Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang (LV thạc sĩ)
Trang 1HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN QUỐC DŨNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 2HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN QUỐC DŨNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……… /………
BỘ NỘI VỤ ……/…… HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
PHAN QUỐC DŨNG
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số : 60 34 04 03
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Bá Chiến
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2017
Trang 3hướng dẫn khoa học của PGS TS Nguyễn Bá Chiến Các nội dung, kết quả nghiên cứu có tính độc lập và chưa được công bố dưới bất kỳ hình thức nào
Số liệu được sử dụng trung thực, rõ ràng, minh bạch và được cơ quan cung cấp cho phép công bố Một số nội dung của đề tài có mang tính kế thừa, phát triển từ các tài liệu, tạp chí, công trình nghiên cứu đã được công bố
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan của tôi
Kiên Giang, ngày 15 tháng 8 năm 2017
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC Lời cam đoan
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 3
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu 4
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 5
7 Cấu trúc của đề tài 5
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ 6
1.1 Những khái niệm liên quan 6
1.1.1 Khái niệm tạm trú, tạm vắng 6
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng 9
1.2 Trách nhiệm quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã 12
1.2.1 Trách nhiệm của UBND cấp xã 12
1.2.2 Trách nhiệm của Công an cấp xã 12
1.2.3 Sự cần thiết quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng 15
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã 16
1.3.1 Ban hành văn bản quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng tại địa phương 16
1.3.2 Tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng tại địa phương 18
1.3.3 Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật 18
Trang 51.3.4 Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng 20
1.4 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã 23
1.4.1 Quy định pháp luật làm cơ sở quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng ……… 23
1.4.2 Sự phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu giải quyết việc làm 28
1.4.3 Năng lực, trình độ và ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lý tạm trú, tạm vắng 29
1.4.4 Nhận thức của người dân và các tổ chức liên quan 29
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 31 Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ
HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG 32 2.1 Tình hình, đặc điểm liên quan đến quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thị xã Hà Tiên 32
2.1.1 Tình hình vị trí địa lý, kinh tế, xã hội có liên quan đến vấn đề tạm trú, tạm vắng 32
2.1.2 Đặc điểm dân cư trên địa bàn thị xã Hà Tiên 34
2.1.3 Tình hình an ninh, trật tự ở địa bàn thị xã Hà Tiên 35
2.1.4 Tình hình quần chúng chấp hành các quy định về quản lý tạm trú, tạm vắng 38
2.2 Thực trạng về nhân khẩu tạm trú, tạm vắng tại thị xã Hà Tiên và tình hình tội phạm lợi dụng tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thị xã Hà Tiên để hoạt động 40
2.2.1 Khái quát về nhân khẩu tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thị xã Hà Tiên 40
2.2.1.1 Khái quát về tình hình nhân khẩu tạm trú 40
Trang 62.2.1.2 Khái quát về tình hình nhân khẩu tạm vắng 41
2.2.2 Tình hình các đối tượng lợi dụng tạm trú, tạm vắng để hoạt động phạm tội, trốn thi hành án 41
2.2.2.1 Số đối tượng ở nơi khác đến tạm trú hoạt động phạm tội 41
2.2.2.2 Tình hình đối tượng truy nã, trốn thi hành án đến thị xã Hà
Tiên trà trộn, ẩn náo, hoạt động vi phạm pháp luật 42
2.3 Tình hình quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên 45
2.3.1 Tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng ở thị xã Hà Tiên 45
2.3.1.1 Về biên chế 45
2.3.1.2 Về trình độ, cấp bậc, độ tuổi của lực lượng Công an cấp xã
trên địa bàn thị xã Hà Tiên 46
2.3.2 Tổ chức thực hiện văn bản quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng 49
2.3.3 Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng 59
2.3.4 Đánh giá chung 60
2.4 Những bài học rút ra trong quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên 64 TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 67 Chương 3: GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG 69 3.1 Dự báo những yếu tố có tác động, ảnh hưởng đến công tác quản lý tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thị xã Hà Tiên nhìn nhận dưới góc độ an ninh, trật tự 69
3.1.1 Cơ sở dự báo 69
Trang 73.1.2 Dự báo biến động của nhân khẩu tạm trú đến năm 2020 trên địa bàn
thị xã Hà Tiên 70
3.1.3 Dự báo tình hình tội phạm lợi dụng tạm trú, tạm vắng để hoạt động trong những năm tới ở địa bàn thị xã Hà Tiên 71
3.2 Giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên 73
3.2.1 Hoàn thiện cơ sở pháp luật quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng 73 3.2.2 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật 77
3.2.3 Xây dựng quy chế phối hợp chặt chẽ giữa Chính quyền cấp xã với lực lượng an ninh cơ sở và ban ngành có liên quan trong quản lý nhân khẩu tạm trú 83
3.2.4 Nâng cao trình độ chuyên môn cho lực lượng làm công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng 86
3.2.5 Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra 92
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 96
KẾT LUẬN 97
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 PHỤ LỤC
Trang 8Quản lý nhà nước về cư trú, trong đó có tạm trú, tạm vắng là một trong những lĩnh vực trọng yếu của nền hành chính mọi quốc gia, trong đó có Việt Nam Việc nắm chắc và cập nhật thường xuyên thông tin, dữ liệu về tình hình dân cư, góp phần quan trọng đem lại hiệu quả cao trong quản lý nhà nước, làm tăng mối quan hệ giữa nhà nước và công dân Từ xưa đến nay, quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng được coi là một công cụ để nhà nước bảo vệ quyền nhân dân và hoạch định chính sách kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng
Thị xã Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang, là một trong những trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội, thương mại, dịch vụ của tỉnh Là thị xã biên giới có cửa khẩu quốc tế, là địa bàn du lịch và nghỉ dưỡng Trong năm có trên dưới
10 lễ hội cấp tỉnh, cấp địa phương diễn ra trên địa bàn thu hút đông lượng khách đến dự Nhiều lễ hội mang tính tâm linh, tín ngưỡng văn hóa dân gian được nhân dân sùng bái; là địa bàn thu hút đông khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng vào dịp cuối tuần và các kỳ nghỉ lễ trong năm Thị xã Hà Tiên hiện
có trên 50 khách sạn và trên 200 nhà nghỉ, ngoài ra còn nhiều hộ dân tự tổ chức mô hình du lịch cộng đồng (cho khách du lịch thuê ở trong nhà…) Đặc biệt, gần đây có 02 khu công nghiệp mới đi vào hoạt động, thu hút một lượng lớn lao động từ nơi khác đến làm việc, các loại đối tượng hình sự, ma túy, tệ nạn xã hội đến hoạt động và ẩn náu cùng với người lao động tại các cơ sở cho thuê lưu trú chủ yếu là các hộ tự phát ngăn phòng cho thuê, nhà nghỉ… Đáng chú ý hơn là tình hình các casino, trường gà phía Campuchia (giáp biên giới Việt Nam) hoạt động rất mạnh, hàng ngày thu hút trên dưới 1.000 người từ các nơi qua lại biên giới đánh bạc… Hàng năm, xảy ra trên 100 vụ án hình sự; đối tượng phạm tội từ nơi khác đến ẩn náu trong các cơ sở cho thuê lưu trú để hoạt động
Trang 9phức tạp và có ảnh hưởng lớn đến đời sống của cư dân thị xã Một trong những nguyên nhân dẫn đến vấn đề trên là từ quản lý nhà nước Những năm qua chính quyền thị xã Hà Tiên có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng Thế nhưng, công tác này hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, nhiều đối tượng lợi dụng sơ hở trong công tác tạm trú, tạm vắng để hoạt động phạm tội Nhìn chung công tác quản lý nhà nước về cư trú, trong đó có quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng còn mang tính hành chính đơn thuần chưa đi sâu vào nắm chắc hoạt động, thái độ của từng nhân hộ khẩu trong từng khu vực Mặt khác, một số cán bộ, công chức chưa nhận thức đúng tình hình phức tạp nảy sinh tại các hộ ngăn phòng cho thuê… cũng như nhận thức chưa đầy đủ tầm quan trọng của quản lý nhà nước về nhân hộ khẩu để giữ vững an ninh, trật tự tại địa bàn, khu vực phụ trách
Chính vì vậy quản lý nhà nước về cư trú nói chung, quản lý nhà nước tạm trú, tạm vắng nói riêng phải được nhận thức rằng: nó có một vị trí hết sức quan trọng và đây là một yêu cầu đòi hỏi khách quan của thực tiễn Thực hiện tốt công tác này không những có ý nghĩa trong việc đảm bảo tình hình an ninh, trật tự nói chung mà còn phục vụ cho công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm nói riêng Vì thế việc tìm ra giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng là một yêu cầu không thể thiếu trong quản lý nhà nước về an ninh, trật tự trên địa bàn thị xã
Từ yêu cầu thực tế của công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thị xã Hà Tiên, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế, nhiều khu công nghiệp phát triển, tội phạm lẩn trốn trong các cơ sở cho thuê lưu trú có nhiều phức tạp nên tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Quản lý nhà nước
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Đã có một số đề tài nghiên cứu dưới các góc độ khác nhau về công tác quản lý tạm trú, tạm vắng trong những phạm vi và đối tượng nhất định như:
Trần Dân, Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhân hộ khẩu tại khu công nghiệp tập trung ở thị xã Hà Tiên, luận văn thạc sỹ, 2006;
Đặng Thị Thanh, Quản lý người lao động tự do ngoài tỉnh của Công an các phường Hà Nội-góp phần đảm bảo an ninh trật tự, luận văn thạc sỹ, 2003);
Lê Thị Minh Hằng, Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý hộ khẩu, nhân khẩu của lực lượng cảnh sát quản lý hành chính về trật
tự xã hội phục vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trên địa bàn thành phố Tuy Hòa tỉnh Phú Yên, khóa luận tốt nghiệp, 2005
Mặc dù có nhiều đề tài nghiên cứu về công tác quản lý nhân hộ khẩu, quản lý tạm trú, tạm vắng nhưng chưa có đề tài nào nghiên cứu sâu về công tác quản lý tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp cơ sở trên địa bàn thị xã
Hà Tiên Vì thế nghiên cứu đề tài “Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” sẽ góp phần
bổ sung lý luận khoa học về công tác quản lý tạm trú, tạm vắng của chính quyền cũng như đáp ứng yêu cầu của thực tiễn trong phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, tệ nạn xã hội cũng như góp phần đắc lực cho công tác quản
lý xã hội, hoạch định chính sách phát triển kinh tế, tạo công ăn việc làm, giải quyết chính sách xã hội tại địa phương
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước
về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, phân
Trang 11vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn
- Đưa ra được các giải pháp, kiến nghị cho quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên
- Phạm vi nghiên cứu: Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên từ năm 2012 – 2016
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận:
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác quản lý nhà nước về an ninh – trật tự
- Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp tình hình tạm trú, tạm vắng chung của thị xã Hà Tiên
+ Phương pháp tổng kết thực tiễn và phương pháp nghiên cứu điển hình: thông qua các tài liệu, khảo sát hoạt động thực tiễn Công an cấp xã
Trang 126 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Lý luận: Hệ thống hóa các lý thuyết quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã
- Thực tiễn: Những kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu
để UBND thị xã Hà Tiên tham khảo và vận dụng vào thực tiễn quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng Ngoài ra, có thể là nguồn tài liệu tham khảo trong hoạt động học tập, giảng dạy và nghiên cứu tại Học viện Hành chính Quốc gia
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục Nội dung luận văn gồm 03 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã
Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang
Chương 3: Giải pháp bảo đảm quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ,
TẠM VẮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ 1.1 Những khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm tạm trú, tạm vắng
Nước ta, thời kỳ cổ và trung đại, theo tài liệu để lại thì các qui định về quản lý con người đã xuất hiện trước công nguyên Hình thức quản lý đơn giản, theo trình độ phát triển, nói chung trong giai đoạn cổ đại và Nhà nước phong kiến vấn đề quản lý cư trú của con người nhằm mục đích áp đặt sự thống trị giai cấp của nhà nước đó
Giai đoạn từ năm 1858 – 1945 thời kỳ thực dân Pháp cai trị, chúng thực hiện các hình thức quản lý chặt chẽ, tỷ mỉ ở các tỉnh lị Quản lý từng người, từng gia đình, có sổ theo dõi quản lý, đối với những người từ 15 tuổi trở lên đều có danh chỉ bản Mục đích là để nộp tô, thu thuế, bắt lính, bắt phu… phục
vụ cho hoạt động cai trị, bóc lột và khai thác thuộc địa của chúng
Giai đoạn 1945 đến 1975 Đế quốc Mỹ xâm lược, chúng sử dụng công
cụ quản lý chặt chẽ và có hệ thống, bao gồm vùng nội thành và vùng giáp ranh với vùng tự do Thể hiện các qui định về lập hồ sơ, sổ sách từng người, từng gia đình, có dán ảnh được bảo quản và khai thác một cách qui mô và khoa học Mục đích: phục vụ bắt lính, quản dân, thực hiện các chính sách chống cộng; miền Bắc, năm 1954 sau hòa bình lập lại Nhà nước nghiên cứu,
tổ chức chỉ đạo quản lý cư trú nhằm tăng cường quản lý xã hội, củng cố chính quyền cách mạng Từ năm 1955 công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu được tiến hành một số nơi thí điểm như: thị xã Bắc Ninh, Sơn Tây, Hà Nội, Thái Nguyên, Hà Đông Năm 1956 mở rộng công tác này đến Hải Phòng, Đồng Hới, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hưng Yên, Việt Trì Công việc này cơ bản hoàn thành trên phạm vi toàn miền Bắc vào năm 1959
Trang 14Có thể nói một số qui định điển hình về quản lý cư trú thông qua đăng
ký, quản lý hộ khẩu trong giai đoạn này như: năm 1954 Ủy ban hành chính từng tỉnh, thành phố công bố qui định tạm thời trên địa phương mình; năm
1957 là Bản điều lệ tạm thời về đăng ký, quản lý hộ khẩu được điều chỉnh, bổ sung; năm 1965 Hội đồng Chính phủ chính thức ban hành Bản điều lệ đăng
ký, quản lý hộ khẩu bằng Nghị định 104/CP ngày 27-6-1964 và thực hiện thống nhất trên toàn miền Bắc; năm 1968 đáp ứng yêu cầu chống cuộc chiến tranh phá hoại của địch, chống hoạt động tình báo, xâm nhập, hoạt động gián điệp… lấy số liệu dân số chuẩn bị bầu cử toàn quốc, nên yêu cầu kết hợp quản lý dân số, quản lý cư trú với quản lý đi lại Vì thế, ngày 29-02-1968 Hội đồng Chính phủ ban hành Nghị định 32/CP thống nhất công tác đăng ký, quản
lý hộ khẩu với thống kê dân số và công tác hộ tịch
Khi miền Nam hoàn toàn giải phóng năm 1975, Chính phủ ban hành Quyết định 54/CP ngày 17-8-1976 điều chỉnh công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu trên phạm vi toàn miền Nam; Quyết Định 167/CP ngày 18/9/1976 hướng dẫn, bổ sung và chỉ đạo công tác đăng ký, quản lý hộ khẩu phù hợp với tình hình miền Nam Sau nhiều năm thực hiện các qui định về đăng ký hộ khẩu xuất hiện nhiều vấn đề mới, nhất là cần phân tách công tác hộ tịch và hộ khẩu vì về bản chất là 2 mặt công tác khác nhau và do 2 cơ quan Nhà nước khác nhau tiến hành Vì thế, ngày 07-01-1988 Chính phủ ban hành Nghị định 04/CP ban hành Điều lệ đăng ký, quản lý hộ khẩu Trong đó ngoài đăng ký, quản lý Bộ Công an thực hiện khai sinh, khai tử, đăng ký kết hôn… Bộ Tư pháp thực hiện các cải chính về họ tên, ngày tháng năm sinh… (theo Nghị định 219/HĐBT ngày 20-11-1987); năm 1997, qua 10 năm thực hiện Nghị Định 04/CP ngày 07-01-1988 đã bộc lộ những hạn chế, không đáp ứng được tình hình trong xu thế đổi mới, nhất là quản lý tình hình di dân tự do và yêu cầu dịch chuyển lao động trong nền kinh tế thị trường…vì thế đòi hỏi phải có một qui định mới phù hợp Ngày 10-5-1997 Chính phủ ban hành Nghị định
Trang 1551/CP qui định đăng ký, quản lý hộ khẩu thay thế các qui định trước đây và được thực hiện thống nhất trên phạm vi toàn quốc Sau hơn 7 năm thực hiện một số nội dung của Nghị định 51/CP không đáp ứng được yêu cầu, chủ yếu
là các qui định về nhà ở hợp pháp; qui định điều kiện đăng ký hộ khẩu vào thành phố, thị xã Do đó, Bộ Công an đã tham mưu cho Chính phủ ban hành Nghị định 108/2005/NĐ-CP ngày 19-8-2005 Để công dân thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình, ngày 29/11/2006 Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua Luật cư trú, đây là văn bản pháp lý có giá trị cao nhất qui định về quyền tự do cư trú của công dân trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trình tự, thủ tục đăng ký, quản lý cư trú (thường trú hoặc tạm trú), quyền, trách nhiệm của công dân, hộ gia đình, cơ quan, tổ chức về đăng ký, quản lý cư trú
Từ đó cho thấy quản lý cư trú thông qua đăng ký, quản lý hộ khẩu được xác định là một nội dung cơ bản của công tác quản lý hành chính về an ninh, trật tự Thực chất là quá trình đăng ký, quản lý hoạt động cư trú của con người, có lịch sử hình thành và phát triển rất lâu Điều 1 Nghị định 51/CP xác định rõ: “Đăng ký, quản lý hộ khẩu là biện pháp quản lý hành chính của Nhà nước nhằm xác định việc cư trú của công dân, tăng cường quản lý xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội Do vậy Chính phủ giao cho Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) phụ trách việc đăng ký, quản lý hộ khẩu”
Luật cư trú quy định: Cư trú là việc công dân sinh sống tại một địa điểm thuộc phường, xã dưới hình thức thường trú hoặc tạm trú; Đăng ký thường trú là việc công dân đăng ký nơi thường trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký thường trú, cấp
sổ hộ khẩu cho họ; Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú
Trang 16Việc đăng ký, quản lý hộ khẩu là quá trình cơ quan Công an dựa vào các văn bản qui phạm pháp luật của nhà nước để tiến hành đăng ký, quản lý hoạt động cư trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật qui định Nhằm phục vụ cho công tác quản lý xã hội của nhà nước; công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các phạm pháp về an ninh, trật tự
1.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng
Quản lý là sự tác động lên một hệ thống nào đó với mục tiêu đưa hệ thống đó đến trạng thái cần đạt được Quản lý là một phạm trù xuất hiện trước khi có Nhà nước với tính chất là một loại lao động xã hội hay lao động chung được thực hiện ở quy mô lớn Quản lý được phát sinh từ lao động, không tách rời với lao động và bản thân quản lý cũng là một loại hoạt động lao động
“Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành trên quy mô tương đối lớn đều cần có sự quản lý ở mức độ nhiều hay ít nhằm phối hợp những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung Một nhạc công tự điều khiển mình nhưng một dàn nhạc cần phải có nhạc trưởng”
Quản lý nhà nước, hiểu theo nghĩa rộng, được thực hiện bởi tất cả các
cơ quan nhà nước Bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất Chấp hành, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động chấp hành và điều hành được đặc trưng bởi các yếu tố có tính tổ chức; được thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật; được bảo đảm thực hiện chủ yếu bởi hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả đồng ý với quan điểm cho rằng, quản lý nhà nước là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước, sử dụng quyền lực nhà nước để quản lý và điều chỉnh các mối quan hệ trên mọi lĩnh vực của đời sống
Trang 17xã hội Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng là việc các cơ quan hành chính nhà nước sử dụng quyền lực nhà nước để tác động, điều chỉnh hoạt động tạm trú, tạm vắng của công dân trên cả nước, nhằm định hướng xây dựng hệ thống thống nhất của tạm trú, tạm vắng, đảm bảo ổn định an ninh trật tự toàn xã hội hướng đến mục tiêu chung của quản lý nhà nước Theo đó, quản lý nhà nước
về tạm trú, tạm vắng là quá trình các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền ban hành các chủ trương, chính sách pháp luật về đăng ký, quản lý cư trú của người dân trên lãnh thổ Như vậy, quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng là quá trình cơ quan hành chính nhà nước căn cứ vào pháp luật về cư trú
để thay mặt nhà nước tiến hành quản lý hoạt động cư trú của công dân, phục
vụ cho công tác quản lý xã hội của nhà nước và công tác phòng ngừa, đấu tranh, phòng chống các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về cư trú, về tạm trú, tạm vắng, đảm bảo an ninh trật tự xã hội Đồng thời đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân
Còn quản lý cư trú đối với công dân là một nội dung của quản lý hành chính về an ninh trật tự do lực lượng Công an nhân dân tiến hành trên cơ sở quy định của Luật cư trú, các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước để đăng ký, quản lý hoạt động cư trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định, phục vụ yêu cầu quản lý xã hội của Nhà nước, góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm, các hành
vi vi phạm pháp luật, đảm bảo an ninh trật tự Quản lý cư trú đối với công dân bao gồm các nội dung chủ yếu sau: Đăng ký, quản lý thường trú; đăng ký, quản lý tạm trú; lưu trú và thông báo lưu trú; khai báo tạm vắng; điều chỉnh,
bổ sung những thay đổi về cư trú; xây dựng cơ sở dữ liệu về cư trú Bộ phận quản lý hộ khẩu sẽ quản lý các hộ gia đình thông qua sổ hộ khẩu theo mẫu quy định của nhà nước Khi gia đình có ai đó đi xa dài ngày thì phải đến cơ quan địa phương, nơi công dân ấy đang cư trú để làm thủ tục xin cấp giấy tạm vắng có thời hạn (cụ thể là tối đa 6 tháng) Nếu công dân là đối tượng đang bị
Trang 18quản thúc tại địa phương có thời gian bị quản thúc thì không được phép xin giấy tạm vắng trong thời gian đó Người cần cấp giấy tạm vắng sẽ trình sổ hộ khẩu và cung cấp thông tin cho người có thẩm quyền để được cấp giấy tạm vắng Khi gia đình có người nào đó chuyển đến nơi ở mới hoặc tách ra hộ khẩu mới thì làm thủ tục chuyển khẩu theo quy định của nhà nước Trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày chuyển đến nơi ở mới thì người đó phải đến trụ sở công an xã/phường/thị trấn nơi chuyển đến để làm thủ tục đăng ký Thủ tục gồm: Phiếu khai báo tạm vắng, giấy chứng nhận chuyển đi của địa phương nơi người đó đã cư trú (hoặc giấy tờ khác thay thế theo qui định), sổ hộ khẩu gia đình và điền đầy đủ thông tin vào trong các giấy tờ sau: - Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu; - Bản khai nhân khẩu Như vậy, quản lý tạm trú, tạm vắng là một trong những nội dung quan trọng của quản lý cư trú và được hiểu như sau: Quản lý tạm trú là quá trình đăng ký, ghi nhận việc khai báo tạm trú đối với các nhân khẩu không phải là nhân khẩu thường trú tại địa phương Họ
ở phường, xã, thị trấn khác đến và cư trú lại một thời gian nhất định Quản lý tạm vắng là quá trình làm thủ tục đăng ký, ghi nhận việc khai báo vắng mặt của nhân khẩu theo quy định của pháp luật khi vắng mặt qua đêm, đi khỏi nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của mình với các lý do khác nhau thuộc trường hợp phải khai báo tạm vắng
Từ việc nghiên cứu các vấn đề trên, tác giả cho rằng, quản lý nhà nước
về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã là quá trình UBND cấp xã căn
cứ vào pháp luật về cư trú tiến hành quản lý hoạt động cư trú, trong đó có tạm trú, tạm vắng của người dân, phục vụ công tác xã hội, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người dân theo quy định, góp phần thực hiện công tác phòng ngừa, đấu tranh phòng, chống các loại tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật về cư trú, về tạm trú, tạm vắng, đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn hành chính của mình
Trang 191.2 Trách nhiệm quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã
1.2.1 Trách nhiệm của UBND cấp xã
Điều 34 Luật cư trú được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29-11-2006, có hiệu lực thi hành ngày 01-7-2007 quy định về trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý cư trú
1 Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú tại địa phương
2 Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương về quản lý cư trú
3 Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú
4 Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về cư trú theo quy định của pháp luật
Như vậy, đối với hoạt động quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng, UBND cấp xã có trách nhiệm:
- Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú tại địa phương, cụ thể về tạm trú, tạm vắng
- Chỉ đạo việc phối hợp giữa các cơ quan hữu quan ở địa phương về quản lý tạm trú, tạm vắng
- Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về tạm trú, tạm vắng
- Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về tạm trú, tạm vắng theo quy định của pháp luật
1.2.2 Trách nhiệm của Công an cấp xã
Khoản 4 điều 32 Luật cư trú được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 29-11-2006, có hiệu lực thi hành ngày 01-7-2007 quy định: “Công an xã, phường, thị trấn có trách
Trang 20nhiệm hướng dẫn nội dung khai báo, kiểm tra nội dung khai báo, ký xác nhận vào phần phiếu cấp cho người khai báo tạm vắng”
Điều 36 Luật cư trú quy định về người làm công tác đăng ký, quản lý
- Niêm yết công khai, hướng dẫn cơ quan, tổ chức, cá nhân, hộ gia đình trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về tạm trú, tạm vắng
- Bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt làm công tác đăng
ký, quản lý tạm trú, tạm vắng
- Cấp sổ tạm trú, giấy tạm vắng đúng thời hạn cho công dân theo quy định của Luật cư trú và quy định của Bộ Công an
- Quản lý, lưu trữ hồ sơ, tài liệu về đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng
- Kiểm tra, gải quyết kịp thời kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của công dân liên quan đến đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng theo thẩm quyền
- Tập hợp, báo cáo tình hình, số liệu cư trú về Công an quận, huyện, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh theo quy định
- Tổ chức tuyên truyền pháp luật về cư trú
- Thực hiện các việc khác về quản lý cư trú theo quy định của Công an cấp trên
Cảnh sát khu vực là lực lượng chính chịu trách nhiệm đăng ký và quản
lý việc tạm trú, tạm vắng trong khu vực Tham gia trực, quản lý, kiểm tra
Trang 21đăng ký tạm trú, tạm vắng tại các điểm được phân công Ký xác nhận vào sổ đăng ký tạm trú, tạm vắng của điểm trực và phiếu khai báo tạm vắng để cấp cho người tạm vắng Khi làm nhiệm vụ tại địa bàn nếu có người khai báo tạm trú, tạm vắng thì phải thực hiện đăng ký, ghi vào sổ tay để bổ sung vào sổ đăng ký tạm trú, tạm vắng đối với các trường hợp có nghi vấn
Thực hiện xác minh các trường hợp đến tạm trú, đi tạm vắng có nghi vấn và xử lý các vi phạm qui định về tạm trú, tạm vắng
Công an phường, xã: chỉ huy phải phân công cảnh sát khu vực, công an viên luân phiên trực tại các điểm trực tạm trú, tạm vắng và cán bộ, chiến sỹ trực tại trụ sở công an phường, xã để tiếp nhận thông báo lưu trú, đăng ký tạm trú, khai báo tạm vắng Tên của cảnh sát khu vực, công an viên và lực lượng
an ninh cơ sở tham gia trực tại điểm phải lập danh sách lưu tại công an phường, xã để tiện theo dõi, kiểm tra
Khoản 4, 5 điều 30 Luật cư trú quy định:
“Trưởng Công an xã, phường, thị trấn trong thời hạn ba ngày làm việc,
kể từ ngày nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 3 Điều này phải cấp sổ tạm trú theo mẫu quy định của Bộ Công an
Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú,
có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và không xác định thời hạn
Trường hợp người đã đăng ký tạm trú nhưng không sinh sống, làm việc, lao động, học tập từ sáu tháng trở lên tại địa phương đã đăng ký tạm trú thì cơ quan đã cấp sổ tạm trú phải xóa tên người đó trong sổ đăng ký tạm trú”
Công tác quản lý cư trú nói chung và công tác quản lý tạm trú, tạm vắng nói riêng nhằm mục đích sau đây:
- Thứ nhất, thông qua công tác quản lý tạm trú, tạm vắng nắm chắc tình hình từng hộ, từng người Nắm vững 4 nội dung (Về lai lịch; Về nghề nghiệp, đời sống kinh tế; Về quan hệ gia đình và xã hội, Về thái độ chính trị hiện nay) đối với những nhân khẩu từ đủ 14 tuổi trở lên, phân biệt được người tốt,
Trang 22người xấu, người bất mãn, lạc hậu… từ đó xác định được phương hướng trong đấu tranh phòng chống tội phạm: Biết dựa vào ai, tranh thủ ai, cảm hóa giáo dục ai, làm cơ sở để tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt các yêu cầu nghiệp vụ trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các hành
vi vi phạm góp phần bảo vệ an ninh trật tự Để đảm bảo được mục đích này đòi hỏi lực lượng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, mà cụ thể là lực lượng Cảnh sát khu vực, Công an xã, thị trấn phải là tốt công tác nắm người, nắm hộ Thường xuyên bám sát địa bàn, tiến hành phân loại nhân hộ khẩu theo định kỳ…
- Thứ hai, Công tác quản lý tạm trú, tạm vắng còn nhằm xác định đúng trạng thái cư trú của công dân, trên cơ sở đó bảo đảm quyền và nghĩa vụ công dân, phục vụ công tác quản lý xã hội của nhà nước Cảnh sát khu vực, Công
an xã, thị trấn phải nắm chắc được số liệu nhân khẩu thường trú, số nhân khẩu tạm trú, nhân khẩu tạm vắng… Từ đó báo cáo với cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương phục vụ cho các chính sách phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
- Thứ ba, thông qua công tác quản lý cư trú nói chung và công tác quản
lý tạm trú, tạm vắng nói riêng thực hiện đúng đắn, đầy đủ và chặt chẽ các quy định về đăng ký, quản lý cư trú, đồng thời gắn liền nội dung đăng ký, quản lý
cư trú với đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, xây dựng
và củng cố các tổ chức quần chúng giữ gìn an ninh trật tự ở cơ sở; Xây dựng
cơ quan, đơn vị, phường, xã an toàn
1.2.3 Sự cần thiết quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng
Quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng luôn được xác định là một trong các biện pháp quan trọng, góp phần tăng cường quản lý xã hội của Nhà nước Công tác này Nhà nước giao cho cơ quan công an trực tiếp tiến hành, tổ chức chỉ đạo thống nhất trên phạm vi toàn quốc
Trang 23Công tác đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng là một trong những nội dung cơ bản của công tác quản lý hành chính về trật tự xã hội, đồng thời giữ một vai trò vô cùng quan trọng Thông qua công tác này nhằm phục vụ yêu cầu quản lý xã hội của Nhà nước: cung cấp số liệu, tài liệu về con người một cách đầy đủ, chính xác làm cơ sở cho việc ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, phục vụ cho việc khai thác sử dụng của các cấp, các ngành đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước; phục vụ cho cơ quan Công an nắm chắc từng hộ, từng người một cách có hệ thống, làm cơ sở cho việc thực hiện tốt các yêu cầu nghiệp vụ trong phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các hành vi vi phạm pháp luật
để đảm bảo an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội; xác định nơi cư trú của công dân, đảm bảo cho công dân thực hiện các quyền và lợi ích hợp pháp khác theo quy định của pháp luật
Qua công tác này nắm rõ thực trạng và sự biến động về nhân, hộ khẩu, trên cơ sở đó bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, góp phần xây dựng chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng, dân số
và kế hoạch hoá gia đình Cũng trên cơ sở theo dõi biến động về tạm trú, tạm vắng mà các cơ quan quản lý nhà nước xây dựng chính sách phù hợp dựa trên dân số theo độ tuổi, giới tính nguồn nhân lực từ đó có phân tích đánh giá cụ thể làm cơ sở để hoạch định các chính sách về phát triển kinh tế, văn hoá-xã hội, thể dục thể thao, xây dựng cơ sở y tế, trường học, bố trí giáo viên chăm sóc sức khoẻ trong nhân dân, đảm bảo cân bằng giới tính phục vụ an ninh quốc phòng, chăm sóc sức khoẻ trong nhân dân
1.3 Nội dung quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã
1.3.1 Ban hành văn bản quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng tại địa phương
Trang 24Hoạt động quản lý nhà nước nói chung và hoạt động quản lý nhà nước
về tạm trú, tạm vắng nói riêng trước hết là hoạt động thực hiện pháp luật Để tạo cơ sở pháp lý cho việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng thì chính quyền các cấp xây dựng và ban hành văn bản quản lý nhà nước để áp dụng thực hiện là yêu cầu tất yếu Ngày 20/6/2013 Quốc hội thống nhất ban hành Luật số 36/2013/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Cư trú năm 2006 Đây là một trong các luật lớn, có tính xã hội hóa cao, phù hợp với tình hình xã hội hiện nay, có tác động trực tiếp đến nhiều mặt của đời sống xã hội, tới hoạt động của công dân Đồng thời ban hành Luật Cư trú là yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân Ban hành và tổ chức thực hiện Luật Cư trú và các văn bản liên quan quy định về quản lý nhà nước đối với tạm trú, tạm vắng là một trong các điều kiện quan trọng để thực hiện chính sách của Đảng và nhà nước
ta Để Luật Cư trú thực sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, Chính phủ
đã ban hành Nghị định 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Cư trú Tiếp đến, ngày 09/9/2014, Bộ Công an ban hành 2 văn bản mới, bao gồm: Thông tư số 35/2014/TT-BCA quy định chi tiết một số điều của Luật Cư trú và Thông tư số 36/2014/TT-BCA quy dịnh
cụ thể về biểu mẫu, quy cách, cách ghi và quản lý biểu mẫu sử dụng trong đăng ký, quản lý cư trú Dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật về cư trú, chính quyền địa phương tiến hành xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước của mình để áp dụng ở địa phương mình dựa trên đặc trưng và tình hình thực tế Xây dựng và ban hành các văn bản quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền địa phương tạo cơ sở thuận lợi cho việc tiến hành các bước tổ chức thực hiện, chỉ đạo phối hợp giữa các cơ quan tiến hành công tác quản lý tạm trú, tạm vắng trên địa bàn Hoạt động này cũng thể hiện chủ trương, chính sách cũng như ý chí của chính quyền địa phương đối với quản
lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng
Trang 251.3.2 Tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng tại địa phương
Việc tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng là quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của chính quyền địa phương và tất cả mọi người sinh sống trên địa bàn Xét về chủ thể quản lý nhà nước, UBND cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm của cấp trên Cụ thể hóa chúng bằng việc xây dựng và ban hành, chỉ đạo thực hiện các văn bản đó tại địa phương Công an là cơ quan tham mưu trực tiếp cho UBND cùng cấp quản lý nhà nước về lĩnh vực cư trú, tạm trú, tạm vắng, tổ chức thực hiện các văn bản quản lý nhà nước trên địa bàn của mình Niêm niêm yết công khai hướng dẫn người dân trong việc thực hiện các quy định về cư trú nói chung, tạm trú, tạm vắng nói riêng Đồng thời bố trí cán bộ có năng lực, phẩm chất đạo đức tốt làm công tác đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng Người làm công tác đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng có nhiệm vụ tiếp nhận, kiểm tra hồ sơ, tài liệu liên quan Viết biên nhận, hẹn ngày trả kết quả
và giải quyết đúng thời hạn theo quy định của pháp luật Các thủ tục khai báo tạm vắng, tạm trú cần được công khai Để tổ chức thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các văn bản quản lý nhà nước về cư trú, về tạm trú, tạm vắng cần có sự phối hợp của các ban ngành Tuy nhiên trên thực tế hiện nay đa phần giao công an thực hiện
1.3.3 Tổ chức tuyên truyền, giáo dục pháp luật
Tổ chức tuyên truyền, vận động, hướng dẫn người dân trên địa bàn tham gia thực hiện các quy định của pháp luật về cư trú, về tạm trú, tạm vắng
là một yêu cầu tất yếu Đây là việc quán triệt quan điểm lấy nhân dân làm gốc của Đảng, nhà nước trên lĩnh vực quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng Hoạt động tuyên truyền, giáo dục pháp luật về cư trú, tạm trú, tạm vắng có ý nghĩa quyết định đến chất lượng và hiệu quả quản lý nhà nước ở lĩnh vực này Muốn phát huy vai trò của nhân dân trong quản lý nhà nước và tạo điều kiện
Trang 26để người dân thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình thì các phòng chức năng cần thực hiện tốt công tác tuyên truyền Thông qua hoạt động tuyên truyền, mọi cá nhân, tổ chức thấy được vai trò của quản lý nhà nước về cư trú,
về tạm trú, tạm vắng, sự cần thiết và trách nhiệm phải chấp hành các quy định này, góp phần đảm bảo, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội Về đối tượng và trường hợp phải khai báo tạm vắng, điều 32 Luật cư trú 2006 quy định các đối tượng phải khai báo tạm vắng gồm: 1 Bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo; người bị phạt cải tạo không giam giữ; người đang bị quản chế; người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành khi đi khỏi nơi cư trú từ một ngày trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng 2 Người trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, dự bị động viên đi khỏi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mình cư trú từ ba tháng trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng Theo quy định tại Khoản 2 Điều 32 Luật cư trú 2006, chỉ những trường hợp người đi khỏi quận, huyện, xã, thành phố nơi mình đang cư trú đến quận, huyện, xã, thành phố khác từ 03 tháng trở lên mới phải khai báo tạm vắng
Về đối tượng phải đăng ký tạm trú, Điều 30 Luật cư trú 2006 quy định:
1 Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ 2 Người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày,
kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại công an xã, phường, thị trấn Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và không xác định thời hạn Việc điều chỉnh
Trang 27thay đổi về sổ tạm trú được thực hiện theo quy định tại Điều 29 của Luật này
Sổ tạm trú bị hư hỏng thì được đổi, bị mất thì được cấp lại Trường hợp đến tạm trú tại xã, phường, thị trấn khác thì phải đăng ký lại Trường hợp người
đã đăng ký tạm trú nhưng không sinh sống, làm việc, lao động, học tập từ sáu tháng trở lên tại địa phương đã đăng ký tạm trú thì cơ quan đã cấp sổ tạm trú phải xoá tên người đó trong sổ đăng ký tạm trú Theo quy định Khoản 2 Điều
30, phải đăng ký tạm trú trong trường hợp di chuyển ra ngoài phạm vi xã, phường, thị trấn nơi đang cư trú Nếu nơi cư trú mới vẫn nằm trong phạm vi
xã nơi hiện đang cư trú thì không cần làm thủ tục đăng ký tạm trú
Tất cả những nội dung trên phải được phổ biến, tuyên truyền cho người dân hiểu để thực hiện Đảm bảo đưa hoạt động cư trú vào nề nếp, giữ gìn kỷ cương trật tự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người dân
1.3.4 Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng
Vị trí vai trò của công tác thanh tra được thể hiện cụ thể trong các văn bản pháp luật về thanh tra, nhất là từ Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 đến Luật Thanh tra năm 2004, Luật Thanh tra năm 2010 Hoạt động thanh tra được xem như một khâu quan trọng của quản lý nhà nước, thể hiện qua các vai trò
và ý nghĩa sau:
Thứ nhất: Thanh tra là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước Tổ chức thực hiện quyết định và kiểm tra việc thực hiện quyết định là những giai đoạn tiếp theo của quá trình quản lý Kiểm tra là hình thức tác động có hướng đích nhằm quan sát cả hệ thống để phát hiện những sai lệch so với yêu cầu đề
ra, tìm ra nguyên nhân và từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp đảm bảo để đối tượng bị quản lý tự điều chỉnh hoạt động để đạt tới mục tiêu mà chủ thể quản
lý đã xác định Việc tìm ra và áp dụng các giải pháp phù hợp phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố thuộc về chất lượng và hiệu quả của hoạt động kiểm tra Thanh tra là một phương thức của kiểm tra, là chức năng của
Trang 28quản lý, là công cụ của người lãnh đạo, người quản lý Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, các cơ quan quản lý Nhà nước nhất thiết phải tiến hành hoạt động thanh tra đối với việc thực hiện các quyết định mà mình đã ban hành Đó là một khâu không thể thiếu được trong quá trình hoạt động quản lý Nhà nước Chính vì vậy, thanh tra được xác định là chức năng thiết yếu của quản lý Nhà nước
Thứ hai: Thanh tra góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước Để quyết định quản lý Nhà nước được các cơ quan, tổ chức và cá nhân chấp hành đầy đủ thì các cơ quan, cá nhân đã ban hành quyết định phải đề ra quy trình thực hiện quyết định Trong quy trình đó hoạt động thanh tra, kiểm tra không thể thiếu được Thanh tra, kiểm tra là để đánh giá, nhận xét tình hình và kết quả thực hiện quyết định quản lý; xem xét lại nội dung và chất lượng quản lý; khi cần thiết phải bổ sung, sửa đổi, thậm chí phải huỷ bỏ một phần hay toàn bộ quyết định quản lý Trong trường hợp nội dung và chất lượng quyết định quản lý được thực tế kiểm nghiệm là đúng, là phù hợp, nhưng đối tượng thi hành vẫn không tuân thủ và không chấp hành nghiêm chỉnh thì khi đó hoạt động thanh tra, kiểm tra phải làm rõ nguyên nhân chủ quan, khách quan, xác định rõ trách nhiệm thuộc khâu nào, thuộc cá nhân, tổ chức nào để chấn chỉnh hoặc xử lý khi có vi phạm Với ý nghĩa đó thanh tra thực chất đã góp phần nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước
Thứ ba: Thanh tra là một phương thức bảo đảm pháp chế XHCN Một trong những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động của hệ thống chính trị và bộ máy Nhà nước ta là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa Nguyên tắc pháp chế thể hiện ở việc chấp hành pháp luật cả từ phía các cơ quan Nhà nước và
từ phía các cá nhân, tổ chức là đối tượng chịu sự quản lý của Nhà nước Về phía các cơ quan Nhà nước, nguyên tắc pháp chế thể hiện ở việc các cán bộ, công chức Nhà nước thực thi đúng chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn của mình
mà pháp luật đã quy định Ngay trong hoạt động ban hành các quyết định,
Trang 29các văn bản quản lý, nguyên tắc pháp chế cũng được thể hiện ở việc văn bản của cơ quan cấp dưới phải phù hợp với các quy định trong các văn bản của cơ quan cấp trên, văn bản có hiệu lực thấp hơn phải phục tùng những văn bản có hiệu lực cao hơn và mọi văn bản pháp luật phải phù hợp với Hiến pháp - đạo luật gốc, có hiệu lực pháp lý cao nhất Với tư cách là một chức năng của quản
lý Nhà nước, thanh tra chính là hoạt động xem xét việc làm của các cơ quan,
tổ chức, cá nhân có thực hiện đúng chính sách, pháp luật hay không Nếu cơ quan, tổ chức, cá nhân làm sai hoặc làm chậm thì hướng dẫn sửa chữa và thực hiện đúng quy định Mục đích của thanh tra là phát hiện, phát huy những nhân
tố tích cực, phòng ngừa, xử lý những vi phạm, bảo đảm để các cơ quan, tổ chức và cá nhân tuân thủ và chấp hành đầy đủ và nghiêm túc các quy định của pháp luật Thông qua công tác thanh tra tuyên truyền, giáo dục pháp luật, góp phần tích cực vào việc giúp các cơ quan, tổ chức, cá nhân hiểu đúng và chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và đó cũng là một hoạt động bảo đảm tăng cường pháp chế
Thứ tư: Thanh tra là một biện pháp phòng ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật Điều 2 Luật Thanh tra năm 2010 khẳng định “Mục đích hoạt động thanh tra nhằm phát hiện sơ hở trong cơ chế quản
lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền biện pháp khắc phục; phòng ngừa, phát hiện và xử lý hành vi vi phạm pháp luật”; Thanh tra cùng với các phương thức kiểm tra, giám sát luôn luôn là hiện thân của kỷ cương pháp luật Chỉ riêng sự hiện diện của các cơ quan thanh tra, kiểm tra, giám sát đã là một sự nhắc nhở thường xuyên đối với tất
cả các đối tượng chịu sự thanh tra, kiểm tra, giám sát phải tuân thủ pháp luật
từ đó hạn chế sự vi phạm pháp luật Các kiến nghị, yêu cầu được đưa ra từ hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát không chỉ hướng vào việc phát hiện,
xử lý hành vi vi phạm pháp luật mà còn có tác dụng khắc phục các kẽ hở của chính sách, pháp luật, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật tương tự xảy ra ở
Trang 30một nơi khác hoặc vào một thời điểm khác Vai trò phòng ngừa của thanh tra, kiểm tra, giám sát được đề cập ở đây là vai trò phòng ngừa mang tính chủ động Trong rất nhiều trường hợp, qua thanh tra, kiểm tra, giám sát mà có thể
dự báo được một hành vi vi phạm pháp luật sẽ xảy ra trong tương lai nếu không có sự chấn chỉnh, định hướng lại cho các đối tượng một cách kịp thời Nhà nước xã hội chủ nghĩa là Nhà nước của dân, do dân và vì dân; pháp luật được xây dựng để thể hiện ý chí của nhân dân cho nên thanh tra góp phần tăng cường pháp chế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước và ngăn ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật cũng chính là góp phần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa
1.4 Những yếu tố tác động đến quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã
1.4.1 Quy định pháp luật làm cơ sở quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng
Công tác quản lý cư trú, quản lý tạm trú, tạm vắng là cơ sở đảm bảo cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Hiến pháp năm 2013 và pháp luật đã quy định quyền và nghĩa vụ của công dân thế nhưng để nhân dân thực hiện quyền và nghĩa vụ đó thì cần phải được tổ chức một cách chặt chẽ, thống nhất và cụ thể thông qua bộ máy chính quyền các cấp mà trực tiếp nhất là lực lượng Công an cơ sở và chính quyền cấp xã Đó cũng chính là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp chế xã hội chủ nghĩa ở nước ta Do đó để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình mỗi công dân phải chứng minh tư cách công dân của mình trên cơ sở được chính quyền thừa nhận thông qua việc đăng ký và quản lý hộ khẩu, đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng để xác định về mặt cư trú
Công dân có quyền tự do cư trú theo quy định của pháp luật Quyền tự
do cư trú của công dân chỉ bị hạn chế theo quyết định của cơ quan nhà nước
có thẩm quyền và theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định Điều 23 Hiến
Trang 31pháp năm 2013 quy định: “Công dân có quyền tự do đi lại và cư trú ở trong nước, có quyền ra nước ngoài và từ nước ngoài về nước Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định.” Ngày 29/11/2006, Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ 10 đã thông qua Luật Cư trú, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2007 Luật
Cư trú được ban hành đã đánh dấu bước quan trọng trong việc cụ thể hóa quyền tự do cư trú của công dân, gắn với yêu cầu quản lý nhà nước về an ninh, trật tự, đáp ứng kịp thời nhu cầu tư do đi lại và cư trú của công dân trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay Quá trình thực hiện, Luật Cư trú năm
2006 đã bộ lộ một số hạn chế, làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính rườm rà khó khăn cho người dân và phía cơ quan quản lý nhà nước trên lĩnh vực này,
để hoàn thiện hơn nữa các quy định trong lĩnh vực cư trú, đáp ứng yêu cầu quản lý cư trú đang bức thiết đặt ra, ngày 20/6/2013 Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cư trú, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2014 (gọi chung là Luật Cư trú) Để Luật Cư trú thật sự đi vào cuộc sống và phát huy hiệu quả, Chính phủ đã ban hành Nghị định 31/2014/NĐ-CP ngày 18/4/2014 quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Cư trú, thay thế Nghị định 56/2010/NĐ-CP của Chính phủ Tiếp đến, ngày 09/09/2014, Bộ Công an đã ban hành 02 văn bản mới, bao gồm: Thông tư số 35/2014/TT-BCA, quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 31/2014/NĐ-CP ngày 18 tháng 4 năm
2014 của Chính phủ, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Cư trú và Thông tư số 36/2014/TT-BCA quy định cụ thể về biểu mẫu, quy cách, cách ghi và quản lý biểu mẫu sử dụng trong đăng ký, quản lý
cư trú Các Thông tư này có hiệu lực áp dụng từ ngày 28/10/2014, thay thế Thông tư số 52/2010/TT-BCA ngày 30/11/2010 của Bộ Công an, quy định chi tiết một số điều của Luật Cư trú và Nghị định số 107/2007/NĐ-CP ngày 25/6/2007 và Nghị định 56/2010/NĐ-CP ngày 24/5/2010 về cư trú
Trang 32Luật Cư trú sau khi được sửa đổi, bổ sung năm 2013 và quy định mới của những văn bản pháp lý về lĩnh vực cư trú được điều chỉnh, đã góp phần giải quyết những vướng mắc phát sinh liên quan đến chỗ ở của công dân và việc quản lý nhân khẩu của cơ quan Nhà nước, ngăn ngừa việc lạm dụng quy định về hộ khẩu làm hạn chế quyền, lợi ích hợp pháp của công dân
Văn bản hợp nhất Luật cư trú số 03/VBHN-VPQH ngày 11 tháng 7 năm 2013 của Văn phòng Quốc hội hợp nhất Luật cư trú quy định:
“Đăng ký tạm trú là việc công dân đăng ký nơi tạm trú của mình với cơ quan nhà nước có thẩm quyền và được cơ quan này làm thủ tục đăng ký tạm trú, cấp sổ tạm trú cho họ
Người đang sinh sống, làm việc, lao động, học tập tại một địa điểm thuộc xã, phường, thị trấn nhưng không thuộc trường hợp được đăng ký thường trú tại địa phương đó thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày đến phải đăng ký tạm trú tại Công an xã, phường, thị trấn
Người đến đăng ký tạm trú phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ có xác nhận của Công an xã, phường, thị trấn nơi người đó đã đăng ký thường trú; giấy tờ chứng minh quyền sở hữu hoặc sử dụng nhà ở đó; nộp phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, bản khai nhân khẩu; trường hợp chỗ ở hợp pháp là nhà do thuê, mượn hoặc ở nhờ của cá nhân thì phải được người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ đồng ý bằng văn bản
Trưởng Công an xã, phường, thị trấn trong thời hạn ba ngày làm việc,
kể từ ngày nhận đủ giấy tờ phải cấp sổ tạm trú theo mẫu quy định của Bộ Công an.”
Điều 32, Văn bản hợp nhất Luật cư trú số 03/VBHN-VPQH quy định
về khai báo tạm vắng:
“Bị can, bị cáo đang tại ngoại; người bị kết án phạt tù nhưng chưa có quyết định thi hành án hoặc được hoãn, tạm đình chỉ chấp hành hình phạt tù; người bị kết án phạt tù được hưởng án treo; người bị phạt cải tạo không giam
Trang 33giữ; người đang bị quản chế; người đang chấp hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; người bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng nhưng đang được hoãn chấp hành hoặc tạm đình chỉ thi hành khi đi khỏi nơi cư trú từ một ngày trở lên có trách nhiệm khai báo tạm vắng
Người trong độ tuổi làm nghĩa vụ quân sự, dự bị động viên đi khỏi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh nơi mình cư trú từ ba tháng trở lên
có trách nhiệm khai báo tạm vắng
Người quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này phải khai báo tạm vắng tại Công an xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú Khi đến khai báo tạm vắng phải xuất trình giấy chứng minh nhân dân và ghi vào phiếu khai báo tạm vắng
Công an xã, phường, thị trấn có trách nhiệm hướng dẫn nội dung khai báo, kiểm tra nội dung khai báo, ký xác nhận vào phần phiếu cấp cho người khai báo tạm vắng.”
- Điều 17, Thông tư số 35/2014/TT-BCA quy định Cấp sổ tạm trú:
“Sổ tạm trú được cấp cho hộ gia đình hoặc cá nhân đã đăng ký tạm trú theo quy định tại Điều 30 Luật Cư trú và quy định tại Thông tư này, có giá trị xác định nơi tạm trú của công dân và có thời hạn tối đa là hai mươi bốn tháng
Mỗi hộ gia đình đăng ký tạm trú thì được cử một người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ làm chủ hộ để thực hiện và hướng dẫn các thành viên trong hộ thực hiện quy định về đăng ký, quản lý cư trú Trường hợp không có người từ đủ 18 tuổi trở lên hoặc có người từ đủ 18 tuổi trở lên nhưng bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được cử một người trong hộ làm chủ hộ
Học sinh, sinh viên, học viên ở tập trung trong ký túc xá, khu nhà ở của học sinh, sinh viên, học viên; người lao động ở tập trung tại các khu nhà ở của người lao động thì cá nhân, cơ quan, tổ chức phải có văn bản đề nghị đăng ký
Trang 34tạm trú, kèm theo danh sách và được ghi vào sổ đăng ký tạm trú Danh sách bao gồm các thông tin cơ bản của từng cá nhân: Họ và tên; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; nguyên quán; dân tộc; tôn giáo; số chứng minh nhân dân; nghề nghiệp, nơi làm việc; nơi thường trú; nơi tạm trú, thời hạn tạm trú Công an
xã, phường, thị trấn có trách nhiệm xác nhận về việc đã đăng ký tạm trú vào danh sách đăng ký tạm trú của cá nhân, cơ quan, tổ chức Trường hợp cá nhân
có nhu cầu cấp sổ tạm trú riêng thì được cấp riêng
Trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày trước ngày hết thời hạn tạm trú, cá nhân, cơ quan, tổ chức đến cơ quan Công an nơi đăng ký tạm trú để làm thủ tục gia hạn tạm trú.”
Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về cư trú nói chung, tạm trú, tạm vắng nói riêng được được ban hành, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện đầy đủ tạo cơ sở pháp lý thống nhất để tổ chức và hoạt động đăng ký, quản lý cư trú, tạm trú, tạm vắng Các quy định về trình tự, thủ tục, thẩm quyền trong đăng
ký, quản lý tạm trú, tạm vắng theo định hướng cải cách hành chính của Đảng
và Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho công dân trong tạm trú, tạm vắng; nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng; góp phần phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật trong tình hình hiện nay; phục vụ yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, yêu cầu cải cách hành chính, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế
và có tác động nhiều mặt đến đời sống xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế -
xã hội của đất nước
Các văn bản quy phạm pháp luật quy định về cư trú nói chung, tạm trú, tạm vắng nói riêng được ban hành đã có những tác động tích cực và là công
cụ pháp lý hữu hiệu bảo đảm an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; giúp cho mọi tổ chức,
cá nhân, đặc biệt là những chủ thể thực hiện việc đăng ký, quản lý tạm trú,
Trang 35tạm vắng nhận thức đúng về vị trí, vai trò của công tác đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng và chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm của mình
Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật quy định về tạm trú, tạm vắng đầy đủ và phù hợp với thực tiễn tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng Ngược lại, nếu thực tiễn thi hành hoạt động đăng ký, quản lý tạm trú, tạm vắng không có sự điều chỉnh của các văn bản quy phạm pháp luật hoặc nội dung bất cập cả dưới góc độ lý luận và thực tiễn sẽ dẫn đến việc tổ chức thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng thiếu thống nhất, đồng bộ, gây khó khăn cho công tác quản
lý nhà nước trên lĩnh vực tạm trú, tạm vắng và các lĩnh vực có liên quan
1.4.2 Sự phát triển kinh tế - xã hội và nhu cầu giải quyết việc làm
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn như Việt Nam; giải quyết việc làm cho người lao động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu vực và thế giới
Thực hiện chủ trương của Đảng về đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường đầu tư đã tạo động lực to lớn, đưa nền kinh tế nước ta ngày càng
ổn định và phát triển, tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì liên tục ở mức cao (từ 6% - 6,5%/năm), hằng năm vốn đầu tư chiếm trên 35% GDP, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển mạnh, cùng với đó là các Chương trình phát triển nông nghiệp, nông thôn; Chương trình phát triển công nghiệp, dịch vụ; các chương trình, dự án trọng điểm kinh tế - xã hội của Nhà nước; Chương trình xây dựng và phát triển các khu chế xuất, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao được thực hiện góp phần giải phóng sức sản xuất, giải phóng sức lao động, tạo môi trường lành mạnh để nhân dân đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, tạo và tự tạo việc làm Qua đó, hằng
Trang 36năm đã giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động, tận dụng tối đa nguồn nhân lực cho phát triển đất nước, từng bước nâng cao và cải thiện đời sống của nhân dân
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, vấn đề lao động - việc làm vẫn là một vấn đề bức xúc, còn nhiều hạn chế cần khắc phục Các văn bản, chính sách về lao động - việc làm ra đời nhưng việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chưa đầy đủ, chưa thực sự theo sát thực tiễn, hiệu quả triển khai thực hiện chính sách còn chậm, lúng túng và thấp Công tác thanh tra, kiểm tra thực hiện chính sách chưa được thường xuyên, việc xử lý vi phạm chưa thực sự nghiêm minh, ảnh hưởng không tốt đến việc giải quyết việc làm và phát triển thị trường lao động Chất lượng việc làm chưa cao, tính ổn định, bền vững trong việc làm thấp, hiệu quả tạo việc làm còn thấp; nhu cầu có việc làm vẫn là vấn đề bức xúc của xã hội; chuyển dịch cơ cấu lao động chậm, lao động chủ yếu làm việc trong nông nghiệp (54,7%), lao động ở khu vực nông thôn chiếm chủ yếu (75%) gây sức ép lớn về giải quyết việc làm
1.4.3 Năng lực, trình độ và ý thức trách nhiệm của cán bộ quản lý tạm trú, tạm vắng
Cán bộ quản lý tạm trú, tạm vắng phải được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp với nhiệm vụ được giao Cụ thể, phải được đào tạo hoặc tập huấn về nghiệp vụ quản lý hành chính về trật tự xã hội
Cán bộ quản lý tạm trú, tạm vắng trong khi thực hiện nhiệm vụ phải có thái độ, lời nói, cử chỉ nghiêm túc, khiêm tốn, hòa nhã; tiếp nhận, kiểm tra hồ
sơ, tài liệu có liên quan, viết biên nhận, hẹn ngày trả kết quả và giải quyết đúng thời hạn theo quy định của Luật này; trường hợp hồ sơ còn thiếu hoặc chưa đúng thì hướng dẫn cụ thể, đầy đủ bằng văn bản và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc hướng dẫn đó
1.4.4 Nhận thức của người dân và các tổ chức liên quan
Trang 37Từ khi Luật cư trú có hiệu lực thi hành, lực lượng Công an đã chủ động phối hợp với các ngành liên quan tham mưu cấp uỷ, chính quyền địa phương ban hành các văn bản chỉ đạo các ngành, các cấp phối hợp các đoàn thể tổ chức triển khai thực hiện một cách nghiêm túc, đảm bảo đúng yêu cầu, đạt được nhiều kết quả, được nhân dân đồng tình ủng hộ Hầu hết người dân và các tổ chức liên quan đã nâng cao nhận thức, ý thức tôn trọng và chấp hành pháp luật về cư trú trong đăng ký tạm trú, tạm vắng, tạo sự chuyển biến rõ nét
cả về nhận thức và hành động của các cấp, các ngành và nhân dân trong thực hiện Luật Cư trú, qua đó đảm bảo giữ gìn trật tự an ninh nông thôn hiệu quả
Trang 38TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Trong chương 1, luận văn đã nghiên cứu, phân tích làm rõ những vấn
đề lý luận về quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã như: khái niệm, đặc điểm, mục đích, vai trò của công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã, trách nhiệm quản lý và những yếu
tố tác động đến quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng Qua đó, cho thấy công tác quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng của chính quyền cấp xã có vị trí hết sức quan trọng và có tác dụng to lớn đối với hoạt động quản lý xã hội của nhà nước Đối với hoạt động quản lý xã hội của đất nước, công tác quản lý tạm trú, tạm vắng giúp xác định việc cư trú và những thông tin cơ bản nhất về nhân thân của công dân để phục vụ, thực hiện chính sách phát triển kinh tế, xã hội, nhu cầu giải quyết việc làm, đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân, đồng thời phục vụ cho công tác giữ gìn an ninh, trật tự, phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm Quản lý tạm trú, tạm vắng là quản lý con người mà con người là chủ thể của tất cả các mối quan hệ xã hội, do đó nếu thực hiện tốt công tác này không chỉ tạo điều kiện thực hiện tốt các công tác khác trong quản lý nhà nước như phát triển kinh tế, văn hóa-xã hội mà còn tạo điều kiện,
hỗ trợ đắc lực cho công tác phòng ngừa, điều tra, khám phá tội phạm
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ TẠM TRÚ, TẠM VẮNG CỦA CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN THỊ XÃ HÀ TIÊN,
TỈNH KIÊN GIANG 2.1 Tình hình, đặc điểm liên quan đến quản lý nhà nước về tạm trú, tạm vắng trên địa bàn thị xã Hà Tiên
2.1.1 Tình hình vị trí địa lý, kinh tế, xã hội có liên quan đến vấn đề tạm trú, tạm vắng
Hà Tiên là thị xã nhỏ nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Kiên Giang (trước đây nằm trong huyện Hà Tiên thuộc tỉnh Rạch Giá và sau đó thuộc tỉnh Kiên Giang) Bắc giáp Campuchia với đường biên giới dài 13,7 km, Đông giáp huyện Giang Thành và Nam giáp huyện Kiên Lương, Tây giáp huyện đảo Phú Quốc và vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 26 km [Bảng 2.1 – Phần phụ lục]
Hiện nay, tỉnh lị của tỉnh Kiên Giang thành phố Rạch Giá Tuy nhiên,
Hà Tiên lại từng là tỉnh lỵ của tỉnh Hà Tiên cũ vào thời Pháp thuộc trước năm
1956 Đặc biệt, Hà Tiên lại là lỵ sở của toàn bộ tỉnh Hà Tiên vào thời nhà Nguyễn độc lập Địa bàn tỉnh Hà Tiên khi đó bao gồm tỉnh Kiên Giang, tỉnh Cà Mau và một phần tỉnh Bạc Liêu ngày nay
Về hành chính, thị xã Hà Tiên bao gồm 4 phường là: Bình San, Đông
Hồ, Pháo Đài, Tô Châu; 3 xã là: Mỹ Đức, Thuận Yên và Tiên Hải Riêng xã đảo Tiên Hải bao gồm các đảo trong quần đảo Hà Tiên (quần đảo Hải Tặc) như: hòn Đốc, hòn Long, hòn Đước và 618 ha diện tích tự nhiên Dân số toàn thị xã có 52.715 ngườì, cùng với 3 dân tộc Kinh, Hoa, Khmer sinh sống
từ rất lâu đời, trong đó dân tộc Kinh chiếm 85,3% tương đương 44.966 người, dân tộc Khmer chiếm 11,5% tương đương với 6.062 người, dân tộc Hoa chiếm 3% tương đương 1.582 người, dân tộc khác chiếm 0,2% dân số tương đương 105 người
Trang 40Thị xã Hà Tiên là một dải đất hẹp nằm ven biển, với đầy đủ các dạng địa hình: vũng, vịnh, đồng bằng, núi, sông, hang động, hải đảo tạo nên nhiều cảnh quan đẹp (Hà Tiên thập vịnh) đã là đề tài xướng họa của Tao đàn Chiêu Anh Các dưới thời Đô đốc Mạc Thiên Tích cai quản xứ sở này
Sông Giang Thành bắt nguồn từ Campuchia, chảy vào khu vực Hà Tiên, dài khoảng 23 km Sông đổ vào vũng Đông Hồ với chiều rộng cửa sông trên 200m Sông Giang Thành nối liền với kênh Vĩnh Tế tạo nên tuyến đường thủy quan trọng từ thành phố Châu Đốc đến thị xã Hà Tiên Ngoài ra còn có sông Tô Châu và kênh Hà Tiên - Rạch Giá
Các ngọn núi trên địa bàn thị xã hầu hết đều là những thắng cảnh như: núi Tô Châu, núi Đá Dựng, núi Bình San, núi Thạch Động Ven biển Hà Tiên có nhiều bãi biển đẹp như: bãi biển Lộc Trĩ (bãi biển Mũi Nai) Ngoài khơi có quần đảo Hải Tặc với nhiều đảo đẹp, có tiềm năng du lịch
Hà tiên có đường biên giới với Campuchia cả trên đất liền và biển, cách tỉnh Kampot của Campuchia 60km và cảng Kép của thành phố Kép 20km, rất thuận lợi trong việc phát triển kinh tế cửa khẩu với Campuchia, tạo mối quan
hệ với Thái Lan qua mạng lưới giao thông Hiện tại, Hà Tiên có hệ thống giao đường bộ, đường thủy rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giao lưu quốc tế, với 23,5 km đường quốc lộ; 9,04 km tỉnh lộ; 26,13 km đường nội ô thị xã, 27,5 km đường giao thông nông thôn và khoảng 22 km chiều dài bờ biển Trong đó, quan trọng nhất là tuyến quốc lộ 80, nối thành phố Rạch Giá - thị xã Hà Tiên và sang tận Campuchia
Về chính trị, xã hội: Hà Tiên nằm tiếp giáp với Campuchia nên ảnh hưởng rất nhiều từ các hoạt động chính trị ở nước bạn Mặt khác, trên toàn địa bàn thị xã có nhiều cơ sở tôn giáo lớn với nhiều tín đồ: Phật giáo, Thiên chúa Giáo, Tin Lành, Cao đài, Hoà Hảo Có một số tôn giáo mới phát sinh du nhập
từ bên ngoài với các hoạt động tuyên truyền mê tín dị đoan, tuyên truyền chống chế độ hoặc hoạt động đi ngược lại truyền thống, đạo lý của người Việt