Trong 10 năm vừa qua, thực hiện chủ trương chuyển đổi từ nền lâm nghiệp Nhà nước tập trung cao độ sang nền lâm nghiệp xã hội, chính phủ đã giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp chưa có rừng
Trang 1Bài 16 Mười năm phát triển lâm nghiệp miền núi
Hội KHKT Lâm nghiệp Việt Nam
Giới thiệu
Giai đoạn 10 năm vừa qua là giai đoạn lịch sử của đất nước Việt Nam nói chung và đối với các tỉnh miền núi nói riêng, đó là giai đoạn đổi mới của đất nước Tình hình chính trị, kinh tế, xã hội và đời sống của nhân dân có những thay đổi về chất trong đó có sự phát triển về nghề rừng
ở Việt Nam, do kiến tạo địa hịnh, nên đã hình thành vùng núi cao núi thấp và đồi gò, vùng
đồng bằng, vùng hải đảo Ngay trong một tỉnh, nhiều khi có cả huyện, hoặc xã thuộc vùng núi, nơi còn lại thuộc vùng đồng bằng, từ đó chính phủ có các chính sách đặc biệt để khuyến khích sự phát triển của các tỉnh, huyện, xã thuộc vùng núi, vùng cao, hải đảo Vì vậy, nói đến rừng, nghề rừng là nói đến miền núi với 24 triệu đồng bào các dân tộc anh em đang còn phát triển chậm hơn các vùng khác
Rừng và nghề rừng nước ta cũng đang hình thành trên mọi vùng lãnh thổ, và trong sự phát triển, tiến hoá, đã tạo ra các khu đô thị, khu công nghiệp, vùng đồng bằng nông nghiệp tập trung hoặc xen kẽ, vùng biển và mặt nước, và cuối cùng là vùng núi (cao, thấp, đồi, gò) ở đây tạo ra các khu rừng tập trung, hoặc đã mất rừng, còn lại cây bụi, thảm cỏ hoặc đất trống trọc, điều
đó không chỉ phản ánh thực trạng diễn biến tài nguyên rừng mà còn phản ánh hiệu quả của sự quản lý lãnh đạo cũng như các chính sách đã được áp dụng
Trong khoảng 10 năm đổi mới 1990 - 2000, tình hình rừng, nghề rừng, đời sống, dân trí của đồng bào các dân tộc sống trong vùng rừng núi có nhiều biến đổi tốt lên, song cũng có vùng tiếp tục mất rừng, suy thoái môi trường, mức sống ngày càng thấp so với mức đô thị hoá như Tây Nguyên, đòi hỏi phải có các giải pháp chung cũng như các giải pháp đặc thù phù hợp với từng vùng và từng lúc
I Tài nguyên rừng
Theo kết quả tổng kiểm kê rừng toàn quốc năm 1999, công bố năm 2000 thì trừ 71.000
ha rừng ngập mặn và phèn (chiếm 0,6%) còn lại được phân bố tại rừng núi, vì vậy rừng gắn chặt chẽ với miền núi, với đồng bào các dân tộc Rừng vừa là môi trường sống, vừa là tài nguyên, vừa tạo ra công ăn việc làm, và sự thay đổi về diện tích chất lượng rừng ảnh hưởng trực tiếp ngay tới
sự phát triển của miền núi và của cả đất nước
Năm 1990 là năm có diện tích rừng thấp nhất trong cả nước 9,175 triệu ha, độ che phủ 27,8%, năm 2000 sau khi kết thúc chương trình 327 và 2 năm dự án trồng 5 triệu ha rừng, diện tích đã tăng lên 10,915 triệu ha, độ che phủ 33,2% trong đó phần tăng lên là rừng trồng còn non
và diện tích tự nhiên non mới khoanh nuôi phục hồi từ tái sinh tự nhiên
Trang 2Bảng 1 cho thấy sự diễn biến diện tích rừng ở nước ta suốt từ ngày có con số thống kê công
bố (1943) đến nay, có so sánh với các nước ASEAN, và toàn thế giới
Bảng II.16.1 Diễn biến diện tích rừng ở Việt Nam
phủ, %
Ha/ đầu người
Ghi chú
1943 14.300 0 14.300 43,0 0,70
Việt Nam
(Viện
ĐTQHR)
1976 11.077 92 11.169 33,8 0,22
1980 10.186 422 10.608 32,1 0,19
1985 9.038 584 9.892 30,0 0,16
1990 8.430 745 9.175 27,8 0,14
1995 8.252 1.050 9.302 28,2 0,12
2000 9.444 1.471 10.915 33,2 0,14
1995 193.915 8.714 202.629 46,6 0,42 ASEAN
1995 3.454.382 26,6 0,60 Thế giới
Theo tài liệu: State of the World's Forests, FAO, Rome Italia 1999
Diễn biến của diện tích rừng 10 năm qua theo các chiều hướng sau đây:
+ Diện tích rừng tự nhiên tăng từ 8,43 lên 9,44 triệu ha (tăng 11%)
+ Diện tích rừng trồng tăng từ 0,745 lên 1,47 triệu ha (tăng 49%)
+ ở các vùng, sự tăng giảm lại khác nhau:
- Vùng Tây Bắc rừng tăng 84%
- Vùng Đông Bắc Bộ tăng 57%
- Vùng Bắc Trung Bộ tăng 29%
- Vùng Duyên Hải Trung Bộ không tăng không giảm
- Vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long giảm 20%
- Vùng Đông Nam Bộ giảm 16%
- Vùng Tây Nguyên giảm 15%
Tuy diện tích rừng có tăng nhưng chất lượng rừng lại vẵn tiếp tục giảm, rừng tự nhiên ngày
càng nghèo kiệt, tổng trữ lượng gỗ năm 2000 còn 751 triệu m3, nếu chỉ tính 2 loại rừng (phòng hộ
và sản xuất) thì tổng trữ lượng đã lại giảm từ 657 triệu m3 xuống 584 triệu m3 (giảm 11%) Đặc
biệt là các loài gỗ quý, gỗ cứng bị chặt quá nhiều, cũng giống như chim thú bị săn bắt đến cạn
kiệt, nhiều loài 10 năm trước đến nay như voi, hổ, báo trở thành hiếm, mà hàng trăm loài động
vật, thực vật đã được đưa vào diện các mức độ nguy cơ tuyệt chủng trong sách đỏ Việt Nam
Trang 3Trong số diện tích 7.780 nghìn ha rừng gỗ tự nhiên theo trữ lượng thì:
rừng giàu gỗ còn 187 nghìn ha (2,4%)
rừng trung bình có 1.178 (15,1%)
rừng nghèo kiệt tới 3.580 (46,0%)
rừng non phục hồi 2.834 (36,5%)
Như vậy, tỷ lệ 2 loại rừng không thể khai thác gỗ được nữa là rừng nghèo kiệt và rừng non mới phục hồi đã chiếm tới trên 80%, nếu cứ tiếp tục khai thác gỗ ở các khu rừng này thì chắc chắn sẽ diễn lại cảnh mất rừng và tăng diện tích đất trống đồi núi trọc Chính vì vậy, để nuôi dưỡng ít nhất trong 10 năm 2 loại rừng này, Bộ NN & PTNT đã trình Chính phủ và thực thi đề án
"Đẩy mạnh trồng rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc, hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên", thực chất là hạn chế khai thác rừng tự nhiên đến mức tối đa theo một lộ trình có thể chấp nhận được như sau:
1990
1990 -
1995
1996 1997 1998 1999 2000 -
2010
Lượng chặt
(1000m3)
2.400 1.500 800 523 450 370 300
Để đảm bảo nhu cầu gỗ sử dụng trong nước và xuất khẩu đã sử dụng 2 giải pháp tình thế là:
- Nhập khẩu gỗ tròn (năm 1997: 252 nghìn m3, năm 1998: 345 nghìn m3, từ năm 1999: khoảng 400 nghìn m3)
- Tăng cường khai thác gỗ rừng trồng đã đến tuổi chặt từ 500 nghìn m3/ năm tới năm 2001
đã đáp ứng nhu cầu gỗ nguyên liệu làm giấy, làm dăm theo tiến độ tăng dần
Trong 10 năm vừa qua, thực hiện chủ trương chuyển đổi từ nền lâm nghiệp Nhà nước tập trung cao độ sang nền lâm nghiệp xã hội, chính phủ đã giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp chưa
có rừng một cách ổn định lâu dài trên 2 triệu ha cho các tổ chức và nông dân, trong đó có 1,4 triệu ha đã giao cho hộ gia đình để trồng rừng, cây ăn quả lâu năm, cây công nghiệp sở hữu tư nhân, hình thành các loại chủ rừng thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau
Nhiều trang trại rừng, vườn rừng được hình thành theo hình thức Nhà nước giao đất (không quá 30 ha/hộ), chủ trang trại có thể thuê thêm đất từ Nhà nước hoặc các hộ gia đình quanh vùng, tự đầu tư bằng vốn vay, vốn tự có, vốn liên doanh để lập trang trại rừng, trang trại nông lâm ngư nghiệp kết hợp Ông Nguyên ở Nghệ An có tới 1000 ha rừng; ông Thập ở Yên Bái
550 ha, ông Phát Ngân ở Đồng Nai có trên 100 ha rừng v.v
Hiện nay khả năng cung cấp nguyên liệu hàng năm của rừng trồng khoảng 2 triệu m3/năm,
5 năm sau sẽ tăng rất nhanh (5 - 6 triệu m3/năm) và khi hoàn thành dự án trồng 5 triệu ha rừng (2010) thì hàng năm cung cấp trên 10 triệu m3 Mặc dù hiện nay sản lượng gỗ cung cấp từ rừng
Trang 4trồng đang lớn hơn nhu cầu tiêu thụ khiến cho người trồng rừng gặp nhiều khó khăn do việc phát triển các nhà máy giấy, nhà máy ván nhân tạo chậm hơn tốc độ trồng rừng
Cuối cùng, rừng VN còn được chia theo 3 phạm trù chức năng:
Rừng phòng hộ 5,351 triệu ha
Rừng đặc dụng 1,524
Rừng sản xuất 4,040
Cộng 10,915 triệu ha
Bảng II.16.2 Diện tích rừng tại 8 vùng phân theo thành phần chủ rừng (1000 ha)
trường, C.ty
BQL rừng
PH
BQL rừng
ĐD
Liên doanh
Hộ + tập thể
T.niên quân
đội
Chưa giao
Cộng
Đông Bắc 370 72 192 0,1 930 15 789 2.369 Tây Bắc 18 38 36 487 2 383 963
Đồng bằng Bắc Bộ 16 10 25 28 2 4 84 Bắc Trung Bộ 692 79 266 0,5 406 39 654 2.136 Duyên hải Trung Bộ 435 87 36 5 110 38 429 1.139 Tây Nguyên 1.368 179 271 9 1 20 533 2.373
Đông Nam Bộ 587 526 254 12 78 115 1.581
Đồng Bằng Cửu Long 94 33 46 32 11 53 270 Toàn quốc 3.578 1.025 1.127 15 2.006 205 2.959 10.915
Phân tích sâu hơn số liệu bảng 2 cho thấy quyên sử dụng rừng tới năm 2000 đã có những thay đổi lớn so với 20 năm trước đây, khi mà Nhà nước quản lý 100% rừng Hiện nay rừng phòng
hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất do Nhà nước quản lý là 5,73 triệu ha chiếm 52%, các thành phần kinh tế khác (tư nhân, hộ gia đình, tập thể, tổ chức, liên doanh) đã chiếm tới 2,23 tiệu ha (20%), và khi 2,96 triệu ha rừng chưa giao quyền quản lý sử dụng sản xuất tiếp tục phân bổ cho các thành phần kinh tế nói trên và hình thành một cơ cấu lâm nghiệp xã hội phong phú, đa dạng hơn nữa
Tổng diện tích rừng trồng tới ngày 1/1/2000 là 1.471 nghìn ha nhằm mục tiêu kinh tế, phòng
hộ và phục hồi sinh thái nên đã được lựa chọn các loài cây khác nhau Tính từ diện tích lớn nhất hiện tại như sau:
Bạch đàn các loại 348 nghìn ha
Keo các loại 228
Thông các loại 218
Tràm 115
Đước 80
Trang 5Tre, trúc các loại 74
Các loài khác 408 (phi lao, bồ đề, mỡ, dầu, sao )
Cộng 1.471 nghìn ha, với tổng trữ lượng 30,6 triệu m3 gỗ
II Chức năng của rừng
Con người sử dụng rừng cho lợi ích của mình và con người cũng đã từng sinh ra từ rừng, tác
động vào rừng cho cuộc sống và phát triển, huỷ hoại rừng có ý thức và không có ý thức và chịu hậu quả trực tiếp hoặc gián tiếp của sự mất rừng, do đó bài học sử dụng rừng cần phải được rút ra
và điều chỉnh
II.1 Chức năng môi trường
Một là nơi tập trung bảo tồn tính đa dạng sinh học, các loài động vật thực vật cùng sống với con người và là vốn dự trữ lâu dài phục vụ cho lợi ích con người Do sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, gỗ cao su, sau khi thống nhất đất nước không sử dụng được kể cả làm củi vì khói nhiều, nhưng nay chế biến tốt, trở thành một trong những loại gỗ đắt nhất, một số loại thảo mộc hay
động vật thông thường trở thành nguyên liệu quí cho dược liệu, hương liệu Từ đó trên thế giới đã
ra đời Công ước quốc tế về đa dạng sinh học (CBD)
Việt Nam thuộc vùng nhiệt đới, giao tiếp của hệ sinh vật Trung Quốc - ấn Độ - Mã Lai Hệ
động vật, thực vật tự nhiên được đánh giá là một trong các nước phong phú trên thế giới do điều kiện đa dạng về địa hình, khí hậu, loại rừng Các nhà khoa học đã phát hiện 7.000 loại thực vật bậc cao trên 12.000 loài, dự đoán sẽ có 620 loài nấm, 820 loài tảo, 186 loài thực vật đặc hữu chỉ
có ở Việt Nam, 823 loài đặc hữu chỉ có ở Đông Dương Hệ động vật cũng rất phong phú, đa dạng với 273 loài có vú, 826 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài lưỡng cư, 2.600 loài cá Trong thập kỷ 90 thế giới phát hiện thêm 4 loài động vật thì ở Việt Nam đã chiếm 2 (con sao la, con mang lớn)
Để quản lý, bảo tồn tính đa dạng sinh học rừng nhiệt đới, Việt Nam đã thiết lập một hệ thống rừng đặc dụng gồm 13 vườn quốc gia, trên 50 khu bảo tồn thiên nhiên và khu rừng lịch sử văn hoá, do đó Việt Nam được coi là 1 trong các nước nghèo nhưng thực hiện tốt các Công ước quốc tế CBD, CITES, RAMSA
Hai là khả năng phòng hộ môi trường của rừng như phục hồi và cải tạo đất đai, điều tiết nguồn nước và hạn chế lũ lụt cũng như hạn hán, phòng chống gió bão, trượt đất, cải tạo khí hậu,
đặc biệt là vấn đề hấp thụ khí CO2 trong không khí Bản thân rừng cũng là 1 dạng môi trường sống như đất, nước, không khí, nhưng rừng lại có khả năng chi phối, cải thiện các môi trường khác
mà nó tiếp xúc như đất, nước, không khí vì vậy người ta gọi rừng là nhân tố chủ đạo, và bảo vệ rừng phát triển rừng là giải pháp bền vững nhất để cải thiện môi trường sống cho con người
Cũng theo tài liệu State of the world's forests của FAO, Rome 1999 thì tốc độ mất rừng
trên thế giới đã bắt đầu giảm dần, trong 5 năm vừa qua thế giới chỉ mất 56,345 triệu ha rừng các loại, trung bình mỗi năm mất 11,27 triệu ha Các vùng tăng diện tích rừng là: Châu Âu 4,1%, Bắc
Mỹ 2,6%, Nhật, úc và Newzealand 1,0%, các nước công nghiệp khác 2,7% Các vùng mất rừng
Trang 6là: các nước Châu á Thái Bình Dương: 6,4%, Châu Phi: 10,5%, Châu Mỹ Latin: 9,7%, các nước
đang phát triển khác: 9,1%, nhìn chung thế giới vẫn là mất rừng: 1,6%)
Người ta có thể tự nhận thấy nhiệt độ trung bình của không khí đã tăng gần 100C trong nửa cuối thế kỉ XX, mưa bão, lũ lụt hạn hán đã tăng và gây hậu quả rõ rệt Riêng các năm 1997,
1998 thế giới phải chứng kiến các trận bão, lụt, nước biển dâng cao (gọi là El-nino) Các đợt gió nắng khô hạn kéo dài (gọi là La-nina) chưa từng thấy trong vòng 100 năm nay Các nhà khí tượng
dự báo với tốc độ mất rừng như hiện nay, hiện tượng El-nino và La-nina sẽ tái diễn về tần số ngày càng mau hơn, về mức độ ngày càng mạnh hơn
