1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

503 PDFsam 25nam Vnamhoc theodinhhuong liennganh (bong3)

20 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 418,65 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời các quá trình đó cũng đã tạo ra cho ĐBB một hệ thống cảnh quan đa dạng cùng nguồn tài nguyên phong phú vượt trội, hơn hẳn các hệ tự nhiên khác nằm sâu trong lục địa hay ngoài x

Trang 3

TRONG NGHIÊN CỨU LIÊN NGÀNH1

GS TSKH Lê Đức An

Viện Địa lý, Viện Hàn lâm khoa học và Công nghệ Việt Nam

1 Giới thiệu

1.1 Quan niệm về đới bờ biển: Đới bờ biển (ĐBB) hay còn gọi là đới bờ,

về mặt không gian được quan niệm khác nhau, trong bài này chúng tôi

hiểu ĐBB gồm hai dải kéo dài ôm lấy đường bờ, là dải đất ven biển (hay dải

ven biển) và dải biển nông ven bờ (hay dải ven bờ) Ranh giới bên trong của dải

đất ven biển là địa giới hành chính của các huyện, quận, thành phố (thuộc tỉnh) ven biển; còn ranh giới bên ngoài của dải biển nông ven bờ là mép thềm lục địa (theo nghĩa địa mạo) thường đến độ sâu 200m

1.2 Những đặc điểm chính của ĐBB:

+ Là nơi chuyển tiếp giữa lục địa và biển, một hệ tự nhiên có quy mô toàn cầu, chiếm một diện tích đáng kể của bề mặt Trái Đất, tới khoảng 8% (riêng phần thềm lục địa đã chiếm 5,7%)

+ Nơi đây xảy ra tác động tương hỗ mạnh mẽ của cả bốn quyển là thạch quyển, thủy quyển, khí quyển và sinh quyển; nơi thể hiện kết quả tương tác giữa các quá trình lục địa và biển, giữa các hoạt động nội sinh và ngoại sinh, đặc biệt là các hoạt động của con người Các tác động đó đã tạo cho ĐBB trở thành một hệ cân bằng động, biến đổi liên tục theo các chu kỳ thời gian cấp khác nhau và trong phạm vi không gian quy mô khác nhau Đồng thời các quá trình đó cũng đã tạo ra cho ĐBB một hệ thống cảnh quan đa dạng cùng nguồn tài nguyên phong phú vượt trội, hơn hẳn các hệ

tự nhiên khác nằm sâu trong lục địa hay ngoài xa đại dương

1 Trên cơ sở chỉnh biên bài “Một số vấn đề địa lý học đới bờ biển Việt Nam” - Kỷ yếu HNKH Địa lý toàn quốc VII, Thái Nguyên 12-13/10/2013.

Trang 4

+ Một đới rất nhạy cảm, phụ thuộc chặt chẽ vào các biến động của

tự nhiên và xã hội; môi trường ĐBB trở nên dễ bị biến đổi và tổn thương, thoái hóa

+ Theo H Viles, T Spencer [10] ĐBB đã được con người sử dụng từ rất

xa xưa và các hình thức sử dụng rất đa dạng (Bảng 1)

Bảng 1 Các hình thức sử dụng đới bờ biển [10]

Các đới Các dạng của đới bờ Hình thức sử dụng

Đới xa bờ Thềm lục địa

Ám tiêu san hô

Đánh bắt hải sản Khai thác dầu khí Khai thác cát Chôn lấp chất thải Đổ nước thải.

Du lịch Đánh bắt hải sản Khai thác san hô.

Đới giáp bờ Cửa sông

Bãi biển

Đất ngập nước

Nền bờ

Đập chắn triều Công trình bảo vệ bờ.

Nghỉ ngơi Khai thác cát sỏi Xây dựng sau bãi Công trình bảo vệ bờ.

Nuôi trồng hải sản Đầm nuôi Bãi nuôi sò Khai hoang lấn biển Chăn thả Khai thác gỗ và củi Mương máng, ống dẫn Bảo tồn thiên nhiên.

Thu lượm hải sản Khai thác vật liệu.

