về tuổi nó bao gồm cả những người không mong muốn có việc làm, tức quy mô nguồn nhân lực theo quan niệm này s lớn hơn quan niệm trên
Ở Việt Nam, theo quy định của Tổng cục Thống kê, nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có tính thêm cả lao động trẻ em và lao động cao tuổi
Lao động trẻ em là lao động chưa đủ 15 tuổi, chưa trưởng thành cả về thể chất và tinh thần đang làm việc
Lao động cao tuổi là lao động trên độ tuổi lao động theo quy định của Pháp luật trên 55 đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam) đang làm việc
Khi nói đến nguồn nhân lực không đơn thuần chỉ là số lượng lao động
mà đó là sự tổng hợp cả số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế – x hội
Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng thể lực; trình độ học vấn; trình độ chuyên môn, kỹ thuật; kỹ năng nghiệp vụ, nghề; tính năng động x hội khả năng sáng tạo, tính linh hoạt, mức độ sẵn sàng tham gia lao động…); tác phong nghề nghiệp [8, trang 13]
1.1.5 Việc làm và người có việc làm
- Việc làm: Ở nước ta, có một số quan niệm về việc làm Theo giáo trình kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, việc làm được hiểu là: “Sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người” Một số học giả lại cho rằng: “Bất cứ hoạt động nào trong đường biên sản xuất của hệ thống tài khoản quốc gia đều được coi là việc làm”
Trang 20Về cơ bản, các định nghĩa trên đều thống nhất với quy định điều 9 của
Bộ Luật lao động năm 2012: “Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập mà không bị pháp luật cấm” đều được thừa nhận là việc làm
Như vậy, việc làm theo khái niệm trên bao gồm ba dạng:
+ Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó
+ Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân bao gồm hoạt động nông nghiệp trên đất do chính thành viên đó sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần
+ Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý
- Người có việc làm: Ở Việt Nam theo từ điển thuật ngữ Lao động - Thương binh và X hội, người có việc làm là người làm việc trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, mang lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho x hội
Như vậy, trong khái niệm người có việc làm không có quy định cận trên và cận dưới của độ tuổi lao động Có nghĩa là, những người trên tuổi lao động và dưới tuổi lao động, nếu đang làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề dạng hoạt động có ích, mang lại thu nhập cũng đều được coi là người
có việc làm
Số người có việc làm được chia thành hai loại: người có việc làm đầy
đủ và người thiếu việc làm
Trang 21+ Theo từ điển thuật ngữ Lao động - Thương binh và X hội: Người
có việc làm đầy đủ là những người có việc làm với thời gian làm việc không
ít hơn mức giờ chuẩn quy định cho người đủ việc làm trong tuần lễ điều tra hoặc là những người làm việc dưới mức giờ chuẩn quy định cho người đủ việc làm nhưng không có nhu cầu làm thêm
+ Người thiếu việc làm là người trong khoảng thời gian điều tra có thời gian làm việc dưới mức quy định chuẩn cho người đủ việc làm và có nhu cầu làm việc thêm Người thiếu việc làm có hai dạng: Thiếu việc làm vô hình và thiếu việc làm hữu hình
Người thiếu việc làm vô hình là người có thời gian làm việc tuy đủ hoặc vượt mức chuẩn quy định về đủ số giờ làm việc, nhưng việc làm có năng suất thấp, thu nhập thấp, và họ có nhu cầu tìm kiếm việc làm thêm hoặc việc làm khác
Người thiếu việc làm hữu hình là người có việc làm nhưng số giờ làm việc ít hơn mức quy định chuẩn và họ có nhu cầu tìm việc thêm
1.1.6 Thất nghiệp và người thất nghiệp
- Thất nghiệp: Thất nghiệp là một hiện tượng kinh tế x hội tồn tại trong nhiều chế độ x hội Hiểu theo đúng nghĩa của từ là mất việc làm, nói cách khác đó là sự tách rời sức lao động ra khỏi tư liệu sản xuất
Theo quan niệm của Tổ chức Lao động quốc tế lại cho rằng thất nghiệp là tình trạng tồn tại khi một số người trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm ở mức tiền công thịnh hành