Riêng Công ước khung về thay đổi khí hậu toàn cầu đã có 8 Hội nghị quốc tế, trong đó Hội nghị Kyoto 1997 là quan trọng nhất để các nước ký kết các biện pháp giảm thải khí gây ô nhiễm môi trường và 2 tác dụng đe doạ môi trường sống là:
- Tăng nhiệt độ Trái đất do tăng nồng độ CO2
- Phá vỡ tầng ozone do tăng các khí thải CFC, Carbur Hydro
Việc giảm thiểu khí thải CO2 để tránh thảm hoạ tăng nhiệt độ không khí, tăng thể tích nước
và tăng lượng băng tan vùng 2 cực trái đất được kiến nghị bằng 2 giải pháp:
Các nước công nghiệp giảm cường độ thải CO2, áp dụng công nghệ tiên tiến
Trồng rừng để điều hoá khí hậu và hấp thụ CO2
Tình hình thải khí CO2 theo đầu người rất khác nhau trên thế giới ở Mỹ là 19 tấn/ năm, các nước G7 từ 10 đến 14 tấn/năm, bình quân thế giới 4,2 tấn/năm, Việt Nam 0,29 tấn/năm Theo tính toán của chúng tôi, với 79 triệu dân Việt Nam sẽ thải 25 triệu tấn CO2/ năm, khi hoàn thành kế hoạch trồng 5 triệu ha rừng có lượng tăng trưởng trung bình 5 m3 gỗ/năm/ha, riêng 5 triệu ha rừng
có thể hấp thụ 27,5 triệu tấn CO2/năm, ấy là chưa kể các tác động môi trường khác
II.2 Chức năng cung cấp lâm sản
Nhu cầu lâm sản cũng như các nguyên vật liệu khác ngày càng cao để đáp ứng quá trình công nghiệp hoá đất nước đã được trình ở phần trên trong dự báo 13,5 triệu m3 gỗ năm 2010:
Gỗ đồ dùng ước: 2,0 triệu m3
Gỗ xây dựng: 1,5 triệu m3
Nguyên liệu giấy: 6,0 triệu m3
Ván nhân tạo: 3,0 triệu m3
Trụ mỏ: 0,5 triệu m3
Nhu cầu khác: 0,5 triệu m3
Trang 7Đối với gỗ chế tạo đồ dùng, hàng mộc, hàng thủ công mỹ nghệ dùng trong nước và xuất khẩu hiện nay đã có nhiều thành phần kinh tế tham gia cả về trồng rừng nguyên liệu, cả về chế biến, lưu thông như công ty, xí nghiệp, lâm trường quốc doanh, các xí nghiệp liên doanh, tổ chức tập thể HTX, thanh niên, trường học và đặc biệt là đông đảo các hộ gia đình, cá nhân, làng nghề truyền thống Ví dụ như 1 xã Đồng Kỵ (Bắc Ninh) đã sản xuất nhiều mặt hàng đồ mộc, đồ mỹ nghệ cho thị trường, nhưng cũng tiêu thụ tới hàng nghìn m3 gỗ tròn/năm trong đó nhiều loại gỗ quý hiếm cần phải bảo tồn, một phường ven thị xã Sơn Tây sản xuất rất nhiều kiểu đồ dùng song mây hợp thị hiếu, đã tiêu thụ hàng chục tấn nguyên liệu/năm
Các dân tộc thiểu số từ xa xưa vẫn được lấy gỗ làm nhà cửa Từ khi hiến pháp quy định rừng và đất rừng là sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý thì quyền lợi hợp lý truyền thống này đã trở thành hợp pháp Song ở mỗi nơi thường vẫn tôn trọng các luật lệ lâu đời này Ví dụ ở một số vùng lâm trường quản lý Rừng như Trạm Lập, Đắc Rong (Gia Lai), Hương Sơn (Hà Tĩnh), Con Cuông (Nghệ An) Người dân có nhu cầu làm nhà do nhà cũ đã hỏng, mới tách hộ nếu được thôn bản xác nhận thì vẫn được Lâm trường cấp đủ gỗ làm nhà theo định mức, hạt kiểm lâm giám sát khai thác gỗ Nơi không có Lâm trường thì UBND Huyện cấp phép và Kiểm lâm giám sát Đã nhiều nơi như Sơn La, Đắc Lắc, Thừa Thiên Huế, Nhà nước giao rừng cho hộ, nhóm hộ, thôn quản lý và được sử dụng theo quy ước Theo các quyết định về quyền hưởng lợi của người dân tham gia bảo vệ rừng, trồng rừng thì người dân được khai thác củi khô, các lâm sản ngoài gỗ như song mây, cây thuốc, mật ong, măng tre theo mùa Đây cũng là nguồn thu nhập đáng kể của
đồng bào tại chỗ
Làm sao đáp ứng nguyên liệu hợp pháp từ rừng Việt Nam để duy trì phát triển các hoạt
động của các xí nghiệp, HTX nhỏ hoặc vừa mà theo ông Trần Đức Sinh ở Tổng công ty Lâm Nghiệp Việt Nam (VINAFOR), năm 1999 có tới 823 cơ sở chế biến trong cả nước hiện nay tiêu thụ khoảng 1,36 triệu m3 gỗ và lâm sản Ngoài giải pháp thông thoáng cho nhập nguyên liệu, còn cần các giải pháp về môi trường là bảo vệ rừng và môi trường chính xí nghiệp, làng nghề đó hoạt
động, nhất là dân trí và phong tục tập quán của đồng bào vùng núi còn khá thấp
Một trong các vấn đề cấp thiết phải làm là từ năm 2000 cộng đồng quốc tế và các nhà tiêu thụ gỗ trên thế giới gây sức ép ngược (so với các thập kỷ, thế kỷ đã qua) Với các nhà cung cấp
gỗ và đồ mộc là phải bảo vệ được rừng thì mới được xuất khẩu sản phẩm bằng cách chỉ lưu thông buôn bán trên mọi thị trường gỗ quốc tế khi sản phẩm gỗ đã được gián nhãn sinh thái, dù là gỗ tròn, gỗ xẻ hay hàng hoá có sử dụng gỗ Đây gọi là tiến trình "Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng"
II.3 Chức năng xã hội
Rừng là 1 dạng môi trường sống, cũng là đối tượng của sản xuất để sản xuất nguyên liệu, hàng hoá và tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho con người Rừng là loại tài nguyên có thể tự tái tạo nếu biết khai thác, sử dụng hợp lý
Năm 1959 bác Hồ phát động Tết trồng cây gây rừng, chỉ trong vài ba năm toàn dân hưởng ứng, cả Miền Bắc trở nên xanh tươi Cây xanh mọc theo đường đi, kênh mương, trường học, trụ sở bệnh viện vừa làm đẹp xã hội vừa cung cấp củi gỗ, phân xanh tại chỗ
Trang 8Chương trình 327 (1992 - 1998) đã thu hút hàng triệu hộ gia đình, nhóm hộ gia đình và cộng đồng thôn bản tham gia nhận khoán bảo vệ rừng, nhận khoán gây trồng rừng và được hưởng lợi không chỉ tiền công mà còn các lâm sản, nông sản, cây quả trồng xen Kết quả trong sáu năm đã trồng được 640 nghìn ha rừng tập trung, hàng tỷ cây cây phân tán 748 nghìn ha rừng
tự nhiên non đang phục hồi, 31,3 nghìn ha vườn hộ, trâu bò tăng 53.000 con, làng mới để trồng rừng 92.000 hộ, 5.000 km đường dân sinh, 103.000 m2 trường học và trạm xá (theo tổng kết
1998 của Chính phủ) khiến cho bộ mặt nông thôn, miền núi có những biến đổi mạnh, không những thế còn có chuyển biến bước đầu là khi người dân tham gia khi người dân có thu hoạch có
động lực thì đó là sức mạnh rất lớn, khác với cách quản lý hoàn toàn quốc doanh do Nhà nước tổ chức quản lý Song cũng có thể thấy rằng người dân tham gia trồng rừng, bảo vệ rừng do Nhà nước sở hữu, sử dụng cũng chưa phải là động lực mạnh để phát triển sản xuất và phục hồi rừng
Hệ thống 422 lâm trường quốc doanh, các dự án trồng rừng do quốc tế tài trợ (PAM, Nhật,
Đức, SIDA, Hà Lan, WB, ADB ) đang thu hút hàng vạn công ăn việc làm và thu nhập Hệ thống
10 nhà máy ván nhân tạo công suất 1 triệu m3/năm, hệ thống 5 vùng nguyên liệu và chế biến giấy công suất 1 triệu tấn giấy/năm, cùng vơí quy hoạch các doanh nghiệp chế biến lâm sản, các HTX và hộ gia đình tới năm 2010 sẽ thu hút hàng chục vạn lao động, ấy là chưa kể Chương trinh
5 triệu ha rừng cũng đang cung cấp việc làm và thu nhập cho hàng triệu người các dân tộc sống trong vùng núi Chính các lâm trường, các doanh nghiệp cũng là các trung tâm văn hoá, xã hội, phát triển dân trí cho vùng sâu vùng xa
Dự án trồng 5 triệu ha rừng (1998 - 2010) là bước tiếp theo của chương trình trồng rừng phủ xanh đất trống đồi núi trọc (327) nhưng có thêm một nhánh quan trọng là trồng 2 triệu ha rừng sản xuất hay rừng kinh tế để cung cấp lâm sản Rừng sản xuất được sở hữu, sử dụng do người bỏ vốn, bỏ sức, vì vậy rất nhiều thành phần kinh tế đã trở thành chủ rừng, kể cả doanh nghiệp Nhà nước, lâm trường, HTX, hộ gia đình, cá nhân, liên doanh
Trên 1,4 triệu ha đất trống để trồng rừng đã được giao quyền sử dụng 50 năm cho các thành phần ngoài quốc doanh, đặc biệt là các hộ gia đình nông dân tại chỗ, miền núi để phát triển sản xuất lâm nghiệp và nông lâm kết hợp, song nếu các chính sách về tín dụng, về khuyến lâm không thông thoáng thì người dân chỉ dư thừa sức lao động sẽ không thể tham gia được, đặc biệt
là cần có kế hoạch phát triển công nghiệp sử dụng gỗ như giấy, ván nhân tạo, xuất khẩu đồ gỗ nhịp nhàng với tốc độ trồng rừng thì mới tạo thành nhu cầu tiêu thụ ổn định lâu dài để miền núi
mở rộng sản xuất lâm nghiệp
III Các giải pháp để quản lý rừng bền vững
Việc khai thác gỗ khác với khai thác các lâm sản ngoài gỗ (song mây, cây thuốc, mật ong, tre, măng ) vì khai thác gỗ là chặt tầng cây lớn tạo nên môi trường sinh thái của rừng, chặt quá mức sẽ làm rừng cạn kiệt, mất đi tính đa dạng sinh học, hoặc không khai thác sẽ làm rừng già cỗi, sâu mục Thị trường gỗ quốc tế đòi hỏi người chủ rừng phải nuôi dưỡng, khai thác rừng sao cho quá trình đó đạt được 3 hệ thống tiêu chí là:
- Kinh doanh có lãi, ổn định, tăng tiến
- Đảm bảo gìn giữ được tính đa dạng sinh học và chức năng phòng hộ của rừng
Trang 9- Nâng cao thu nhập, mức sống, việc làm cho người lao động tại rừng và dân cư
Những khu rừng đạt được các tiêu chí như thế sẽ được các tổ chức độc lập quốc tế cấp chứng chỉ "Quản lý rừng bền vững" và gỗ khai thác hợp pháp từ rừng này được gián nhãn sinh thái hay gián mác chứng chỉ gỗ để được tham gia các thị trường quốc tế Việc chứng chỉ rừng đã quản lý bền vững và chứng chỉ gỗ lúc đầu nước Anh dùng tiêu chuẩn ISO14000 có nghĩa là chứng chỉ quy trình công nghệ và chất lượng môi trường, nay chuyển thành quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng sau Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu 1992 về môi trường và phát triển tại Rio de Janeiro Đây cũng là nội dung chính của hợp tác lâm nghiệp khối ASEAN từ khi Việt Nam tham gia tổ chức này (1995 - 2000)
Có nhiều tiến trình quản lý rừng bền vững trên thế giới phù hợp với các loại rừng tại ôn đới, nhiệt đới, châu Âu, châu Phi, song tiến trình FSC (Forest Stewardship Council) đồng thời là tổ chức cấp chứng chỉ uy tín nhất thế giới mà Việt Nam và nhiều nước khác tham gia
Trong 4 năm qua diện tích rừng sản xuất gỗ trên thế giới được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững đã tăng lên đáng kể, trước năm 1998 dưới 1 triệu ha rừng, năm 1999 lên 11,5 triệu ha rừng, hết năm 2000 lên 20,7 triệu ha rừng đã được cấp chứng chỉ, dự tính một vài năm tới sẽ có hàng trăm triệu ha rừng được cấp chứng chỉ, vì lúc đó chủ rừng không chỉ được buôn bán trên các thị trường quốc tế, mà giá gỗ có chứng chỉ đắt hơn gỗ trôi nổi nhiều, còn quốc gia và cộng đồng quốc tế lại đảm bảo giữ được môi trường rừng lâu dài, ổn định
Trong khối ASEAN "Tổ công tác quốc gia" Việt Nam (NWG) đã dự thảo xong bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia, là nước thứ 3 trong 10 nước chỉ sau "Hội đồng chứng chỉ gỗ quốc gia Malaysia (NTCC) và sau "Viện dán nhãn sinh thái" Indonesia (LEI) Hai nước này đã được cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững cho một diện tích đầu tiên và đã xuất khẩu gỗ tròn cho các doanh nghiệp Việt Nam chế biến
Một mặt Việt Nam sẽ trình bộ tiêu chuẩn quản lý rừng bền vững quốc gia để được FSC quốc tế chấp nhận và xây dựng nhận mạng lưới các chủ rừng (trang trại, lâm trường, công ty) tiên tiến để xin cấp chứng chỉ trong vài ba năm tới, một mặt tổ chức giới thiệu nguồn gỗ nguyên liệu
đã được cấp chứng chỉ cho các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu Việt Nam, vì các hợp đồng xuất sang châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản đang trong lộ trình bị từ chối dần nếu gỗ không có xuất xứ, chứng chỉ từ các khu rừng đã được công nhận quản lý bền vững (Hội nghị giới thiệu gỗ Bắc Âu - NorthdicTimber 1999 tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, Hội nghị 36 doanh nghiệp chế biến xuất khẩu gỗ tại các tỉnh phía Nam, tháng 5/2001 tại Quy Nhơn, Hội nghị đổi mới lâm trường quốc doanh 4 tỉnh Tây Nguyên theo quyết định 187 TTg và theo hướng quản lý rừng bền vững, tháng 9/2001 tại Buôn Ma Thuột ) Đây là vấn đề lớn, mới, có tính toàn cầu do các chủ rừng tự nguyện tham gia và các tiến trình độc lập phi chính phủ cấp chứng chỉ Đến một lúc nào đó các sản phẩm chế biến gỗ thủ công, mỹ nghệ cũng sẽ bị đòi hỏi nguồn gốc quản lý rừng bền vững mới được thị trường thế giới APEC, AFTA, WTO tiêu thụ Việt Nam và mấy chục nước cuối cùng tham gia tổ chức thương mại quốc tế, ngành lâm nghiệp không thể chậm trễ để mất thị trường nếu như không
tổ chức quản lý rừng bền vững và chấn chỉnh rừng kịp thời Đây chính là động lực để phát triển miền núi, môi trường sinh thái cho xã hội, cho cả nước
Trang 10Kết luận
Cho dù diện tích và độ che phủ rừng ở Việt Nam vào năm 2000 đã được cải thiện một chút so với năm, mười năm trước nhờ kết quả của Chương trình 327, dự án
5 triệu ha rừng và các nỗ lực quốc gia, quốc tế song hãy còn xa so với mục tiêu 14,3 triệu ha rừng (43% che phủ) để đảm bảo ổn định rừng góp phần xây dựng một môi trường phát triển cho Việt Nam và Thế giới
Chiến lược lâm nghiệp Việt Nam trước mắt vẫn là bảo vệ, phát triển rừng theo phương hướng xã hội hoá nghề rừng, lấy trung tâm là con người, đặc biệt là đồng bào các dân tộc miền núi tại chỗ, đó là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh
tế, xã hội, với 2 chương trình lớn dài hạn đó là:
- Bảo vệ và phục hồi rừng theo dự án trồng 5 triệu ha (1998 - 2010)
- Quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng (1998 - 2010)