1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: PHÂN LOẠI VÀ NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN NUÔI THÍCH HỢP CHO SINH TRƢỞNG VÀ TỔNG HỢP COQ10 Ở CHỦNG NẤM MEN PL5-2 Bai bao Q10 Quyen

7 207 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 303,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHÂN LOẠI VÀ NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN NUÔI THÍCH HỢP CHO SINH TRƯỞNG VÀ TỔNG HỢP COQ10 Ở CHỦNG NẤM MEN PL5-2 Trần Thị Lệ Quyên, Đào Thị Lương Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học, Đại học

Trang 1

PHÂN LOẠI VÀ NGHIÊN CỨU ĐIỀU KIỆN NUÔI THÍCH HỢP CHO SINH TRƯỞNG VÀ TỔNG HỢP COQ10 Ở CHỦNG NẤM MEN PL5-2

Trần Thị Lệ Quyên, Đào Thị Lương

Viện Vi sinh vật và Công nghệ Sinh học, Đại học Quốc Gia Hà Nội

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Ubiquinone-10 hay Coenzyme Q10

(CoQ10), một hợp chất giống vitamin ưa

béo nằm trong hệ thống vận chuyển điện tử

bám màng ở cả prokaryote và eukaryote,

được cấu tạo bởi vòng benzoquinone và

chuỗi polyisoprene kị nước CoQ10 được sử

dụng hiệu quả trong điều trị các bệnh tim

mạch, đồng thời là liệu pháp hỗ trợ trong

điều trị statin(Folkers et al., 1990), và trong

các bệnh liên quan đến chuỗi hô hấp ti thể

(Geromel et al., 2002) Nhờ hoạt tính chống

oxi hóa hay chức năng tăng cường miễn

dịch của CoQ10 mà các nhà y dược học đã

quan tâm đến tác dụng kháng ung thư đầy

tiềm năng của nó (Lockwood, Moesgaard,

và Forkers, 1994) [3] Ngoài ra, CoQ10 còn

được ứng dụng rộng rãi trong ngành công

nghiệp mỹ phẩm, nó được sử dụng như một

chất chống oxy hóa, chống lão hóa để giúp

cơ thể trẻ hóa [1]

CoQ10 được sản xuất từ ba phương

pháp: lên men (tổng hợp sinh học), tổng hợp

hóa học hoặc tách chiết từ mô động vật

Tổng hợp sinh học CoQ10 được sử dụng

nhiều hơn so với tổng hợp hóa học hoặc tách

chiết từ mô động vật [3, 9] Có rất nhiều vi

sinh vật, bao gồm các vi khuẩn

(Agrobacterium, Rhodobacter, Paracoccus

) và nấm men (Candida, Rhodotorula,

Saitoella, Schizosaccharomyces .) được

công bố là các sinh vật sản xuất CoQ10 Đặc

biệt, các nghiên cứu chọn lọc các chủng dại

sinh CoQ10 cao đã tìm được các chủng

Agrobacterium tumefaciens ATCC 4452

(1,9 mg CoQ10/g sinh khối khô),

Rhodobacter sphaeroides FERM-P4675 (2,7

mg CoQ10/g sinh khối khô) và Paracoccus

denitrificans ATCC 19367 (0,86 mg

CoQ10/g sinh khối khô) Để tăng cao hiệu

quả sản xuất CoQ10, các phương pháp đột

biến đã được áp dụng Chủng đột biến A

tumefaciens AU-55 có thể sản sinh 180 mg

CoQ10/l dịch lên men trong 58 h với hàm

lượng CoQ10 là 4,5 mg/g sinh khối khô

Chủng đột biến R sphaeroides Co-22-11 có

thể sản xuất CoQ10 được 346,8 mg/l với hàm lượng 8,7 mg/g sinh khối khô dưới điều kiện thông khí giới hạn Theo Yoshida và cs (1998), ở điều kiện ôxi thấp, các cấu trúc nhiều lớp của màng trong chứa CoQ10 được phát triển mạnh mẽ [4, 5]

Trong nghiên cứu trước, chúng tôi đã tiến hành sàng lọc các chủng vi sinh vật có khả năng sinh CoQ10 và ghi nhận chủng nấm men PL5-2 sinh hàm lượng CoQ10 cao nhất (2,2 mg/g sinh khối khô) [1] Chủng nấm men này được phân lập trên lá cây thu được từ vườn Quốc gia Phong Nha-Kẻ Bàng Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành phân loại chủng nấm men PL5-2 và nghiên cứu các điều kiện nuôi thích hợp cho sinh trưởng và tổng hợp CoQ10 Đồng thời, chúng tôi cũng so sánh và đánh giá các phương pháp tách chiết CoQ10 hiệu quả nhất

II NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP 2.1 Nguyên liệu

Chủng nấm men PL 5.2 lưu giữ tại Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật [1]

2.2 Phương pháp

2.2.1 Phân loại nấm men

- Quan sát hình thái khuẩn lạc và tế bào nấm men theo phương pháp của Yarrow (1998)

- Phân loại nấm men bằng sinh học phân tử: DNA tổng số của chủng PL5-2 được tách chiết theo Manitis [11] Phản ứng PCR nhân đoạn gen D1/D2 sử dụng cặp mồi NL1/NL4 được tiến hành theo Kurtzman và Robnnet (1998) [10] Trình tự của rDNA 26S đoạn D1/D2 được xác định theo phương pháp của Kurtman và Robnett (1997), sử dụng phần mềm CLUSTAL X của Thompson và cộng sự (1997) Các trình tự tham khảo dùng trong nghiên cứu cây phát sinh chủng loại được lấy từ dữ liệu của GenBank Cây phát sinh được xây dựng theo Kimura (1980), sử dụng phương pháp

Trang 2

8

của Saitou và Nei (1987); phân tích

bootstrap (Felsenstein, 1985) được thực hiện

từ 1000 lần lặp lại ngẫu nhiên [1]

2.2.2 Nuôi cấy nấm men

Chủng PL 5.2 được lên men dịch thể

trên môi trường YM (g/l): glucose - 10;

pepton - 5; cao nấm men - 3; cao malt - 3;

pH-6,5) thu sinh khối dùng cho các thí

nghiệm tách chiết CoQ10

2.2.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều

kiện nuôi cấy đến sinh trưởng nấm men và

sinh tổng hợp CoQ10của chủng PL5.2

- Độ thông khí: nuôi lắc 200 vòng/phút

hiếu khí và kị khí không nghiêm ngặt [7,

14]

- Chiếu sáng: nuôi hiếu khí có chiếu

sáng và không chiếu sáng [7, 14]

- Các tiền tố tự nhiên: thí nghiệm được

tiến hành theo phương pháp của Bule và

Singhal (2009) với hai đối chứng là nước ép

cà chua, cà rốt nguyên chất và môi trường

YM [3]

2.2.4 Tách chiết và phân tích CoQ10

Để tìm được phương pháp tách chiết

CoQ10 hiệu quả nhất, 8 phương pháp tách

chiết CoQ10 được khảo sát: phương pháp 1

tiến hành theo Seo J H (2008) [8]; phương

pháp 2 thực hiện theo Bule và Singhal

(2009) [3]; phương pháp 3 theo Seo J H và

cộng sự (2005) với một số thay đổi [12];

phương pháp 4 theo Yen H W và Shih T

Y (2009) [15]; phương pháp 5 thực hiện

theo Zhong W và cộng sự (2009) [17];

phương pháp 6 tiến hành theo Lê Thành

Phước (2005) [2]; phương pháp 7 theo Kim

và cộng sự (2010) [13] và phương pháp 8 được thực hiện theo Zhang và cộng sự (2007) [16]

Phân tích CoQ10 bằng phương pháp sắc

kí lỏng cao áp (HPLC) theo Matsumura và cộng sự (1983) và Takahashi và cs cộng sự (2003) [7, 8] Dịch chiết CoQ10 được phân tích bằng HPLC (Aligent 1200, USA) trên cột Zorbax Eclipse XDB-C18 (250 mm x 4,6 mm) sử dụng ethanol làm pha động với tốc độ dòng chảy là 1 ml/phút, nhiệt độ cột

là 35°C CoQ10 được định lượng dựa vào phương trình tuyến tính giữa diện tích đỉnh hấp phụ của CoQ10 tại bước sóng 275 nm

và hàm lượng CoQ10 chuẩn Hàm lượng CoQ10 nội bào được tính bằng đơn vị mg/g sinh khối tế bào khô (mg/DW) Thí nghiệm được lặp lại 3 lần

III KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 3.1 Vị trí phân loại của chủng nấm men PL5.2

- Quan sát hình thái: khuẩn lạc chủng

nấm men PL 5.2 có dạng tròn, kích thước

1-2 mm, màu cam đỏ, bề mặt khuẩn lạc nhẵn, bóng, lồi đều, không tiết sắc tố vào môi trường sau 4 ngày nuôi trên thạch YM Tế bào có dạng trứng hoặc que ngắn, kích thước 1,0-1,5 × 1,6 - 2,8 µm, sinh sản bằng nảy chồi

Hình 1 Hình thái khuẩn lạc (a) và tế bào (b) chủng nấm men PL 5.2

Trang 3

- Phân tích trình tự đoạn D1/D2 ADNr

26S: ADN tổng số của chủng nấm men

PL5-2 được tách chiết và dùng làm khuôn để

khuếch đại đoạn D1/D2 ADNr 26S bằng

phản ứng PCR, sử dụng cặp mồi NL1 và

NL4 Trình tự 600 bp được xác định

Chương trình Blast được sử dụng để so sánh

độ tương đồng với trình tự của các loài có

quan hệ họ hàng gần trên GenBank Cây phả

hệ được xây dựng dựa trên trình tự đoạn

D1/D2 ADNr 26S của chủng nghiên cứu với

12 loài có quan hệ họ hàng gần thuộc các

chi Rhodosporidium, Rhodotorula

Sporobolomyces Occultifur externus được

sử dụng làm nhóm ngoài Quan sát trên cây phân loại cho thấy chủng nghiên cứu nằm cùng vị trí với Rhodosporidium paludigenum với độ lặp lại 100% trên cây

phả hệ (Hình 2)

Trình tự DNAr 26S đoạn D1/D2 của chủng nấm men PL5.2 có mức độ tương đồng là 100% (600/600 bp) so với chủng chuẩn của loài Rhodosporidium paludigenum Kết hợp giữa các đặc điểm

hình thái và trình tự DNAr, có thể khẳng định chủng PL5.2 thuộc loài

Rhodosporidium paludigenum

Hình 2 Cây phát sinh chủng loại của chủng PL5.2 với các loài có quan hệ họ hàng gần dựa vào

trình tự D1/D2 của DNAr 26S

3.2 Ảnh hưởng của độ thông khí và ánh

sáng đến sinh trưởng nấm men và tổng

hợp CoQ10

Trong chiến lược khai thác các sản phẩm

sinh học trên quy mô công nghiệp thường

bao gồm 3 bước: tìm kiếm nguồn khai thác,

cải biến di truyền tăng năng xuất và tối ưu

điều kiện sản xuất [5] Tuy nhiên, ở một số

nghiên cứu, bước cải biến di truyền có thể

không được sử dụng, các thí nghiệm khảo

sát ảnh hưởng các yếu tố nuôi cấy đến khả

năng sinh hợp chất sinh học của chủng dại

được tiến hành sau khi sàng lọc[3] Trong

nghiên cứu này, ảnh hưởng của một số yếu

tố môi trường đến sinh trưởng và tổng hợp

CoQ10 đã được khảo sát trên chủng dại PL

5-2

Chủng nấm men PL 5-2 được thu sinh

khối và phân tích CoQ10 sau 4 ngày nuôi

cấy hiếu khí và kị khí tùy tiện trên môi

trường YM dịch thể, kết quả cho thấy ở điều

kiện ít ôxi, chủng nghiên cứu sinh trưởng rất chậm (sinh khối giảm 2/3) và cho hàm lượng CoQ10 chỉ còn 1,2 mg/g DW (giảm 1/2) so với lên men hiếu khí là 2,3 mg/g

DW Trong khi đó, sự khác biệt về sinh trưởng và tổng hợp CoQ10 giữa nuôi hiếu khí của chủng nấm men PL 5-2 có chiếu sáng và không chiếu sáng không được ghi nhận