Ở nước ta, theo từ điển thuật ngữ Lao động Thương binh và X hội, thất nghiệp được hiểu là tình trạng một bộ phận trong lực lượng lao động muốn làm việc nhưng không thể tìm được việc làm với mức tiền công không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu hiện hành
- Người thất nghiệp: Ở Việt Nam khái niệm người thất nghiệp được
Trang 22hiểu là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có nhu cầu làm việc, trong tuần lễ điều tra không có việc làm hoàn toàn không có việc làm hoặc làm việc dưới mức thời gian chuẩn quy định cho người có việc làm)
Trên thế giới khái niệm về người thất nghiệp tương đối giống nhau Theo Tổ chức Lao động Quốc tế người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, trong tuần lễ tham khảo không có việc làm, đang có nhu cầu tìm việc làm và có đăng ký tìm việc làm theo quy định
Như vậy, khái niệm người thất nghiệp của Tổ chức Lao động Quốc tế
và của Việt Nam tương đối giống nhau và trùng với khái niệm người chưa
có việc làm Nhìn chung các khái niệm về người thất nghiệp đều có ba tiêu chí cơ bản là: không có việc làm, có khả năng lao động và đang tìm kiếm việc làm Tuy nhiên, giữa các quốc gia cũng có sự sai lệch về việc xác định khoảng thời gian không có việc là Ở Thái Lan khoảng thời gian đó là 7 ngày trước lúc điều tra, ở Úc là 4 tuần trước lúc điều tra Ở Việt Nam, theo khái niệm trong các cuộc điều tra lao động - việc làm hàng năm, khoảng thời gian người thất nghiệp không có việc làm được quy định là 7 ngày
Xem Luận văn Thạc sĩ: "Phân tích và đề xuất giải pháp đảm bảo việc làm tại tỉnh Tiền Giang đến năm 2020", của tác giả Trần Quốc Việt, bảo vệ
tại: Trường Đại học Bách khoa Hà Nội)
1.2 K á n ệm quản lý, quản lý n à nướ và quản lý n à nướ về
Trang 23- Henry Fayol (1841-1925) quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu từ lập kế hoạch, tổ chức, l nh đạo, kiểm tra các nỗ lực của mỗi thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt mục tiêu
- Theo Harold Koontz: Quản lý là một hoạt động thiết yếu bảo đảm sự phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm đạt đến mục tiêu nhất định của tổ chức
- Theo Hariparker Follit (1868-1933): Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác
Như vậy có thể nói quản lý gắn liền với tổ chức Tổ chức được hiểu như một nhóm có cấu trúc nhất định những con người cùng hoạt động vì một mục đích chung mà một con người riêng lẻ không thể đạt đến Do vậy, bất luận một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự quản lý và có người quản lý để tổ chức hoạt động và đạt được mục đích của
tổ chức đề ra
Vấn đề cốt lõi của quản lý là vấn đề tổ chức nên có thể hiểu quản lý là
“Tiến trình, hoạt động hay giám sát việc thực thi nhiệm vụ để đảm bảo rằng các hoạt động trong tổ chức được thực hiện theo hướng đạt được các mục tiêu đ đề ra của tổ chức – đặc biệt là nhiệm vụ tạo ra và duy trì các điều kiện để thực hiện tốt mục tiêu thông qua việc kết hợp những nổ lực của các nhóm khác nhau trong tổ chức, cũng là một nhóm người trong tổ chức liên quan đến việc quản lý tổ chức đó”
Mặt khác khi đề cập đến quản lý thì luôn phải trả lời các câu hỏi: Ai quản lý Chủ thể quản lý?); quản lý ai, quản lý cái gì Khách thể quản lý?); quản lý như thế nào Phương thức quản lý?); quản lý bằng cái gì Công cụ quản lý?); quản lý để làm gì Mục tiêu quản lý?) Chính vì vậy, có thể định
nghĩa về quản lý một cách khái quát nhất: Quản lý là tác động có tổ chức, có
Trang 24đích hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý nhằm đạt được m c tiêu định trước
Theo quan điểm phổ biến hiện nay, quản lý là một hoạt động có những chức năng sau:
- Chức năng kế hoạch: Đây là khâu đầu tiên của chu trình quản lý
- Chức năng tổ chức: Sự chuyển hóa các ý tưởng trong kế hoạch biến thành hiện thực
- Chức năng chỉ đạo, điều hành: Điều khiển hệ thống là cốt lõi của chức năng chỉ đạo, nó tích hợp với hai chức năng trên
- Chức năng kiểm tra: Là chức năng cơ bản và quan trọng của quản lý Trong một chu kỳ quản lý của tổ chức, cả bốn chức năng này phải được thực hiện liên tiếp và đan xen vào nhau, phối hợp bổ sung cho nhau tạo
sự kết nối giữa chu trình này sang chu trình khác theo hướng phát triển, trong đó thông tin luôn là yếu tố xuyên suốt không thể thiếu trong việc thực hiện các chức năng quản lý, đồng thời là cơ sở để đưa ra quyết định trong quản lý [7]
1.2.2 Quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước là hoạt động chủ yếu của cơ quan chấp hành quyền lực nhà nước; Quản lý nhà nước là sự quản lý của nhà nước đối với x hội và công dân, là sự quản lý về chính trị - x hội; trên một phương diện nhất định lại là tổ chức hành động và vì vậy quản lý là sự tác động có định hướng, có mục tiêu theo chủ đích đến toàn bộ tiến trình x hội và hệ thống các hành vi bởi hoạt động của con người trong đời sống x nhằm thúc đẩy và hướng tới
sự vận động, phát triển của x hội phù hợp với sự vận động và phát triển của quy luật khách quan
Quản lý nhà nước là một quá trình phức tạp, đa dạng và là một yếu tố không thể thiếu được trong đời sống x hội X hội phát triển càng cao thì
Trang 25nhu cầu quản lý càng lớn, nội dung quản lý càng tinh vi hiện đại, vì đối tượng tác động của nó là những khách thể phúc tạp, đó là hệ thống các hành
vi con người có ý chí và tư duy độc lập), thông qua hoạt động của cơ quan,
tổ chức của con người và các mối quan hệ phát sinh trong quá trình hoạt động của đời sống x hội mà nội dung bao trùm nhất là quản lý x hội
Trong x hội khi chưa có nhà nước, quyền lực đó mang tính chất x hội được củng cố, bảo đảm bằng sự thống nhất có tính quy ước của cộng đồng và người đứng đầu có uy tín và sự tôn trọng của thành viên trong cộng đồng được thể hiện chủ yếu dưới các quy phạm x hội Từ khi nhà nước xuất hiện thì bộ phận quản lý quan trọng nhất được Nhà nước đảm nhiệm Nhưng quản lý x hội không chỉ do Nhà nước với tư cách một tổ chức chính trị đặc biệt thực hiện mà còn do tất cả các bộ phận cấu thành khác của hệ thống chính trị thực hiện Thậm chí ở góc độ khác, chủ thể quản lý x hội còn là gia đình, các tổ chức tư nhân trong lĩnh vực hoạt động kinh tế, văn hóa, x hội…tùy theo chế độ chính trị của nó
Quản lý x hội theo nghĩa trên là một khái niệm rộng bao hàm hai lĩnh vực “quản lý các công việc của nhà nước phần quản lý x hội do nhà nước đảm nhiệm) và “quản lý các công việc có tính x hội” phần quản lý còn lại
do các tổ chức x hội, gia đình thực hiện)
Quản lý nhà nước được thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nước, cũng có khi do Nhân dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu toàn dân hoặc do các tổ chức x hội thực hiện khi được nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nhà nước Quản lý nhà nước không phải là quản lý cái tổ chức chính trị gọi là nhà nước, mà là sự quản lý có tính chất nhà nước, trên
cơ sở quyền lực nhà nước nhằm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của nhà nước, Quản lý nhà nước là sự tác động và điều chỉnh mang tính quyền lực nhà nước đối với các quá trình x hội, đó là những tác động có tính pháp lý
Trang 26dựa trên căn cứ khoa học, được tiến hành một cách liên tục để thực hiện các quá trình phát triển x hội Như vậy Quản lý nhà nước là một dạng hoạt động của nhà nước, theo nghĩa rộng đó là toàn bộ hoạt động của bộ máy Quản lý nhà nước từ lập pháp đến hành pháp và tư pháp; còn theo nghĩa hẹp
đó là thực hiện các hoạt động chấp hành và điều hành của các cơ quan quản
lý hành có thể do các chủ thể khác tiến hành như các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức quần chúng hoặc Nhân dân trực tiếp thực hiện nhưng phải do Nhà nước giao quyền, nhân danh trên cở sở quyền lực nhà nước [7]
1.2.3 Quản lý nhà nước về lao động
Từ các khái niệm trên và trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu, có thể khái quát khái niệm quản lý nhà nước về lao động: Quản lý nhà nước về lao động là loại hình quản lý đặc biệt do Nhà nước tiến hành trên cơ sở nắm bắt mối quan hệ giữa nguồn lao động và việc làm Từ đó đưa ra những giải pháp
và nội dung cụ thể nhằm nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm cho Người lao động để công dân được thực hiện quyền lao động của mình theo quy định của pháp luật Trước hết nhà nước nắm bắt cung cầu
và sự biến động cung cầu về lao động làm cơ sở quyết định chính sách quốc gia, quy hoạch, kế hoạch về nguồn lao động, phân bổ và sử dụng nguồn lao động đó cho toàn x hội
1.3 Nội dung Quản lý nhà nước về lao động
Theo quy định tại điều 235, Bộ Luật lao động ban hành năm 2012,
Quản lý nhà nước về lao động bao gồm những nội dung chủ yếu sau đây:
- Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về lao
động;
- Theo dõi, thống kê, cung cấp thông tin về cung cầu và sự biến động cung cầu lao động; quyết định chính sách, quy hoạch, kế hoạch về nguồn nhân lực, dạy nghề, phát triển kỹ năng nghề, xây dựng khung trình độ nghề
Trang 27quốc gia, phân bố và sử dụng lao động toàn x hội Quy định danh mục những nghề chỉ được sử dụng lao động đ qua đào tạo nghề hoặc có chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia;
- Tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học về lao động, thống kê, thông tin về lao động và thị trường lao động, về mức sống, thu nhập của Người lao động;
- Xây dựng các cơ chế, thiết chế hỗ trợ phát triển quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ;
- Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáovà xử lý vi phạm pháp luật về lao động; giải quyết tranh chấp lao động theo quy định của pháp luật;
- Hợp tác quốc tế về lao động [11, tr.65]
1.4 Thẩm quyền quản lý nhà nước về lao động:
Theo quy định tại điều 236, Bộ Luật lao động ban hành năm 2012, thẩm quyền quản lý nhà nước về lao động bao gồm các cơ quan sau:
- Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi
cả nước
- Bộ Lao động - Thương binh và X hội chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về lao động
Bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình
có trách nhiệm thực hiện và phối hợp với Bộ Lao động - Thương binh và X hội trong quản lý nhà nước về lao động
- Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về lao động trong phạm vi địa phương mình [11, tr.66]
Từ những quy định của pháp luật nêu trên có thể khái quát những nội dung chủ yếu quản lý nhà nước về lao động cơ bản như sau:
Trang 28Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản là việc đề ra các chính sách thực hiện nâng cao chất lượng nguồn lao động, tạo mở việc làm, kết nối cung cầu và giải quyết việc làm cho người lao động
Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về lao động, việc làm là những việc làm đầu tiên để Nhà nước thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lao động Ở nước ta việc ban hành các văn bản pháp luật nhằm thể chế hóa, cụ thể hóa đường lối, chủ trương của Đảng và đưa quan điểm của Đảng vào cuộc sống Trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có rất nhiều loại văn bản được ban hành bao gồm: Luật, Nghị định, Thông tư,
Việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật tạo ra hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia vào quá trình đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn lao động, giải quyết việc làm cho người lao động trên l nh thổ quốc gia Trong đó, quy định những hành vi được làm, những hành vi được khuyến khích làm, những hành vi bị cấm trong quá trình tham gia đào tạo, giải quyết việc làm Nội dung này được thực hiện không chỉ ở một cơ quan, một cấp nhất định mà thực hiện bởi nhiều cơ quan và nhiều cấp khác nhau từ trung ương đến địa phương
Kế tiếp sau việc ban hành hệ thống văn bản pháp luật, Nhà nước tổ chức, tạo điều kiện cho các chủ thể chịu sự tác động của các văn bản pháp luật đó được biết, thực hiện các quy định đúng theo tinh thần mà Nhà nước định ra Khi thực hiện đúng những quy định đ định ra và thực hiện tốt có thể được khen thưởng, nếu vi phạm có thể phải chịu các chế tài do Nhà nước đặt ra
1.5 Vai trò của Quản lý nhà nước về lao động
Quản lý nhà nước về lao động thực chất là sự thể hiện quyền lực nhà nước trong lĩnh vực lao động nhằm bảo vệ tốt nhất cho các chủ thể tham gia quan hệ lao động; bảo đảm giữ gìn, bảo vệ, sử dụng hợp lý và hiệu quả nguồn lao động Bởi l , lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho x hội Nhà nước có
Trang 29vai trò đặc biệt quan trọng trong quản lý nguồn lực lao động quốc gia, khắc phục những khía cạnh tiêu cực của lao động, làm cho các mối quan hệ lao động, quá trình lao động trở nên có tổ chức và hiệu quả hơn; phát triển, phân
bổ nguồn lực lao động, phát triển thị trường lao động, đa dạng các hình thức
sử dụng lao động thông qua hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về lao động các cấp
Vai trò của nguồn lao động đối với sự phát triển kinh tế: Theo lý
thuyết mới về sự tăng trưởng, một nền kinh tế muốn tăng trưởng nhanh và ở mức cao phải dựa trên ít nhất 3 trục cơ bản là áp dụng công nghệ mới, phát triển hạ tầng cơ sở và phát triển nguồn lao động, trong đó phát triển nguồn lực lao động là then chốt nhất
Thật vậy, nguồn lao động với tư cách là Người lao động, sáng tạo của cải vật chất và tinh thần cho x hội thì nó là một yếu tố đặc biệt quan trọng trong ba yếu tố của quá trình sản xuất Chính chất lượng nguồn lực lao động quyết định năng suất và hiệu quả sản xuất
Thời kỳ khoa học kỹ thuật chưa phát triển thì tăng trưởng kinh tế chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên hạn hẹp, dựa vào công nghiệp hóa thì nguồn lao động vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong việc tạo ra của cải vật chất, tinh thần đáp ứng nhu cầu của x hội và thực hiện công nghiệp hóa tạo nên
sự thay đổi nhảy vọt về năng suất lao động qua chất lượng nguồn lao động)
Thời kỳ khoa học kỹ thuật - công nghệ phát triển thì nguồn lực lao động càng giữ vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế, đó là:
Thứ nhất, chỉ có nguồn lao động có chất lượng cao mới sử dụng và
phát huy có hiệu quả kỹ thuật - công nghệ hiện đại;
Thứ hai, chỉ có nguồn lao động có chất lượng cao thì mới duy trì và
phát triển kỹ thuật - công nghệ hiện đại;
Thứ ba, chỉ có đội ngũ lao động quản lý có chất lượng cao mới có thể
Trang 30đem lại lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, đặc biệt là trong môi trường kinh tế toàn cầu: khi mà mọi rào cản hầu như không còn nữa thì kỹ thuật - công nghệ giữa các quốc gia có thể nói đều xuất phát từ một vạch
Các nghiên cứu trắc lượng gần đây cho thấy chỉ một phần tương đối nhỏ của sự tăng trưởng kinh tế là do giải thích bởi khía cạnh đầu vào là vốn; còn phần quan trọng của sản phẩm thặng dư gắn liền với chất lượng nguồn lực lao động đầu vào Điều nay được chứng minh thông qua các quốc gia phát triển: chính chất lượng nguồn lao động đ tạo ra sự tăng trưởng kinh tế cao với cơ cấu đóng góp của khu vực dịch vụ là cao nhất, kế đến là công nghiệp - xây dựng và cuối cùng là nông nghiệp
Vai trò của nguồn lao động với các vấn đề xã hội: Có thể nói, sự phát
triển của các vấn đề x hội như giáo dục, y tế, đô thị hóa, an sinh x hội… tác động rất tích cực nâng cao chất lượng nguồn lao động thì ngược lại, nó cũng có tác động mạnh m đến các vấn đề x hội Cụ thể là:
Thứ nhất, nguồn lao động là một bộ phận quan trọng của dân số) là
mục đích của các hoạt động x hội Vì vậy, nguồn lao động thay đổi cả về quy mô và chất lượng) đòi hỏi hệ thống giáo dục - đào tạo, y tế, hệ thống an sinh x hội… cũng phải thay đổi theo nhằm đáp ứng nhu cầu
Thứ hai, với tư cách nguồn lực lao động là Người lao động thì nó là
điều kiện quan trọng hàng đầu để phát triển hệ thống giáo dục - đào tạo, y tế,
hệ thống an sinh x hội…
Thứ ba, quy mô và cường độ hoạt động của nguồn lao động tác động
xấu đến môi trường cuộc sống và cạn kiệt tài nguyên Vì vậy, chất lượng của nguồn lao động quản lý là yếu tố quan trọng làm giảm tác động xấu đó nhằm phát triển bền vững
Trang 311.6 N ữn yếu tố tá độn đến Quản lý n à nướ về l o độn
1.6.1 Hệ thống pháp luật và chính sách của Nhà nước về lao động
Để nâng cao chất lượng nguồn lao động phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta hiện nay rất cần đến hệ thống các chính sách vĩ mô của nhà nước như chính sách y tế và chăm sóc sức khỏe nhân dân, chính sách phân bổ, thu hút và sử dụng nhân tài, chính sách văn hóa –
x hội, chính sách bảo hiểm x hội, chính sách tiền lương, an sinh x hội đều có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lực lao động ở nước ta Nếu có chính sách chăm sóc sức khỏe nhân dân tốt s tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao thể trạng và chất lượng nguồn lao động Mặt khác việc phân bổ, sử dụng và thu hút nhân tài, nguồn lao động chất lượng cao hợp lý dựa trên cơ sở năng lực là động lực để người lao động phấn đấu, cống hiến Khi mà cơ hội thăng tiến rộng mở trên tiêu chí phẩm chất đạo đức và tài năng thực sự của bản thân người lao động là nền móng bền vững để người lao động phát huy tối
đa sự sáng tạo trong công việc, là bệ phóng để họ khẳng định tài năng và chuyên tâm lao động sản xuất cống hiến cho x hội Bên cạnh đó chính sách
về tiền lương, bảo hiểm x hội, an sinh x hội phù hợp s là động lực thôi thúc tinh thần sáng tạo, ý thức trách nhiệm, tính kỷ luật, hăng say lao động sản xuất của nguồn lực lao động
Đối với tạo việc làm, các chính sách của nhà nước đặc biệt quan trọng đối với Người lao động như chính sách thuế, chính sách tiền tệ, chính sách đối ngoại Bất kỳ một sự thay đổi nào của chính sách kinh tế đều cần phải
có chính sách tạo việc làm thích hợp Thật vậy, việc xác định mức lương tối thiểu của nhà nước rõ ràng ảnh hưởng rất lớn đến đầu tư tạo mở việc làm Nếu lương tối thiểu ấn định cao thì thế mạnh về nguồn lao động rẻ s biến mất thì cách lựa chọn của các nhà đầu tư là không đầu tư, hoặc đầu tư với mức độ ít hơn Điều này ảnh hưởng rất lớn đến gia tăng về việc làm Ngoài
Trang 32ra, việc gia tăng nguồn lao động, cơ cấu nguồn lao động theo trình độ chuyên môn - nghề cũng là cơ sở để các nhà đầu tư lựa chọn lĩnh vực kinh doanh…
1.6.2 Dân số - Chất lượng nguồn lao động
Số lượng dân số: Dân số là cơ sở để hình thành lực lượng lao động
Sự biến động dân số thể hiện ở hai dạng: biến động dân số tự nhiên thông qua sinh đẻ - chết và biến động dân số cơ học do di chuyển dân số giữa khu vực nông thôn và thành thị, giữa đơn vị hành chính này với đơn vị hành chính khác dẫn đến tăng, giảm số lượng dân số nhất định
Dân số là một lợi thế của mỗi quốc gia, dân số đông, dân số trẻ là nguồn lực rất quý báu để đóng góp vào sự phát triển của đất nước Tuy nhiên, dân số đông cũng là mối trở ngại, dân số đông dẫn đến nguồn lao động dư thừa: Ở nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nền kinh tế phát triển chậm số chỗ làm việc ít, trong khi lực lượng lao động nhiều và tăng nhanh dẫn đến tình trạng mất cân đối về cung - cầu sức lao động, thất nghiệp và thiếu việc làm là phổ biến
Chất lượng lao động: Được thể hiện qua sức khỏe, trình độ, kỹ năng
chuyên môn nghiệp vụ, tay nghề Chất lượng lao động có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất lao động
Trong quá trình đầu tư phát triển, do chuyển giao công nghệ mới với nước ngoài hoặc đưa những thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ mới vào sản xuất, thị trường lao động chưa cung ứng đủ sức lao động cần thiết cho các doanh nghiệp Hoặc do những nguyên nhân khác, chẳng hạn việc đào tạo nguồn lao động chưa được chú trọng đúng mức … nên chất lượng lao động chưa đáp ứng nhu cầu của thị trường sức lao động, hoặc do cơ cấu ngành nghề thay đổi, một số ngành nghề cũ mất đi trong khi có những ngành nghề mới xuất hiện, cung về sức lao động chưa thích ứng kịp với sự thay đổi
Trang 33đó dẫn đến tình trạng thất nghiệp không phải do thiếu chỗ làm việc
1.6.3 Trình độ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Trình độ phát triển kinh tế - x hội tạo động lực, nền tảng quan trọng
để nâng cao mọi mặt đời sống dân cư của một quốc gia Kinh tế tăng trưởng
và phát triển tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao chất lượng nguồn lao động, khoản ngân sách nhà nước nói chung và nguồn kinh tế dư thừa trong gia đình nói riêng không ngừng tăng lên, con người có điều kiện để đầu tư, tái tạo lại sức lao động thông qua vai trò giáo dục, đào tạo Ngược lại, khi giáo dục và đào tạo phát triển, hệ quả tất yếu kéo theo là sự gia tăng về hàm lượng trí tuệ được m hóa nhiều hơn ở người lao động, tức là chất lượng nguồn lao động được cải thiện và nâng cao Tác động ngược lại, nguồn lao động có chất lượng trở thành động lực nội sinh thúc đẩy phát triển kinh tế -
x hội
Vốn đầu tư: Vốn là vấn đề rất quan trọng trong việc tạo thêm nguồn
việc cho Người lao động, nó càng đặc biệt quan trọng hơn đối với Việt Nam Chính vì vậy, việc huy động mọi nguồn vốn nhằm tạo thêm nhiều chỗ làm mới là hết sức quan trọng Những năm gần đây, Nhà nước đ đề ra nhiều chính sách nhằm thu hút vốn từ nhiều nguồn đề đẩu tư tạo mở việc làm như: Tăng cường vốn từ ngân sách nhà nước đầu tư phát triển sản xuất thông qua các chương trình lớn kinh tế x hội Quỹ Quốc gia về việc làm, chương trình giảm nghèo, chương trình đưa Người lao động đi làm việc ở nước ngoài…); huy động mọi nguồn vốn nhàn rỗi có trong nhân dân thông qua việc tạo điều kiện phát triển bình đẳng các thành phần kinh tế, khuyến khích thành lập và phát triển các doanh nghiệp, cổ phần hóa doanh nghiệp ; tăng cường thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài thông qua mở rộng các quan hệ quốc tế, tạo hành lang pháp lý thuận lợi thu hút vốn đầu từ nước ngoài
Áp d ng khoa học - công nghệ vào các lĩnh vực kinh tế - xã hội:
Trang 34Bất kỳ một quốc gia nào, khi ban hành các chính sách nhằm phát triển kinh tế - x hội cũng đều cân nhắc kỹ lưỡng giữa phát triển kinh tế với ổn định x hội, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững Theo đó, tùy từng thời kỳ mà việc lựa chọn và áp dụng công nghệ vào các lĩnh vực hoạt động
là khác nhau Những lĩnh vực hoạt động quan trọng, then chốt là nền tảng để phát triển thì cần lựa chọn công nghệ cao, những lĩnh vực hoạt động khác thì tùy theo điều kiện về vốn, về lực lượng lao động mà sử dụng công nghệ phù hợp vừa đảm bảo không làm tăng thất nghiệp và phát triển bền vững Nếu lựa chọn công nghệ cao thì vốn đầu tư nhiều, năng suất cao nhưng lại tạo ra
ít chỗ làm việc mới và đòi hỏi chất lượng lao động cao Ngược lại, nếu sử dụng công nghệ thấp thì vốn đầu tư ít, năng suất thấp nhưng lại thu hút được nhiều người vào làm việc
Sự thay đổi về c cấu kinh tế: Trong quá trình phát triển nền kinh tế -
x hội, cơ cấu kinh tế luôn thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng GDP ở khu vực công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, giảm hợp lý khu vực nông – lâm – ngư nghiệp Sự thay đổi cơ cấu GDP giữa ba khu vực kinh tế cơ bản dẫn đến cơ cấu nguồn việc làm cũng thay đổi tương ứng Các nước phát triển có tỷ trọng GDP của khu vực dịch vụ là cao nhất, kế đến là công nghiệp – xây dựng và cuối cùng là nông nghiệp nên cơ cấu nguồn lực tương ứng lần lượt theo từng khu vực khoảng 60%, 30% và 10% Sự thay đổi này là tất yếu do nhu cầu của x hội nông nghiệp tăng chậm hơn sự thay đổi nhu cầu công nghiệp, dịch vụ; mặt khác, chính sự phát triển của công nghiệp và dịch vụ là cơ sở quan trọng để tăng năng suất lao động và phát triển nông nghiệp
Phát triển c sở hạ tầng: Sự phát triển cơ sở hạ tầng là một trong
những điều kiện quan trọng mà các nhà đầu tư quan tâm khi quyết định mở
cơ sở sản xuất kinh doanh hay không Thực tế cho thấy, nơi nào có cơ sở hạ tần tốt thì nơi đó có tốc độ phát triển kinh tế nhanh Các khu công nghiệp,
Trang 35khu chế xuất cũng phải thực hiện đầu tư cơ sở hạ tầng mới thu hút được đầu
tư Đầu tư càng nhiều, tạo việc làm càng nhiều Mặt khác, nếu quy hoạch, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng hợp lý trên diện rộng là điều kiện phát triển đồng đều giữa các khu vực, các vùng kinh tế từ đó mà giảm áp lực về việc làm cho các vùng kinh tế
Mức tiền công: Ở một số nước, Chính phủ và Công đoàn trong khi
đấu tranh với giới chủ, đ đạt được mức tiền công thỏa thuận cao hơn mức tiền công cân bằng của thị trường sức lao động Trong trường hợp này, quy luật cung cầu hoạt động s làm cho cầu về sức lao động giảm xuống, cung
về sức lao động lại tăng lên, hiện tượng mất cân bằng cung cầu sức lao động xuất hiện gây nên tình trạng thất nghiệp Hiện tượng thất nghiệp này xảy ra ngay khi nền kinh tế có thể vẫn còn chỗ làm việc
C cấu tiêu dùng của thị trường hàng hóa, dịch v thay đổi: Sức sản
xuất, dịch vụ bao giờ cũng xuất phát từ nhu cầu tiêu dùng của x hội Cơ cấu tiêu dùng của x hội luôn thay đổi đòi hỏi cơ cấu sản xuất, dịch vụ cũng phải thay đổi theo Lúc đó, quy mô của một số lĩnh vực hoạt động tăng lên cần thêm nhu cầu về lao động; trong khi quy mô của một số lĩnh vực hoạt động khác phải thu hẹp dẫn đến có một lượng lao động rơi vào tình trạng thất nghiệp do chưa được đào tạo đáp ứng yêu cầu mới về sự chuyển đổi cơ cấu sản xuất, dịch vụ
Hệ thống thông tin về thị trường lao động: Trong khi các quốc gia
phát triển có đầy đủ các kênh thông tin về thị trường lao động để chắp nối cung - cầu lao động thì ở các nước đang phát triển, hệ thống này chưa hoàn chỉnh: Các thông tin về cung - cầu lao động được truyền tải chưa có hệ thống, mang tính chắp vá và chủ yếu là thủ công dẫn đến Người lao động vẫn thất nghiệp trong khi người sử dụng lao động vẫn không tuyển được người
Trang 36Điều kiện tự nhiên: Không ai phủ nhận được tầm quan trọng của điều
kiện tự nhiên trong phát triển kinh tế - x hội Vị trí địa lý, yếu tố khí hậu thuận lợi; tài nguyên, đất đai nhiều, đa dạng, phong phú tạo ưu thế và điều kiện thuận lợi mở rộng nguồn việc cho Người lao động Chính điều nay nhắc nhở chúng ta phải sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên quý giá đó, phát huy thế mạnh để tạo mở việc làm và tăng thêm thu nhập cho Người lao động thông qua các hoạt động khai thác
1.6.4 Tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức thực hiện quản
lý nhà nước về lao động
Theo quy định tại Nghị định 106/2012/NĐ-CP ngày 20/12/2012 của Chính phủ, cơ cấu tổ chức của Bộ: Gồm Bộ trưởng, không quá 05 Thứ trưởng và 24 đơn vị Văn phòng, Thanh tra, các Vụ, Cục và đơn vị sự nghiệp thuộc Bộ [3]
Sở Lao động - Thương binh và X hội là cơ quan chuyên môn thuộc
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý nhà nước vềvề các lĩnh vực lao động, người có công và
x hội, trong đó có lĩnh vực lao động, tiền lương; việc làm, giáo dục nghề nghiệp…thuộc địa bàn tỉnh quản lý
Cơ cấu tổ chức của Sở: Sở Lao động - Thương binh và X hội có Giám đốc và 03 Phó Giám đốc; 10 đơn vị cấp Phòng và 10 đơn vị sự nghiệp trực thuộc
Phòng Lao động - Thương binh và X hội là cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện, thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về các lĩnh vực lao động, người
có công và x hội, trong đó có lĩnh vực lao động, tiền lương; việc làm, giáo dục nghề nghiệp…
Trang 37Phòng Lao động - Thương binh và X hội có Trưởng phòng, không quá 03 Phó Trưởng phòng và các công chức thực hiện công tác chuyên môn, nghiệp vụ
Cấp X được bố trí từ 01 đến 02 công chức văn hóa – x hội, giúp Ủy ban nhân dân cùng cấp thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực lao động, người có công và x hội, trong đó có lĩnh vực lao động, tiền lương; việc làm, giáo dục nghề nghiệp…
Trang 38TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong Chương này, luận văn đ làm rõ các vấn đề lý luận về lao động, quản lý nhà nước về lao động, vai trò của quản lý nhà nước về lao động, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về lao động; xác định nội dung và thẩm quyền quản lý nhà nước về lao động
Qua đó cho thấy, quản lý nhà nước về lao động có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế - x hội của đất nước Trong tiến trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, quản lý nhà nước về lao động hiệu lực, hiệu quả là yêu cầu cấp thiết
Việc nghiên cứu vấn đề lý luận quản lý nhà nước về lao động là vấn
đề mang tính khoa học và có tính ứng dụng cao trong thực tiễn, là cơ sở để nhà nước quản lý nói chung, trong đó có quản lý nhà nước về lao động Trên
cơ sở nghiên cứu ở chương 1, đối chiếu với thực tiễn thực hiện để tìm ra những mặt tồn tại, hạn chế trong quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang
Trang 39CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH KIÊN GIANG
số 278 người/km2 Tỉnh Kiên Giang có 01 thành phố, 01 thị x và 13 huyện trực thuộc tỉnh Trong đó có 02 huyện đảo là Phú Quốc và Kiên Hải) với
145 x , phường, thị trấn
2.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, kinh tế tỉnh Kiên Giang đ có những bước phát triển tương đối toàn diện và liên tục tăng trưởng với tốc độ khá Qua thu thập
và xử lý dữ liệu có bảng tổng hợp sau về GDP, chỉ số phát triển GDP và cơ cấu kinh tế từ 2012 - 2016 được thể hiện ở bảng 2.1.1, bảng 2.1.2
Trang 40Bảng 2.1.1 TỔNG SẢN PHẨM QUỐC DÂN QUA CÁC NĂM
Nguồn: Số liệu thống kê hằng năm của tỉnh Kiên Giang
Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng tổng sản phẩm GDP) nhƣ sau :