Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào (LV thạc sĩ)Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong, tỉnh Savannakhet, nước CHDCND Lào (LV thạc sĩ)
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
-
SORSELANONG SIVILAY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NONG TỈNH SAVANNAKHET, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2017
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NỘI VỤ
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
-
SORSELANONG SIVILAY
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC TRÊNĐỊA BÀN HUYỆN NONG TỈNH SAVANNAKHET, NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03 NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ THỊ TRÚC ANH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện Các tài liệu được sử dụng trong luận văn này đều được trích dẫn đầy đủ, chính xác
và được ghi trong phần danh mục tài liệu tham khảo Các số liệu khảo sát, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong Luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trên tạp chí khoa học dưới bất cứ hình thức nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình
TP Hồ Chí Minh tháng năm 2017
SIVILAY SORSELANONG
Trang 4Tôi xin đươc gửi lời cảm ơn chân thành nhất dến Viện phát triển nguôn lực, HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA đã tạo điều kiện cho tôi dược nghiên cứu đề tài này và đặc biệt là sự hướng dẫn rất nhiệt tình của cô giáo: TS Lê Thị Trúc Anh ( Học viện cán bộ Thành Phố Hồ Chi Minh) đã định hướng, chỉ dẫn giúp tôi hoàn thành đề tài theo đúng thời gian quy định của Nhà trường
Do những hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học của người Viết, vì thế luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự góp ý tận tình của quý Tầy, Cô Tác giả luôn ghi nhận và biết ơn
Chân thành cảm ơn
TP Hồ Chí Minh tháng năm 2017
SIVILAY SORSELANONG
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Bảng số lượng đội ngũ cán bộ phòng giáo dục huyện Nong 46
Bảng 2.2: Số lượng cán bộ - giáo viên ở trường mầm non 46
Bảng 2.3: Số lượng cán bộ - giáo viên ở trường tiểu học 50
Bảng 2.4: Số lượng giáo viên các trường trung học trên địa bàn huyện Nong 52
Bảng 2.5: Số lượng học sinh PT trên địa bàn huyện Nong năm học 2015 – 2016 54
Bảng 3.1 Kết quả xin ý kiến chuyên gia về các biện pháp quản lý 77
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ1.2: Yêu cầu về tư tưởng chính trị của người làm công tác quản lý nhà nước
về giáo dục thể hiện qua các hành động 30
Biểu đồ 2.3: Mức độ yêu cầu về chuyên môn của Người làm công tác quản lý nhà
nước về giáo dục 46 Biểu đồ 2.1: Nhận xét về cán bộ làm công tác quản lý giáo dục trên địa bàn huyện 37 Biểu đồ 2.2: Kết quả đánh giá sự hài lòng về kế hoạch của Phòng Giáo dục – Đào tạo và Thể thao 44 Biểu đồ 2.9: Về việc thực hiện đánh giá giáo viên 57 Biểu đồ 1.1: Người làm công tác quản lý giáo dục: Phòng Giáo dục – đào tạo và Thể thao và ở các trường học có ảnh hưởng đến quản lý giáo dục hay không 25 Biểu đồ 2.10: Những biểu hiện quản lý giáo viên còn thiếu hiệu quả hiện nay 42 Biểu đồ 2.4: Thực trạng đội ngũ giáo viên huyện Nong tỉnh Savannakhet 47 Biểu đồ 2.5: Thực trạng đội ngũ giáo viên mầm non huyện Nong tỉnh Savannakhet 50 Biểu đồ 2.6: Thực trạng đội ngũ giáo viên tiểu học huyện Nong tỉnh Savannakhet 51 Biểu đồ 2.7: Thực trạng đội ngũ giáo viên trường trung học huyện Nong tỉnh Savannakhet 53 Biểu đồ 2.8: Tỉ lệ học sinh phổ thông trên địa bàn huyện Nong năm học
2015 – 2016 55
Trang 8MỤC LỤC
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn 5
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu luận văn 5
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn 6
7 Kết cấu luận văn 6
CHƯƠNG 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC 8
1.1 Những vấn đề chung về giáo dục, quản lý và quản lý giáo dục 8
1.1.1 Khái niệm giáo dục và quản lý giáo dục 8
Khái niệm quản lý 8
Khái niệm quản lý giáo dục 8
1.1.2 Vai trò của giáo dục - đào tạo và ý nghĩa của quản lý Nhà nước về giáo dục 10
1.2 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục 11
1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục cấp trung ương 11
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện 13
1.2 3 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục qua các hoạt động quản lý cụ thể 14
1.3 Các phương pháp quản lý nhà nước về giáo dục 16
1.3.1 Phương pháp tổ chức - hành chính 16
1.3.2 Phương pháp tâm lý - xã hội 16
1.3.3 Phương pháp kinh tế 17
1.3.4 Phương pháp quản lý theo mục tiêu 17
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giáo dục 18
1.4.1 Đặc điểm về kinh tế - xã hội của địa phương 18
1.4.2 Các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác quản lý nhà nước về giáo dục 19
1.4.3 Chất lượng đào tạo ảnh hưởng đến năng lực quản lý giáo dục 23
Biểu đồ 1.1: Người làm công tác quản lý giáo dục: Phòng Giáo dục - Đào tạo và 24
Thể thao và ở các trường học có ảnh hưởng đến QLGD hay không? 24
1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục của một số nước 29
1.5.1 Kinh nghiệm của Singapore 29
1.5.2 Kinh nghiệm của Thái Lan 29
1.5.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc 30
1.5.4 Những bài học kinh nghiệm 31
Trang 9Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NONG TỈNH SAVANNAKHET 33
2.1 Khái quát công tác quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong 33
2.1.1 Giới thiệu chung về huyện Nong 33
2.1.2 Một số hoạt động QLNN về giáo dục của Phòng Giáo dục huyện Nong 33
2.1.3 Đánh giá khái quát 34
2.2 Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục ở huyện Nong 36
2.2.1 Thực trạng việc thực hiện các chức năng quản lý nhà nước về giáo dục 36
2.2.2 Thực trạng công tác kế hoạch hóa việc quản lý nhà nước về giáo dục 38
2.2.3 Thực trạng về đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước về giáo dục các cấp ở huyện Nong 42
2.2.4 Thực trạng việc tổ chức, chỉ đạo công tác quản lý nhà nước về giáo dục 51
2.2.5 Thực trạng việc kiểm tra, đánh giá công tác quản lý nhà nước về giáo dục 53
2.3 Những tồn tại, yếu kém trong quản lý nhà nước về giáo dục - đào tạo 54
2.4 Nguyên nhân của những yếu kém, hạn chế trong QLNN về giáo dục 56
2.4.1 Những nguyên nhân khách quan 56
2.4.2 Những nguyên nhân chủ quan 57
Tiểu kết chương 2 60
CHƯƠNG 3:CÁC BIỆN PHÁP ĐỔI MỚI VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN NONG TỈNH SAVANNAKHET 61
3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp 61
3.1.1 Cơ sở pháp lý 61
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 63
3.2 Những biện pháp và một số kiến nghị 63
3.2.1 Các biện pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả QLNN về giáo dục 63
3.3.2 Ý kiến chuyên gia về các biện pháp quản lý 72
3.3.3 Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong tỉnh Savannakhet 73
Tiểu kết chương 3 76
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, cả thế giới đang bước vào một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức với xu tế toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ trên tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có giáo dục Điều này đem lại cho ngành giáo dục mỗi nước cơ hội to lớn và cả thách thức khi tham gia hội nhập.Vì vậy, làm thế nào để đất nước sớm thoát ra khỏi tình trạng nghèo nàn và lạc hậu này so với thế giới?Câu trả lời duy nhất
là chúng ta phải đi lên bằng giáo dục Sự lạc hậu về tư duy, phương thức quản lý giáo dục, nội dung chương trình và phương pháp đào tạo là những nguyên nhân chính dẫn đến sự nghèo nàn của nước ta Một sự đổi mới căn bản, triệt để trong giáo dục sẽ là một phương thuốc màu nhiệm để đưa đất nước từng bước phát triển, đặc biệt là với cơ hội chưa từng có trong lịch sử của nền kinh tế tri thức Muốn đổi mới giáo dục một cách căn bản và toàn diện từ triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, cách dạy học cho đến việc tinh giản nội dung chương trình hay tạo ra động lực cho sự phát triển thì phải quan tâm đến việc đổi mới mạnh mẽ cơ chế quản lý nhà nước về giáo dục cũng như xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên bằng chính sách sử dụng và đãi ngộ đúng đắn Đây là một trong các khâu đột phá rất cần thiết trong công cuộc cải cách nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục
Từ sau khi thực hiện quá trình đổi mới, ngành giáo dục của Lào đã đạt được nhũng thành tựu đáng ghi nhận như đào tạo được một đội ngũ cán bộ, giáo viên, đáp ứng tương đối yêu cầu về số lượng và chất lượng; đào tạo được các thế hệ học sinh sinh viên đáp ứng cơ bản quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
Tại Đại hội Đảng Nhân dân Cách mạng Lào lần thứ IX, Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VI đã khẳng định quan điểm chỉ đạo về một trong những mục tiêu,
nhiệm vụ phát triển đất nước giai đoạn 2011-2015 là:“Thực hiện kế hoạch chiến lược phát triển giáo dục toàn quốc, phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và thể thao, chất lượng nguồn nhân lực, phát triển khoa học đáp ứng yêu cầu của sự phát triển kính tế tri thức-xã hội của đất nước theo 6 phương hướng, 7 chiến lược, 7 phương pháp, 3 bản chất và 5 nguyên tắc cơ bản”
Trang 11Huyện Nong là một huyện biên giới của tỉnh Savannakhet, tiếp giáp với tỉnh Quảng Trị Công tác giáo dục của huyện đã có sự chuyển biến nhưng bên cạnh đó vẫn còn tồn tại những hạn chế như trình độ mặt bằng chung của cán bộ thuộc các cơ quan quản lý nhà nước về công tác giáo dục chưa cao, ngân sách đầu tư cho ngành giáo dục chưa nhiều, cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo nàn, việc tiếp cận công nghệ thông tin phục vụ công tác giáo dục chưa được mở rộng Do vậy, đổi mới nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về giáo dục ở các cấp trong đó có cấp huyện là một yêu cầu cấp thiết vừa có ý nghĩa cơ bản lâu dài, vừa là vấn đề thời sự cần được quan tâm đúng mức
Ý thức được tầm quan trọng từ các đóng góp của quản lý nhà nước về giáo dục trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của cả nước nói chung và mỗi địa phương nói
riêng nên chúng tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về giáo dục trên địa
bàn huyện Nong tỉnh Savannakhet nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào” làm đề
tài nghiên cứu luận văn cao học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Từ năm 1975 đến nay, sau khi đất nước được giải phóng, trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước thì hệ thống nhà nước Lào có những bước phát triển và điều chỉnh thích hợp, từ một nền kinh tế vận hành theo cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang một nền kinh tế kế hoạch hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Hỏm Đuông Pha Chăn (2005), Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo cấp huyện của tỉnh Salavan Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, Luận văn
Thạc sĩ Quản lý hành chính công, Học viện Hành chính Quốc gia, Hà Nội Trong luận văn, tác giả đã đề cao vai trò của cán bộ công chức lãnh đạo cấp huyện, những yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của công chức lãnh đạo cấp huyện, thực trạng về năng lực cán
bộ lãnh đạo cấp huyện trong đó có trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và khả năng tổ chức thực hiện sự nghiệp đổi mới của Đảng và Nhà nước Từ đó, tác giả
đề xuất phương hướng và những giải pháp cơ bản nhằm nâng cao năng lực đội ngũ cán
bộ, công chức lãnh đạo cấp huyện của tỉnh Salavan Với 5 giải pháp chủ yếu trong đó
Trang 12có hai giải pháp có thể tiến hành ở mọi lĩnh vực kể cả lĩnh vực giáo dục, đó là (1) giải pháp tiến hành điều tra, phân tích đánh giá đúng đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo hiện có và các nguồn cán bộ lãnh đạo của huyện để có phương thức đào tạo nhằm nâng cao chất lượng cán bộ và (2) giải pháp cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ, công chức lãnh đạo cấp huyện Nếu thực hiện đồng bộ hai giải pháp này một cách nghêm túc thì chắc chắn rằng trình độ và năng lực của cán bộ lãnh đạo, quản lý giáo dục cấp huyện sẽ được nâng cao một cách đáng kể
OunMaNo LamPhan (2005), Quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở các trường THPT huyện Sikhottabong thủ đô Viêng Chăn (CHDCND Lào), Luận văn Thạc
sĩ Quản lý giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh Ở chương 2, tác giả đã đề cập đến thực trạng quản lý đổi mới phương pháp dạy học ở các trường THPT trên địa bàn một huyện nội thành, trong đó có đặc điểm tình hình giáo dục của huyện và thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý về tầm quan trọng đối với việc đổi mới phương pháp giáo dục Trong chương 3, tác giả đã đưa ra cơ sở và nguyên tắc về quản lý đổi mới phương pháp dạy học THPT đề xuất biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục Ngoài ra, tác giả yêu cầu đồng thời phải chú ý đến tăng cường quản lý hoạt động của tổ bộ môn, quảnlý hoạt động của các phòng ban và phải bảo đảm các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất, trang thiết bị và kinh phí phục vụ quá trình đổi mới
Có thể nói, cho đến nay, tỉnh Savannakhet chưa có công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ về mặt lý luận cũng như thực tiễn về vấn đề quản lý công tác giáo dục cấp huyện
Các công trình nghiên cứu tại Việt Nam mà chúng tôi tiếp cận được, có:
Tác giả Võ Sỹ Sơn (2010) với nghiên cứu “Một số giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các trường Trung học Cơ sở huyện Quỳ Hợp tỉnh Nghệ An”, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Quản lý Giáo dục, Đại học Vinh, chủ yếu bàn về
những giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý giáo dục từ góc độ khoa học Quản lý, giới hạn trong phạm vi các trường THCS tại huyện Quỳ Hợp, tỉnh Nghệ An
Các công trình: “Kết hợp việc giáo dục của nhà trường gia đình và của xã hội” chương 20, Giáo trình giáo học tập II, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội 1988 của tác giả
Hà Thế Ngư, Đặng Vũ Hoạt; “Nâng cao tính thống nhất giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội trong điều kiện mới” của tập thể tác giả ở Trung tâm Giáo Dục học,
Trang 13thuộc Viện Khoa Học Giáo Dục, 1993; “Những quan điểm phương pháp luận của việc liên kết giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội trong quá trình giáo dục đạo đức cho học sinh hiện nay” của tác giả Nguyễn Thế Kỳ, Viện Khoa Học Giáo dục, 1996;
“Phối hợp việc giáo dục gia đình với nhà trường và các thể chế xã hội khác”, tác giả Phạm Khắc Chương (chủ biên), Nhà Xuất Bản Giáo dục, 1988, đã đưa ra một số cơ sở
lý luận cơ bản và bước đầu đề xuất các mô hình tổ chức thực hiện sự phối hợp giữa các lực lượng giáo dục nhà trường, gia định và xã hội nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh Các tác giả đã dùng các khái niệm khác nhau “ thống nhất”, “ hợp tác”,
“kết hợp”, “phối hợp”, “liên kết”; trình bày các khái niệm giáo dục theo nghĩa rộng, nghĩa hẹp, mối tương quan giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh Các tác giả cũng đã chỉ ra lý luận về tính cần thiết phải kết hợp việc giáo dục của nhà trường với gia đình và xã hội, chỉ ra vai trò quan trọng của gia đình trong việc giáo dục học sinh và yêu cầu phải nâng cao tính thống nhất trong sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội Những nghiên cứu này giúp tác giả có thêm kiến thức và kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học, song cũng không trực tiếp liên quan đến nhiều vấn đề tác giả quan tâm trong luận văn
Những công trình nghiên cứu của các tác giả: Đặng Quốc Bảo (2000), Tổng quan về Tổ chức và Quản lý cho lớp nữ cán bộ lãnh đạo quản lý (Tài liệu bài giảng), Nhà xuất bản Đại học Sư phạm; Nguyễn Ngọc Quang (1989), Những khái niệm cơ bản
về lý luận Quản lý Giáo dục, Nhà xuất bản Giáo dục; Nguyễn Đình Qua (2013), Phương pháp nghiên cứu khoa học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí
Minh đều là những nguồn tư liệu tham khảo quý giúp tác giả Luận văn có thêm cơ sở
lý luận khoa học cho nghiên cứu của mình, song các công trình trên cho thấy, hoàn toàn không có đề tài nào trùng lắp với chủ đề tác giả đã chọn Như vậy, vấn đề về quản
lý công tác giáo dục cấp huyện là một vấn đề còn mới mẻ và có ý nghĩa thực tiễn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Nhằm xác định những căn cứ khoa học và thực tiễn góp phần kiện toàn, nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong tỉnh Savannakhet, đáp ứng yêu cầu phát triển của tỉnh trong thời kỳ mới
3.2 Nhiệm vụ
Trang 14Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý, quản lý giáo dục và quản lý nhà nước về giáo dục;
Phân tích và đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong tỉnh SaVanNaKhet nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào giai đoạn 2010 – 2016;
Đề xuất một số giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng quản lý nhà nước giáo dục trên địa bàn huyện Nong tỉnh Savannakhet
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong tỉnh Savannakhet và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý nhà nước về giáo dục
5.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
5.2.1 Phương pháp hệ thống – cấu trúc
Phân tích các thành tố và hệ thống hoá những vấn đề lý luận về quản lý công tác giáo dục trong các tài liệu, văn bản, công trình nghiên cứu… làm cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu
5.2.2 Phương pháp phân tích tổng hợp
Từ những số liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu, phân tích tìm ra nguyên nhân của thực trạng, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp với quá trình phát triển và thực tiễn của địa phương
5.2.3 Phương pháp thống kê
Trang 15Các tài liệu thống kê có tính pháp lý được khai thác một cách triệt để phục vụ cho công tác nghiên cứu Số liệu được tổng hợp, thu thập và xử lí trên cơ sở dữ liệu và các báo cáo của Phòng Giáo dục huyện Nong, Sở Giáo dục tỉnh Savannakhet và Bộ Giáo dục Đào tạo và Thể thao Lào
5.2.4 Phương pháp xã hội học
Trong nghiên cứu, tác giả ứng dụng cả hai thao tác điều tra xã hội học định tính (phỏng vấn sâu) và định lượng (bằng bảng hỏi) Kết quả điều tra được xử lý bởi phần mềm SPSS Ngoài những số liệu thống kê thu thập được (phần Phụ lục), tác giả có phỏng vấn người dân, cán bộ lãnh đạo địa phương nhằm bổ sung thêm số liệu và cũng
là cơ sở để kiểm chứng lại những nhận định, dự báo trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ của luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Đề tài về quản lý hành chính dưới góc độ quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện chưa được nghiên cứu rộng rãi ở Lào nói chung và tỉnh Savannakhet nói riêng Luận văn khái quát các khái niệm liên quan đến quản lý, quản lý nhà nước về giáo dục, đặc biệt là ở cấp huyện
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn, nếu thực hiện tốt những mục tiêu đặt ra sẽ đóng góp vào việc hoạch định chủ trương, chính sách trong việc quản lý nhà nước về giáo dục cũng như vấn đề đào tạo, nâng cao năng lực trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục trên địa bàn huyện Nong tỉnh Savannakhet
Ngoài ra, luận văn còn có thể trở thành tư liệu tham khảo khoa học cho sinh viên và học viên cao học khi nghiên cứu những chủ đề có liên quan
7 Kết cấu luận văn
Ngoài lời mở đầu, mục lục, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia làm ba chương
Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về giáo dục
Chương 2: Thực trạng về công tác quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong tỉnh Savannakhet
Trang 16Chương 3: Các biện pháp nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng công tác quản
lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện Nong tỉnh Savannakhet
Trang 17CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC
1.1 Những vấn đề chung về giáo dục, quản lý và quản lý giáo dục
1.1.1 Khái niệm giáo dục và quản lý giáo dục
Có thể xem giáo dục là một quá trình được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền lại và lĩnh hội những tri thức được tích lũy của loài người Đào tạo
là một quá trình đặc thù của giáo dục, nó hướng về giáo dục chuyên nghiệp Đó là sự phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… đòi hỏi ở một cá nhân để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn nhất định
Khái niệm chung về giáo dục và đào tạo: là lĩnh vực truyền bá, cung cấp kiến
thức khoa học, kỹ thuật nhằm phát triển trí tuệ, nâng cao hiểu biết, hình thành nhân cách đối sống và kỹ năng lao động, thông qua đó con người có thể vận dụng trí tuệ, kỹ năng, hiểu biết vào thực tiễn
Khái niệm quản lý
Trước khi tìm hiểu khái niệm “quản lý giáo dục”, cần làm rõ khái niệm “quản lý” Trong các tài liệu về khoa học quản lý, các nhà khoa học đã diễn đạt nhiều cách khác nhau về khái niệm quản lý, ví dụ:
- Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức nhằm đạt mục đích nhất định
- Quản lý là phối hợp nỗ lực của nhiều người nhằm đạt mục tiêu chung
Các khái niệm trên tuy diễn đạt khác nhau, song đều khẳng định:
- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức, một nhóm xã hội
- Là những tác động có hướng đích (mục tiêu) xác định của người quản lý
- Là những tác động phối hợp nỗ lực của nhiều cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức
Khái niệm quản lý giáo dục
Về khái niệm quản lý giáo dục (QLGD), các nhà khoa học cũng có nhiều cách diễn đạt khác nhau QLGD ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô Cấp quản lý vĩ mô tương ứng với việc quản lý một đối tượng có quy mô lớn, bao quát toàn
bộ Hệ thống này có nhiều hệ thống con, tương ứng với các hệ thống con là các hoạt
Trang 18động quản lý vi mô Việc phân chia quản lý vĩ môvà quản lý vi mô chỉ là tương đối Theo đó, ta có hai nhóm khái niệm là quản lý vĩ mô và quản lý vi mô
- Đối với quản lý vĩ mô
QLGD là những động tác tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục
QLGD là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trội của hệ thống, sử dụng một cách tối ưu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm đưa hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện bảo đảm sự cân bằng với trường bên ngoài luôn luôn biến động
QLGD là hoạt động tự giác của chủ thể quản lý nhằm huy động, tổ chức điều phối, điều chỉnh, giám sát,… một cách có hiệu quả các nguồn lực giáo dục phục vụ cho mục tiêu phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH
Các khái niệm trên tương ứng với sự phát triển hệ thống giáo dục trên quy mô cả nước, của một tỉnh, một huyện, một ngành học, cấp học cụ thể nào đó
Các khái niệm đó không mâu thuẫn nhau, ngược lại bổ sung cho nhau để thể hiện đầy đủ tính định hướng, tính đồng bộ, tính toàn diện và tính cụ thể của những tác động quản lý vào các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu quản lý
- Đối với quản lý cấp vi mô
QLGD là hệ thống những tác động tự giác của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, với sự hỗ trợ của các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục ở nhà trường (NT)
QLGD là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình giáo dục (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ của các lực lượng xã hội) nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của nhà trường
Dù ở cấp độ quản lý nào (vĩ mô hay vi mô) chúng ta thấy 4 yếu tố của quản lý giáo dục: chủ thể quản lý, đối tượng quản lý, mục tiêu quản lý và khách thể quản lý
Trang 19QLGD là một quá trình Quá trình QLGD là hoạt động của các chủ thể và đối tượng quản lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu nhất định nhằm đạt mục tiêu đề ra của quản lý bằng cách thực hiện những chức năng nhất định và vận dụng các phương pháp, nguyên tắc, công cụ quản lý thích hợp
Quá trình QLGD gồm các khâu: thu nhận và phân tích thông tin phản hồi về trạng thái mới của đối tượng quản lý
Quá trình QLGD thực hiện bốn chức năng là kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra
1.1.2 Vai trò của giáo dục - đào tạo và ý nghĩa của quản lý Nhà nước về giáo dục
Vai trò của giáo dục - đào tạo
Giáo dục và đào tạo là lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội nó góp phần quyết định chất lượng cuộc sống của con người và sự phát triển của xã hội
Tổ chức UNESCO đã đề cập đến những yếu tố cốt lõi liên quan đến chất lượng cuộc sống của con người trong đó đặc biệt nhấn mạnh dến vai trò của giáo dục và đào tạo Theo quan điểm nay được nâng cao phẩm chất con người chủ yếu thông quan giáo dục – đào tạo, làm cho cá nhân có thể phát triển tối đa tiềm năng của mình
Giáo dục - đào tạo nâng cao phẩm chất cho từng cá nhân, đồng thời làm cho xã hội phát triển Giáo dục và đào tạo là nguồn lực hàng đầu cho sự phát triển kinh tế, vì
lẽ giáo dục – đào tạo đem lại kiến thức khoa học, trình độ chuyên môn, kỹ năng, đạo đức, tư cách, tinh thần trách nhiệm, kỷ luật lao động, óc tìm tỏi, sáng tạo… cho con người Song muốn đạt được các yếu tố trên đòi hỏi phải có nền giáo dục phát triển, mà muốn cho giáo dục phát triển thì yếu tố đầu tiên phải kể đến là Nhà nước về giáo dục – đào tạo
Việt Nam là đất nước có truyền thống giáo dục ngàn đời nay Đặc biệt, từ sau Cách mạng tháng 8 tới hiện tại, truyền thống đó ngày càng được vun đắp Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có tầm nhìn rất xa đối với giáo dục – đào tạo, coi đây là lĩnh vực quan trọng cho sự phát triển Người cho rằng “Vì lợi ích trăm năm phải trồng người” hay
“Một dân tộc dốt là dân tộc yếu”
Ngày nay khoa học và công nghệ có những bước tiến xa so với nền khoa học công nghệ truyền thống Muốn nắm bắt được công nghệ mới, con người phải có trình
Trang 20độ học vấn do giáo dục – đào tạo cung cấp, từ đó con người sẽ trở thành động lực thúc đẩy công nghệ hóa, hiện đại hóa đất nước
Ý nghĩa của quản lý nhà nước đối với giáo dục
Chính vì giáo dục - đào tạo có vai trò rất lớn và ảnh hưởng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nên Nhà nước luôn quan tâm và thống nhất quản lý về giáo dục – đào tạo thông qua luật pháp và các chủ trương chính sách quốc gia nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư cho giáo dục QLNN về giáo dục giúp cho việc thực hiện các mục tiêu giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục được triển khai, thực hiện có hiệu quả
Quản lý Nhà nước về giáo dục – đào tạo có thể được coi là khâu then chốt của then chốt nhằm đảm bảo thực hiện thắng lợi của mọi hoạt động giáo dục – đào tạo, tiến tới mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và hoàn thiện nhân cách con người [29]
Quản lý nhà nước về giáo dục chính là việc Nhà nước thực hiện quyền lực công
để điều hành, điều chỉnh toàn bộ các hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội để thực hiện mục tiêu giáo dục của Nhà nước
Quản lý nhà nước về giáo dục là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các hoạt động giáo dục, do các cơ quan quản lý giáo dục của Nhà nước từ Trung ương đến cơ sở tiến hành để thực hiện chức năng, nhiệm vụ do Nhà nước ủy quyền nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, duy trì trật tự kỷ cương, thỏa mãn nhu cầu giáo dục của nhân dân, thực hiện mục tiêu giáo dục của Nhà nước
1.2 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục
1.2.1 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục cấp trung ương
Quản lý nhà nước về giáo dục là sự quản lý của các cơ quan quyền lực Nhà nước, của bộ máy quản lý giáo dục từ Trung ương đến cơ sở đối với hệ thống giáo dục quốc dân và các hoạt động giáo dục của xã hội nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước và phát triển, hoàn thiện nhân cách cho công dân
Theo điều 62, Luật Giáo dục năm 2008 của Lào quy định: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục toàn quốc trên cơ sở giao cho Bộ Giáo dục Đào tạo
và Thể thao chịu trách nhiệm quản lý giáo dục một cách trực tiếp
Trang 21Cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm: Bộ Giáo dục Đào tạo và Thể thao, Sở Giáo dục Đào tạo và Thể thao, Phòng Giáo dục Đào tạo và Thể thao các huyện thị Bộ, các cơ quan ngang Bộ thuộc các lĩnh vực Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính phối hợp với Bộ Giáo dục Đào tạo và Thể thao thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo thẩm quyền
Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan quyền lực Nhà nước (cơ quan lập
pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp) Chủ thể quản lý nhà nước về giáo dục là
bộ máy quản lý giáo dục từ Trung ương đến cơ sở (các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục được quy định cụ thể trong điều 45 của Luật giáo dục)
Ủy ban nhân dân các cấp trong phạm vi, quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo phân cấp của Chính phủ, trong đó có việc quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục trên địa bàn; có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của trường công lập thuộc phạm vi quản lý; phát triển các loại hình trường, thực hiện xã hội hóa giáo dục; bảo đảm yêu cầu đáp
về quy mô, chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương
Đối tượng của quản lý nhà nước về giáo dục là hệ thống giáo dục quốc dân, là
mọi hoạt giáo dục trong phạm vi cả nước
Mục tiêu của quản lý nhà nước về giáo dục, là đảm bảo trật tự, kỷ cương các
hoạt động giáo dục, để thực hiện được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và phát triển nhân cách của công dân Mỗi cấp học, mỗi ngành học có những mục tiêu cụ thể được quy định trong Luật giáo dục và các điều lệ nhà trường
Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục, khái quát như sau:
1 Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển giáo dục;
2 Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành điều lệ nhà trường; ban hành quy định về tổ chức và hoạt động của cơ sở giáo dục khác;
3 Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo; tiêu chuẩn cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi cử và cấp văn bằng, chứng chỉ;
Trang 224 Tổ chức, quản lý việc bảo đảm chất lượng giáo dục và kiểm định chất lượng giáo dục;
5 Thực hiện công tác thống kê, thông tin về tổ chức và hoạt động giáo dục;
6 Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục;
7 Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;
8 Huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục;
9 Tổ chức, quản lý công tác nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ trong lĩnh vực giáo dục;
10 Tổ chức, quản lý công tác hợp tác quốc tế về giáo dục;
11 Quy định việc tặng danh hiệu vinh dự cho người có nhiều công lao đối với
sự nghiệp giáo dục;
12 Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục; giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục
1.2.2 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục cấp huyện
Điều 65 của Luật giáo dục CHDCND Lào 2008 [11, tr.39] quy định về quyền
và nhiệm vụ của Phòng Giáo dục huyện thị Trong việc quản lý nhà nước về giáo dục, Phòng Giáo dục huyện thị có quyền và nghĩa vụ sau:
- Tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch chính sách, quy định pháp luật của nhà nước và các văn bản pháp luật khác cũng như kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong lĩnh vực quyền hạn, trách nhiệm của mình;
- Tuyên truyền, theo dõi và kiểm tra việc tổ chức thực hiện các quy định của Luật giáo dục;
- Tổ chức thực hiện công tác xóa mù chữ;
- Quản lý, sử dụng giáo viên và cán bộ ngành giáo dục;
- Quản lý trường học và trung tâm giáo dục thuộc lĩnh vực quản lý;
- Đánh giá, tổng kết và báo cáo việc thực hiện các kế hoạch, dự án phát triển giáo dục theo trách nhiệm của mình;
- Phối kết hợp với các cơ quan tổ chức của Đảng, Nhà nước, Mặt trận tổ quốc, tổ chức đoàn thể và các cơ quan liên quan đến công tác giáo dục;
- Quản lý, sử dụng ngân sách giáo dục một cách hiệu quả;
Trang 23- Thực hiện quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của luật
1.2 3 Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục qua các hoạt động quản lý cụ thể
1.2.3.1 Quản lý nhà trường
Nhà trường là cơ quan giáo dục chuyên biệt thực hiện chức năng giáo dục của Nhà nước, của cộng đồng và xã hội Nhà trường có nhiệm vụ đào tạo thế hệ trẻ trở thành những con người phát triển toàn diện về thể chất và tinh thần, thành những người có ích cho xã hội Vì lẽ đó, nhà trường là một tổ chức có tính nhân văn cao Toàn bộ hoạt động của nhà trường đều hướng đến mục tiêu đào tạo, mục tiêu này thấm đượm tính nhân đạo xã hội chủ nghĩa
Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để đạt tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh
Quản lý nhà trường thực chất là quản lý giáo dục trên tất cả các mặt, các khía cạnh khác nhau có liên quan đến hoạt động giáo dục trong phạm vi nhà trường Đó là một hệ thống những hoạt động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật khách quan của chủ thể giáo dục nhằm làm cho nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục nhờ đó
mà đạt đến mục tiêu giáo dục đặt ra trong từng giai đoạn phát triển của đất nước Tiêu điểm của giáo dục trong phạm vi nhà trường là hoạt động dạy học và giáo dục
Quản lý nhà trường bao gồm:
- Quản lý chương trình dạy học và giáo dục của nhà trường
- Quản lý học sinh và các hoạt động của học sinh
- Quản lý thiết bị, cơ sở vật chất và những điều kiện khác đảm bảo cho hoạt động của nhà trường đạt được mục tiêu đã đặt ra
1.2.3.2 Quản lý quá trình dạy học
Hoạt động trung tâm của nhà trường là hoạt động sư phạm của thầy và hoạt động học tập rèn luyện của trò Những hoạt động này chủ yếu diễn ra trong quá trình dạy học Vì lẽ đó, quản lý quá trình dạy học là một trong những nội dung quản lý cơ bản của quản lý nhà trường Đây là một công việc rất khó khăn, phức tạp, đòi hỏi người hiệu trưởng phải am hiểu nghề quản lý, am hiểu nhà trường do mình quản lý, từ
Trang 24đó mới có thể đưa ra những hướng đi đúng đắn giúp đội ngũ giáo viên và học sinh thực hiện tốt các nhiệm vụ, mục tiêu của mình
Quản lý quá trình dạy học còn là quản lý quá trình chấp hành những quy định, quy chế về giảng dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh Quản lý tốt nội dung này sẽ giúp cho hoạt động của cả thầy và trò được thực hiện một cách nghiêm túc nhờ đó mà đạt được chất lượng, hiệu quả
1.2.3.3 Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý HĐDH là những tác động có hướng đích, có kế hoạch của chủ thể quản
lý vào HĐDH được tiến hành bởi GV, HS và sự hỗ trợ của các lực lượng giáo dục khác nhằm thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ dạy học với hiệu quả cao nhất.[7, tr14]
Dạy học và giáo dục là những hoạt động trung tâm của nhà trường Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào những hoạt động trung tâm đó Vì vậy, có thể nói rằng công việc trọng tâm của người quản lý nhà trường là quản lý hoạt động lao động sư phạm của người thầy và hoạt động rèn luyện, học tập của trò mà nó diễn ra chủ yếu trong hoạt động dạy học Trong nhà trường, bản chất của dạy học quyết đinh đặc thù của cách quản lý trường học Vì vậy, phải nằm được tính đặc thù này, người quản lý nhà trường mới có thể đưa NT đạt tới mục tiêu dự kiến
đã đặt ra Việc quản lý nhà trường phổ thông là quản lý hoạt động dạy học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác, dần dần đạt tới mục tiêu giáo dục
Quá trình dạy học là một hệ thống toàn vẹn gồm hoạt động dạy và hoạt động học luôn luôn tương tác với nhau, thâm nhập vào nhau, sinh thành ra nhau Quản lý dạy học bao gồm các nhân tố cơ bản: mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, các phương pháp, phương tiện dạy học và kết quả học tập Tất cả các nhân tố đó được đặt trong mối quan hệ qua lại thống nhất với môi trường của nó (môi trường xã hội – chính trị và môi trường khoa học - kỹ thuật) Nói một cách khái quát, quản lý dạy học là hệ thống những tác động có mục đích, có
kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý (hoạt động dạy học) nhằm làm cho hoạt động dạy học vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các mục tiêu của nhà trường Điểm hội tụ là quá trình dạy học- giáo dục thế hệ trẻ đạt tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất
Trang 251.3 Các phương pháp quản lý nhà nước về giáo dục
Đặc trưng của phương pháp tổ chức - hành chính
Là sự tác động hành chính mang tính chất đơn phương Các văn bản, mệnh lệnh
do cơ quan quản lý cấp trên hoặc người lãnh đạo của tổ chức (Hiệu trưởng, Trưởng phòng) ban hành mang tính chất bắt buộc Tính chất bắt buộc này bao gồm:
- Là sự bắt buộc đối với người chấp hành thông qua sự tác động trực tiếp của người quản lý;
- Là sự bắt buộc trong tổ chức bộ máy như việc phân công, phân nhiệm, phân cấp, phân quyền giữa các tổ chức và các thành viên của nó;
- Là sự bắt buộc trong quản lý thông qua việc xây dựng và giữ gìn kỷ luật, nề nếp lao động trong tổ chức
1.3.2 Phương pháp tâm lý - xã hội
Phương pháp tâm lý - xã hội là những cách thức tác động của người quản lý tới người bị quản lý nhằm biến những yêu cầu của các cấp quản lý thành nghĩa vụ tự giác
và nhu cầu của người bị quản lý Thực chất của phương pháp này là sự kích thích người bị quản lý sao cho họ luôn luôn toàn tâm toàn ý với công việc, coi những mục tiêu, nhiệm vụ quản lý như những mục tiêu và công việc của chính họ; đồng thời tạo ra bầu không khí cởi mở, tin cậy lẫn nhau trong tổ chức
Trong công tác quản lý, đặc biệt là quản lý nhà trường, yếu tố tâm lý - xã hội ngày càng chiếm vị trí đặc biệt quan trọng Nó điều chỉnh mọi mối quan hệ trong nhà trường, có ảnh hưởng lớn tới kết quả hoạt động của nhà trường
Phương pháp này tác động tới nhận thức, tư tưởng, tình cảm, lòng tự trọng và tinh thần trách nhiệm của mỗi thành viên trong tổ chức, biến ý chí của tổ chức thành ý
Trang 26chí và nguyện vọng của cá nhân thông qua những tác động tâm lý, trên cơ sở tôn trọng
ý kiến và nguyện vọng của mỗi cá nhân
Thể hiện tính dân chủ trong hoạt động quản lý của người lãnh đạo Người lãnh đạo một mặt tổ chức giáo dục nâng cao nhận thức về nhiệm vụ và trách nhiệm của mỗi thành viên trong tổ chức, mặt khác phải có sự hiểu biết sâu sắc về tâm tư nguyện vọng của mỗi viên chức, tôn trọng ý kiến của họ và xây dựng được bầu không khí lành mạnh, cởi mở trong tổ chức
1.3.3 Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là sự tác động một cách gián tiếp tới người bị quản lý bằng cơ chế kích thích lao động thông qua lợi ích vật chất, để họ tích cực tham gia công việc chung và thực hiện tốt nhiệm vụ được giao
Trong trường học, phương pháp kinh tế thực chất là dựa trên sự kết hợp giữa việc thực hiện trách nhiệm, nghĩa vụ của cán bộ giáo viên, học sinh ghi trong điều lệ nhà trường, qui chế chuyên môn,… với những khuyến khích có tính đòn bẩy; Việc sử dụng đòn bẩy kinh tế trong quản lý đảm bảo sự hoạt động độc lập, có định hướng đối với mỗi người, nó thúc đẩy họ chủ động làm việc có hiệu quả mà không cần
có sự giám sát, bắt buộc của những tác động hành chính
Đặc điểm cơ bản của phương pháp này là dựa trên các phương pháp tính toán kinh tế có tuân theo các qui luật kinh tế Trong quản lý giáo dục, người ta cũng sử dụng phương pháp hạch toán kinh tế để tính toán vốn đầu tư, giá thành đào tạo, … áp dụng các chỉ tiêu, định mức lao động, các biện pháp khuyến khích vật chất thông qua các chế độ về tiền lương, tiền thưởng,…
Sự tác động đến lợi ích vật chất của viên chức có ý nghĩa quyết định tới tính tích cực lao động của họ Lao động nhiều với năng suất cao, chất lượng tốt sẽ được trả công nhiều, về thực chất đó là sự kích thích về vật chất cho cá nhân và tập thể Bản thân sự kích thích vật chất cũng chứa đựng yếu tố cổ vũ về tinh thần, đó là sự thừa nhận của tập thể đối với kết quả lao động của mỗi người
1.3.4 Phương pháp quản lý theo mục tiêu
Quản lý theo mục tiêu là quá trình quản lý nhằm vào kết quả cuối cùng, nó đòi hỏi người quản lý phải xác định từ trước các kết quả cuối cùng của các hoạt động và
Trang 27phải xem xét kế hoạch công tác nhằm đạt các kết quả dự kiến Mục tiêu được đặt ra có tính rõ ràng, kiểm nghiệm được và đo lường được
Quản lý theo mục tiêu được mô tả như một quá trình mà nhờ đó các mục tiêu của tổ chức được xác định với sự tham gia rộng rãi của tập thể (các mục tiêu không đặt
ra theo kiểu một chiều, từ lãnh đạo xuống cấp dưới) Quản lý theo mục tiêu không có
sự áp đặt, mà cấp trên và cấp dưới cùng lựa chọn mục tiêu và thỏa thuận về cách đo lường kết quả Các mục tiêu phải được trình bày ngắn gọn về những kết quả trông đợi,
có thể đo lường được và đánh giá được Các mục tiêu đều có thời hạn hoàn thành và gắn với một kế hoạch hành động
Quản lý theo mục tiêu dùng mục tiêu để động viên hơn là để kiểm soát Người lao động sẽ được động viên nhiều hơn để hoàn thành công việc của mình khi họ biết rõ cấp trên sẽ mong những gì ở họ; khi được tham dự vào việc đặt ra các mục tiêu và khi biết được công việc của mình đang tiến triển
Trong quản lý giáo dục, việc quản lý theo các mục tiêu về số lượng và chất lượng công tác giảng dạy là rất quan trọng
1.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về giáo dục
1.4.1 Đặc điểm về kinh tế - xã hội của địa phương
Giáo dục đóng vai trò hết sức quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng Có thể nói rằng giáo dục - đào tạo cùng khoa học - công nghệ là các nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển Một khâu quan trọng trong việc phát triển giáo dục là quản lý giáo dục, mà trước hết là quản lý nhà nước về giáo dục Bởi chỉ có thông qua quản lý nhà nước về giáo dục mới thực hiện được các chủ trương, chính sách của quốc gia, mới xây dựng được chiến được phát triển, mới thực hiện được các mục tiêu giáo dục Nhưng muốn giáo dục phát huy tốt vai trò của mình,
cơ sở kinh tế - xã hội của mỗi địa phương cũng phải có sự phát triển nhất định Nếu có vốn để đầu tư cơ sở vật chất, ứng dụng khoa học - công nghệ và có đội ngũ quản lý trình độ cao và tâm huyết, đồng thời biết đầu tư cho giáo dục thì chắc chắn giáo dục sẽ phát triển Vậy nên, cơ sở kinh tế - xã hội của địa phương là yếu tố quan trọng trong công tác quan lý nhà nước về giáo dục
Trang 281.4.2 Các chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác quản lý nhà nước về giáo dục
Bước vào thế kỷ 21, tình hình thế giới vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, những mâu thuẫn cũ vẩn còn tồn tại, mâu thuẫn mới nảy sinh chồng chéo Điều này vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với các dân tộc Nó buộc các nước phải có chiến lược quan
hệ với bên ngoài cho phù hợp Đại hội lần thứ VI của Đảng NDCM Lào đã chủ trương phát triển quan hệ hữu nghị với các dân tộc và mở rộng hợp tác với bạn bè quốc tế, nhằm tạo ra môi trường khách quan thuận lợi để tiếp tục sự nghiệp đổi mới; phát huy những hình ảnh tốt đẹp, đề cao uy tín và vai trò của Lào trên trường quốc tế; tranh thủ tình cảm, sự giúp đỡ, viện trợ và hợp tác của các nước bạn, góp phần xây dựng sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, hợp tác phát triển và tiến bộ xã hội của các bộc tộc Lào
Việc mở cửa hội nhập với khu vực và thế giới là tất yếu, cần thiết nhưng cũng
là một thách thức lớn đối với các nước chậm phát triển như Lào Làm thế nào để phát huy được tiềm năng, thông qua hợp tác để tranh thủ được vốn, kỹ thuật và kinh nghiệm quản lý, đồng thời vẫn giữ được độc lập, chủ quyền, bản sắc văn hóa và định hướng XHCN? Đó là câu hỏi lớn đặt cho toàn Đảng, cho mỗi người cán bộ, cán bộ quản lý các cấp, các ngành của Lào hiện nay Bên cạnh đó, Lào còn hết sức đề cao cảnh giác, phát hiện kịp thời và làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá thâm độc của các thế lực thù địch bên ngoài và các phần tử phản động trong nước
Trong giai đoạn đổi mới, vai trò của đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo nói chung và cán bộ quản lý giáo dục cấp huyện ở Lào nói riêng là cực kỳ quan trọng Vì đây là đội ngũ vạch ra kế hoạch để thực hiện từng mục tiêu của Đảng và Nhà nước Lào đề ra, đồng thời cũng là những người tổ chức và gương mẫu thực hiện các mục tiêu đó Việc nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, cán bộ quản lý giáo dục vì thế càng quan trọng và cấp bách hơn Hiện nay trên thế giới, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng cao, làm tăng nhanh lực lượng sản xuất đồng thời thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa kinh tế - xã hội
Một đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục có chất lượng là đội ngũ có đủ bản lĩnh, phẩm chất và năng lực, nắm bắt được những yêu cầu của thời đại, có đủ khả năng và trí tuệ để hợp tác, đấu tranh, ứng xử và đối phó kịp thời với mọi chuyển biến phức tạp
Trang 29của thời cuộc Đây thực sự là thử thách lịch sử đặt lên vai đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, công chức lãnh đạo trong tình hình mới Do vậy, yêu cầu nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng trong giai đoạn mới là thực sự cần thiết và được thể hiện như sau:
Về phẩm chất chính trị: đây là yêu cầu cơ bản nhất đối với đội ngũ cán bộ, công
chức lãnh đạo Đó là lòng nhiệt tình cách mạng, lòng trung thành với lý tưởng của Đảng NDCM Lào, với chủ nghĩa Mác – Lênin, tinh thần tận tụy với công việc, hết lòng, hết sức vì sự nghiệp của nhân dân; là bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định với mục tiêu và con đường XHCN
Về trình độ năng lực chuyên môn: để đáp ứng nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ
quản lý giáo dục và công chức lãnh đạo trong tình hình mới, yêu cầu người cán bộ quản lý giáo dục phải có trình độ học vấn cao, có trình độ về khoa học - kỹ thuật, có tinh thần và ý thức tổ chức, kỷ luật, để nắm bắt kịp thời những vấn đề mới nảy sinh trong lĩnh vực mình phụ trách Sáng tạo, linh hoạt, nhạy cảm và có trách nhiệm là những yêu cầu cơ bản về năng lực của cán bộ quản lý giáo dục trong tình hình hiện nay
Đối với đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ công chức lãnh đạo, yêu cầu phải có ý thức cao hơn người cán bộ bình thường Trước hết, đó là ý thức niềm tin và ý chí quyết tâm cao đối với đường lối chính trị của đất nước theo định hướng XHCN,
quyết tâm thực hiện mục tiêu của Đảng “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh”, đồng thời cũng phải biết tôn trọng, giữ gìn kỷ cương, pháp luật,
sống lành mạnh, trong sáng, có lòng nhân ái… Ngoài đạo đức cá nhân, người cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ công chức lãnh đạo còn phải tuân thủ đạo đức nghề nghiệp Đạo đức nghề nghiệp được thể hiện ở tinh thần trách nhiệm và kỷ luật trong công việc,
ý thức tiết kiệm, trong sạch, không tham lam tư lợi… Ngoài những phẩm chất trên, cán bộ quản lý giáo dục, cán bộ lãnh đạo còn phải có tính dân chủ Khi hiện nay Đảng Nhân dân Cách mạng Lào là Đảng duy nhất cầm quyền, phải luôn xem nhân dân là người chủ sự nghiệp, coi đó là quyết định đề cao sức mạnh nội sinh của người dân Lào Tính dân chủ ở người lãnh đạo được hiểu là lấy lợi ích của dân, của nước làm mục tiêu, phải biết tận dụng phát huy trí tuệ, tài năng của dân để tạo nên sức mạnh; biết tôn trọng lợi ích và quyền lợi của dân; biết điều chỉnh bản thân, điều chỉnh hành vi
Trang 30của mình cho phù hợp với lợi ích chung của xã hội Trong thời đại ngày nay, thực hiện tính dân chủ của đội ngũ lãnh đạo ngày càng được đề cao và bắt buộc phải thực hiện vì nhu cầu dân chủ đang trở thành xu hướng tất yếu của xã hội loài người [9, tr 35-38]
Đại hội lần thứ IV của Đảng NDCM Lào đã đề ra đường lối đổi mới đất nước Công cuộc đổi mới ở Lào được tiến hành từ sau Đại hội lần thứ IV đem lại những thành tựu rất đáng tự hào và phấn khởi Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu còn rất nhiều tồn tại và khắc phục những khó khăn, hạn chế, đưa đất nước Lào thoát khỏi tình trạng lạc hậu về kinh tế, văn hóa và giữ vững ổn định về chính trị, quốc phòng và an ninh thì Đảng, Nhà nước và nhân dân Lào cần phải nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa
Đại hội lần thứ VI của Đảng NDCM Lào đã khẳng định: “Đội ngũ cán bộ đã trưởng thành, nhưng cũng chưa đáp ứng được yêu cầu của nhiệm vụ chính trị trong thời kỳ mới” [6, tr 15] Nghị quyết phát triển nguồn nhân lực của Đảng cũng nhận xét rằng: “Trong thời gian qua, có không ít cán bộ chưa nâng mình lên ngang tầm với sự đòi hỏi của nhiệm vụ chính trị và chuyên môn trong thời kỳ đổi mới, nhất là năng lực trong tổ chức thực hiện.” [10, tr 7-8]
Trước tình hình đó, nhiệm vụ cấp bách đối với Đảng NDCM Lào là phải tiếp tục đổi mới công tác cán bộ quản lý, lấy cán bộ làm gốc của mọi công việc và xem cán bộlà yếu tố quyết định sự thành công của công cuộc đổi mới Đảng NDCM Lào đã xác định yêu cầu đổi mới đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý trong những năm tới là: cần phải mạnh mẽ xúc tiến công cuộc cầu trí tuệ hóa, chuyên gia hóa, văn hóa hóa cho đội ngũ cán bộ công chức lãnh đạo ở Lào và đổi mới một cách khẩn trương, nghiêm túc trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế - xã hội ở Lào Để thực hiện thành công mục tiêu hội nhập kinh tế quốc tế thì nguồn nhân lực đóng vai trò hết sức quan trọng Do đó, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục cần phải được đảm bảo để thực hiện được mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực xã hội
Về trí tuệ hóa: xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế, đội ngũ công chức
lãnh đạo cần có trình độ kiến thức và năng lực trí tuệ tốt, có tư duy sáng tạo nhạy bén, độc lập Hiện nay, đội ngũ công chức lãnh đạo ở Lào, nhất là vùng sâu vùng xa có trình độ học vấn chưa cao Tuy nhiên, tình trạng đó cần phải xác định chỉ là kết quả tạm thời của thời kỳ quá độ Muốn trí tuệ hóa đội ngũ này phải đổi mới việc đào tạo (đào tạo và nâng cấp chuyên môn), đổi mới khâu tuyển dụng, khâu quản lý giáo dục,
Trang 31Ngoài ra, bản thân đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo cần phải tạo ra khả năng và thói quen học tập không ngừng Mặt khác, cần có chế độ và điều kiện thích hợp để cán bộ quản lý được bổ sung và cập nhật thường xuyên những tri thức mới cần thiết cho hoạt động công việc hàng này mà họ đảm nhiệm Mặt bằng dân trí ở Lào hiện nay chưa cao, trong khi kiến thức khoa học, kỹ thuật của thế giới ngày hiện đại Điều này đòi hỏi cán bộ quản lý phải nhanh chóng nâng cao trình độ học vấn, tri thức của mình, có như vậy mới bắt kịp sự phát triển của thế giới và đưa tri thức của cán bộ Lào lên tầm cao mới
Về chuyên gia hóa: đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo cần phải được chuyên
môn hóa, không nên để tình trạng một cán bộ làm nhiều việc ở nhiều lĩnh vực khác nhau Vì như vậy sẽ dẫn đến tình trạng làng nhàng, không sâu sát công việc dẫn đến kết quả không cao, năng suất lao động thấp Để khắc phục tình trạng này, Đảng và Nhà nước Lào cần phải ban hành danh mục các nghề trong xã hội, từ đó nhanh chóng quy chế hóa hoạt động nghề nghiệp trong từng lĩnh vực cụ thể Chuyên gia hóa được thực hiện song song với trí tuệ hóa sẽ làm cho đội ngũ cán bộ nâng cao được trình độ, kiến thức, năng lực và chuyên môn trong nghề nghiệp của mình
Về văn hóa hóa: đòi hỏi đội ngũ cán bộ quản lý ở CHDCND Lào có kiến thức
liên ngành cần thiết, có kiến thức văn hóa Lào để giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Trước đây, vấn đề này ở Lào chưa được chú trọng, nên nhiều khi có ảnh hưởng xấu đến xã hội, thậm chí có tình trạng không hiểu gì về văn hóa Lào để bảo vệ
và phát huy bản sắc văn hóa của các bộ tộc Lào
Như vậy, yêu cầu đổi mới đội ngũ cán bộ, công chức lãnh đạo ở Lào trên lĩnh vực: trí tuệ hóa, chuyên gia hóa và văn hóa hóa là những yêu cầu toàn diện cả về kiến thức, năng lực và đạo đức của người cán bộ Yêu cầu đổi mới là một đòi hỏi tất yếu trong xu thế toàn cầu hóa nói chung và hội nhập kinh tế - xã hội nói riêng [10, tr 30 - 31]
Theo Luật Giáo dục năm 2010, cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên giảng dạy
ở bậc mầm non và tiểu học ít nhất cần phải tốt nghiệp cao đẳng - đại học trở lên; cán
bộ quản lý giáo dục và giáo viên bậc THCS - THPT cần phải tốt nghiệp đại học và cao học trở lên Còn riêng đối với các cán bộ quản lý như Hiệu trưởng trường phổ thông,
Trang 32Trưởng Phòng giáo dục cần phải có bằng thạc sĩ trở lên và Giám đốc Sở Giáo dục, Hiệu trưởng trường Cao đẳng, Đại học cần phải có bằng tiến sĩ
Vì vậy, hiện nay do Luật Giáo dục đã ban hành, Phòng Giáo dục, Sở Giáo dục các tỉnh trên toàn quốc phải khuyến khích các thầy cô giáo tích cực bồi dưỡng nâng cao kiến thức của mình theo đúng chuyên ngành Những cán bộ không bồi dưỡng, cập nhật sẽ được thuyên chuyển sang công tác khác ngoài sư phạm Những người sắp đến tuổi hưu trước năm 2020 có thể không cần phải bồi dưỡng nâng cao kiến thức [11, tr 42]
1.4.3 Chất lượng đào tạo ảnh hưởng đến năng lực quản lý giáo dục
Trình độ đào tạo cơ bản của cán bộ quản lý giáo dục vừa là biểu hiện cơ bản của năng lực cá nhân, vừa là kết quả của quá trình giáo dục và đào tạo trong nhà trường Nhìn chung quá trình giáo dục và đào tạo trong nhà trường cung cấp cho con người những kiến thức phổ thông Có kiến thức, lý luận để hiểu biết và lý giải việc mình được làm và phải làm; có như thế mới xác định đúng về mục đích nội dung, phương pháp; cân nhắc về phạm vi, giới hạn và cách tiến hành sao cho có hiệu quả nhất Trình độ đào tạo là kết quả của quá trình đào tạo tại các nhà trường, được thể hiện qua văn bằng, chứng chỉ Tuy nhiên, không phải bao giờ văn bằng, chứng chỉ cũng đồng nghĩa với trình độ thực sự của cá nhân vì người có nhiều bằng cấp chứng chỉ chưa chắc là người có năng lực thực sự
Do đó, văn bằng, chứng chỉ chỉ là một trong những căn cứ để đánh giá trình độ cán bộ Nếu quan trọng hóa vấn đề bằng cấp, cán bộ sẽ rơi vào bệnh hình thức, chạy theo bằng cấp và đối phó với các tiêu chuẩn năng lực của người cán bộ giáo viên Muốn đánh giá cán bộ, giáo viên một cách công tâm phải tiếp cận trực tiếp trình độ thực sự của họ khi họ giải quyết công việc và giảng dạy
Đánh giá về mối quan hệ giữa trình độ đào tạo và chất lượng QLNN về giáo dục, cùng một câu hỏi, nhưng khi chúng tôi tiến hành khảo sát ở Phòng Giáo dục - Đào tạo và Thể thao huyện Nong với số lượng 80 giáo viên các trường, kết quả thu
được khá chênh lệch, ngoài việc không có ý kiến nào cho là không ảnh hưởng
Trang 33Biểu đồ 1.1: Người làm công tác quản lý giáo dục: Phòng Giáo dục - Đào tạo và Thể thao và ở các trường học có ảnh hưởng đến QLGD hay không?
Có 86,04% ý kiến khảo sát ở Phòng Giáo dục - Đào tạo và Thể thao cho rằng người làm công tác quản lý giáo dục có ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục, trong khi
đó khi khảo sát ở các trường học thì cho có 69,51% cho rằng “rất ảnh hưởng”
Mức độ “ảnh hưởng” ở hai nơi khảo sát cũng chênh lệch khá nhiều Nếu khảo sát ở trường học, 19 giáo viên thấy rằng “có ảnh hưởng” đến chất lượng giáo dục, chiếm tỉ lệ 23,17%, còn ở Phòng Giáo dục - Đào tạo và Thể thao mức độ này chỉ chiếm tỉ lệ 9,30%
Dù kết quả khảo sát còn khác nhau về các tỷ lệ song quan trọng là hầu như ai cũng nhận thức được về mối quan hệ biện chứng này Hiện nay, không riêng gì CHDCND Lào mà hầu hết các nước trên thế giới đều chú trọng nâng cao chất lượng dạy và học Đảng NDCM Lào đã khẳng định vai trò quốc sách hàng đầu của giáo dục đào tạo, trong đó yếu tố quyết định chất lượng giáo dục là đội ngũ giáo viên các trường
sư phạm Đối với giảng viên trường sư phạm, yêu cầu về trình độ và quá trình đào tạo
là yêu cầu bắt buộc Giảng viên phải thể hiện được năng lực chuyên môn và năng lực giảng dạy của mình
Chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm có vai trò quan trọng đặc biệt
trong việc đóng góp thiết thực và có hiệu quả cho sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi sự nghiệp nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Muốn nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo phải đổi mới phương pháp dạy học, hay nói cách khác là nâng cao năng lực giảng dạy của đội ngũ
Ít ảnh hưởng Không ảnh hưởng
Trang 34giáo viên Thực tế nhiều năm qua đã chứng minh chất lượng giáo dục đại học, cao đẳng sư phạm của CHDCND Lào chưa cao Một phần nguyên nhân xuất phát từ năng lực giảng dạy của đội ngũ giảng viên, chưa đổi mới phương pháp giảng dạy cho phù hợp với từng ngành học, từng môi trường và điều kiện mới, một phần khác do vấn đề đào tạo chưa được chú ý
Qua tìm hiểu thực tế cho thấy, nhiều giảng viên đại học, giảng viên cao đẳng sư phạm không qua đào tạo nghiệp vụ sư phạm, lý luận và phương pháp dạy học Một số không ít người quan niệm rằng “không có phương pháp dạy học ở đại học, cao đẳng sư phạm, mà mỗi giảng viên tự làm việc trên lớp theo kiểu riêng của mình, miễn sao cung cấp được tri thức cho sinh viên” Vì vậy, đa số giờ dạy học trên lớp hiện nay vẫn theo kiểu thầy đọc - trò chép, giờ lên lớp được biến thành giờ phát và nhận thông tin một cách máy móc, với cách dạy như thế nên trong một bộ phận lớn sinh viên vẫn học theo kiểu thụ động, dẫn đến tình trạng trong nhiều năm qua, giáo dục đại học, cao đẳng của Lào tạo ra nhiều thế hệ sinh viên thiếu khả năng độc lập sáng tạo, kém thích ứng với môi trường thực tế
Trong bối cảnh công nghệ thông tin đang trở thành phương tiện dạy học hiệu quả giúp nâng cao phương pháp giảng dạy sư phạm thì việc các đơn vị chuyên trách đổi mới phương pháp giảng dạy là rất cần thiết, nhằm hỗ trợ giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy có hiệu quả Tuy nhiên, lâu nay chúng ta hay kêu gọi giảng viên sư phạm đổi mới phương pháp giảng dạy, nhưng thực tế nhiều giảng viên không biết phải đổi mới như thế nào hay đơn vị nào trong trường có thể giúp đỡ, hỗ trợ họ trong việc đổi mới phương pháp
Hầu hết các trường sư phạm tại CHDCND Lào đã được nối mạng internet, phương tiện tin học đã được trang bị đến các phòng học, nhưng việc ứng dụng trong dạy học vẫn chưa thống nhất và còn tùy tiện Nhiều giảng viên trẻ mạnh dạn ứng dụng tin học trong giảng dạy, tuy nhiên vẫn còn nhiều giảng viên trung thành với cách giảng bài bằng “phấn trắng bảng đen” và đọc chép Mỗi người một phương pháp và không
Trang 35Năng lực chuyên môn của người cán bộ quản lý giáo dục có thể coi là điều kiện
có tính quyết định cho sự tồn tại và phát triển của hoạt động giáo dục bậc cơ sở, để đảm bảo phát triển có hiệu quả các hoạt động đại học, cao đẳng Trong sự nghiệp đổi mới và tham gia hội nhập quốc tế trên mọi lĩnh vực ở Lào nhằm đưa đất nước thoát khỏi tình trạng kém phát triển, mở ra khả năng mới để con người được hưởng cuộc sống độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, vấn đề con người mà cụ thể là nguồn nhân lực với trình độ chuyên môn vững vàng đóng một vai trò quan trọng hơn bao giờ hết, đặc
biệt là đối với cán bộ làm công tác quản lý
Theo quy định của Luật Giáo dục hiện nay, để trở thành một cán bộ quản lý giáo dục hay cán bộ quản lý giáo dục cấp huyện, viên chức phải có trình độ đào tạo phù hợp với chuyên ngành quản lý và có nghiệp vụ sư phạm Như vậy, để đảm bảo được năng lực chuyên môn, ngoài việc nắm vững kiến thức cơ bản, kiến thức chuyên ngành theo chiều sâu, cán bộ quản lý giáo dục còn phải trang bị kiến thức liên ngành
để có tầm hiểu biết rộng Mặt khác, mỗi cán bộ quản lý giáo dục luôn nâng cao bản lĩnh nghề nghiệp, phải thực sự tâm huyết trong quá trình thực thi nhiệm vụ, phải tự vươn lên để khẳng định vị thế của mình, khắc phục mọi biểu hiện thỏa mãn, tự kiêu,
thiếu tích cực, thiếu nhạy bén
Yêu cầu về năng lực
Năng lực của mỗi người được hình thành và tổng hợp hài hòa bởi rất nhiều yếu
tố như: kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm… đây là những yếu tố có thể đào tạo được Trong đó, kỹ năng là sự thể hiện các khả năng làm việc, khả năng xử lý vấn đề và vận dụng các dụng cụ hỗ trợ cho công việc Kiến thức là sự hiểu biết bao gồm hiểu biết về các sự kiện, chứng cứ, số liệu, phương pháp, lý thuyết Kinh nghiệm mỗi người có được, thông qua cuộc sống thực tế, các tình huống hàng ngày, từ nhửng thành công và thất bại Ngoài ra, năng lực ở mỗi cá nhân còn thể hiện ở: các mỗi quan hệ mà cá nhân
đó xây dựng được và sự hợp tác với các cá nhân khác trong một tập thể, một tổ chức
nhằm hướng tới mục tiêu chung của tập thể, của tổ chức đó
Trong xu thế chung của thời đại ngày nay, cùng với chính sách mở cửa và hội nhập với thế giới của Đảng và Nhà nước, bộ máy hành chính nhà nước đang vận hành mỗi lúc một nhanh, cho kịp với những thay đổi và đòi hỏi của thời đại và tình hình đất nước Trong guồng máy đó, đội ngũ công chức lãnh đạo quản lý giáo dục cấp huyện
Trang 36với tư cách là thành viên của bộ máy, cần phải thay đổi cho phù hợp với môi trường hoạt động mới, với yêu cầu nhiệm vụ mới Họ phải là những người thực sự có năng lực, có tư duy tốt để hoàn thành nhiện mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, có khả năng giao tiếp để tăng cường các quan hệ xã hội Muốn được như vậy, họ phải rũ
bỏ lỗi tư duy lạc hậu theo kiểu sản xuất nông nghiệp nhỏ, an phần, dĩ hòa vi quý Công chức lãnh đạo cấp huyện phải trở nên linh hoạt hơn, năng động hơn, phải thường xuyên trao đổi kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mới, để không bị tụt hậu Ngoài ra,
họ cũng phải cố gắng để chính mình trở thành động lực thúc đẩy công việc phát triển trong môi trường giáo dục hiện nay
Với những yêu cầu về năng lực đang từng bước được công thức hóa, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, cán bộ quản lý giáo dục cấp huyện phải đáp ứng được trình độ, năng lực công tác theo tiêu các chí sau:
- Trình độ học vấn đạt ở mức kiến thức cơ bản về văn hóa, chuyên môn nghiệp
vụ, lý luận chính trị, quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, văn hóa xã hội…
- Năng lực quán triệt và vận dụng đường lối, chính sách pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ
- Năng lực tổ chức, vận dụng, đoàn kết tập hợp với giáo viên, học sinh, nhân dân, có kỹ năng làm việc nhóm
- Kỹ năng, phương pháp, kinh nghiệm công tác phù hợp với đặc điểm tính chất, yêu cầu của từng vị trí công việc mà mỗi một cán bộ, giáo viên đảm nhiệm;
- Năng lực bẩm sinh của mỗi người: đây năng lực sẵn có ở mỗi người khác nhau; ví dụ trong lĩnh vực nghệ thuật, có những người thiên bẩm đã có năng khiêu về
âm nhạc, hội họa… Vì vậy, khi họ theo đuổi lĩnh vực đó trong cuộc sống sẽ có nhiều thuận lợi hơn những người không có tố chất đó Và khi đó họ dễ dàng phát huy, bộc lộ năng lực sẵn có của mình để phát triển và năng cao hơn nữa [9, tr 24 -25]
Yêu cầu về tư tưởng, bản lĩnh chính trị
Qua thu thập thông tin, số liệu của Phòng Giáo dục – Đào tạo và Thể thao huyện cho kết quả về yêu cầu của người làm công tác quản lý nhà nước về giáo dục cần phải thực hiện tốt theo đường lối chính trị của Đảng và chính sách của nhà nước
đề ra: 93,02% cho rằng rất quan trọng Đồng thời, người làm công tác quản lý nhà nước về giáo dục cũng phải là người lãnh đạo trong mọi phong trào hoạt động, có
Trang 37trách nhiệm đối với công việc được giao, trung thành với cơ quan tổ chức với mức độ rất quan trọng chiếm từ 86% trở lên, mức “ít quan trọng” và quan trọng chiếm tỉ lệ nhỏ Trong khi đó 93,3% có ý kiến “rất quan trọng” về yêu cầu cán bộ quản lý có tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái với đồng nghiệp và học sinh
Biểu đồ 1.2: Yêu cầu về tư tưởng chính trị của người làm công tác QLNN
về giáo dục thể hiện qua các hành động (tính trung bình chung từng mức độ)
Như vậy, trước những đòi hỏi của quá trình đổi mới như hiện nay, yêu cầu đối với người làm công tác quản lý giáo dục ở mỗi trường học, ngoài yêu cầu đủ về số lượng thì chất lượng cũng phải dần được nâng cao Theo ý kiến khảo sát của 50 học sinh bậc trung học trên địa bàn huyện Nong, người làm công tác quản lý giáo dục ở trường học cần phải có trình độ chuyên môn và trình độ học vấn cao: 88% trả lời “rất cần” trình độ học vấn cao và 10% trả lời “cần” Trong khi đó, 94% cho rằng “rất cần”
có trình độ chuyên môn cao và chỉ 2% cho ý kiến “không cần” yêu nghề dạy học cũng
quản lý ở trường học là người địa phương, ở mức độ “rất cần” là 20%, còn 50% ở mức
độ “không cần” Như vậy, nếu trước đây, tư tưởng chọn cán bộ quản lý là nguời địa phương thì hiện này tư tưởng này đang dần được xóa bỏ
Song song đó, các yêu cầu về người cán bộ quản lý giáo dục cần “có phong cách, đạo đức tốt” thì đến 90% ý kiến cho rằng “rất cần” Rõ ràng, thực tế cho thấy đa
số ý kiến được khảo sát đều đặt ra yêu cầu người làm công tác quản lý nhà nước về
Trang 38giáo dục phải có tư tưởng chính trị vững vàng, có đạo đức cách mạng và thể hiện qua từng hành động cụ thể của mỗi cá nhân
1.5 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục của một số nước
1.5.1 Kinh nghiệm của Singapore
Trong các cuộc cách giáo dục của Singapore, điều đáng ghi nhận nhất là sự tiến hành đồng bộ, toàn diện trên mọi lĩnh vực của hệ thống giáo dục từ nhà trẻ đến trường cao đẳng và đại học
Những cải cách về giáo dục của Singapore đã mở ra cơ hội và phương thức để đối mặt với những thách thức trong tiến trình toàn cầu hóa Cải cách giáo dục đã giúp nước này vượt qua những thách thức về kinh tế, trở thành một nước phát triển với thu nhập bình quân đầu người cao nhất Đông Nam Á Bài học lớn nhất rút ra từ cải cách giáo dục của Singapore là mỗi nước phải tự xây dựng mô hình giáo dục của riêng mình Với Singapore,đó là sự kết hợp điểm mạnh của cả mô hình giáo dục phương Đông và phương Tây
1.5.2 Kinh nghiệm của Thái Lan
Bộ máy thể chế giáo dục Thái Lan chủ yếu dựa vào ba cơ quan chức năng chính
là Ủy ban Giáo dục Quốc gia, Bộ Giáo dục và Bộ Đại học Trong đó, Ủy ban Giáo dục Quốc gia chịu trách nhiệm về các chính sách đối với ngành giáo dục, các kế hoạch và nghiên cứu giáo dục cấp quốc gia; Bộ Giáo dục chịu trách nhiệm về việc phân chia cấp học, các hình thức đào tạo khác nhau trên toàn đất nước; Bộ Đại học có trách nhiệm quản lý các trường đại học công lập Ngoài ra, đối với một số trường chuyên ngành thì tuỳ thuộc vào ngành đào tạo mà được quy định thuộc Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng hay
Bộ Giao thông vận tải
Tuy nhiên, nền giáo dục Thái Lan còn chưa phát triển đồng đều Theo ước tính của Bộ Giáo dục Thái Lan, những năm gần đây có khoảng 3 triệu/ 62 triệu người dân Thái Lan mù chữ (tức tỷ lệ người biết chữ ở Thái Lan là 95%) Thêm vào đó là khoảng cách về tốc độ phát triển giáo dục giữa các vùng miền còn quá chênh lệch Thành phố
và các vùng kinh tế phát triển thì nhu cầu học lên cao ngày càng nhiều, trong khi đó ở vùng sâu vùng xa tỷ lệ thất học gần như 100% Đây là một thách thức khó khăn đối với đất nước Thái Lan trong công cuộc phổ cập tri thức giáo dục
Trang 39Về hình thức tuyển sinh của các trường đại học Thái Lan: nhà trường tổ chức thi cử theo chỉ tiêu được bộ Giáo dục phê duyệt Một số trường hợp được ưu tiên tuyển sinh trực tiếp do nguồn vốn của Chính phủ và nguồn nhân lực của nhà Vua
Trường đại học Sư phạm Thái Lan đào tạo ra nguồn giáo viên dạy ở các cấp Mầm non, Tiểu học và Trung học cơ sở, Trung học phổ thông Giáo viên Trung học khi ra trường sẽ giảng dạy các môn đặc thù như Toán, Vật lý, Há học, còn các môn thiên về năng khiếu như như Thể dục, Âm nhạc, Mỹ thuật sẽ có giảng viên chuyên ngành các bộ môn đó giảng dạy
Việc tuyển chọn giảng viên ở Thái Lanđược tổ chức hàng năm với nhiều hình thức khác nhau, ví dụ tuyển giảng viên theo các vùng, tuyển giảng viên theo các tỉnh.Về hình thức thi tuyển, Ban tổ chức thi tuyển sẽ thay mặt Bộ Giáo dục - Đào tạo phối hợp với Sở Giáo dục của tỉnh tổ chức thi tuyển các môn đặc thù và môn năng khiếu Thí sinh nào vượt qua kỳ thi sẽ được tuyển thẳng vào biên chế chính thức và được gửi đến các trường học theo sự đăng ký của thí sinh
Thái Lan tổ chức thi tuyển lãnh đạo ở các cấp và các chức danh trong ban lãnh đạo của trường như Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng và Trưởng bộ môn của nhà trường trong khu vực và trong tỉnh theo qui trình: Ban tổ chức tổ chức thi theo các kỳ và thi tuyển hai môn chính là môn Quản lý giáo dục và môn đặc thù mà thí sinh đăng ký(có qui định trong danh mục các môn chính của trường), với điều kiện người đăng ký phải đạt một số tiêu chuẩn của Bộ Giáo dục đề ra, ví dụ tiêu chuẩn theo bằng cấp, tiêu chuẩn theo kinh nghiệm công tác giảng dạy Nếu đủ điều kiện dự thi vào bậc lãnh đạo nào thì thí sinh đăng ký thi theo bậc đó Lào cũng nên rút kinh nghiệm trong việc tuyển chọn giáo viên và cấp lãnh đạo; ví dụ chỉ nên giao cho giáo viên dạy ở các cấp những môn mà giáo viên có chuyên môn sâu để đảm bảo chất lượng giáo dục hoặc không nên để giáo viên giảng nhiều môn học như hiện nay một số trường đang thực hiện
Việc tuyển chọn lãnh đạo của trường nên áp dụng hình thức thi tuyển, bước đầu nên thí điểm sơ tuyển, sau một thời gian sẽ áp dụng hình thức thi tuyển thật sự
1.5.3 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Trong khoảng bốn thập niên trở lại đây, giáo dục Hàn Quốc phát triển mạnh và
là nhân tố đi đầu trong sự phát triển quốc gia Để chuẩn bị cho thế kỷ XX, Hàn Quốc
Trang 40đã xác lập các mục tiêu cho giáo dục là: nhân đạo, trong sạch, ứng dụng công nghệ thông tin, tập trung phúc lợi con người và nâng cao tinh thần cởi mở Giáo dục giúp cho mỗi trẻ em trở thành một con người tự lập, sáng tạo độc đáo, con người đạo đức và
có tinh thần dân chủ
1.5.4 Những bài học kinh nghiệm
Từ những kinh nghiệm về công tác quản lý nhà nước về giáo dục của các quốc gia nói trên, có thể rút ra một số bài học trong quá trình quản lý, tổ chức và nâng cao chất lượng giáo dục ở CHDCND Lào nói chung và tỉnh Savannakhet nói riêng như sau:
Một là, cần phải có chiến lược giáo dục với mục tiêu, định hướng và giải pháp
cụ thể phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước cũng như đặc điểm của các địa phương, nhằm phát huy được những lợi thế của mình
Hai là, cần tăng ngân sách cho giáo dục, trong đó quan tâm đến việc nâng cao
năng lực cho đội ngũ cán bộ giáo viên làm công tác quản lý nhà nước về giáo dục, bởi con người là yếu tố then chốt trong quá trình đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục Đồng thời đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bịnhằm ứng dụng công nghệ vào công tác quản lý và dạy học ở các cấp học
Ba là, cần có những quy định cụ thể hơn về yêu cầu năng lực phẩm chất đối với
cán bộ giáo viên tham gia công tác quản lý nhà nước về giáo dục Trên cơ sở đó tiến tới thực hiện các hình thức thi tuyển lãnh đạo các cấp, các chức danh của đội ngũ cán
bộ quản lý nhà nước về giáo dục trong tương lai
Bốn là, cần có các chính sách quan hệ hợp tác về giáo dục với các tỉnh thành
trong nước, các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, nhằm trao đổi và học tập kinh nghiệm, tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ và chủ động trong quá trình hội nhập