Đới trên bờ Đất đai cho xây

dựng, lấn biển

Cầu cảng Nhà cửa Công nghiệp Nông nghiệp Du lịch Bảo tồn thiên nhiên.

Đới sau bờ Gò đụn cát

Các vách đá

Nghỉ ngơi Sân gôn Xây dựng Khai thác nước Tập trận Bảo tồn tự nhiên.

Bảo vệ bờ Xây dựng Khai thác vật liệu Bảo tồn bờ.

+ Việc sử dụng đa dạng vùng bờ biển đòi hỏi có sự quản lý tổng hợp

và thống nhất của các cơ quan chính quyền trung ương và địa phương, là những người có trách nhiệm bảo vệ các điểm định cư ở đới bờ và cho phép hoặc ngăn cấm các hoạt động sử dụng đới bờ

Việt Nam có ĐBB rộng lớn đang phát triển rất sôi động về kinh tế và các hoạt động xã hội khác, nhưng cũng đứng trước những thách thức to lớn trong nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên và môi trường, phát triển bền vững Trong bối cảnh đó bài này nêu lên sơ bộ một số vấn đề cơ bản trong nghiên cứu liên ngành nhằm sử dụng bền vững vùng lãnh thổ quan trọng này, bao gồm nhóm các vấn đề về tài nguyên, về các hiểm họa tai biến thiên nhiên,

và vấn đề quy hoạch sử dụng và bảo tồn

Trang 5

2 Đặc điểm cơ bản đới bờ biển Việt Nam

2.1 Diện tích và dân số

Tổng hợp từ nguồn Niên giám thống kê và Bản đồ hành chính Việt Nam (Nxb TN-MT&BĐVN) cho thấy ĐBB Việt Nam thuộc 28 tỉnh và thành phố (trực thuộc Trung ương) ven biển, tại đó có 21 thành phố (thuộc tỉnh),

6 thị xã, 9 quận, và 100 huyện, tổng cộng 136 đơn vị hành chính, với diện tích 47.701,1 km2 và dân số 18.077.007 người (tháng 4/2009 )1 Như vậy phần đất nổi của ĐBB Việt Nam (bao gồm dải ven biển và các đảo ven bờ, chưa gồm mặt biển) về diện tích chiếm 14,4% toàn quốc, về dân số chiếm 21,0% Diện tích của dải biển nông ven bờ hiện nay chưa có số liệu chính thức, do còn có một số vùng tiếp giáp với các nước láng giềng chưa có đầy

đủ các Hiệp định hoạch định đường ranh giới chính thức

Trên phạm vi không gian của dải biển nông này phân bố toàn bộ hệ thống đảo ven bờ, diện tích 1721 km2 [1], trên đó đã thành lập 10 huyện đảo có diện tích 1.647,6 km2 và dân số 236.989 người, cùng 11 xã, phường đảo trực thuộc các huyện, thị xã và thành phố trên bờ, với 30.890 người; như vậy tổng cộng trên hệ thống đảo ven bờ có 267.879 người sinh sống (2009), mật độ 155,6 người/km2, trong khi trên dải ven biển mật độ 387,3 người/km2

2.2 Điều kiện tự nhiên và tài mguyên

Thuộc về ĐBB Việt Nam bao gồm phần bên ngoài của các đồng bằng châu thổ rộng lớn và màu mỡ sông Hồng và Cửu Long, cùng các đồng bằng cửa sông, ven biển nhỏ hẹp hơn phân bố dọc suốt miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận Các đồng bằng đó được phân cách bởi các dải núi thấp, thường được tách ra từ các dãy núi phía Tây, đâm ngang ra đến tận biển tạo nên nhiều thắng cảnh đèo nổi tiếng; có khi núi còn ăn lan xuống cả biển tạo thành những chuỗi đảo ven bờ cùng với các vũng vịnh

có giá trị lớn cho việc lập cảng nước sâu (như các vịnh Đà Nẵng, Cam Ranh, Vân Phong)

Ở ngay ranh giới giữa lục địa và biển là nhiều hệ thống tự nhiên quan trọng, đó là các vùng cửa sông, các đầm phá, các vùng đầm lầy cùng rừng

1 Riêng đối với tỉnh Quảng Bình do có 3 huyện ven biển có ranh giới phía tây cũng là biên giới quốc gia thuộc vùng núi (Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy), chúng tôi đã trừ

đi diện tích và dân số của 8 xã miền núi giáp biên giới, được coi như không thuộc dải ven biển.