Ha và cộng sự (2007) sản xuất CoQ10

trên chủng đột biến Agrobacterium

tumefaciens KCCM 10413 đã đạt 9,05 mg/g

DW[6], Kiên và cộng sự (2010) đã thu được CoQ10 với hàm lượng 6,34 mg/g DW trên

chủng đột biến Rhodobacter sphaeroides KACC 91339P khi nuôi cấy ở điều kiện lên

men hiếu khí, không chiếu sáng[9] Trong khi đó, cũng trên loài vi khuẩn này trên

chủng dại Rhodobacter sphaeroides BCRC

13100, Yen và Shih (2009) đã nghiên cứu

Occultifur externus_AF189909 Rhodosporidium toruloides_AF070426

Rhodotorula mucilaginosa_AF070432

Sporobolomyces alborubescens_AF207886

Rhodotorula glutinis var dairenensis_AF070429

100

Rhodosporidium sphaerocarpum_AF070425

82

PL5.2

Rhodosporidium paludigenum_AF070424

Rhodosporidium kratochvilovae_AF071436

Rhodotorula araucariae_AF070427

Rhodosporidium diobovatum_AF070421

Rhodosporidium babjevae_AF070420

Rhodotorula graminis_AF070431

Rhodotorula glutinis var glutinis_AF070430

75

93

90

100

100

67

100

78

71

0.02

Trang 4

10

điều kiện chiếu sáng và thông khí để đạt

hàm lượng CoQ10 cao nhất là 3,5 mg/g

DW, bằng ½ so với chủng độ biến[15] Như

vậy, chủng dại PL 5-2 có hàm lượng CoQ10

đạt 2,3 mg/g DW, sử dụng đột biến chủng dại có thể mang đến hy vọng tạo được chủng

cho hàm lượng CoQ10 cao

Hình 3 Ảnh hưởng của độ thông khí đến sinh trưởng và sinh tổng hợp CoQ10 ở chủng

nấm men PL5-2

3.3 Ảnh hưởng của tiền tố tự

nhiên đến sinh trưởng nấm men và sinh

tổng hợp CoQ10

Con đường sản xuất carotenoid và

CoQ10 có chung chất trung gian

geranylgeranyl diphosphate, sau đó chất này

được biến đổi trực tiếp thành carotenoid, trong khi đó để tạo CoQ10 cần sự góp mặt sáu phân tử IPP Vào năm 1981, Natori và Nagasaki đã phát hiện các tiền tố quan trọng của polyprenyl pyrophosphate có trong carot

và cà chua [3]

Hình 4 Ảnh hưởng của môi trường nước chiết cà chua và cà rốt đến sinh trưởng và tổng hợp

CoQ10 trong tế bào nấm men

CC-cà chua 100%; CC100-cà chua 100%+YM; CC50- cà chua 50%+YM;

CC25- cà chua 25%+YM; CR-cà rốt 100%; CR100-cà rốt 100%+YM;

CR50- cà rốt 50%+YM; CR25- cà rốt 25%+YM YM- môi trường YM

0 0,5 1 1,5 2 2,5 3

CC

0 CC

50 CC

0 CR

50 CR

Môi trường

Sinh khối CoQ10

0 0,5 1 1,5 2 2,5 3 3,5

Kị khí Hiếu khí

Trang 5

Chủng PL5-2 được nuôi cấy trên môi

trường nước chiết cà chua và cà rốt, sau 4

ngày thu sinh khối và tách CoQ10, kết quả

trên hình 4 cho thấy: 2 loại nước chiết trên

có ảnh hưởng tích cực đến hàm lượng

CoQ10, ở nồng độ nước chiết cà chua 50%

và nước chiết cà rốt 50-100% (có bổ sung

khoáng YM) làm tăng hàm lượng CoQ10

lên gần 5% (2,4 mg/g DW) và 10-15%

(2,5-2,6 mg/g DW), tương ứng Trong khi đó, với

nồng độ đậm đặc hơn của nước ép cà chua

(100%), chủng PL5-2 sinh trưởng kém hơn

(2,1mg/gDW) so với đối chứng YM (2,3

mg/g DW) Đối với môi trường chỉ có nước

ép nguyên chất không bổ sung thành phần

YM cũng cho hàm lượng CoQ10 ngang

bằng với môi trường YM Kết quả thí ngiệm

này phù hợp với công bố của Bule và

Singhal(2009), đã báo cáo về các tiền tố tự

nhiên của polyprenyl pyrophosphate có

trong cà chua và cà rốt đã làm tăng 56-87%

CoQ10 ở Pseudomonas diminuta trên cùng

đơn vị nuôi cấy so với môi trường tối ưu không bổ sung tiền tố [3]

3.4 Tách chiết và phân tích CoQ10

Sau khi lên men trên môi trường cà rốt 100%( bổ sung khoáng YM), tế bào nấm men được thu, rửa sạch môi trường và tách chiết bằng 8 phương pháp khác nhau, kết quả cho thấy so với phương pháp 2 được dùng để tách chiết CoQ10 trong suốt quá trình nghiên cứu (đạt 2,6 mg/g DW), hiệu suất của phương pháp 1, 5 và 6 tăng tương ứng 4% (2,7 mg/g DW), 10% (2,9 mg/g DW) và 20% (3,1 mg/g DW); trong khi đó các phương pháp còm lại (phương pháp 3, 4,

7, 9) cho hiệu quả tách chiết thấp hơn từ 8-27% (1,9-2,4 mg/g DW) Phương pháp 6 có thời gian thí nghiệm ngắn, hóa chất phổ biến

và sẵn có nên được lựa chọn làm phương pháp tách chiết CoQ10

Hình 5 Tách chiết CoQ10 từ tế bào nấm men PL5-2 bằng 8 phương pháp tách CoQ10

khác nhau

IV KẾT LUẬN

Chủng nấm men PL5-2 có ubiquinone

chủ yếu là CoQ10, được định tên là

Rhodosporidium paludigenum dựa vào hình

thái tế bào, khuẩn lạc và phân tích trình tự

đoạn gen D1/D2 của ADNr 26S

Sinh trưởng và sinh tổng hợp CoQ10 của

chủng nấm men PL5-2 đạt cao nhất khi nuôi

hiếu khí Điều kiện chiếu sáng không có tác

động rõ rệt lên khả năng tổng hợp CoQ10

Khi bổ sung các tiền tố tự nhiên của CoQ10

có trong cà chua và cà rốt vào môi trường nuôi cấy đã làm tăng hàm lượng sinh tổng hợp CoQ10 tương ứng lên 3-5% và 10-15% Trong số 8 phương pháp tách chiết CoQ10 được khảo sát, phương pháp 1, 5, 6 cho hiệu quả tách tốt nhất Phương pháp 6

có thời gian thực hiện nhanh, hóa chất thông dụng và sẵn có nên được lựa chọn để tách chiết CoQ10

0 0,5 1 1,5 2 2,5 3 3,5

Các phương pháp tách CoQ10

Trang 6

12

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt

1 Đào Thị Lương, Trần Thị Lệ Quyên

(2009), “Tuyển chọn và nghiên cứu đặc

điểm phân loại của các chủng nấm men

sinh CoQ10, phân lập ở Việt Nam”, Tạp

chí Di truyền học và ứng dụng, Chuyên

san Công nghệ Sinh học, số 5, trang 8-14

2 Lê Thành Phước (2005), Gốc tự do và các

chất chống oxy hóa trong Y – Dược, Đại

Học Dược Hà Nội

Tiếng Anh

3 Bule M.V., Singhal R.S (2009), “Use of

carrot juice and tomato juice as natural

precursors for enhanced production of

ubiquinone-10 by Pseudomonas

diminuta NCIM 2865”, Food chemistry,

116: pp 302-305

4 Cheng B., Yuan Q.P., Sun X.X., Li W.J

(2010), “Enhanced production of

Coenzyme Q10 by overexpressin

HMG-CoA reductase and induction with

Schizosaccharomyces pombe”, Appl

Biochem Biotechnol, 160: pp 523-531

5 Choi J.H., Ryu Y.W., Seo J.H (2005),

“Biotechnological production and

applications of coenzyme Q10”, Appl

Microbiol Biotechnol 68: pp 9-15

6 Ha S.J., Kim S.Y., Seo J.H., Oh D.K., Lee

J.K (2007) Optimization of culture

conditions and scale-up to pilot and

plant scales for coenzyme Q10

production by Agrobacterium

tumefaciens Appl Microbiol Biotechnol

74:974-980

7 Jeong K.S., Dao T.N.V, Kien N and Kim

J.K (2008), “Effects of pH and light

irradiation on coenzyme Q10 production

using Rhodobacter sphaeroides”, J Fish

Sci Technol 11(4): pp 219-223

8 Jeong S.K., Ahn S.C., Kong I.S and Kim

J.K (2008), “Isolation and identification

of a photosynthesis bacterium containing

a high content of coenzyme Q10”, J Fish

Sci Technol 11(3): pp 172-176

9 Kien N.B., Kong I.S., Lee M.G, Kim J.K

(2010) “Coenzyme Q10 production in a

150 l reactor by a mutant strain of

Rhodobacter sphaeroides”, J Fish Sci Technol, 37: pp 521–529

10 Kurtzman C.P and Robnnet C.J (1998),

“Identification and phylogeny of ascomycetous yeasts from analysis of nuclear large subunit (26S) ribosomal

DNA partial sequences”, Antonie van

Leeuwenhoek 67: pp 151-171

11 Manitis T., Fritsch E.F., Sambrook J (1982), “Molecular cloning: a laboratory manual Cold Spring Harbor laboratory: Cold Spring Harbor”, New

York U.S.A pp 187-209

12 Park Y.C., Kim S.J., Choi J.H., Lee W.H., Park K.M., Kawamukai M., Ryu Y.W., Seo J.H (2005), „Batch and fed-batch production of coenzyme Q10 in

recombinant Escherichia coli containing

the decaprenyl diphosphate synthase gene

from Gluconobacter suboxydans”, Appl

Microbiol Biotechnol 67: pp 192–196

13 Seo, M J and Kim S.O (2010), “Effect

of Limited Oxygen Supply on Coenzyme Q10 Production and Its Relation to Limited Electron Transfer

and Oxidative Stress in Rhizobium

radiobacter T6102”, J Microbiol Biotechnol, 20(2): pp 346–349

14 Yen H.W., Chiu C.H (2007), “The inluences of aerobic-dark and anaerobic-light cultivation on CoQ10 production

by Rhodobacter sphaeroides in the submerged fermenter”, Enzyme and

Technology 41: pp 600-604

15 Yen H.W and Shih T.Y., (2009),

“Coenzyme Q10 production by

Rhodobacter sphaeroides in stirred tank

and in airlift bioreactor”, Bioprocess

Biosyst Eng, 32: pp 711-716

16 Zhang D., Shrestha B., Li Z., Tan T., (2007), “Ubiquinone-10 production

using Agrobacterium tumefaciens dps gene in Escherichia coli by coexpression system”, Mol Biotechnol, 35(1): pp.1-14

17 Zhong W., Fang J., Liu H., Wang X., (2009), Enhanced production of CoQ10

by newly isolated Sphingomonas sp ZUTEO3 with a coupled fermentation–

extraction process, J Ind Microbiol

Biotechnol, 36: pp 687–693

Trang 7

SUMMARY

TAXONOMIC STUDY OF YEAST STRAIN PL5-2 AND OPTIMIZATION

OF CULTURAL CONDITIONS FOR GROWTH AND COQ10

PRODUCTION

Tran Thi Le Quyen, Dao Thi Luong

Institute of Microbiology and Biotechnology, Vietnam National University, Hanoi

Coenzyme Q10 (CoQ10) functions in the mitochondrial respiratory chain and serves as a lipophilic antioxidant There is an increasing interest in the use of CoQ10 as a nutritional supplement and cosmetic ingredient It is known that CoQ10 is produced in a wide variety of organisms, from microorganisms such as bacteria and yeasts, to higher animals and plants In previous study, yeast strain PL 5-2 isolated from leaf in Phongnha-Kebang national park produced the highest amount of CoQ10 Colony and cell morphologies as well as and D1/D2

26S rDNA sequence analysis idenified the strain PL 5-2 as Rhodosporidium paludigenum

Optimization of cultural conditions such as oxygen supply, light irradiation and natural precursors was performed in order to improve the production of CoQ10 The results showed that additional aeration condition was improved the yeast growth and CoQ10 production but not for light irradiation CoQ10 production of the yeast was considerably increase of 10-15% and 3-5%

by adding natural precursors of CoQ10 from carrot and tomato juices, respectively Of 8 methods selected for CoQ10 extraction, the methods 1, 5 and 6 demonstrated highly effective protocols for extracting CoQ10 from the yeast

*Công trình được hỗ trợ kinh phí từ đề tài: “Tuyển chọn và nghiên cứu các chủng nấm men sinh Coenzym Q10 nhằm ứng dụng trong lĩnh vực y học và mỹ phẩm”- QG09-47

* Người thẩm định: GS.TS Phạm Văn Ty

Ngày đăng: 18/12/2017, 11:39

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w