6 DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT CP: Chính phủ HĐBT: Hội đồng Bộ trưởng KH&CN: Khoa học và Công nghệ NC&TK: Nghiên cứu và Triển khai NĐ: Nghị định QĐ: Quyết định... Một số bài báo có thể kể
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ QUỲNH GIANG
NHẬN DIỆN TƯ TƯỞNG CHUYỂN ĐỔI QUẢN LÝ THÔNG QUA CÁC CHÍNH SÁCH VỀ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Hà Nội, 2014
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
PHẠM THỊ QUỲNH GIANG
NHẬN DIỆN TƯ TƯỞNG CHUYỂN ĐỔI QUẢN LÝ THÔNG QUA CÁC CHÍNH SÁCH VỀ KHOA HỌC VÀ
CÔNG NGHỆ
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUẢN LÝ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
MÃ SỐ: 60.34.72
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Vũ Cao Đàm
Hà Nội, 2014
Trang 33
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 5
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do nghiên cứu 6
2 Lịch sử nghiên cứu 7
3 Mục tiêu nghiên cứu Error! Bookmark not defined
4 Phạm vi nghiên cứu Error! Bookmark not defined
5 Mẫu khảo sát Error! Bookmark not defined
6 Vấn đề nghiên cứu: Error! Bookmark not defined
7 Giả thuyết nghiên cứu: Error! Bookmark not defined
8 Phương pháp chứng minh: Error! Bookmark not defined
9 Luận cứ Error! Bookmark not defined CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Error! Bookmark not defined
1.1 Các khái niệm: Error! Bookmark not defined 1.1.1 Hoạt động Khoa học và Công nghệ Error! Bookmark not defined 1.1.2 Chính sách và Chính sách KH&CN Error! Bookmark not defined 1.1.3 Quản lý vĩ mô về Khoa học và Công nghệ Error! Bookmark not defined 1.1.4 Tự trị trong khoa học Error! Bookmark not defined
1.2 Sự khác biệt giữa Nhà nước làm khoa học và mô hình nhà nước quản lý vĩ
mô về khoa học Error! Bookmark not defined
CHƯƠNG 2: KINH NGHIỆM TRONG HOẠT ĐỘNG KH&CN Ở MỘT SỐ
NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI Error! Bookmark not defined
2.1 Kinh nghiệm hoạt động KH&CN ở các nước phát triển: Error! Bookmark
not defined
2.2 Kinh nghiệm trong KH&CN ở các nước công nghiệp mới Error!
Bookmark not defined
Trang 44
2.3 Kinh nghiệm trong hoạt động KH&CN ở các nước vốn là XHCN (Liên Xô,
Trung Quốc) Error! Bookmark not defined 2.4 Đánh giá về xu thế chuyển đổi của các nước Error! Bookmark not
defined
CHƯƠNG 3: TƯ TƯỞNG CHUYỂN ĐỔI NHÀ NƯỚC LÀM KHOA HỌC SANG NHÀ NƯỚC QUẢN LÝ VĨ MÔ VỀ KHOA HỌC QUA CÁC THIẾT
CHẾ QUẢN LÝ KHOA HỌC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY Error! Bookmark not
defined
3.1 Kế hoạch hóa tập trung hoạt động KH&CN Error! Bookmark not defined
3.2 Tư tưởng “Phi tập trung hóa” hoạt động KH&CN trong Quyết định 175/CP năm 1981 cho phép các cơ quan KH&CN được ký hợp đồng với nhau và với sản
xuất Error! Bookmark not defined
3.3 Tư tưởng “phi hành chính hóa” hoạt động KH&CN và thị trường hóa kết
quả nghiên cứu trong Quyết định 134/HĐBT năm 1987 Error! Bookmark not
defined
3.4 Xã hội hóa triệt để hoạt động KH&CN được đánh dấu bởi Nghị định
35/HĐBT năm 1992 Error! Bookmark not defined 3.5 Tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong Nghị định 115/2005/NĐ-CP Error!
Bookmark not defined
3.6 Tự trị trong Khoa học Error! Bookmark not defined 3.6.1 Vai trò của nhà nước trong nền khoa học tự trị Error! Bookmark not
defined
3.6.2 Quyền của các tổ chức nghiên cứu trong nền Khoa học tự trị Error!
Bookmark not defined
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Error! Bookmark not defined
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 11
PHỤ LỤC Error! Bookmark not defined
Trang 55
Trang 66
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CP: Chính phủ HĐBT: Hội đồng Bộ trưởng KH&CN: Khoa học và Công nghệ NC&TK: Nghiên cứu và Triển khai
NĐ: Nghị định QĐ: Quyết định
Trang 77
MỞ ĐẦU
1 Lý do nghiên cứu
Hoạt động KH&CN ngày càng được xã hội hóa, trở thành thành mối quan tâm của toàn xã hội Từ đây, các nhà nghiên cứu được tập hợp thành một cộng đồng ngày càng rộng lớn, vượt khỏi khuôn khổ quốc gia, trở thành một cộng đồng quốc tế Đây chính là những lý do đòi hỏi các nhà nước phải rút ra khỏi sự chi phối KH&CN, mà thực hành những biện pháp điều tiết vĩ mô quan hệ trong nội bộ cộng đồng KH&CN và quan hệ giữa cộng đồng này với các cộng đồng khác trong nội bộ xã hội mình và trên thế giới Đứng trước tình hình đó, mỗi quốc gia không thể tách rời sự tồn tại, phát triển của mình như một hệ cô lập, khép kín mà phải đặt mình trong mối quan hệ với thị trường thế giới Trong mối tương quan này, thế đứng của nền kinh tế là điều kiện sống còn Và Việt Nam
cũng không nằm ngoài quy luật ấy
Có thể nói, đặc trưng cơ bản của công cuộc cải cách kinh tế – xã hội của đất nước Việt Nam là chuyển từ nền kinh tế do Nhà nước độc quyền điều hành
và thực hiện (gọi là nền kinh tế chỉ huy) sang nền kinh tế bao gồm nhiều thành phần trong xã hội, trong đó, Nhà nước chỉ còn giữ chức năng điều tiết vĩ mô Khi đó, Nhà nước không còn đóng vai người chỉ huy phát ra những mệnh lệnh điều hành các hoạt động xã hội nữa, mà thực sự trở thành một chủ thể quyền lực đưa ra những văn bản quy phạm pháp luật, chính sách vĩ mô để điều tiết các hoạt động này Hệ thống KH&CN không nằm ngoài quỹ đạo chung của tiến trình cải cách Từ thực tiễn phát triển KH&CN, ta có thể thấy rằng, càng ngày các nhà quản lý của các nước càng nhận thức đầy đủ về vai trò và nội dung của chính sách KH&CN Khi các chính sách ra đời phù hợp thì mới thúc đẩy KH&CN phát triển, KH&CN phát triển sẽ thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Việc nhận thức được sâu sắc điều này sẽ góp phần tác động tích cực hơn đến sự
Trang 88
thay đổi các chính sách KH&CN sao cho phù hợp với xu thế hiện nay Đó là lý
do tác giả chọn nghiên cứu đề tài “Nhận diện tư tưởng chuyển đổi quản lý thông
qua các chính sách về khoa học và công nghệ”
2 Lịch sử nghiên cứu
Thực tế có nhiều bài báo khoa học, nhiều đề tài nghiên cứu phân tích về các Quyết định 175/CP năm 1981; Quyết định 134/HĐBT năm 1987; Nghị định 35/HĐBT năm 1992 và Nghị định 115/2005/NĐ-CP nhưng nhận diện ra được
và tìm hiểu sâu về tư tưởng chuyển đổi quản lý của nhà nước thông qua các
chính sách khoa học và công nghệ thì chưa có đề tài nào
Một số bài báo có thể kể đến như:
- “Về ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự trong hoạt động Khoa học và Kỹ
thuật” của tác giả Nghiêm Công (Tạp chí HĐKH số tháng 9/1988)
Trong bài báo, tác giả đã nhấn mạnh quyết định 134/HĐBT là một điểm mới trong công tác quản lý ở nước ta Sự sáng tạo của các công dân trong các hợp đồng được trả bằng những khoản thu nhập thỏa thuận và được nhà nước bảo
hộ Về mặt pháp lý, Nhà nước cho phép các thành phần kinh tế được liên doanh, liên kết với nhau trong hoạt động khoa học và kỹ thuật, công nhận quyền tiến hành các hoạt động khoa học và kỹ thuật cá nhân dưới mọi hình thức, xóa bỏ quan niệm cứng nhắc: Nhà nước đào tạo và trả lương thì không được làm ngoài
Từ đó tác giả chỉ ra các trách nhiệm và quyền lợi của các cá nhân, tập thể tự nguyện khi kí kết hợp đồng dần sự trong hoạt động khoa học và kỹ thuật, tác giả cũng nêu lên những hạn chế khi thực hiện quyết định 134/HĐBT như và đề xuất cần tiếp tục nghiên cứu các quy định nhằm đảm bảo cơ sở pháp lý cho việc ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự trong khoa học và kỹ thuật Tuy nhiên, bài báo mới chỉ dừng ở một quyết định 134/HĐBT và cũng chưa đưa ra được luận cứ chứng minh cho những tác dụng tích của của 134/HĐBT với các viện R&D lúc
bấy giờ
Trang 99
- “Quá trình phát triển chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước đối với trí thức”
của tác giả Nguyễn Thanh Tuấn (Tạp chí HĐKH số 10/1990) Tác giả Nguyễn Thanh Tuấn đã chia quá trình phát triển chính sách xã hội của Đảng và Nhà nước đối với trí thức thành bốn thời kì: thời kì 1930-1945; thời
kì 1945-1954 , giai đoạn 1954-1975 và giai đoạn 1975 đến nay Trong đó tác giả đặc biệt quan tâm phân tích đến giai đoạn thứ 4 Ở giai đoạn này, một loạt các chính sách ra đời như: Quyết định 175/CP (29/4/1981), Quyết định 134/HĐBT (31/4/1987), Chỉ thị 199/CT của Hội đồng Bộ trưởng (25/6/1988) và pháp lệnh chuyển giao Công nghệ (1989) đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình “phi hành chính hóa” hoạt động khoa học và thương mại hóa khoa học trong nền kinh tế hàng hóa đang phát triển ở nước ta Đặc biệt tác giả quan tâm đến Quyết định 134 đã
mở ra cho trí thức Khoa học các khả năng mới: Khoa học được thực hiện mọi hình thức liên kết khả dĩ với các thành phần kinh tế; Trí thức có quyền hợp tác với mọi thành phần kinh tế trên danh nghĩa cơ quan, hiệp hội, tập thể tự nguyện
và cá nhân; Trí thức được quyền phân chia lợi nhuận với sản xuất Từ đó, tác giả rút ra rằng: trong chính sách của Đảng và Nhà nước đối với trí thức đã xác lập quan niệm: Trí thức là lực lượng lao động xã hội quan trọng trong đó có ba chức năng xã hội quan trọng nhất là nhận thức, giáo dục và dự báo Chính sách xã hội đối với trí thức là nhằm phát triển và xác lập “quyền tự do sáng tạo” như văn kiện Đại hội Đảng lần thứ 6 đòi hỏi Việc xây dựng chính sách xã hội với trí thức trong giai đoạn này là phải kế thừa và phát triển trên cơ sở những luận điểm
đã được Đảng và Nhà nước ta thừa nhận
- “Sớm quán triệt và triển khai đồng bộ Nghị quyết 51-HĐBT” của tác giả Lê Văn
Nguyện (số 9/1983) Trong bài báo, tác giả đã đưa ra vấn đề về việc quán triệt và triển khai đồng bộ Nghị quyết 51-HĐBT và tác giả có nhắc đến Quyết định 175/CP về việc ký kết hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu và triển khai kỹ thuật ra đời đã
Trang 1010
hai năm Nhiều viện đã tự tiến hành cải tiến quản lý tập dượt hạch toán kinh tế, song vẫn chưa có một thể chế thống nhất về tài chính và tác giả nêu lên rằng: Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước cần sớm ra thông tư hướng dẫn thi hành quyết định 175/CP Tác giả chỉ ra rằng: Quyết định 175 đã tạo ra một hướng để các viện nghiên cứu và các cơ sở sản xuất chủ động hợp tác đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất tạo điều kiện cho các viện và các xí nghiệp tiến hành có hiệu quả kinh tế thiết thực Nhưng vì chưa có những quy chế chung nên cũng có những khó khăn nhất định như xí nghiệp không thanh toán song phẳng nghiên cứu phí cho cơ quan nghiên cứu, và các cơ quan quản lý nên nhanh chóng đề ra những quy chế để thực hiện nguyên tắc khuyến khích lợi ích kinh tế đối với đội ngũ Khoa học và kỹ thuật trong lĩnh vực đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
- “Viện Lâm nghiệp với việc thực hiện Quyết định 175-CP của Hội đồng chính
phủ” của tác giả Vũ Đình Huề (Tạp chí HĐKH số 3/1986)
Trong bài báo khoa học, tác giả đã nêu ra những khó khăn của Viện Lâm nghiệp trước khi Quyết định 175/CP ra đời nổi bật là “Quan hệ chưa gắn bó giữa khoa học và sản xuất” mà chưa tìm ra được biện pháp khắc phục Quyết định
175 đã mở ra con đường mới để nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất Tuy nhiên, sau khi quyết định 175/CP ra đời, sự tiếp xúc giữa sản xuất với nghiên cứu vẫn còn nhiều dè dặt, chờ đợi lẫn nhau Nhưng thực tế cho thấy nếu cả hai phía (nghiên cứu và sản xuất) đều chủ động thì sẽ nhanh chóng tạo được mối quan hệ mật thiết để đưa nhanh các kĩ thuật tiến bộ và sản xuất Sau khi kí kết và thực hiện một số hợp đồng cuối năm 1984 Viện đã tiến hành tổng kết rút kinh nghiệm và xây dựng một bản quy chế tạm thời, làm cơ sở cho công tác ký kết, thực hiện và quản lý việc thực hiện các hợp đồng theo nội dung của quyết định 175/CP Thành tựu đạt được là trong năm 1985 Viện đã thực hiện 20 hợp đồng trong đó có 4 hợp đồng từ năm 1984 chuyển sang và tổng giá trị của các hợp đồng xấp xỉ bằng kinh phí nghiên cứu khoa học mà Nhà nước đã cấp cho Viện
Trang 1111
hàng năm Để lựa chọn các hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật, tác giả đã chỉ ra các nguyên tắc của Viện: Nội dung các hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu và triển khai kĩ thuật phải thuộc chuyên môn của Viện; Các hợp đồng phải có tác dụng đưa nhanh các tiến bộ kỹ thuật và sản xuất; Hiệu quả hợp đồng không tính theo kinh doanh mà dựa vào đánh giá nó đã phục vụ cho sản xuất nhiều hay ít Từ đó, tác giả đề xuất như: Để thực hiện đấy đủ quyết định này, phái nghiên cứu khoa học cần am hiểu đầy đủ tính cấp thiết của sản xuất, mặt khác sản xuất cũng cần quan tâm đến nghiên cứu; Tất cả các hợp đồng kinh tế trong nghiên cứu khoa học và triển khai kỹ thuật đều phải dựa trên cơ sở các tiến bộ kỹ thuật do nghiên cứu thí nghiệm thu được; Khi nghiên cứu cần định rõ các tiến bộ kỹ thuật phải đạt được trong từng giai đoạn ngắn; Khi lập kế hoạch nghiên cứu khoa học cần lập kế hoạch đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất
Những vấn đề tác giả đã trình bày trong bài báo chỉ giới hạn trong hoạt động của Viện Lâm nghiệp khi quyết định 175 ra đời
Như vậy, có thể thấy rằng, trong các bài báo của mình, các tác giả mới chỉ điểm đến, hoặc phân tích về việc áp dụng một chính sách nào đó, đối với một viện cụ thể chứ chưa có cái nhìn tổng quan về quá trình biến đổi chính sách để
từ đó rút ra sự thay đổi tư tưởng chính sách theo một chiều dài lịch sử
Ngoài các bài báo khoa học, có thể kể đến các luận văn như:
Luận văn “Đánh giá hoạt động của các tổ chức khoa học và công nghệ thành lập theo Nghị định 35/HĐBT trong các Viện nghiên cứu và Triển khai (nghiên cứu trường hợp Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam)” của tác giả
Nguyễn Kim Công
Luận văn đã nêu lên được tình hình hoạt động của các tổ chức KH&CN thành lập theo Nghị định 35/HĐBT thuộc viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam (VKH&CNVN) Từ đó tác giả đánh giá được các hạn chế, vướng mắc
trong quá trình hoạt động của các tổ chức này như: Thiếu sự gắn kết giữa đơn vị
Trang 1212
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Anh (1993), Luận văn “Phân tích chính sách tài trợ của Nhà nước đối với viện R-D”, Viện Quản lý Khoa học, Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường,
Hà Nội
2 Nguyễn Công Chiến (1993), Một số vấn đề về tổ chức Quản lý hoạt động Nghiên cứu triển khai của một viện nghiên cứu khoa học trong điều kiện nền kinh tế thị trường đang hình thành, Viện Quản lý Khoa học, Hà Nội
3 Nghiêm Công (1988), Về ký kết và thực hiện hợp đồng dân sự trong hoạt động
khoa học và kỹ thuật, Tạp chí hoạt động khoa học, Số 9/1988
4 TS Lê Đăng Doanh – Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (chủ biên 2003), Đổi mới cơ chế quản lý Khoa học và công nghệ ở Việt Nam, Nhà xuất
bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội
5 Vũ Cao Đàm (2007), Khoa học Chính sách, Bài giảng cho ngành Khoa học
Quản lý, tập 1
6 Vũ Cao Đàm (2008), Khoa học Chính sách, Bài giảng cho ngành Khoa học
Quản lý, tập 2
7 Vũ Cao Đàm (1987), Quá trình hình thành và thực hiện Chính sách Khoa học và
Kỹ thuật của Việt Nam, Tạp chí hoạt động Khoa học, Số 7/1987
8 Vũ Cao Đàm (1983), Cần nhanh chóng ban hành thông tư hướng dẫn thực hiện
Quyết định 175/CP, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 10/1983
9 Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập Các công trình đã công bố, Tập 1, Nhà xuất bản
Thế giới, Hà Nội
10 Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập Các công trình đã công bố, Tập 2, Nhà xuất bản
Thế giới, Hà Nội
11 Vũ Cao Đàm (2009), Tuyển tập Các công trình đã công bố, Tập 3, Nhà xuất bản
Thế giới, Hà Nội
Trang 1313
12 Vũ Cao Đàm (2009) Giáo trình khoa học chính sách, Nhà xuất bản đại học Quốc
gia Hà Nội, Hà Nội
13 Vũ Cao Đàm (2002), Tiếp tục tiến trình cải cách chính sách Khoa học và Công
nghệ ở nước ta, Nội san Nghiên cứu Khoa học và Công nghệ, Viện Chiến lược
và Chính sách Khoa học và Công nghệ, Số 4/2002
14 Trần Chí Đức (1999), Luận văn “Quản lý Nhà nước về Khoa học và Công nghệ
trong sự chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam”
15 Trần Chí Đức (2003), Một số ý kiến về quản lý Khoa học và Công nghệ và quản
lý nhà nước về quản lý Khoa học và Công nghệ, Viện Chiến lược và Chính sách
Khoa học và Công nghệ, Tháng 12/1999
16 Nguyễn Bá Kế (1990), Vài ý kiến trong công cuộc đổi mởi ở các tổ chức làm
công tác khoa học – kỹ thuật hiện nay, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 1/1990
17 Trần Tấn Minh (1982), Hợp đồng kinh tế trong hoạt động Khoa học – Kỹ thuật,
Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 8/1982
18 Đặng Duy Thịnh (2007), Bàn về cơ chế chuyển tổ chức Khoa học và Công nghệ thành tổ chức tự chủ, tự chịu trách nhiệm nhằm gắn kết khoa học với sản xuất,
Nội san Nghiên cứu chính sách Khoa học và Công nghệ, Viện Chiến lược và
Chính sách Khoa học và Công nghệ, số 14/2007
19 Đặng Duy Thịnh (2004) chủ biên, Cải cách chính sách nghiên cứu và phát triển trong bối cảnh chuyển sang nền kinh tế thị trường ở Việt Nam, Nhà xuất bản
Nông nghiệp, Hà Nội
20 PTS Nguyễn Văn Thụy (1994), Một số vấn đề về chính sách phát triển khoa
học và công nghệ, Nhà xuất bản chính trị quốc gia, Hà Nội
21 Nguyễn Văn Thưởng (1989), Bàn về gắn khoa học với thị trường chất xám, Tạp
chí Hoạt động Khoa học, Số 11/1989
22 Nguyễn Việt (1989), Bàn về đổi mới công tác quản lý và kế hoạch hóa Khoa học
và Kỹ thuật, Tạp chí Hoạt động Khoa học, Số 8/1989