Trang 6

ngập mặn, các đụn cát kéo dài như vô tận, các bãi biển và các vũng vịnh nhiều nguồn gốc phân bố suốt từ Bắc chí Nam Theo thống kê sơ bộ có tới

114 cửa sông (trung bình 28,6 km đường bờ có 1 cửa sông), 23 đầm phá với tổng diện tích mặt nước 523,3 km2 (phân bố chủ yếu từ Thừa Thiên - Huế đến Khánh Hòa), 137 vũng vịnh với diện tích 5.619,39 km2 (trong đó ven đất liền có 67 vũng vịnh với 5.236,90 km2, và ven đảo có 70 vũng vịnh với 382,49 km2)

Còn trên vùng biển nông ven bờ nổi bật nhất là hệ thống đảo ven bờ như đã nói đến ở trên, theo thống kê sơ bộ của chúng tôi (năm 1995 [1]) bao gồm 2773 đảo lớn nhỏ, mà mỗi một hòn đảo là một công trình điêu khắc công phu của tạo hóa – là một di sản thiên nhiên quý giá

Về mặt tài nguyên có thể nói rằng chính trên ĐBB tập trung nguồn tài nguyên thiên nhiên quan trọng nhất của đất nước Thật vậy, ở đới này có hầu như toàn bộ trữ lượng than đá, trữ lượng quan trọng về than nâu, trữ lượng căn bản về dầu khí, về quặng sắt, quặng ilmênit, về cát thạch anh, vật liệu xây dựng, vật liệu san lấp - đổ nền Tiếp theo phải kể đến nguồn tài nguyên sinh vật đặc thù nhiệt đới, với thủy hải sản là nguồn sống của cả chục triệu người, cùng với các Vườn Quốc gia, Khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, Khu dự trữ sinh quyển thế giới, Khu bảo tồn biển; tài nguyên địa chất - địa mạo với các Di sản thiên nhiên cấp quốc gia và quốc tế (với vịnh Hạ Long và vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng) Cũng phải kể đến các nguồn tài nguyên đất, nước, gió, sóng và năng lượng Mặt Trời; và có giá trị to lớn là tài nguyên du lịch biển đảo, đã và đang được khai thác mạnh Đặc biệt phải kể đến một dạng tài nguyên nổi trội của ĐBB, đó là tài nguyên vị thế, một dạng tài nguyên mới được nhận dạng và đánh giá, nhưng có ý nghĩa vô cùng quan trọng về cả địa-môi trường, địa-kinh tế và địa-chính trị Và cùng với tài nguyên vị thế còn một dạng tài nguyên nữa không kém phần quan trọng, đó là tài nguyên không gian mà Ủy ban Châu

Âu đã xác định [4]

Cũng phải nói đến các dạng tài nguyên văn hóa tập trung phong phú

ở ĐBB, với các Di sản văn hóa cấp quốc gia và quốc tế, các Lễ hội truyền thống nổi tiếng tại các địa phương ven biển hay trên hải đảo, cùng với các công trình xây dựng đình chùa, miếu, tháp, nhà thờ hàng trăm năm tuổi, cũng như các di chỉ khảo cổ với các nền văn hóa biển từ mười bảy, mười tám ngàn năm trước (Văn hóa Soi Nhụ, Hạ Long, Sa Huỳnh)

Trang 7

2.3 Kinh tế - xã hội

Chính trên dải ven biển và vùng biển lân cận là nơi tập trung nhiều thành phố lớn quan trọng, hệ thống giao thông huyết mạch của toàn quốc

về đường sắt, đường bộ và đường thủy với các hải cảng là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài; nơi tập trung các Khu kinh tế biển quan trọng nhất, các Khu công nghiệp, Khu chế xuất; cũng là nơi phân bố các trung tâm

du lịch lớn nhất của cả nước; nơi mở cửa và hội nhập với thế giới bên ngoài

Ý nghĩa quan trọng về kinh tế của ĐBB có thể nêu: Năm 2009, 28 tỉnh và thành phố ven biển về diện tích có 136.829,0 km2 chiếm 41,33% toàn quốc, về dân số có 43.511,8 ngàn người, chiếm 50,58%, trong khi đó về mặt tổng sản phẩm trong nước (GDP) chiếm đến 63,72%; và như vậy GDP bình quân đầu người ở các tỉnh ven biển bằng 126% mức trung bình của cả nước (Bảng 2)1

Bảng 2 Tổng sản phẩm trong nước (GDP) của các tỉnh và thành phố

ven biển Việt Nam (2009)

Tỉnh, Thành phố Diện tích

(km 2 ) Dân số (ngàn

người)

GDP

(giá thực tế) (tỷ đồng)

GDP bình quân đầu người

(ngàn đồng)

GDP của ĐBB

(tỷ đồng)

1 Do việc tính GDP riêng cho cấp huyện, thị xã, quận là khó thực hiện, nên đã tính GDP cho cấp tỉnh và thành phố ven biển

Trang 8

Phú Yên 5.060,6 863,0 11.247,0 13.032,5 6.330,8

Toàn quốc 331.051,4 86.024,6 1.658.389,0 19.278,0

Nguồn: Số liệu GDP các tỉnh theo Tập bản đồ hành chính Việt Nam, 2011

Để có thể có một khái niệm sơ bộ về quy mô kinh tế của ĐBB chúng tôi tạm tính bằng cách coi nền kinh tế của mỗi tỉnh, thành phố ven biển trải đều theo quy mô dân số của tỉnh, thành phố đó, do đó: GDPĐBB = GDPbq x

DSĐBB , trong đó bq: bình quân đầu người của tỉnh, DS: dân số (của ĐBB của tỉnh) Kết quả thể hiện trong Bảng 2 (cột 6)

Từ Bảng 2 nhận thấy tổng GDP của ĐBB đạt 410.172,3 tỷ đồng, so với toàn quốc đạt 24,73%, trong khi dân số có 21,0% và diện tích chiếm 14,4% Các tỉnh, thành phố có tổng GDP ở ĐBB vượt trội là Bà Rịa - Vũng Tàu, Khánh Hòa, Kiên Giang (>20 ngàn tỷ đồng), tiếp theo là Đà Nẵng, Thanh Hóa, Hải Phòng và Quảng Ninh (17-19 ngàn tỷ) Những tỉnh ở ĐBB có GDP thấp chủ yếu là các tỉnh ven đồng bằng sông Hồng và Cửu Long, và một số tỉnh duyên hải miền Trung

Có thể xem xét sự phân hóa dân cư và kinh tế ĐBB theo các vùng lãnh thổ: Đới bờ Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ, Nam Trung Bộ, và Nam Bộ (Bảng 3)

Trang 9

Bảng 3 Dân số và Tổng sản phẩm trong nước theo các vùng lãnh thổ (2009)

Vùng

Tỉnh và thành phố ven biển

dài bờ biển

(km) Diện tích

(km 2 )

Dân số (ngàn người)

GDP (giá thực tế) (tỷ đồng)

Diện tích đất liền và đảo(km 2 )

Dân số (người)

GDP (giá thực tế) (tỷ đồng)

Tổng 136.829,0 43.511,8 1.056.880,3 47.701,1 18.077.007 410.172,3 3260 Bảng 3 cho thấy sự phát triển vượt trội về kinh tế (thông qua chỉ số GDP) của ĐBB Nam Trung Bộ và Nam Bộ so với phía Bắc: ĐBB phía Nam chiếm đến 71,68% tổng GDP của ĐBB toàn quốc, trong khi dân số chỉ chiếm 56,20% (chiều dài bờ biển chiếm 64,5%) Nếu như GDP bình quân đầu người của ĐBB nói chung (24.289,5 ngàn đồng) lớn hơn (bằng 126%) bình quân toàn quốc (19.278,0 ngàn đồng), thì GDP bình quân đầu người của toàn ĐBB phía Bắc là thấp hơn khá nhiều bình quân toàn quốc, chỉ đạt 14.672,6 ngàn đồng (bằng 76,1%), trong khi đó GDP bình quân đầu người ở ĐBB phía Nam đạt đến 28.936,7 ngàn đồng, tức gần gấp đôi phía Bắc (1,97 lần), và bằng 150,1% bình quân toàn quốc Điều đó chứng tỏ ĐBB phía Bắc chưa tận dụng được ưu thế của địa phương giáp biển, chưa phát huy được thế mạnh về kinh tế biển đảo của mình, trừ Quảng Ninh và Hải Phòng Sự phân hóa và chênh lệch nêu trên bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có sự phân hóa về điều kiện tự nhiên, tài nguyên và cũng còn do cả truyền thống địa phương

2.4 Tình trạng môi trường và các vấn đề cần quan tâm

Có thể nói ĐBB Việt Nam là nơi tập trung nhiều vấn đề môi trường nhất, nơi có phạm vi khai thác tài nguyên rộng và với nhịp độ cao, tác động của con người là sâu rộng và mạnh mẽ Đã có nhiều số liệu nói lên hiện trạng ở nhiều vùng có nguy cơ ô nhiễm môi trường nước biển, nước ngầm, ô nhiễm môi trường trầm tích và môi trường đất, môi trường không khí bởi các kim loại nặng (Zn, As, Cu, Cd, ), bởi dầu, nước thải, rác thải và bụi, do các hoạt động khai thác khoáng sản, nuôi trồng, đánh

Trang 10

bắt và chế biến thủy sản, các hoạt động nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, du lịch, v.v Đặc biệt ĐBB cũng là nơi tập trung nhiều loại tai biến gây nên nhiều tổn thất về người và tài sản; đó là các trận bão và

áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, xói lở và bồi tụ, và trước mắt là nguy cơ nước biển dâng1 Cũng ở ĐBB đã và sẽ xảy ra các xung đột môi trường đa dạng, thể hiện các mâu thuẫn về lợi ích giữa sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường Trong đó, các mâu thuẫn về lợi ích ở mức độ cao có thể kể mâu thuẫn giữa các hoạt động nuôi trồng thủy sản với nông lâm nghiệp, diêm nghiệp và du lịch; giữa đánh bắt thủy sản với công tác bảo tồn và du lịch; giữa khai thác khoáng sản với phát triển du lịch, bảo tồn, và nông lâm nghiệp, v.v Ngoài ra một số vấn đề ở ĐBB hiện nay cũng rất cần được quan tâm: đó là nơi sinh cư và nguồn lợi hải sản vùng biển ven bờ đã bị thu hẹp và khai thác cạn kiệt, các hệ sinh thái bị suy thoái mạnh; sức ép dân số gia tăng và sự nghèo khó còn ở tỷ lệ cao; chính sách quản lý đới

bờ còn nhiều bất cập

3 Những vấn đề cơ bản trong nghiên cứu liên ngành phục vụ phát triển bền vững ĐBB Việt Nam

ĐBB Việt Nam đang trong thời kỳ mở cửa hội nhập và phát triển mạnh

mẽ như hiện nay đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cho các ngành khoa học nghiên cứu, cả về tự nhiên và cả về kinh tế - xã hội Theo chúng tôi có thể nêu lên ba nhóm vấn đề cơ bản mà các ngành khoa học cần quan tâm nghiên cứu đồng bộ, nhằm góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững lãnh thổ, đó là các nhóm vấn đề về tài nguyên, tai biến thiên nhiên và quản

lý lãnh thổ

3.1 Nhóm vấn đề về tài nguyên của ĐBB.

Như trên đã nêu ĐBB Việt Nam sở hữu rất phong phú và đa dạng các tài nguyên thiên nhiên và văn hóa Tuy nhiên, bên cạnh những tài nguyên truyền thống đã và đang được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi như khoáng sản, sinh vật mà sẽ cạn kiệt hoặc suy thoái, chúng tôi mong muốn đề cập đến những tài nguyên mới được nhận thức thời gian gần đây, nhưng là đặc thù của ĐBB và có ý nghĩa lớn cho sự phát triển bền vững, gồm: di sản thiên nhiên, tài nguyên không gian và tài nguyên vị

1 Xem: Báo cáo môi trường quốc gia năm 2010 (Bộ Tài nguyên và môi trường)

Trang 11

thế Các dạng tài nguyên này cần được nghiên cứu đồng bộ và khai thác kịp thời bởi chúng có thể đưa lại những lợi ích kinh tế - xã hội vượt bậc đồng thời có thể giảm thiểu việc tiêu thụ các nguồn tài nguyên không tái tạo hoặc tiêu hao khác

a) Di sản thiên nhiên (Natural heritage)

Di sản thiên nhiên là các thành tạo vật lý và sinh học, hay tập hợp của chúng có giá trị nổi bật toàn cầu về mỹ học và khoa học (UNESCO, Công ước về bảo vệ Di sản thiên nhiên và văn hóa thế giới 1972), hoặc cụ thể hơn,

là di sản của những vật thể tự nhiên cùng với các thuộc tính của chúng tạo nên cảnh quan và môi trường tự nhiên, bao gồm các hệ động vật và thực vật,

mà trong khoa học gọi là đa dạng sinh học, cùng với địa chất và địa hình (đa dạng địa học)1 Di sản thiên nhiên biển đảo Việt Nam đã được nghiên cứu bước đầu trong công trình [6] dưới dạng các kỳ quan địa chất và sinh thái, được tạo ra bởi các quá trình địa chất và quá trình tiến hóa của sinh vật Các tác giả đã đề xuất 35 khu vực kỳ quan địa chất và sinh thái biển đảo thuộc

3 cấp quản lý khác nhau (quốc tế, quốc gia, địa phương) với 80 danh hiệu Riêng ở cấp quốc tế các kỳ quan địa chất trong ĐBB bao gồm: 1) Di sản địa chất và thẩm mỹ: Quần đảo Bái Tử Long, Hạ Long; 2) Công viên địa chất: Cát Bà - Long Châu, Lăng Cô - Hải Vân - Sơn Chà, Vùng cát đỏ Phan Thiết; 3) Danh thắng: Vùng Cửa Ba Lạt, Cồn cát Bình-Trị-Thiên, Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, Vịnh Nha Trang, Vùng Mũi Cà Mau Tương tự, các kỳ quan sinh thái cấp quốc tế ở ĐBB gồm: 1) Các Di sản đa dạng sinh học: Quần đảo Bái Tử Long, Vịnh Hạ Long, Cát Bà - Long Châu; 2) Khu dự trữ sinh quyển: Vùng cửa Ba Lạt, Đầm phá Tam Giang - Cầu Hai - Lăng Cô - Hải Vân - Sơn Chà, Cù Lao Chàm, Khu Cần Giờ, Mũi Cà Mau, Phú Quốc, Hà Tiên - Kiên Lương; 3) Khu bảo vệ đất ngập nước: Vùng cửa Ba Lạt, Hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai, Khu Cần Giờ, Mũi Cà Mau; 4) Khu danh thắng: Côn Đảo

b) Tài nguyên không gian (Space resources)

Ủy ban Châu Âu xác định tài nguyên thiên nhiên có 4 loại: nguyên liệu (khoáng sản, sinh khối), chất liệu môi trường (không khí, đất, nước), tài nguyên dòng (gió, địa nhiệt, thủy triều, năng lượng mặt trời), và tài nguyên không gian [4] Tài nguyên không gian được hiểu là nơi sinh ra

và duy trì các dạng tài nguyên nêu trên, nơi diễn ra các hoạt động của con người, gồm chủ yếu là bề mặt đất, mặt biển và khoảng không bên trên Ở

1 Theo Wikipedia.

Ngày đăng: 18/12/2017, 12:09

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm