1 BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH ĐỊNH CƯ ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN VN TRONG ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU PGS.TS Nguyễn Hồng Thục Viện NC Định cư Tóm tắt Bài tham luận này nhằm mục đích gi
Trang 11
BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH ĐỊNH CƯ ĐÔ THỊ VÀ NÔNG THÔN VN
TRONG ĐÔ THỊ HÓA VÀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU
PGS.TS Nguyễn Hồng Thục Viện NC Định cư
Tóm tắt
Bài tham luận này nhằm mục đích giới thiệu một số phương pháp tiếp cận, đánh giá tiềm năng, nội lực và mức độ hấp dẫn của đơn vị định cư bằng Phương pháp mô hình hóa và Ecology Footprint, tương ứng với bối cảnh và sức mang sinh thái của môi trường bao chứa Với các minh họa tại 07 địa điểm định cư đô thị và nông thôn truyền thống tieu biểu ở VN, chúng tôi đã đánh giá toàn diện theo 06 tiêu chí của định cư bền vững và các mối quan hệ giữa các khu cộng
cư giữa chúng ( tại các địa điểm nghiên cứu) với bối cảnh phát triển Bối cảnh lựa chọn là đô thị hóa và biến đổi khí hậu đang tác động ngày một mạnh mẽ lên các thành phố và làng mạc ở VN Tuy nhiên trong khuôn khổ của tham luận chúng tôi không thể phân tích sâu vào yếu tố biến đổi khí hậu (vốn đăng tải các kịch bản rất phong phú), mà chỉ đi sâu vào phương pháp xây dựng
mô hình và các tương tác của nó với bối cảnh biến đổi khí hậu nêu trên
Nghiên cứu lựa chọn các mô hình định cư đô thị và nông thôn bền vững trong sự biến đổi sâu sắc về xã hội hiện nay chính là chìa khóa để thống nhất về phát triển lãnh thổ cấp quốc gia, vùng, miền, đô thị và nông thôn hiện nay Bởi chỉ có khoa học định cư mới có thể tiếp cận toàn diện mọi mặt tác động trực tiếp đến không gian cư trú của con người VN trên các
vùng địa lý, địa giới và xã hội Kết quả của nghiên cứu định cư góp phần không nhỏ đế xem
xét lại các chính sách phát triển một cách bền vững về lãnh thổ, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, tận dụng tối đa nguồn lực địa phương,kế thừa kinh nghiệm bản địa và áp dụng những tiến bộ công nghệ mới trong ứng phó biến đổi khí hậu, xây dựng đô thị - nông thôn nhằm phát triển
xã hội.
Từ kết quả đánh giá tiềm năng phát triển đi đôi với bảo tồn hệ sinh thái, môi trường sống, kết quả của khoa học định cư còn là đầu vào của Qui hoạch kinh tế-xã hội, Qui hoạch sử dụng đất, Qui hoạch xây dựng đô thị và nông thôn, hạ tầng kỹ thuật, xã hội… do định cư bền vững có tiếng nói chung trong tất cả nội dung của qui hoạch tích hợp ( vốn đang trống vắng ở VN) Lựa chọn tốt các mô hình định cư đô thị và nông thôn cũng chính là đặt ra các vấn đề chung nhất để xác định các định hướng về tổ chức cư trú, sản xuất, hoạt động kinh tế, dịch vụ…cho dân cư một cách bền vững
MỞ ĐẦU
Quá trình đô thị hóa tất yếu đang diễn ra mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu Các tiến bộ về khoa học kỹ thuật thúc đẩy đồng thời cả phát triển kinh tế và đô thị hóa Đô thị hóa góp phần không nhỏ để phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao mức sống người dân, đồng thời cũng kéo theo những biến đổi sâu sắc về xã hội và các mô hình cư trú của con người Trong nỗ lực tìm kiếm
sự cân bằng bền vững giữa phát triển phục vụ đời sống con người và đồng thời bảo vệ sự đa dạng của tự nhiên cũng như duy trì văn hóa cư trú đặc sắc của các đơn vị định cư (truyền thống), rất cần thiết nhìn nhận sự thay đổi, đánh giá cấu trúc và mối quan hệ tương hỗ giữa các
đơn vị định cư đó Đặc biệt bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu tác động trực tiếp đến môi
trường cư trú, mà VN là một trong số nước hứng chịu hậu quả nặng nề nhất, đang đẩy nhanh
nỗ lực tìm kiếm mô hình an cư bền vững trong phát triển đô thị và nông thôn ở VN hiện nay Bài tham luận này nhằm mục đích giới thiệu một phương pháp tiếp cận, đánh giá nội lực
và mức độ hấp dẫn của đơn vị định cư bằng Phương pháp mô hình hóa tương ứng với bối cảnh
Trang 22
và sức mang sinh thái, với các minh họa tại 07 địa điểm định cư truyền thống để đánh giá các mối quan hệ giữa đơn vị định cư (địa điểm nghiên cứu) với bối cảnh phát triển Bối cảnh chúng tôi lựa chọ là đô thị hóa và biến đổi khí hậu Tuy nhiên trong khuôn khổ của tham luận chúng tôi không thể phân tích sâu vào yếu tố biến đổi khí hậu (vốn đăng tải các kịch bản rất phong phú), mà chỉ đi sâu vào phương pháp xây dựng mô hình và các tương tác của nó với bối cảnh nêu trên
Nghiên cứu lựa chọn các mô hình định cư đô thị và nông thôn bền vững trong sự biến đổi sâu sắc về xã hội hiện nay chính là chìa khóa để thống nhất về phát triển lãnh thổ cấp quốc gia, vùng, miền, đô thị và nông thôn hiện nay Bởi chỉ có khoa học định cư mới có thể tiếp cận toàn diện mọi mặt tác động trực tiếp đến không gian cư trú của con người VN trên các
vùng địa lý, địa giới và xã hội Kết quả của nghiên cứu định cư góp phần không nhỏ đế xem
xét lại các chính sách phát triển một cách bền vững về lãnh thổ, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, tận dụng tối đa nguồn lực địa phương,kế thừa kinh nghiệm bản địa và áp dụng những tiến bộ công nghệ mới trong ứng phó biến đổi khí hậu, xây dựng đô thị - nông thôn nhằm phát triển
xã hội.
Từ kết quả đánh giá tiềm năng phát triển của khoa học định cư, các Qui hoạch kinh
tế-xã hội, sử dụng đất, xây dựng đô thị và nông thôn, hạ tầng kỹ thuật… mới có thể có tiếng nói chung trong nội dung qui hoạch tích hợp (vốn đang trống vắng ở VN), bởi có chung các định hướng về tổ chức cư trú, sản xuất, sinh hoạt bền vững
1 XÂY DỰNG QUAN ĐIỂM về định cư khoa học là việc làm cấp thiết trong đô thị hóa và
biến đổi khí hậu hiện nay ở VN
Tổ chức lại các mô hình định cư đô thị và nông thôn VN trong điều kiện đô thị hóa và biến đổi khí hậu trước hết là vì con người bản địa:
Quan điểm 1 - Định cư là một quá trình tổ chức sống của con người đã thích ứng với các
điều kiện địa lý, khí hậu, tài nguyên và thổ nhưỡng trải qua hàng trăm, hàng nghìn năm Đến nay, cùng với công cuộc phát triển kinh tế mạnh mẽ của đất nước, tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây mất ổn định cư trú và các điều kiện sống của con người VN ở mọi vùng địa lý Tuy xu thế phát triển tăng trưởng kinh tế là không thể đảo ngược, nhưng không nên coi tốc độ tăng
trưởng là mục tiêu duy nhất Nếu tăng trưởng kinh tế mà chưa nâng cao được chất lượng
sống của số đông cư dân tại chỗ thì sự tăng trưởng đó sẽ không còn đầy đủ ý nghĩa
Quan điểm 2 – Trước khi có đề tài này, tổ chức không gian sống tại các đô thị và nông thôn
VN thường chia nhiều thành phần riêng biệt và được can thiệp bằng các công cụ đơn năng: Qui hoạch kinh tế - xã hội do Bộ Kế hoạch & Đầu tư quản lý chuyên hoạch định phát triển kinh tế xã hội, Qui hoạch sử dụng đất do Bộ Tài nguyên & Môi trường quản lý chuyên hoạch định sử dụng đất, Qui hoạch xây dựng đô thị và nông thôn do Bộ Xây dựng quản lý chuyên hoạch định chức năng các khu dân cư, ngoài ra các qui hoạch hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, nông nghiệp, công nghiệp, thủy lợi, du lịch, các ngành nghề…lại nằm ở hàng chục đầu mối một cách phân tán Năm 2014, Bộ KH & ĐT tổng kết có gần 22.000 qui hoạch với kinh phí lên 8 000 tỷ đồng và nợ nước ngoài do thuê làm qui hoạch lên đến 3 tỷ đô la Đáng tiếc những con số này lại không thúc đẩy nền kinh té và thống nhất trong quản lý Nhà nước, trái lại nó gây lãn lộn, chồng lấn qui hoạch làm ảnh hưởng lớn tới phát triển kinh tế - xã hội
Chính vì vậy, chúng ta cần nghiên cứu sâu theo hướng định cư bền vững để:
1, Đổi mới nhận thức của các Cơ quan quản lý Nhà nước về đô thị hoá đang là yếu tố tác
động trực tiếp lên toàn bộ không gian cư trú tại VN, để từ đó hoạch định đường lối chính sách, chiến lược và quy hoạch định cư đô thị và nông thôn một cách khoa học và bền vững cho dân cư
Trang 33
2, Lựa chọn được các mô hình cư trú tiêu biểu cho đô thị và nông thôn, phù hợp với Việt
Nam trong giai đoạn hiện đại hoá và biến đổi khí hậu thông qua Phương pháp mô hình hóa và Đánh giá tiềm năng phát triển chúng ở VN
3, Áp dụng các nghiên cứu ứng dụng mô hình cho 07 địa điểm và chuyển giao cho các địa
phương như: Hà nội, Hải phòng, Bắc giang, Hội an và Thừa thiên-Huế nhằm phục vụ cho công tác hoạch định chính sách, qui hoạch và phát triển đô thị, nông thôn mới
2 CÁC YẾU TỐ MỚI CỦA ĐỊNH CƯ CON NGƯỜI HIỆN NAY:
Sự thay đổi các mô hình định cư
Thế kỷ 20 chứng kiến sự biến chuyển mạnh mẽ của các vùng đô thị và nông thôn, với sự biến đổi về mặt căn bản cả về quy mô lẫn cấu trúc các khu vực định cư đó Nhiều khu vực nông thôn rộng lớn đã được cải tạo thành các vùng đô thị Ngược lại, nhiều khu vực nông thôn khác
có các biểu hiện suy tàn nghiêm trọng mặc dù các khu vực ven đô thị - nông thôn lại phát triển mở rộng
Hiện tượng đô thị hóa và biến đổi khí hậu thúc đẩy các dòng dịch cư cả trên phạm vi rộng nông thôn - đô thị lẫn phạm vi hẹp vùng ven - nội đô, đô thị - đô thị vệ tinh Một trong những nguyên nhân căn bản là sự phân bố các nguồn lực đầu tư cho khu vực nông thôn không tương xứng với vai trò và sự đóng góp của nó trong quá trình phát triển chung của cả đô thị Các làng xã vùng ven được xem là những khu vực không mang lại nguồn lợi trực tiếp cho các nhà đầu tư, mà chỉ được đánh giá như nguồn cung cấp nhân công lao động giá rẻ cho khu công nghiệp, lao động dịch vụ cho đô thị, là nơi ở của các lao động phi chính quy,hay nơi làm ra các sản phẩm nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Mặc dù hiện tượng dịch cư đó mang tính hai chiều (nông thôn – đô thị, đô thị - nông thôn) nhưng sự phân bố không đồng đều của quá trình dịch cư đã để lại những hệ quả mà khu vực nông thôn thường chịu tác động trực tiếp và rõ nét hơn
Sự suy tàn các khu vực nông thôn
Quá trình dịch cư từ nông thôn vào thành thị đã để lại phía sau những làng mạc hoang tàn với tình trạng mất cân bằng về dân số hoặc tệ hơn là không có dân cư Người ở độ tuổi lao động rời bỏ quê hương tìm kiếm cơ hội phát triển đã khiến nhiều ngôi làng chỉ còn lại người già với những dịch vụ hạn chế Xuất hiện nhiều hộ gia đình nghèo sinh sống lay lắt và bị cô lập, chủ yếu tự cung tự cấp Một số ngôi làng đã trở thành hoang vắng do không còn dân cư và được một số nhà nghiên cứu gọi chung là hiện tượng “làng ma”
Người giàu và những ngôi “làng ngủ”
Những ngôi nhà ở nông thôn, đặc biệt ở các làng vùng ven đô thị, được mua lại nhằm mục đích đầu cơ hoặc sử dụng như chỗ ở phụ vào các dịp nghỉ lễ Người dân bản xứ bán đi một phần đất
ở để nâng cao thu nhập khi giá đất tăng là con đường tất yếu để họ cải thiện thu nhập và đời sống Sự chia nhỏ đất đai và xuất hiện các thành phần dân cư giàu có không phải hoàn toàn có lợi trên cả khía cạnh xã hội, văn hóa và tổ chức không gian sống Những ngôi làng ngủ kiểu này thường có rất ít hoạt động vào ban ngày nhưng lại quá tải vào cuối tuần và dịp lễ Xuất hiện tình trạng tắc đường do các gia đình có ô tô chuyển đến ở trong khi hạ tầng giao thông còn kém phát triển Mâu thuẫn giữa dân làng và người mới chuyển đến ở nảy sinh do khác biệt cách sống và chênh lệch giàu nghèo
Thay đổi hình thái kiến trúc
Sự phân nhỏ các lô đất dẫn đến tính đa dạng trong kiến trúc làng xã Mong muốn một hình thái kiến trúc thống nhất trong làng xã là không tưởng bởi tính đa dạng của nhu cầu do các đối tượng
ở quá khác nhau: người dân bản xứ, người có thu nhập cao nhập cư vào làng, cán bộ, công
Trang 44
nhân, sinh viên thuê trọ Trong những lô đất chia nhỏ, xuất hiện sự đa dạng và hỗn tạp về hình thái kiến trúc Phương thức tự xây vẫn buộc còn tồn tại và việc kiểm soát xây dựng, trật tự nghiêm túc dường như bất khả thi
Công nghiệp hóa nông thôn đang đặt ra
Phát triển nghề thủ công ở làng xã luôn đi liền với các nguy cơ giảm chất lượng môi trường sống do ô nhiễm Làng nghề truyền thống thường không chạy theo số lượng sản xuất với quy
mô lớn như làng nghề hiện nay Thiên về số lượng và cạnh tranh trên một phương thức sản xuất
cổ truyền, ít quan tâm đến môi trường tạo ra các nguy cơ ô nhiễm khó tránh khỏi Còn nếu đã không có ô nhiễm tức là phải phá bỏ phương thức sản xuất truyền thống và chuyển sang khu công nghiệp tập trung
Các mối quan hệ cộng cư đang thay đổi
Các quan hệ cộng cư truyền thống dựa vào sản xuất mang tính tự cấp, tự túc, cấu trúc mỗi đơn
vị định cư thường khép kín hướng nội Quan hệ giữa các đơn vị định cư với nhau trước hết nhằm mục đích phòng thủ, sau đó mới vì kinh tế Vì vậy, một trong những tiêu chí tiên quyết khi lựa chọn vị trí định cư là địa hình và tài nguyên
Đối với một số đơn vị định cư không có đất làm nông nghiệp mà tập trung phát triển sản xuất tiểu thủ công nghiệp, địa điểm định cư thường được lựa chọn gần các tuyến giao thông để thuận tiện giao thương và trao đổi hàng hóa
Toàn cầu hóa và các mối quan hệ cộng cư mới
Quá trình toàn cấu hóa kéo theo các quan hệ cộng cư mới Các tiến bộ về khoa học kỹ thuật – đặc biệt về viễn thông và vận tải - cho phép con người xóa nhòa biên giới không gian và thời gian Toàn cầu hóa cũng tạo ra khuynh hướng phân công lao động nhằm tăng hiệu quả sản xuất
và nâng cao chất lượng sản phẩm Do đó, các mối quan hệ cộng cư trong thời kỳ này cũng phức tạp và đa chiều hơn Các đơn vị định cư lệ thuộc vào nhau nhiều hơn, sự tồn tại và phát triển của mỗi đơn vị định cư thậm chí bị quyết định bởi sự tồn tại và hỗ trợ của các đơn vị định cư khác,
ở gần hoặc không ở gần
Các thành phố là biểu hiện rõ nhất của các tiến bộ do toàn cầu hóa tác động nên Sự phân công lao động khiến các thành phố trở thành trung tâm dịch vụ và hạt nhân sáng tạo cho toàn khu vực Mọi hoạt động nông nghiệp và sản xuất bị đẩy lùi ra xa Chưa bao giờ thành phố lại lệ thuộc vào nông thôn nhiều đến thế Khu vực nông thôn trở thành nơi cung cấp lương thực cho cái đầu sáng tạo của khu vực là thành phố Lao động nông thôn di cư vào thành thị cung cấp các dịch vụ cấp thấp nhưng thiết yếu góp phần làm quay bộ máy khổng lồ là thành phố Ngược lại, khu vực nông thôn lệ thuộc vào thành phố như là nơi cung cấp những tiện nghi và dịch vụ có giá trị cao hơn Do đó, thành phố sẽ ngừng hoạt động nếu bị tách rời khỏi mối quan hệ với khu vực phụ cận, và nông thôn sẽ tồn tại yếu ớt nếu không dựa được vào một trung tâm dịch vụ và sáng tạo như thành phố
3 CÁC MÔ HÌNH ĐỊNH CƯ CƠ BẢN VÀ CÁC KIỂU LIÊN KẾT ĐỊNH CƯ
Tham luận này tìm cách xác định các đơn vị định cư trong một mối quan hệ phức tạp, chi phối lẫn nhau Có những đơn vị định cư có nội lực mạnh mẽ và chi phối các đơn vị định cư khác Có một số lại có nội lực kém hơn hoặc còn rất hạn chế, mà sự tồn tại và phát triển của chúng bị lệ thuộc bởi sự chi phối từ các đơn vị định cư lân cận
Trang 55
Để khôi phục và phát triển các đơn vị định cư, cần làm rõ được hai vấn đề: thứ nhất là nội lực của khu vực định cư đó, và thứ hai là xác định được các mối quan hệ tương hỗ/ phụ thuộc của
nó với các khu vực định cư lân cận Do đó, cần xây dựng được mô hình xác định các mối quan
hệ và kiểu liên kếtcủa các đơn vị định cư để làm cơ sở và định hướng cho các đề xuất khôi phục
và phát triển
3.1 Xác định đơn vị định cư cơ bản
Căn cứ vào 6 thành tố cơ bản1giúp hình thành khu vực định cư chủ yếu của con người (được trình bày trong chuyên đề của Trần Trung Chính) chúng ta sẽ có các tiêu chí/ yếu tố để hình thành đơn vị định cư rời rạc, định lượng giá trị mỗi yếu tố,lấy đó làm cơ sở xác định mức độ hấp dẫn/ nội lực của mỗi đơn vị định cư Mỗi đơn vị định cư rời rạc là một làng, xóm, hoặc một thị trấn, thành phố
Sáu tiêu chí hình thành khu vực định cư chủ yếu của con người bao gồm: 1- Tài nguyên thiên nhiên, 2- Tổ chức sinh kế, 3- Tổ chức sống, 4- Tổ chức cư trú, 5- Tổ chức cộng sinh, 6- Tổ chức phòng thủ, tự vệ Đối với mỗi tiêu chí cụ thể, các tiêu chí nhỏ hơn có thể trùng lặp hoặc liên quan tới nhau, được thể hiện trong sơ đồ hình 1:
Hình 1: Các tiêu chí hình thành khu vực định cư chủ yếu của con người
1
Đề tài Nhà nước: Mô hình định cư đô thị và nông thôn
Trang 66
Bằng phương pháp đánh giá định lượng mỗi tiêu chí, có thể thấy rằng mỗi tiêu chí có thể bị thừa hoặc thiếu trong việc đáp ứng nhu cầu của con người sống trong đơn vị định cư Một đơn vị định cư được coi là độc lập và tồn tại không bị lệ thuộc vào các đơn vị định cư khác khi giá trị định lượng của tất cả các tiêu chí bằng 1 Ví dụ: đủ tài nguyên thiên nhiên so với sự phát triển dân số, tổ chức sinh kế và khai thác tài nguyên bền vững, tổ chức sống khoa học và phân chia sản phẩm công bằng, có môi trường cư trú phù hợp cho tất cả mọi người, có đầy đủ sự cộng sinh cần thiết đối với các đơn vị định cư tương tự lân cận, có khả năng chống chịu thiên tai và tự phục hồi nhanh sau thảm họa
Một đơn vị định cư được coi là lệ thuộc vào đơn vị định cư khác khi một trong sáu yếu tố bị thiếu hụt so với nhu cầu của quy mô dân số Ví dụ: thiếu tài nguyên thiên nhiên nên phải nhập khẩu tài nguyên, khả năng khai thác tài nguyên kém nên phải nhập khẩu lao động và công cụ, các mối quan hệ xã hội không cân bằng dẫn đến chịu sự chi phối từ bên ngoài, các công trình hạ tầng thiếu nên cư dân phải di chuyển để sử dụng ở các đơn vị định cư khác, không cộng sinh tốt với các đơn vị định cư lân cận do khoảng cách quá xa và giao thông không thuận lợi, hoặc không có khả năng thích ứng tốt với thiên tai nên thường xuyên chịu tổn thất
Theo đó, mô hình diễn giải cấu trúc cơ bản của đơn vị định cư gồm 6 phân nhánh tương ứng với
6 yếu tố Giá trịnh định lượng cho mỗi phân nhánh được xác định từ 0 (không có) đến 1 (vừa đủ), và lớn hơn 1 (dư thừa) đến 2 (dư thừa nhiều hơn nhiều lần so với nhu cầu tại chỗ)
Hình 2:Cấu trúc cơ bản của đơn vị định cư
Hình 3: Ví dụ về xác định mức độ bền vững – nội lực củađơn vị định cư
Trang 77
Hình 3(a) cho thấy ví dụ về mô hình một đơn vị định cư phụ thuộc với nội lực ít ỏi do hầu hết các nguồn lực đều không đáp ứng được so với nhu cầu của quy mô dân số Mặc dù đơn vị định
cư này có đầy đủ tài nguyên thiên nhiên nhưng lại yếu kém về tổ chức khai thác, tổ chức sinh sống, môi trường cư trú không đảm bảo, cộng sinh kém với khu vực lân cận và không đủ khả năng chống chọi thiên tai hay kẻ thù Mô hình định cư này thường thấy ở các khu vực nông thôn, như các thôn bản hẻo lánh hoặc các ngôi làng có sự sụt giảm rõ rệt về dân số
Hình 3(b) là ví dụ về một đơn vị định cư có nội lực trung bình Mặc dù có tài nguyên thiên nhiên và tổ chức sinh kế tốt, dạng đơn vị định cư này lại thiếu hụt phương thức tổ chức sống, môi trường cư trú tốt, điều kiện cộng sinh trong khu vực lân cận và khả năng phòng thủ tự vệ Hình 3(c) cho thấy một đơn vị định cư có mức độ bền vững cao hơn do có sự vượt trội về các yếu tố định cư do con người quyết định Mặc dù thiếu tài nguyên thiên nhiên, nhưng do có khả năng tự tổ chức và cộng sinh tốt với các đơn vị định cư khác, dạng đơn vị định cư này vẫn có thể tồn tại và phát triển, thậm chí là điểm dựa của các đơn vị định cư lân cận Dạng đơn vị định
cư này thường đại diện cho các thành phố, thị xã, thị trấn
- Quan hệ tương hỗ giữa các đơn vị định cư
Mức độ hấp dẫn của mỗi đơn vị sẽ quyết định mức độ ảnh hưởng của đơn vị đó đến các đơn vị lân cận Một đơn vị có sức hấp dẫn lớn có thể trở thành một trung tâm thu hút các đơn vị khác Hoặc một đơn vị có sức hấp dẫn yếu hơn sẽ trở thành đơn vị phụ thuộc và sự tồn tại của nó bị chi phối bởi ảnh hưởng mạnh hay yếu từ các đơn vị lân cận
Một thành phố thường được coi là một đơn vị định cư có nội lực mạnh mẽ, tuy nhiên sự tồn tại của nó phụ thuộc nhiều vào nguồn cung cấplương thực, dịch vụ từ các đơn vị định cư yếu hơn lân cận Ngược lại, cư dân ở một làng ven đô thị buộc phải dựa vào những sản phẩm dịch vụ được cung cấp bởi thành phố (ví dụ: ngân hàng, thông tin, thậm chí bệnh viện, trường học ) Tham luận này xác định mối quan hệ tương hỗ giữa các đơn vị định cư trong phạm vi “vùng lân cận”2 Trong thực tế, một đơn vị định cư có thể có mối quan hệ rất rộng với các đơn vị định cư khác ở rất xa nó Ví dụ: đối với một làng nghề gốm, chất đốt có thể được cung cấp bởi một làng khác cách đó rất xa, hoặc sản phẩm gốm có thể được phân phối chủ yếu ra ngoài nước Khái niệm “vùng lân cận” có thể không quá bị lệ thuộc vào lãnh thổ địa lý, tuy nhiên trong phạm vi tham luận, “vùng lân cận” được xác định không quá lớn nhằm giảm thiểu những mối quan hệ không trực tiếp và quá phức tạp
- Xây dựng mô hình rời rạc
Lợi thế của mô hình rời rạc là nó có thể tái hiện lại những đặc điểm của các đơn vị theo nhiều lớp khác nhau, sau đó mới xét đến tính quan hệ của mỗi đơn vị.Mô hình rời rạc trong nghiên cứu định cư chỉ thể hiện mô hình phổ quát mà không thể hiện quy mô (địa giới hành chính) của các đơn vị định cư Mối quan hệ của các đơn vị định cư trong mô hình rời rạc là quan hệ được xác lập trước hết dựa trên tuyến giao thông thuận tiện nhất, sau đó là các mối quan hệ về mặt kinh tế - xã hội
Bài tham luận này xây dựng các dạng mô hình quan hệ dựa trên một mô hình rời rạc duy nhất Trong mô hình đó, nội lực của các đơn vị định cư là yếu tố quan trọng quyết định mối quan hệ giữa chúng
2
Vùng lân cận (neighborhood) là khu vực mà trong đó đơn vị định cư nghiên cứu có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp không quá 3 lần với các đơn vị định cư khác
Trang 88
Hình 4: Quan hệ giữa các đơn vị trong mô hình rời rạc
3.2 Xây dựng mô hình quan hệ các đơn vị định cư
Mối quan hệ giữa các đơn vị định cư rất phức tạp và đa chiều Sự tồn tại của các đơn vị định cư ngày càng mang tính cộng sinh mà sự tồn tại và phát triển của đơn vị này phụ thuộc vào sự tồn tại và bổ trợ của đơn vị khác
Lý thuyết về quan hệ giữa các đơn vị định cư (đô thị - đô thị, đô thị - nông thôn, nông thôn – nông thôn) rất rộng và thậm chí nhiều chỗ lý giải mâu thuẫn, mơ hồ Hagget và Chorley 3 xây dựng mô hình quan hệ giữa các đơn vị định cư về mặt không gian, đặc biệt dựa trên cấu trúc kết nối về giao thông và hệ thống thoát nước thải Đến cuối thế kỷ 20, Wassermann và Fraust4 đã
bổ sung vào hệ thống lý thuyết này các mối quan hệ xã hội giữa các đơn vị định cư và diễn giải chúng dưới dạng sơ đồ cấu trúc Sau đó, O’Sullivan (2001) đã tìm cách định lượng hóa cấu trúc quan hệ giữa các đơn vị định cư bằng phương pháp đo lường và diễn giải toán học Theo đó, 3 nhóm chính của cấu trúc quan hệ bao gồm: cấu trúc trung tâm, cấu trúc liên kết tiểu nhóm, và cấu trúctương đồng
Dựa trên hệ thống lý thuyết đó và các nghiên cứu thực nghiệm, tham luận nàyđề xuất 4 mô hình
cơ bản của quan hệ giữa các đơn vị định cư là: 1- Mô hình đơn vị trung tâm, 2- Mô hình liên kết tiểu nhóm, 3- Mô hình đơn vị phụ thuộc, 4- Mô hình hỗn hợp
1- Mô hình đơn vị định cư là trung tâm tạo cực hút kinh tế:
Mô hình đơn vị trung tâm dựa trên cấu trúc tầng bậc của các đơn vị định cư Một đơn vị định cư trở thành đơn vị trung tâm có sức chi phối các đơn vị định cư khác khi nội lực của đơn vị định
cư đó nổi trội trong vùng lân cận.Đơn vị định cư đó đóng vai trò là cực hút kinh tế - xã hội, có khả năng chia sẻ nội lực cho các đơn vị định cư lân cận
Một mô hình rời rạc được xác định trở thành mô hình trung tâm khi hội tụ được các yếu tố như
độ tập trung, khoảng cách, thông tin, và sự khác biệt về tầng bậc
3 Haggett, P & Chorley, R J (1969), Network Analysis in Geography, Edward Arnold Ltd, London
4 Wassermann, S & Faust, K (1994), Social Network Analysis: Methods and Applications, Cambridge University Press, Cambridge, England
Trang 99
Hình 5: Mô hình đơn vị trung tâm Hình 5(a): Đơn vị định cư trung tâm có các phần nội lực dư
thừa (phần đậm hơn) so với nhu cầu dân số Hình 5(b): Quan hệ chi phối và hấp dẫn của đơn vị
trung tâm đối với các đơn vị định cư khác trong vùng lân cận
- Mức độ tập trung:
Freeman (1977, 1979), Freeman, Borgatti & White (1991), Nieminen (1974) and Wassermann
& Faust (1994) cho rằng xu hướng xác định đơn vị trung tâm là dựa vào số lượng mối quan hệ của nó với các đơn vị khác Một đơn vị trung tâm thường được bao bọc bởi nhiều đơn vị lân cận Ví dụ một đô thị nằm ở điểm giao của nhiều tuyến giao thông, hoặc những công trình nổi bật trong một mô hình mô tả mối quan hệ thị giác trong đô thị
- Khoảng cách hay tính liền kề
Xác định mức độ tập trung của một đơn vị dựa vào các tính toán về khoảng cách và khả năng tiếp cận là một phương pháp hiệu quả Điều này được chứng minh vớinhững áp dụng của Lee (1998) trong tính toán mô hình quy hoạch giao thông
Phương pháp tiếp cận Ngôn ngữ không gian5của Hình thái học đô thị cũng đưa các sơ đồ không gian đơn giản hơn để mô tả mối quan hệ giữa khoảng cách và mức độ tập trung hoạt động Theo
đó, đơn vị nào ở gần nhiều đơn vị khác hơn có xu hướng dễ trở thành trung tâm hơn
- Vị trí ‘ở giữa’
Một đơn vị có vị trí “ở giữa” các đơn vị khác thường có khả năng kiểm soát các luồng thông tin trao đổi giữa các đơn vị đó Freeman (1977) cho rằng vị trí “ở giữa” tự thân nó đã giúp một đơn
vị có tính trung tâm Đặc biệt trong trường hợp quan hệ kinh tế - xã hội của các đơn vị định cư, một đơn vị định cư có vị trí “ở giữa” thường có tiềm năng trở thành điểm trung chuyển hàng hóa, thông tin; thậm chí có khả năng chi phối, kiểm soát luồng trao đổi hàng hóa, thông tin của các đơn vị định cư khác
- Tính tập trung thông tin
Stephenson và Zelen (1989) đã chỉ ra yếu điểm của vị trí “ở giữa” rằng luồng thông tin có thể được chuyển tải thông qua con đường khác dài hơn6 Tính chất trung tâm do đó cần được tính toán là tổng của lượng thông tin đi qua một đơn vị mà đơn vị đó có thể chi phối Stephenson
5
Các sơ đồ về ngôn ngữ không gian (Space Syntax) được Hillier xây dựng trong các cuốn The Social Logic of
Space (1984), Natural Movement: Configuration and Attraction in Urban Pedestrian Movement (1993), và Space is the Machine (1996)
6
Đặc biệt là trong các nghiên cứu xây dựng mô hình về các con đường truyền nhiễm bệnh tật
Trang 10cũng chỉ ra rằng lượng thông tin chuyển tải tỷ lệ nghịch với chiều dài của đường nối Điều này dẫn đến cách tính dựa trên 3 tính chất đã nêu ở trên
- Trường hợp làng Bát Tràng
Hình 6: Mô hình định cư khu vực làng Bát Tràng
Nghiên cứu thí điểm tại làng Bát Tràng7 cho thấy Bát Tràng là đơn vị định cư nổi trội nhất, chi phối các mối quan hệ kinh tế - xã hội của các đơn vị định cư khác trong vùng lân cận của nó8 Mặc dù Bát Tràng không có các nguyên liệu cần thiết để sản xuất gốm (thiếu tài nguyên thiên nhiên), làng vẫn phát triển mạnh mẽ nhờ cộng sinh tốt với các làng có nguồn nguyên liệu Nghề gốm Bát Tràng (tổ chức sinh kế) đã phát triển lan sang các làng khác – những làng vốn không
có nghề truyền thống hoặc nghề truyền thống bị mai một hoặc không sinh nhiều lợi nhuận Bên cạnh đó, du lịch Bát Tràng cũng thu hút một lượng lớn lao động (thu hút nguồn lực) từ các khu vực lân cận tham gia cung cấp dịch vụ
- Trường hợp Thổ Hà
Hình 7: Mô hình định cư khu vực làng Thổ Hà
2- Mô hình liên kết cộng sinh
7
Làng Bát Tràng nằm ở phía đông Hà Nội, gần quốc lộ 1A đoạn qua cầu Thanh Trì.Cách cầu Thanh Trì 3km, cách trung tâm HN 10km Nghề gốm Bát Tràng được các nghệ nhân phát triển cả về chiều rộng và chiều sâu, nhanh chóng trở thành một nghề mang lại nhiều lợi nhuận
8
Xem chuyên đề: Nghiên cứu thực nghiệm bảo tồn và thích nghi mô hình định cư nông thôn tại làng Bát Tràng