Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòngthống kê cấp xã huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòngthống kê cấp xã huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòngthống kê cấp xã huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòngthống kê cấp xã huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòngthống kê cấp xã huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòngthống kê cấp xã huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòngthống kê cấp xã huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòngthống kê cấp xã huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòngthống kê cấp xã huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Năng lực thực thi công vụ của công chức văn phòngthống kê cấp xã huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHẠM VĂN LÝ
NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH - 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, em xin chân thành cảm ơn sâu sắc Thầy giáo, PGS.TS Võ Kim Sơn, người đã trực tiếp chỉ bảo tận tình, hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành Luận văn này
Em xin chân thành cảm ơn các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo Học viện Hành chính Quốc gia đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho em kiến thức về quản lý công trong suốt thời gian học cao học tại Học viện Xin chân thành cảm ơn Thầy giáo chủ nhiệm Mai Hữu Bốn đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ em trong quá trình học tập và hoàn thành khóa học này
Em xin cảm ơn các đồng chí lãnh đạo Huyện ủy, UBND huyện; Lãnh đạo, chuyên viên Phòng Nội vụ huyện Hòn Đất đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em học tập và hoàn thành khóa học này
Kiên Giang, ngày 03 tháng 8 năm 2017
Tác giả
Phạm Văn Lý
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng em Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và rõ ràng dựa trên số liệu tin cậy và kết quả khảo sát thực tế Đề tài nghiên cứu một cách độc lập, không có
sự sao chép kết quả của bất kỳ đề tài nào trong lĩnh vực này Lời cam đoan của
em là đúng sự thật và em xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
TÁC GIẢ
PHẠM VĂN LÝ
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VPTK: Văn phòng – Thống kê
UBND: Ủy ban nhân dân
HĐND: Hội đồng nhân dân
SL: Số lượng
Trang 7MỤC LỤC
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Danh mục các từ viết tắt
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 4
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 6
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 7
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 8
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ 9
1.1 Công chức cấp xã, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã…….…… 9
1.1.1 Khái niệm công chức cấp xã và công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 9
1.1.2 Đặc điểm công chức Văn phòng–Thống kê cấp xã 11
1.1.3 Vị trí, vai trò của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 13
1.2 Năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã……….……18
1.2.1 Quan niệm về năng lực và năng lực thực thi công vụ 18
1.2.2 Nhiệm vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã theo quy định của pháp luật 28
1.2.3 Yêu cầu, đòi hỏi hay tiêu chuẩn, đối với công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã theo quy định của pháp luật 34
1.2.4 Tiêu chí đánh giá năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 37
Trang 81.2.5 Đánh giá năng lực theo tiêu chuẩn quy định 37
1.2.6 Đánh giá năng lực công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã nói riêng và công chức nói chung thông qua mức độ hoàn thành nhiệm vụ 43
1.2.7 Đánh giá năng lực thông qua ý kiến về mức độ hài lòng của người dân đối với dịch vụ mà công chức văn phòng-thống kê cấp xã cung cấp 44
Tiểu kết chương 1 46
Chương 2: THỰC TRẠNG NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG THỐNG KÊ CẤP XÃỞ HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG 47
2.1 Khái quát về đặc điểm, tình hình huyện Hòn đất, tỉnh Kiên Giang… 47
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, dân số 47
2.1.2 Kinh tế - xã hội 48
2.1.3.Đơn vị hành chính cấp xã 49
2.2 Đánh giá thực trạng năng lực công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã huyện Hòn Đất theo tiêu chí do pháp luật quy định……… …… 40
2.2.1.Tổng quan về công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã huyện Hòn Đất 50
2.2.2 Đánh giá thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã qua khảo sát 55
2.3 Nhận xét, đánh giá tổng hợp về năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã trên địa bàn huyện Hòn Đất, Kiên Giang giai đoạn 2011-2016 64
2.3.1 Những điểm mạnh 64
2.3.2 Những điểm hạn chế 65
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 68
Tiểu kết chương 2 72
Trang 9Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG
VỤ CỦA CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ Ở HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG 74
3.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác cán bộ là cơ sở nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức nói chung, và công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã ở huyện Hòn Đất……… ……74 3.2 Những định hướng của tỉnh Kiên giang và huyện Hòn Đất trong việc nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức nói chung và công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã nói riêng 76 3.3 Những giải pháp nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang………78 3.3.1 Bố trí, sắp xếp lại công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã theo yêu cầu của vị trí việc làm và đảm bảo số lượng công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã theo quy định 78 3.3.2 Quan tâm tạo điều kiện hoàn thiện các tiêu chuẩn công chức đối với công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã chưa đảm bảo đầy đủ các tiêu chuẩn theo quy định và thực hiện tốt công tác quy hoạch nguồn công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 79 3.3.3 Quan tâm tổ chức các lớp đào tạo, bồi dưỡng theo nhu cầu nhằm cập nhật thường xuyên những kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ và bồi dưỡng các
kỹ năng thực thi công vụ cho công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 81 3.3.4 Đổi mới công tác đánh giá đối với công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 83 3.3.5 Bảo đảm cơ sở vật chất và phương tiện làm việc cho công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã 84
Trang 103.3.6 Tăng cường công tác quản lý, sử dụng công chức Văn phòng –
Thống kê cấp xã 84
3.3.7 Một số kiến nghị 85
Tiểu kết chương 3 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Chính quyền địa phương cấp xã có vị trí rất quan trọng trong hệ thống chính quyền bốn cấp của nước ta hiện nay, đây là cấp chính quyền trực tiếp với nhân dân, gần nhân dân nhất Chính quyền địa phương cấp xã gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã, trong đó Ủy ban nhân dân cấp xã
là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương có chức năng, nhiệm vụ điều hành mọi hoạt động hành chính ở địa phương, trực tiếp quản lý và sử dụng công chức cấp xã Công chức cấp xã là những người giải quyết trực tiếp nhiều công việc của nhân dân không qua cấp trung gian, có vai trò rất quan trọng trong việc tham mưu cho chính quyền địa phương cấp xã tổ chức và vận động nhân dân thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, tăng cường đại đoàn kết toàn dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo trật tự, an toàn xã hội và giữ vững quốc phòng địa phương
Công chức cấp xã gồm 07 chức danh: Chỉ huy trưởng Quân sự; Trưởng Công an; Văn phòng – thống kê; Tư pháp – hộ tịch; Địa chính – xây dựng –
đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã); Văn hóa – xã hội Trong đó, công chức Văn phòng – thống kê có vị trí quan trọng trong đội ngũ công chức cấp
xã
Công chức VPTK đảm nhiệm nhiệm vụ:Văn phòng HĐND&UBND Văn thư lưu trữ, thủ quỹ, thống kê, , công tác thi đua khen thưởng, công tác nội vụ
Trang 12Để thực hiện tốt các nhiệm vụ đó, đòi hỏi công chức VPTK phải có đủ năng lực theo quy định mới giúp hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã có hiệu lực, hiệu quả
Hòn Đất là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất của tỉnh Kiên Giang
(trước đây nằm trong huyện Châu Thành thuộc tỉnh Rạch Giá và sau đó thuộc tỉnh Kiên Giang), huyện lỵ là Thị trấn Hòn Đất Vị trí của huyện: phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, phía tây bắc giáp huyện Kiên Lương), phía đông nam giáp thành phố Rạch Giá, phía đông giáp huyện huyện Tân Hiệp, đông bắc giáp huyện Thoại Sơn (tỉnh An Giang) Trên địa bàn huyện có một hòn cùng tên là Hòn Đất, cao 260 m
Ngày 6 tháng 4 năm 2007, Chính phủ ban hành Nghị định 58/2007/NĐ
- CP, thành lập xã Sơn Bình trên cơ sở điều chỉnh 3.571,53 ha diện tích tự nhiên và 8.288 nhân khẩu của xã Sơn Kiên Sau khi điều chỉnh, huyện Hòn Đất có 14 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm các xã:
Trang 1314 Thị trấn Hòn Đất
Số lượng công chức cấp xã (bao gồm 12 xã và 2 Thị trấn) đến cuối năm
2016 là 172 người Theo định mức biên chế là 177 Như vậy huyện chưa tuyển
đủ biên chế được giao cho công chức cấp xã nói chung
Tất cả các xã, thị trấn được bố trí có 38 công chức văn phòng – thống
kê, bình quân 2,7 công chức Văn phòng – thống kê/ 1 xã Những năm qua, công chức Văn phòng – thống kê cấp xã được cử đi đào tạo, bồi dưỡng trình
độ chuyên môn nghiệp vụ, phương pháp làm việc, văn hóa công sở, kỹ năng giao tiếp công vụ, đạo đức công vụ Tuy nhiên, xét trên khía cạnh năng lực, đội ngũ công chức cấp xã của Huyện Hòn đất vẫn còn khá nhiều vấn đề phải được hoàn thiện, nâng cao để đáp ứng đòi hỏi của sự nghiệp cải cách hành chính và xây dựng nông thôn mới
Nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – thống
kê cấp xã ở huyện Hòn Đất , tỉnh Kiên Giang là nhiệm vụ cấp thiết, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động hành chính, đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển kinh tế xã hội ở địa phương trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, xây dựng nông mới, xây dựng quê hương ngày càng văn minh, giàu đẹp Đáp ứng những tiêu chuẩn chức danh mới đối với công chức cấp xã trong giai đoạn tới
Nhiệm vụ được giao cho công chức VPTK nói chung rất đa dạng, trên nhiều lĩnh vực Trong khi đó, năng lực của đội ngũ công chức VPTK cả huyện còn nhiều bất cập
Đề tài luận văn “Năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang”, nhằm góp phần
hoàn thiên, nâng cao năng lực của công chức VPTK Huyện Hòn đất để đáp ứng đòi hỏi của địa phương
Trang 142 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan đến cán bộ, công chức nói chung đã được nhiều chuyên gia, nhà khoa học, nhà nghiên cứu và nhiều công trình khoa học cũng đã nghiên cứu vấn đề này dưới nhiều gốc độ khác nhau Một số công trình có thể giúp
để tác giả có thêm cơ sở về lý luận; một số công trình cụ thể nghiên cứu cho các địa phương khác trên các nhóm công chức
1 PGS TS Nguyễn Phú Trọng và PGS.TS Trần Xuân Sầm đồng chủ biên (2001), Luận cứ khoa học cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
Đây là công trình được khá nhiều người quan tâm Vì đó làm cơ sở cho việc xây dựng tiêu chuẩn cán bộ, công chức nói chung Nghiên cứu không đề cập trực tiếp công chức cấp xã, nhưng có thể tham khảo nguyên tắc chung để giúp định hướng cho luận văn
2 TS Nguyễn Minh Sản (2009), Pháp luật về cán bộ, công chức chính quyền cấp xã ở Việt Nam hiện nay – những vấn đề lý luận và thực tiễn, Sách chuyên khảo, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội
Đây là tài liệu mang tính hệ thống các loại văn bản pháp luật có liên quan đến cán bộ, công chức cấp xã Tuy nhiên, do hạn chế về thời gian nên công trình chỉ dừng lại những văn bản trước khi có Luật cán bộ, công chức và đặc biệt là công chức cấp xã (quy định mới từ năm 2010)
3 TS Nguyễn Thị Hồng Hải (2010), Một số vấn đề phát triển năng lực thực thi công vụ của công chức nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính, Tham luận tại Hội thảo: Học viện Hành chính, Cải cách hành chính nhà nước
ở Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà khoa học, kỷ yếu hội thảo Bài tham luận, nhưng có thể tham khảo về cách thức định hướng xây dựng năng lực nói chung
Trang 15Một số luận văn cao học tại Học viện Hành chính Quốc gia có liên quan đến năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã Do công chức cấp
xã có 7 nhóm khác nhau, mỗi luận văn đề cập đến một nhóm công chức
Võ Thị Thu Thủy (2009), Nâng cao năng lực thực thi công vụ của cán
Công chức cấp xã và năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã, bên cạnh những tiêu chí chung, mang tính pháp lý (năng lực pháp lý) thì năng lực của công chức cấp xã phụ thuộc rất lớn vào điều kiện cụ thể của từng xã ở từng huyện Do đó, các luận văn trên giúp để có cùng chung suy nghĩ, nhưng
để giải quyết cụ thể cho các xã của từng huyện đòi hỏi phải có công trình riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở lý luận chung về năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã, cũng như thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã Huyện Hòn Đất, Tỉnh Kiên giang, phải đưa ra được những đề xuất có thể
Trang 16nâng cao năng lực thực thi công việc của công chức cấp xã Huyện Hòn Đất phù hợp với điều kiện của huyện Hòn Đất
3.2 Nhiệm vụ
Thứ nhất, làm rõ cơ sở lý luận các vấn đề liên quan đến năng lực thực
thi công vụ của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
Thứ hai, khảo sát thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức
Văn phòng - thống kê cấp xã trên địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
Thứ ba, căn cứ kết quả khảo sát, tiến hành phân tích, tổng hợp và đánh
giá kết quả khảo sát Qua đó, làm rõ những điểm mạnh, điểm hạn chế và nguyên nhân của điểm mạnh, điểm hạn chế đó trong năng lực thực thi công
vụ của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã ở huyện Hòn Đất , tỉnh Kiên Giang trong những năm qua
Thứ tư, trên cơ sở nhận xét, đánh giá kết quả khảo sát, luận văn đề xuất
một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng - thống kê cấp xã trên địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng - thống kê cấp xã
ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Trong khuôn khổ của đề tài luận văn thạc sĩ,
việc nghiên cứu được giới hạn trong phạm vi Ủy ban nhân dân các xã, thị trấn
ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên giang
Phạm vi về thời gian: Đề tài luận văn chỉ khảo sát năng lực thực thi
công vụ của công chức Văn phòng - thống kê cấp xã ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang trong khoảng thời gian 05 năm từ tháng 01/2011 đến ngày
Trang 1731/12/2015 và dự kiến đề xuất giai đoạn 2016-2021 (theo nhiệm kỳ của chính quyền địa phương)
Phạm vi khách thể: công chức văn phòng – thống kê 14 đơn vị hành chính cấp xã của Huyện Hòn Đất
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, lịch sử; Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và người làm việc cho nhà nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn được thực hiện bởi các phương pháp như: phương pháp thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp để xử lý tài liệu thu thập
Về Phương pháp điều tra xã hội học Tác giả thực hiện điều tra xã hội học thông qua điều tra chọn mẫu bằng cách phát phiếu bảng hỏi với 3 mẫu phiếu:
Phiếu 1- Hỏi chính công chức văn phòng – thống kê và một số công
chức khác Ngoài 38 công chức văn phòng – thống kê mỗi xã chọn ngẫu nhiên 2 công chức Tổng số 66 người
Phiếu 2- Hỏi cán bộ chủ chốt cấp xã Mỗi xã hỏi chủ tịch hoặc phó chủ
tịch và 1 cán bộ chủ chốt của các tổ chức chính trị - xã hội: 30 người
Phiếu 3- Hỏi người dân ở các xã của Huyện Hòn Đất Mỗi xã 10 người
Tổng số 140 người
Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp như phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp, thống kê các số liệu từ Phòng Nội vụ Huyện Hòn Đất
Trang 186 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn lý giải một số vấn đề liên quan đến năng lực thực thi công vụ của công chức cấp xã tạo cơ sở lý luận trong việc nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng - thống kê cấp xã trên địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Qua kết quả khảo sát, luận văn chỉ ra những điểm mạnh, điểm hạn chế, nguyên nhân của những điểm mạnh, điểm hạn chế đó về thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang để trên cơ sở đó có những khuyến nghị hữu ích giúp cho lãnh đạo, nhà quản lý đề ra những chính sách phù hợp, những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã trên địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
Luận văn cũng có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các lãnh đạo, nhà quản lý, giảng viên, cán bộ, công chức khi nghiên cứu, tìm hiểu những vấn đề liên quan đến năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã trên địa bàn cấp huyện
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1 Lý luận chung về năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã
Chương 2 Thực trạng năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – thống kê cấp xã trên địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
Chương 3 Giải pháp nhằm nâng cao năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng -thống kê cấp xã trên địa bàn huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang
Trang 19Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ NĂNG LỰC THỰC THI CÔNG VỤ CỦA CÔNG CHỨC VĂN PHÒNG – THỐNG KÊ CẤP XÃ
1.1.Công chức cấp xã, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
1.1.1 Khái niệm công chức cấp xã và công chức Văn phòng – Thống
kê cấp xã
Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước Ở Việt Nam, khái niệm công chức được h nh thành và gắn liền với sự phát triển của nền hành chính nhà nước Khái niệm công chức lần đầu tiên được nêu là trong Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, theo đó thì công chức là:
“những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức
vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước đều là
công chức theo quy chế này, trừ trường hợp đặc biệt do Chính phủ quy định”
Đến năm 1991, mới có văn bản mới thay thế và quy định công chức khác với công chức trước đây (Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 của Hội đồng
Bộ trưởng) Và đến năm 1998, Pháp lệnh (Pháp lệnh Cán bộ công chức ngày 26/02/1998 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội) quy định chi tiết hơn về cụm từ công chức
Theo Luật cán bộ, công chức quy định “ Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn nghiệp vụ thuộc
Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước”[33]
Theo nghị định của Chính phủ, quy định công chức cấp xã gồm các chức danh sau:
Trang 20- Trưởng Công an;
- Chỉ huy trưởng Quân sự;
- Văn hóa - xã hội[18]
Và tất cả công chức các loại trên có nhiệm vụ phải giúp Ủy ban Nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ:
- Xây dựng, trình Hội đồng nhân dân xã quyết định các nội dung quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 33 của Luật này và tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã
- Tổ chức thực hiện ngân sách địa phương
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn do cơ quan nhà nước cấp trên phân cấp, ủy quyền cho Ủy ban nhân dân xã[35]
Uỷ ban nhân dân cấp xã là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cấp xã, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng nhân dân xã; là cơ quan hành chính nhà nước ở cấp xã, có nhiệm vụ tổ chức thực hiện hiến pháp, luật, pháp lệnh và các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đề
ra các quy chế cụ thể, phù hợp để quản lý các lĩnh vực ở địa phương Bộ phận văn phòng của Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tham mưu, đề xuất các giải pháp để lãnh đạo Ủy ban nhân dân tổ chức điều hành các hoạt động của
bộ máy hành chính ở cấp xã, thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo quy định
Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là một trong những chức danh chuyên môn, nghiệp vụ do Ủy ban nhân dân cấp xã trực tiếp quản lý và
sử dụng, có đặc điểm riêng và được hiểu như sau:
Trang 21Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là những công dân được tuyển dụng vào làm việc tại Ủy ban nhân dân cấp xã, có trách nhiệm tham mưu, đề xuất các giải pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức điều hành các hoạt động quản lý nhà nước ở địa phương và thực hiện đúng các nhiệm vụ theo pháp luật quy định[18]
1.1.2 Đặc điểm công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
Cũng như các công chức cấp xã khác, công chức Văn phòng – Thống
kê hoạt động theo thẩm quyền được pháp luật quy định, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước nhân dân địa phương và cơ quan quản lý cấp trên Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là một bộ phận rất quan trọng trong đội ngũ công chức xã, trực tiếp tham mưu cho Ủy ban nhân dân xã tổ chức thực hiện các hoạt động hành chính ở địa phương, là những người hằng ngày tiếp xúc trực tiếp với nhân dân để tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giải quyết các vấn đề liên quan đến đời sống của nhân dân do đó phải đáp ứng được các yêu cầu về phẩm chất, năng lực và trình độ theo quy định đối với công chức Bên cạnh
đó, công chức Văn phòng – Thống kê có những đặc điểm riêng như sau:
- Công chức VPTK hình thành từ nhiều nguồn khác nhau Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã không chỉ hình thành từ nguồn tuyển dụng mới, theo chính sách thu hút, cử tuyển mà còn do chuyển đổi chức danh cán
bộ chuyên trách ở các tổ chức đoàn thể cấp xã theo yêu cầu của công tác tổ chức nhân sự cần phải bố trí sắp xếp lại
- Công chức VPTK chịu sự quản lý về chuyên môn nghiệp vụ của nhiều cơ quan chuyên môn cấp huyện Ủy ban nhân dân cấp xã là cấp cơ quan hành chính thấp nhất trong hệ thống cơ quan hành chính 4 cấp ở nước ta Về chuyên môn của công chức nói chung, của công chức Văn phòng – Thống kê nói riêng chịu sự quản lý về chuyên môn nghiệp vụ của các phòng chuyên
Trang 22môn cấp huyện Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã đảm nhận nhiều nhóm loại công việc như : công tác văn phòng, văn thư, lưu trữ, thống kê, tiếp công dân, thi đua - khen thưởng, nội vụ, việc đảm bảo điều kiện cho hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã Do đó, hoạt động chuyên môn của công chức VPTK cấp xã chịu sự quản lý về chuyên môn nghiệp vụ của các cơ quan cấp huyện: Văn phòng HĐND và UBND, Phòng Nội vụ, Chi cục Thống kê cấp huyện.
- Công chức VPTK thực hiện hai nhóm công việc khá độc lập: văn phòng và thống kê Trong đó, lĩnh vực thống kê là một lĩnh vực chuyên sâu, đòi hỏi phải có kiến thức chuyên sâu Nếu không chú ý đặc điểm, yêu cầu này
sẽ làm cho công việc văn phóng- thống kê sẽ khó đạt được Hơn nữa, do nhiều công chức Văn phòng – Thống kê là người địa phương, thường xuyên
có mối quan hệ gần gũi với nhân dân, có liên quan đến dòng tộc, gia đình và tình nghĩa hàng xóm với nhau nên trong quá trình thực thi công vụ vẫn bị ảnh hưởng bởi tình cảm Bên cạnh đó, do đảm nhiệm nhiều công việc thuộc các lĩnh vực khác nhau trong khi chỉ được đào tạo một ngành, một chuyên ngành nhất định; việc bố trí chưa đúng chuyên môn đào tạo cũng dẫn đến nhiều hạn chế khi giải quyết công việc, bộc lộ nhiều hạn chế, nhiều bất cập về năng lực, trình độ Đây chính là vấn đề mà các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương cần quan tâm trong việc nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực nhằm đáp ứng yêu cầu, niệm vụ được giao
- Công chức Văn phòng – Thống kê thường xuyên có sự thay đổi hơn
so với công chức khác ở xã Công chức Văn phòng – Thống kê có chức năng, nhiệm vụ phục vụ cho cơ quan Ủy ban nhân dân hoạt động; có trách nhiệm, tham mưu, đề xuất các giải pháp để lãnh đạo Uỷ ban nhân dân tổ chức điều hành bộ máy thực hiện chức năng nhiệm vụ theo luật định; bảo đảm cơ sở vật chất cho Uỷ ban nhân dân làm việc Qua đó cho thấy hoạt động của công
Trang 23chức Văn phòng – Thống kê gắn rất chặt với hoạt động của Ủy ban nhân dân
Do vậy, công chức Văn phòng – Thống kê thường hay được giới thiệu quy hoạch nguồn cán bộ lãnh đạo chủ chốt cấp xã và sau mỗi kỳ đại hội, bầu cử thường có nhiều biến động, thay đổi
- Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã thuộc bộ phận gắn chặt với hoạt động của Ủy ban nhân dân cấp xã Với chức năng đảm bảo các điều kiện phục vụ chính quyền cấp xã hoạt động, bộ phận văn phòng trực tiếp thực hiện rất nhiều loại công việc thuộc chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng nhân dân và
Ủy ban nhân dân cấp xã Thông qua bộ phận văn phòng, công tác thông tin tổng hợp, hành chính, quản trị… của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã được thực hiện
- Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là đầu mối của nhiều lĩnh vực quản lý nhà nước trên địa bàn như: Công tác thống kê, cải cách hành chính, thi đua – khen thưởng, văn thư – lưu trữ, công tác nội vụ Chính vì thế, đòi hỏi công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã phải có năng lực để giải quyết hoặc tham mưu giải quyết công việc thuộc lĩnh vực phụ trách theo quy định của pháp luật
1.1.3 Vị trí, vai trò của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
Cùng với đội ngũ công chức trong hệ thống chính trị ở xã, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là người thay mặt cho nhà nước thực thi công
vụ, phục vụ nhân dân địa phương theo thẩm quyền được pháp luật quy định Hoạt động thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã góp phần phát huy quyền dân chủ, xây dựng nhà nước của dân, do dân, vì dân Cũng như những công chức khác, thông qua hoạt động thực thi công vụ của mình, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là người trực tiếp tuyên truyền, tổ chức thực hiện các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tới nhân dân địa phương để những chủ trương, đường
Trang 24lối, chính sách đó thực sự đi vào cuộc sống Nếu công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã không có trình độ, năng lực thì các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước dù có đúng, có trúng đến đâu thì cũng khó có thể đạt được hiệu quả trong thực tiễn
Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là nguồn nhân lực cho bộ máy chính quyền địa phương; trực tiếp tham mưu cho chính quyền địa phương thực hiện việc quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn, ban hành các văn bản quản lý hành chính nhà nước ở cơ sở Theo tính chất, nhiệm vụ được phân công, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã thường xuyên tiếp xúc với nhân dân, trực tiếp lắng nghe ý kiến, nguyện vọng của nhân dân, tiếp nhận và tham mưu, đề xuất biện pháp xử lý, giải quyết các vấn đề phát sinh ở
cơ sở, những công việc mà nhân dân đề nghị thuộc lĩnh vực được phân công
và pháp luật quy định Nếu công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã suy thoái về đạo đức, lối sống; xa dân, cửa quyền, hách dịch sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín của Đảng và Nhà nước vì hoạt động thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã cũng là phản ánh nền công vụ, thể chế hành chính, bản chất và mục tiêu của chế độ, của nhà nước Ngược lại, nếu công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã có tâm, có tầm, có năng lực giải quyết các mâu thuẫn nảy sinh thấu tình, đạt lý, đúng quy định ngay từ cơ sở thì sẽ giúp ổn định tình hình, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở, hạn chế được rất nhiều phiền hà cho cấp trên và tiết kiệm được công sức, cũng như tiền bạc của nhân dân, đồng thời nâng cao uy tín của chính quyền địa phương
Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là một trong các chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, giữ vai trò là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân, đoàn thể, giữa cấp trên với địa phương, đảm nhiệm vị trí đầu mối nhiều công việc do đó đòi hỏi công chức Văn phòng
Trang 25– Thống kê cấp xã phải có trình độ nhất định, có đủ phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị để thực hiện vai trò là cầu nối quan trọng đó
Do vậy, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã có vị trí, vai trò hết sức quan trọng và được thể hiện qua các mối quan hệ sau:
- Mối quan hệ đối với UBND cấp xã:
Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã đảm nhiệm công tác Văn phòng Uỷ ban xã có chức năng tham mưu giúp UBND xã tổ chức điều hành công việc lãnh đạo của Ủy ban; tham mưu xây dựng chương trình, kế hoạch công tác thường kỳ của Ủy ban; giúp UBND xã ban hành các quy chế và tổ chức thực hiện quy chế làm việc; thực hiện công tác tiếp công dân, nâng cao hiệu quả việc xử lý tại chỗ những kiến nghị và khiếu nại của công dân; giúp
Ủy ban nhân dân xã thực hiện công tác văn thư, công tác lưu trữ, đảm bảo cơ
sở vật chất và phương tiện làm việc của UBND xã
Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã có nhiệm vụ xây dựng chương trình công tác thường kỳ của Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân
xã bảo đảm sự ăn khớp, thống nhất với chương trình công tác của Đảng uỷ xã
- Mối quan hệ với Hội đồng nhân dân cấp xã: Hội đồng nhân dân là cơ
quan quyền lực Nhà nước ở địa phương; Ủy ban nhân dân là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân Ở địa phương cấp xã, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân là hai tổ chức khác nhau, song có quan hệ mật thiết với nhau Nghị quyết của Hội đồng nhân dân muốn đến được với dân, chủ yếu thông qua hoạt động của Ủy ban nhân dân Hội đồng nhân dân cấp xã hiện nay không có văn phòng Vì vậy, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã có trách nhiệm rất lớn với Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua hai loại công
tác: Một là, công tác thông tin tổng hợp qua việc theo dõi tình hình chung của
địa phương, công chức Văn phòng – Thống kê có trách nhiệm bảo đảm thông tin cho Hội đồng nhân dân hoạt động; tham mưu xây dựng chương trình công
Trang 26tác thường kỳ của Thường trực Hội đồng nhân dân Hai là, công tác đảm bảo
cơ sở vật chất, công chức Văn phòng – Thống kê có trách nhiệm tham mưu đảm bảo cơ sở vật chất cho Hội đồng nhân dân hoạt động như: Phòng làm việc, văn phòng phẩm và các trang thiết bị kỹ thuật khác
- Mối quan hệ với các công chức khác thuộc Ủy ban nhân dân: Theo
các văn bản hiện hành, ở Ủy ban nhân dân cấp xã, ngoài cán bộ lãnh đạo, cơ quan Uỷ ban nhân dân còn có các công chức khác Mỗi công chức phụ trách một hoặc một số lĩnh vực hoạt động của Uỷ ban nhân dân, có vị trí ngang bằng Công chức Văn phòng – Thống kê có quan hệ cộng tác, phối hợp với những công chức khác thực hiện nhiệm vụ được giao, phục vụ Uỷ ban nhân dân thực hiện chức năng quản lý nhà nước tập trung thống nhất các lĩnh vực của đời sống xã hội trong xã
- Mối quan hệ với các trưởng ấp, tổ trưởng tổ nhân dân tự quản, tổ dân phố: Trong mỗi xã có nhiều ấp, thị trấn thì có nhiều tổ dân phố Tuy ấp, tổ
dân phố không phải là một cấp chính quyền, song ấp, tổ dân phố, tổ nhân dân
tự quản có vai trò rất quan trọng Đứng đầu ấp, khu phố là trưởng ấp và trưởng khu phố Đứng đầu tổ dân phố, tổ nhân dân tự quản là tổ trưởng tổ dân phố và tổ trưởng tổ nhân dân tự quản Về mặt trách nhiệm, với nhà nước, trưởng ấp, tổ trường tổ dân phố là người tuyên truyền, phổ biến và trực tiếp tổ chức thực hiện mọi chủ trương của Ủy ban nhân dân cấp xã trong ấp tổ dân phố Với dân, trưởng ấp, tổ trưởng tổ nhân dân tự quản là người trực tiếp tiếp xúc, nắm bắt và phản ánh một cách kịp thời tâm tư, tình cảm và nguyện vọng của dân với chính quyền Qua đó ta thấy, trưởng ấp, tổ trưởng tổ nhân dân tự quản là cầu nối rất quan trọng giữa dân với Đảng, chính quyền cấp xã Về nhiều phương diện, công chức Văn phòng – Thống kê phải xác lập mối quan
hệ mật thiết với trưởng ấp, tổ trưởng tổ nhân dân tự quản Thông qua đó, công chức Văn phòng – Thống kê giúp, Ủy ban nhân dân cấp xã triển khai thực
Trang 27hiện các chủ trương, chương trình, kế hoạch công tác của Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân đến ấp, tổ nhân dân tự quản Ngược lại công chức Văn phòng – Thống kê thu nhận nguồn thông tin, tin cậy từ cơ sở phục vụ nhu cầu quản lý, chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân nói chung, kịp thời điều chỉnh, bổ sung các quy định pháp luật nhằm giải quyết tâm tư nguyện vọng của nhân dân
- Mối quan hệ với các tổ chức quần chúng và nhân dân: Trong xã,
ngoài Đảng uỷ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân còn có các tổ chức quần chúng khác như: Mặt trận Tổ quốc, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh và nhân dân trong xã Mỗi tổ chức nói trên có chức năng, nhiệm vụ riêng nhưng có điểm chung giống nhau
cơ bản là đều chịu sự lãnh đạo của Đảng uỷ cấp xã; đều có trách nhiệm thi hành pháp luật nhà nước Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã có trách nhiệm giữ vững mối quan hệ công tác thường xuyên và trực tiếp với các tổ chức quần chúng và với nhân dân trong xã
Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã giữ vai trò quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của đảng, chính quyền địa phương cấp xã, góp phần quyết định đảm bảo sự ổn định chính trị - xã hội, phát triển bền vững ở địa phương Chính quyền địa phương vững mạnh là tiền đề quan trọng cho sự ổn định, phát triển bền vững của cả hệ thống chính trị ở địa phương Như vậy, hiệu quả hoạt động thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã cũng
là hiệu quả hoạt động của chính quyền địa phương cấp xã nói riêng và bộ máy hành chính nói chung
- Mối quan hệ với các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban Nhân dân cấp
huyện Do thực thi công việc chuyên môn khá đa dạng như trên đã nêu nên
công chức VPTK thường có mối quan hệ cả theo ngành dọc và với các cơ quan thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện Đây là mối quan hệ mang tính chỉ đạo về chuyên môn; đồng thời quan hệ báo cáo về lĩnh vực VPTK
Trang 28- Giữ vai trò rất quan trọng trong việc thu thập số liệu thống kê về kinh
tế - xã hội trên địa bàn cấp xã theo quy định của pháp luật Theo quy định, công chức văn phòng – thống kê cấp xã phải giúp Ủy ban Nhân dân cấp xã thống kê 16 chỉ tiêu kinh tế - xã hội trên ba nhóm lĩnh vực: đất đai, dân số; kinh tế và xã hội, môi trường Đây là một công việc thách thức, khó khăn và đòi hỏi công chức văn phòng – thống kê phải có đủ kiến thức cần thiết về nghiệp vụ thống kê
Từ tất cả những đặc điểm trên, làm cho công chức VPTK khác với công chức cấp xã còn lại và đòi hỏi công chức VPTK phải có năng lực khác với năng lực của công chức khác
1.2 Năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống
kê cấp xã
1.2.1 Quan niệm về năng lực và năng lực thực thi công vụ
1.2.1.1 Quan niệm về năng lực cá nhân
Năng lực là một thuật ngữ mang tính đa nghĩa, rất trừu tượng và khó định lượng Có nhiều quan điểm và cách hiểu khác nhau về năng lực Thuật ngữ “Năng lực” đã được rất nhiều người, nhiều nhà quản lý đề cập, sử dụng ở nhiều phương diện khác nhau như: Năng lực quản lý điều hành của các cơ quan hành chính, năng lực công tác, năng lực sản suất, năng lực cá nhân, năng lực tổ chức Tuy nhiên vẫn chưa đưa ra được khái niệm chung về “Năng lực” Trong phạm vi nghiên cứu, tác giả chỉ nghiên cứu năng lực thực thi công vụ của cá nhân cụ thể đó là công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
Từ điển mở định nghĩa ngắn gọn về năng lực như sau: “Năng lực là khả năng làm việc tốt, nhờ có phẩm chất đạo đức và trình độ chuyên môn” [50]
Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên, sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó Một người bình thường đều có năng lực suy nghĩ Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo ra cho con người khả năng
Trang 29hoàn thành một hoạt động nào đó với chất lượng cao[29]
Năng lực là thuật ngữ được dùng để chỉ “Khả năng về thể chất và về trí tuệ của cá nhân con người, hoặc khả năng của một tập thể có tổ chức tự tạo lập và thực hiện được các hành vi xử sự của mình trong các quan hệ xã hội, nhằm thực hiện được mục tiêu, nhiệm vụ do mình đề ra hoặc do Nhà nước hay chủ thể khác ấn định với kết quả tốt nhất”[30]
Năng lực là những gì mà một cá nhân “phải là, phải biết, phải làm” để đạt được kết quả yêu cầu của công việc trong tổ chức Như vậy, năng lực chính là: Tập hợp các kiến thức, kỹ năng và thái độ có ảnh hưởng đến phần lớn nhiệm vụ của một vị trí việc làm Năng lực thể hiện ra bên ngoài bằng
“Hành vi”/kết quả[1]
Qua các khái niệm trên cho thấy năng lực bao giờ cũng gắn với một chủ thể nhất định (cá nhân, nhóm người hoặc tổ chức) Năng lực ở mỗi người được hình thành và tổng hợp hài hòa bởi rất nhiều yếu tố, những yếu tố có thể được đào tạo được như: Kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, và những yếu tố phải tự rèn luyện, tự tích lũy đó là cách ứng xử, giao tiếp, quan hệ khi làm việc Trong đó “Kiến thức” có được thông qua học tập, đào tạo và bồi dưỡng,
là sự hiểu biết bao gồm về các sự kiện, chứng cứ, số liệu, hiểu biết về các phương pháp, lý thuyết; “Kỹ năng” có được phải thông qua thực hành, là sự thể hiện các khả năng làm việc, khả năng xử lý, vận dụng các dụng cụ hỗ trợ cho công việc, khả năng về trí tuệ của mỗi cá nhân trong đó công việc, mức
độ thành thạo, quen với những loại công việc cụ thể mà người đó thực hiện
Kỹ năng có thể tích lũy thông qua hoạt động, kinh nghiệm có được ở mỗi người thông qua cuộc sống, thực tế, các tình huống hàng ngày có được từ những thành công hay thất bại; “Cách ứng xử, hành vi, quan hệ” có thể là tính cách của cá nhân, cũng có thể chịu sự tác động của môi trường làm việc và của các bên có liên quan trong quan hệ Nhìn chung, năng lực là tập hợp ba
Trang 30nhóm yếu tố: Kiến thức, kỹ năng và thái độ (đó là cách ứng xử, giao tiếp, quan hệ với các bên có liên quan của con người) để có thể đạt được kết quả cao trong công việc
Từ các cách hiểu trên, có thể khái quát: “Năng lực là tổng hợp những
kiến thức, kỹ năng, thái độ cho phép một cá nhân thực hiện các hoạt động gắn với nhiệm vụ của mình ở một cấp độ hiệu suất nhất định” Và đó cũng chính
là cụm từ năng lực thực thi công việc được giao
Cần phân biệt năng lực cá nhân nói chung và năng lực có hay không có của họ đáp ứng yêu cầu thực thi công việc hay không
Năng lực cá nhân (không gắn với công việc cụ thể) được mô tả ở Sơ đồ 1.1
Kiến thức: Những kiến thức mà đã học được trên nhiều lĩnh vực, nhiều
cấp học Đó có thể được thể hiện thông qua hệ thống bằng cấp các loại mà họ nhận được Tuy nhiên, các loại bằng cấp này chỉ mới thể hiện mức độ con người thu lượm được kiến thức trên giảng đường; vào thời điểm kết thúc khóa
Trang 31học Những kiến thức này sẽ dần dần bị lãng quên, rơi rụng do không có điều kiện để sử dụng hoặc biết nhưng không sử dụng đến Bằng cấp trên một phương diện nào đó thể hiện kiến thức (mức độ hiểu biết trên từng lĩnh vực)
mà cá nhân con người có được Nhưng đó chỉ là điều kiện đủ Đây cũng chính
là lý do tại sao cần phải tiến hành bồi dưỡng thường xuyên hàng năm cho công chức, viên chức nhằm bổ sung kiến thức đã bị rơi rụng và cập nhật kiến thức mới
Kỹ năng: Con người có thể làm được nhiều việc, trên nhiều lĩnh vực
Tuy nhiên, mức độ trôi chảy, làm được ngay từ đầu không phải luôn có với một người trên từng loại công việc Họ có thể làm tốt một việc này nhưng không thể làm trôi chảy tốt một việc kia mặc dù hai công việc này cùng đều dựa trên một nền tảng kiến thức, mức độ hiểu biết mà con người có Điều đó cũng đồng nghĩa với cách hiểu là con người có nhiều cấp độ kỹ năng khác nhau Có những loại công việc làm tốt, có những loại công việc không làm tốt hoặc không thể làm Kỹ năng của một người có được phải thông qua thực thi các loại công việc Nếu như kiến thức có thể có được thông qua học tập, đào tạo và bồi dưỡng, thì kỹ năng có được phải thông qua thực hành Một người có kiến thức
đã học, về nguyên tắc có thể có khả năng làm được công việc cụ thể thuộc lĩnh vực kiến thức đã học Tuy nhiên, đó cũng chỉ là mức độ “tối thiểu, thấp nhất có thể” Họ phải thực hành và thông qua thực hành, có thể cả trên lớp học hoặc thực tiễn mới hình thành từng bước, từng cấp độ của kỹ năng và trên từng lĩnh vực cụ thể
Kỹ năng đòi hỏi phải thường xuyên rèn luyện Và muốn có kỹ năng phải thể hiện thông qua thực tiễn Và yếu tố kinh nghiệm công tác, thâm niên cũng
có thể tạo cho công chức, viên chức có kỹ năng hơn
Cách thức ứng xử, giao tiếp, quan hệ: Đây là yếu tố thứ ba xác định
được năng lực của một con người Những biểu hiện về quan hệ, ứng xử, giao
Trang 32tiếp, nói, nghe là những biểu hiện của hành vi Hành vi của một người chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, được thể hiện thông qua những hoạt động cụ thể
Có những hành vi ứng xử, giao tiếp, quan hệ mang tính cách của cá nhân con người, tính cách đó khá nhiều trường hợp khó thay đổi nhưng đồng thời nhiều loại hành vi chịu tác động của môi trường và các bên có liên quan trong quan
hệ Con người sẽ thành công hay thất bại cũng sẽ phụ thuộc vào hành vi mà chính họ có trong mối quan hệ với các cá nhân khác
Thông thường, tính cách của con người sẽ quyết định hành vi, cách ứng
xử Nhiều nhà nghiên cứu chỉ ra nhiều nhóm, loại tính cách khác nhau của cá nhân con người Công trình Myer-Briggs với 16 nhóm tính cách của từng loại người được sử dụng để kiểm tra, đánh giá tính cách một cách tương đối của cá nhân[51]
Như đã mô tả, cả ba nhóm yếu tố trên được kết hợp chặt chẽ với nhau tạo nên một chính thể đó là năng lực của cá nhân con người Tuy nhiên, năng lực của một cá nhân là sự kết hợp và chi phối lẫn nhau giữa ba nhóm yếu tố đó
Năng lực đòi hỏi phải đáp ứng với yêu cầu thực tiễn công việc nên việc xác định năng lực phải gắn liền với các vị trí công việc cụ thể Yêu cầu về năng lực của mỗi cá nhân thay đổi theo thời gian và năng lực chịu sự ảnh hưởng của bối cảnh công việc và vị trí việc làm
Năng lực để thực thi công việc cụ thể thể hiện sự phù hợp năng lực của
cá nhân với đòi hỏi cần phải có để thực thi công việc đó Khi năng lực cá nhân phù hợp với đòi hỏi, yêu cầu để thực thi công việc đó, thì công việc đó có thể được thực thi như mong muốn Đây chính là nền tảng cơ bản để nghiên cứu năng lực, năng lực thực thi công việc được giao và phân công bố trí nhân sự theo nguyên tắc “đúng người đúng việc” và đây cũng chính là cơ sở lý luận cho việc đánh giá, xem xét, kiến nghị các giải pháp để nâng cao năng lực nếu như đòi hỏi công việc cao hơn và năng lực thực có của công chức đảm nhận công
Trang 33việc không phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của công việc giao cho họ Năng lực công việc là năng lực cần có của bất cứ ai được giao làm việc đó, nó hoàn toàn phụ thuộc vào bản chất công việc
Khi nghiên cứu năng lực cá nhân, và đặc biệt là nghiên cứu các nhóm tính cách của cá nhân, không phải là để kết luận với nhóm này là tốt hay xấu Vấn đề “tốt hay xấu” phải là quyết định bởi năng lực của cá nhân là điều quyết định chính là việc sử dụng năng lực của cá nhân đó vào việc gì; phù hợp hay không phù hợp “Dùng nhân như dùng mộc” thể hiện tư duy sử dụng người đúng mục đích Cầu thủ tiền đạo nổi tiếng, nhưng sẽ thất bại thảm hại khi đảm nhận vị trí “chấn giữ khung thành”
1.2.1.2 Yêu cầu đòi hỏi cần có để đảm nhận công việc cụ thể
Yêu cầu đòi hỏi cần có để làm được một công việc cụ thể thường được
mô tả trong bản mô tả công việc
Mỗi một loại công việc có những yêu cầu, đòi hỏi khác nhau về năng lực – gọi chung là năng lực thực thi công việc
Quan niệm về yêu cầu đòi hỏi (hay năng lực cần có của cá nhân khi giao việc) công việc được mô tả ở sơ đồ 1.2
Trang 34Trong tổ chức có nhiều loại công việc khác nhau Mỗi một loại công việc được mô tả thông qua bản mô tả công việc, đó là những yêu cầu, đòi hỏi
có liên quan đến người sẽ được giao để thực thi công việc đó Bản mô tả công việc có thể chứa đựng nhiều yếu tố Tuy nhiên, phải xác định rõ những yêu cầu mang tính tối thiểu để có thể làm được công việc đó Có 3 yêu cầu cơ bản để thực thi công việc:
- Kiến thức cần có nhằm thể hiện mức độ am hiểu về công việc cũng như những gì có liên quan đến công việc đó mà bất cứ ai (vô nhân xưng) ngồi vào đó đều phải có Có thể mô tả kiến thức thông qua đòi hỏi bằng cấp
- Kỹ năng thể hiện đòi hỏi mức độ tối thiểu đã có thể làm được công việc
đó ở mức mong đợi tối thiểu
- Cách thức ứng xử, giao tiếp, quan hệ giữa các bên có liên quan trong quá trình thực thi công việc Nếu không chấp nhận một mức độ tối thiểu phải
có, khó có thể hoàn thành công việc, ví dụ: Khi lựa chọn người để giao công việc cũng có thể quy định về tuổi tác như là một khẳng định chuẩn cần có của người ở tuổi nhất định Tùy theo từng loại công việc có những khách hàng khác nhau và do đó cũng đòi hỏi cách thức ứng xử khác nhau
1.2.1.3 Mối quan hệ giữa năng lực cá nhân (để nhận việc) và yêu cầu đòi hỏi đối với công việc
Năng lực cá nhân và yêu cầu đòi hỏi cần có để thực thi công việc cụ thể không luôn phù hợp Một người có năng lực nhưng lại không làm tốt công việc được giao Một người chỉ có thể tìm được việc nếu có năng lực cá nhân phù hợp, thích ứng với năng lực công việc Do đó, nhà quản lý ngoài việc quan tâm đến năng lực cá nhân, cần phải quan tâm đến sự phù hợp của năng lực cá nhân với đòi hỏi, yêu cầu để thực thi công việc được giao Đó cũng chính là nguyên tắc “đúng người, đúng việc” Để xác định năng lực thực thi
Trang 35công việc được giao phải kết hợp được hai yếu tố:
Một là, yêu cầu, đòi hỏi đối với công việc được giao trên ba khía cạnh:
kiến thức, kỹ năng và cách thức ứng xử
Hai là, sự phù hợp năng lực cá nhân với yêu cầu, đòi hỏi để thực thi
công việc cụ thể được giao Khi đó người đó có đủ năng lực thực thi công việc
Khi hai vòng tròn năng lực trùng khít nhau, tức năng lực cá nhân và yêu cầu đòi hỏi cần có đối với công việc hoàn toàn đáp ứng Tuy nhiên, ít khi chúng ta nhận được một sự tuyệt đối đó
Nhà quản lý khi phân công, bố trí công việc luôn phải quan tâm chú ý về năng lực thực thi công việc để bố trí đúng người đúng việc Đây cũng chính là
cơ sở để khảo sát, đánh giá liệu một cá nhân (công chức Văn phòng - Thống kê) có đủ năng lực đáp ứng được đòi hỏi, yêu cầu đối với công việc được giao (năng lực thực thi công việc) Việc quản lý nhân sự và phân công bố trí công việc là hướng đến đạt được mục tiêu như mô tả ở Sơ đồ 1.3
Trang 36Thực tế, để đạt được những gì đã mô tả ở Sơ đồ 1.3, đòi hỏi các nhà quản lý nhân sự cũng như các nhà quản lý chuyên môn phải thực sự quan tâm đến tất cả yếu tố Đây là thách thức hiện nay của khu vực công khi nghiên cứu năng lực và yêu cầu đòi hỏi cần có để thực thi công việc cũng như xác định đúng, cụ thể, chi tiết yêu cầu thực thi công việc
Năng lực không mang tính chung chung mà khi nói đến năng lực, bao giờ người ta cũng nói đến năng lực về một công việc, hoạt động cụ thể Năng lực đòi hỏi đối với công chức VPTK phải gắn liền với nhiệm vụ được giao cho loại công chức này
Do đó, “Năng lực thực thi công vụ là những gì mà người công chức nhà nước cần phải có (kiến thức, kỹ năng và thái độ, hành vi) và biết sử dụng chúng một cách thành thạo trong quá trình thực thi công việc do nhà nước giao đạt kết quả tốt nhất” Đây chính là điều các tổ chức phải quan tâm khi nghiên cứu năng lực
Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là chức danh công chức cụ thể trong hệ thống chức danh cán bộ, công chức hành chính nhà nước Trên
cơ sở định nghĩa trên, đề tài luận văn định nghĩa năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã như sau: Năng lực thực thi công
vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã là khả năng sử dụng tổng hợp các yếu tố như: Kiến thức, kỹ năng và cách ứng xử, giao tiếp, quan hệ với các bên có liên quan để làm công việc được giao, xử lý tình huống và để thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ do Ủy ban nhân dân cấp xã giao
Chính vì vậy, năng lực của công chức nói chung và công chức VPTK cấp xã nói riêng phải được xem xét, đánh giá từ mức độ đáp ứng đòi hỏi thực thi công vụ được giao cho công chức VPTK cụ thể đó
Như vậy, năng lực thực thi công vụ của công chức Văn phòng – Thống
kê được cấu thành từ ba nhóm yếu tố: Kiến thức, kỹ năng và thái độ
Trang 37Kiến thức: được biểu hiện thông qua văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận
về trình độ đào tạo, bồi dưỡng ở trường lớp và qua kiến thức, kinh nghiệm xã hội mỗi cá nhân công chức Văn phòng – thống kê cấp xã tích lũy và học hỏi được trong cuộc sống Trình độ đào tạo, bồi dưỡng của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã gồm trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ tin học, ngoại ngữ, trình độ lý luận chính trị và trình độ quản lý nhà nước; ngoài ra, mỗi công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã phải tự trang bị cho mình kiến thức, hiểu biết về tình hình kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội
và đường lối của Đảng, chính sách, cải cách hành chính của Nhà nước Kiến thức là tiền đề để hình thành năng lực của mỗi công chức Văn phòng – Thống
kê cấp xã, cần phải có để có thể hoàn thành công việc được giao
Kỹ năng: là tổng hợp những cách thức, phương thức, biện pháp tổ chức
và thực hiện giải quyết công việc thuộc lĩnh vực phụ trách của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã; là khả năng vận dụng kiến thức chuyên môn vào thực tế, sự thành thạo và nắm vững nghiệp vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã Kỹ năng của một người có được phải thông qua thực thi các loại công việc Nếu như kiến thức có thể có được thông qua học tập, đào tạo
và bồi dưỡng, thì kỹ năng có được phải thông qua thực hành Một người có kiến thức đã học, về nguyên tắc có thể có khả năng làm được công việc A, công việc B Tuy nhiên, đó cũng chỉ là mức độ “tối thiểu, thấp nhất có thể”
Họ phải thực hành và thông qua thực hành, có thể cả trên lớp học hoặc thực tiễn mới hình thành từng bước, từng cấp độ của kỹ năng và trên từng lĩnh vực
cụ thể Công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã cần phải có kỹ năng để giải quyết tốt công việc được giao
Thái độ: là cách ứng xử, giao tiếp, quan hệ với các bên có liên quan để
làm công việc được giao Đây là yếu tố có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã Khi công chức Văn
Trang 38phòng – Thống kê cấp xã có cách ứng xử, giao tiếp, quan hệ phù hợp giúp cho công việc được giải quyết nhanh hơn, hiệu quả hơn và nhận được sự ủng hộ của các bên có liên quan, điều này phụ thuộc vào các yếu tố về thể chất và tâm lý của mỗi cá nhân Cùng chung một sự việc nhưng mỗi người có quan điểm, cách ứng xử và hành vi khác nhau, sự thành công hay thất bại phụ thuộc vào cách ứng xử, thái độ trong mối quan hệ với các bên có liên quan
Ba nhóm yếu tố trên được kết hợp chặt chẽ với nhau tạo nên năng lực của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã để đạt được kết quả theo yêu cầu trong quá t nh thực thi công vụ Tuy nhiên, có thể có những yếu tố khác phải đáp ứng, nhưng đó không thuộc nhóm năng lực
Là người làm việc cho nhà nước, các yếu tố liên quan đến năng lực công chức văn phòng – thống kê cũng như công chức nói chung do pháp luật nhà nước quy định (gọi chung tiêu chuẩn công chức) Tùy theo từng giai đoạn yêu cầu, đòi hỏi năng lực phải có của công chức nói chung và công chức văn phòng – thống kê thay đổi nhằm đáp ứng thực thi tốt nhất nhiệm vụ được giao Năng lực luôn gắn với nhiệm vụ của từng loai công chức; từng vị trí công việc được giao đảm nhận, gắn liền với từng vị trí chức danh, cụm từ năng lực chính là “năng lực cần thiết để thực thi công việc cụ thể hay năng lực thực thi công việc được giao Do đó, trong luận văn này, cụm từ năng lực
sẽ được hiểu là năng lực thực thi công việc được giao cho công chức
1.2.2 Nhiệm vụ của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã theo quy định của pháp luật
Theo quy định của pháp luật, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
có nhiệm vụ tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện nhiệm
vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân cấp xã trong các lĩnh vực: Văn phòng, thống kê, tổ chức, nhân sự, thi đua, khen thưởng, kỷ luật, tín ngưỡng, tôn giáo, dân tộc trên địa bàn theo quy định của pháp luật [11]
Trang 39Để tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện quản lý nhà nước
về các lĩnh vực theo quy định của pháp luật, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã phải trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau:
Một là, xây dựng và theo dõi việc thực hiện chương trình, kế hoạch công
tác, lịch làm việc định kỳ và đột xuất của HĐND, Thường trực HĐND, UBND, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, căn cứ yêu cầu, nhiệm vụ thực tế, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã chủ động tham mưu xây dựng chương trình, kế hoạch công tác hàng tháng, quý, hàng tuần, trình ký phê duyệt, ban hành Sau đó, công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã
có trách nhiệm giúp Hội đồng nhân dân, Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã tổ chức thực hiện, đôn đốc các
bộ phận công tác triển khai, theo dõi tiến độ thực hiện; cuối kỳ, tổng hợp tình hình, viết báo cáo và tổ chức cuộc họp sơ kết, tổng kết thực hiện chương trình,
kế hoạch
Hai là, giúp Thường trực Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã
tổ chức các kỳ họp; chuẩn bị các điều kiện phục vụ các kỳ họp và các hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã Ở cấp xã, Hội đồng nhân dân cấp xã thường tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri, hội nghị triển khai nhiệm vụ chuẩn bị điều kiện phục vụ kỳ họp Hội đồng nhân dân, tổ chức các
kỳ họp Hội đồng nhân dân định kỳ (năm hai lần) hoặc kỳ họp bất thường; Ủy ban nhân dân cấp xã thường có các cuộc họp, cuộc hội nghị như: Họp Uỷ ban nhân dân; Họp giao ban của Chủ tịch và Phó Chủ tịch ủy ban nhân dân; Cuộc họp của lãnh đạo Uỷ ban nhân dân với các trưởng ấp, tổ trưởng tổ nhân dân tự quản, tổ trưởng tổ dân phố; Cuộc họp của lãnh đạo Uỷ ban nhân dân với lãnh đạo các cơ quan đoàn thể xã…Trách nhiệm của công chức Văn phòng – Thống
kê cấp xã trong các cuộc họp, hội nghị là tham mưu đề xuất các cuộc họp, hội nghị; bố trí lịch các cuộc họp, hội nghị Phối hợp với công chức có liên quan để
Trang 40xây dựng chương trình, chuẩn bị nội dung và ghi biên bản cuộc họp
Ba là, tổ chức lịch tiếp dân, tiếp khách của Ủy ban nhân dân cấp xã;
nhận các đơn, thư đề nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo của nhân dân, chuyển đến Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, nghiên cứu đơn đề nghị, phản ánh, phối hợp với các bộ phận có liên quan đề xuất ý kiến để lãnh đạo Uỷ ban nhân dân trả lời nhân dân đúng với chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tham mưu thực hiện quy trình giải quyết đơn tố cáo, khiếu nại theo đúng quy định của Nhà nước; đồng thời chuyển các loại đơn thư không thuộc thẩm quyền Ủy ban nhân dân cấp xã giải quyết và hướng dẫn cho nhân dân đến các
cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm giải quyết
Bốn là, quản lý và trực tiếp thực hiện công tác văn thư, lưu trữ, hành
chính của Uỷ ban nhân dân Công tác văn thư lưu trữ của Ủy ban nhân dân cấp
xã bao gồm: Quản lý và giải quyết văn bản đi; Quản lý và giải quyết văn bản đến; Quản lý và sử dụng con dấu; Lập hồ sơ và nộp hồ sơ vào lưu trữ cơ quan
Uỷ ban nhân dân; Thu thập, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ thuộc thẩm quyền quản lý của Uỷ ban nhân dân theo quy định của pháp luật Công tác hành chính của Ủy ban nhân dân cấp xã bao gồm lễ tân, khánh tiết, thường trực bảo vệ, liên lạc, điện thoại, tạp vụ Trách nhiệm của công chức Văn phòng – Thống kê cấp xã đối với công tác hành chính, văn thư, lưu trữ là tổ chức thực hiện các văn bản của cấp trên gửi cho Uỷ ban nhân dân; biên soạn, trình lãnh đạo Uỷ ban nhân dân ban hành văn bản mới về công tác văn thư, lưu trữ, hành chính cho phù hợp với thực tế của địa phương
Năm là, tham mưu thực hiện cơ chế “một cửa” và “một cửa liên thông”
tại Ủy ban nhân dân cấp xã Cơ chế “một cửa” là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm thẩm quyền của một cơ quan hành chính nhà nước trong việc công khai, hướng dẫn thủ tục hành chính, tiếp nhận
hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp