DSpace at VNU: Xu thế liên kết của các hãng hàng không trên thế giới và một số đề xuất cho hàng không Việt Nam ( VIETNAM...
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
-***** -
NGUYỄN THÀNH LƯƠNG
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ CHÍNH TRỊ
HÀ NỘI – 2006
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Với lượng khán giả lớn so với các phương tiện thông tin khác, Truyền hình là một trong những phương tiện thông tin nhanh nhạy, mang lại hiệu quả nhất trong hệ thống thông tin hiện nay Ngoài việc thông tin tuyên truyền về các chủ trương chính sách của Nhà nước, phục vụ nhu cầu thông tin về văn hóa - xã hội, truyền hình còn đóng góp to lớn trong việc phát triển kinh tế của các Quốc gia thông qua các chương trình kinh tế phát sóng trên sóng truyền hình trong đó có các chương trình thông tin quảng cáo Ở các nước phát triển kinh tế theo kinh tế thị trường, ngành truyền hình cũng không tránh khỏi sự tác động và sự điều tiết của các quy luật của kinh tế thị trường, chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ với chính bản thân nội bộ ngành truyền hình công cộng (Public Tivi), truyền hình trả tiền (Pay Tivi), truyền hình trực tuyến Interactive; với các phương tiện thông tin khác như hệ thống các Đài phát thanh, báo chí, bảng biển, internet
Truyền hình Việt Nam thành lập năm 1970, là một trong những lĩnh vực truyền thông còn rất non trẻ so với các lĩnh vực, các ngành khác Trong thời gian từ 1970-
1985, truyền hình phát triển chậm vì đất nước có chiến tranh và vừa thoát khỏi chiến tranh Cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu, chủ yếu phủ sóng vùng Châu thổ sông Hồng Truyền hình Việt Nam chỉ thực sự phát triển khi đất nước chuyển mạnh từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa và Nhà nước khẳng định vai trò của Truyền hình Việt Nam trong cơ chế thị trường Và như vậy, cùng với sự vận động của nền kinh tế thị trường, Truyền hình Việt Nam cũng chịu sự tác động của nhiều quy luật khách của nền kinh tế như: quy luật cạnh tranh, quy luật cung - cầu Làm thế nào để Truyền hình Việt Nam đứng vững và phát triển, hội nhập cùng sự phát triển chung của kinh tế Việt Nam, khu vực và thế giới là một vấn đề sống còn và hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay
Với những yêu cầu thực tiễn đặt ra như hiện nay, việc nghiên cứu về vấn đề: “Năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam” là hết sức cần thiết và tôi chọn đó làm đề tài
Luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Trang 3Truyền hình Việt Nam tuy có thời gian phát triển chưa lâu nhưng việc nghiên cứu
vấn đề “Năng lực cạnh tranh của Truyền hình” đã được nhiều nhà hoạch định chính sách,
nhiều cơ quan và các nhà kinh tế trong nước và quốc tế quan tâm Trong những năm gần đây
đã có một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề trên, cụ thể như:
- Đài Truyền hình Việt Nam (2004): Nghiên cứu quy hoạch phát triển
ngành truyền hình 2010 - 2020
- VNCI (2004): Nghiên cứu tình hình cạnh tranh trong lĩnh vực viễn thông ở Việt Nam
- Christopher Sterling (2004): Ngành Truyền hình và truyền thông điện tử ở Việt Nam
- VBARD - ADB (2004): Nghiên cứu tình hình truyền thông, truyền hình ở Việt Nam
Ngoài ra còn có các bài viết đăng trên các báo, tạp chí
Các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam, nhưng về cơ bản, các giải pháp, chính sách đưa ra nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam được xem xét trong tiến trình hội nhập chung của quốc gia hoặc những giải pháp tình thế có tính chất ngắn hạn Do mục đích, đối tượng, phạm vi và thời điểm nghiên cứu khác nhau, đặc biệt là trong xu thế toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập của Việt Nam thì việc nghiên cứu vấn đề
“Năng lực cạnh trạnh của Truyền hình Việt Nam” cả về thực trạng lẫn giải pháp là rất cần thiết Qua đó có thể nhận thấy được những cơ hội và thách thức mới trong xu hướng phát triển chung của khu vực và thế giới
3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của Luận văn là đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam trong thời gian tới Để thực hiện được mục tiêu này, tác giả đã đề
ra nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là:
- Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về cạnh tranh, tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của Truyền hình trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay
- Đánh giá thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam từ năm 1995 đến nay
Trang 4- Trên cơ sở các phân tích trên, đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam trong thời gian tới với mục đích:
+ Truyền hình Việt Nam đứng vững và hòa nhập được với cơ chế thị trường theo định hướng XHCN
+ Truyền hình Việt Nam phát triển cùng cơ chế thị trường theo định hướng XHCN, đóng góp công sức của mình vào tiến trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: Truyền hình Việt Nam
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian: Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động của Truyền hình
Việt Nam năm 1995 đến nay, đây được coi là mốc thời gian mà Truyền hình Việt Nam có bước chuyển biến về nhiều mặt, đáp ứng nhu cầu trong nước và quốc tế
- Về không gian: Truyền hình Việt Nam
- Về nội dung: Dưới góc độ kinh tế chính trị, luận văn nghiên cứu năng lực cạnh
tranh của Truyền hình Việt Nam như là một động thái tất yếu trong xu thế toàn cầu hoá kinh
tế và hội nhập của Việt Nam Luận văn sẽ chỉ đề cập đến những giải pháp, chính sách mang tính vĩ mô và sẽ không đi sâu vào những vấn đề có tính tác nghiệp trong hoạch định chính sách cũng như trong việc tổ chức thực thi chính sách đối với từng lĩnh vực, từng Đài địa phương riêng lẻ
5 Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ những nội dung cơ bản đã đặt ra của Luận văn, trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp: phương pháp kết hợp phân tích với tổng hợp, phương pháp thống kê,
so sánh, phân tích dự báo, trong quá trình nghiên cứu
6 Dự kiến những đóng góp mới của Luận văn
- Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh
- Xem xét một số chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Truyền hình ở một
số nước trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Trang 5- Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam từ năm 1995 đến nay, để từ đó thấy được những mặt còn tồn tại, hạn chế trong
thời gian qua
- Trên cơ sở những vấn đề lý luận, đánh giá về thực tiễn, tác giả đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam trong thời gian
tới
7 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và kinh nghiệm quốc tế về nâng cao năng lực cạnh tranh của Truyền hình
Chương 2: Thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam trong thời gian qua
Chương 3: Quan điểm định hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Truyền hình Việt Nam trong thời gian tới
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CẠNH TRANH VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA TRUYỀN
HÌNH
Cạnh tranh là một hiện tượng vốn có của Kinh tế thị trường - mô thức kinh tế mà mọi quốc gia muốn phát triển đều cần trải qua Như vậy, có thể khẳng định cạnh tranh là một hiện tượng mà mọi quốc gia, dân tộc trên con đường phát triển đều phải chấp nhận, nhận
Trang 6thức đúng về nó Có nhiều cách tiếp cận, nhận thức về cạnh tranh; khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh, cấp độ cạnh tranh; các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh cũng như hệ thống các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh Trước tiên, chúng ta hãy xem xét đến các khai niệm liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1 Một số vấn đề lý luận chung về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh
1.1.1 Khái niệm
Cạnh tranh
Khái niệm về cạnh tranh đã được các nhà nghiên cứu kinh tế của các trường phái kinh tế khác nhau nghiên cứu, xem xét và phân tích dưới nhiều góc độ, cấp độ khác nhau Các nhà nghiên cứu kinh tế Tư sản Cổ điển cho rằng: "Cạnh tranh là một quá trình bao gồm các hành vi phản ứng; nó mang lại cho mỗi thành viên trong thị trường một phần xứng đáng so với khả năng của mình " Theo C.Mác, "cạnh tranh Tư bản chủ nghĩa là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tư bản nhằm giành được những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch"
Trong nền kinh tế thị trường, thuật ngữ cạnh tranh được dùng để ám chỉ cuộc đấu tranh quyết liệt, sống còn giữa các nhà sản xuất với nhau; không phân biệt hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất (nhà nước, tập thể hay tư hữu ) với mục đích cuối cùng của cạnh tranh là giành lấy phần thuận lợi hơn cho mình Mặc dù đã nói tới cạnh tranh là có người thắng, kẻ bại và mục đích kích thích sự phát triển không phải là mục tiêu của các bên tham gia cạnh tranh song bản thân nó đã khuyến khích sự phát triển của nền sản xuất xã hội
Theo từ điển Cornu (Pháp), cạnh tranh được hiểu là "Chạy đua trong kinh tế; hành
vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hóa, dịch
vụ nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để bị mất đi một lượng khách hàng thường xuyên"
"Chạy đua trên một thị trường mà cấu trúc và sự vận hành của thị trường đó đáp ứng các điều kiện của quy luật cung cầu giữa một bên là các nhà cung cấp với bên kia là những người sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ; các hàng hóa, dịch vụ này được tự do tiếp cận trong điều kiện các điều kiện kinh doanh không phải là hệ quả của áp lực hoặc ưu đãi do pháp luật mang lại"
Trang 7Như vậy, khái niệm về cạnh tranh được đưa ra trong từ điển Cornu có một số yếu tố cấu thành sau: Các bên tham gia cạnh tranh (thường là các doanh nghiệp và trong thị trường độc quyền không có cạnh tranh); khách hàng thường xuyên (là đối tượng, mục tiêu, mục đích của các bên tham gia cạnh tranh hướng tới; các doanh nghiệp được sử dụng mọi biện pháp mà pháp luật không ngăn cấm để thực hiện mục tiêu lôi cuốn khách hàng về phía mình); thị trường liên quan (được xác định thông qua các thị trường sản phẩm, địa lý liên quan); và môi trường pháp lý tạo điều kiện thuận lợi cho cạnh tranh được diễn ra (là đặc trưng của kinh tế thị trường - môi trường tự do kinh doanh có sự điều tiết của Chính phủ) Khái niệm về cạnh tranh được đề cập đến trong Đại từ điển Kinh tế Thị trường (Trung Quốc) với thuật ngữ "cạnh tranh hữu hiệu", "cạnh tranh có hiệu quả", "cạnh tranh giá cả", "cạnh tranh phi giá cả" và "cạnh tranh tiềm tàng" Theo đó, cạnh tranh hữu hiệu được hiểu "là một phương thức thích ứng với thị trường của xí nghiệp mà mục đích là giành được hiệu quả hoạt động thị trường làm cho người ta tương đối thỏa mãn nhằm đạt được lợi nhuận bình quân vừa đủ để có lợi cho việc kinh doanh bình thường và thù lao cho những rủi ro trong việc đầu tư; đồng thời, hoạt động của đơn vị sản xuất cũng đạt được hiệu suất cao, không có hiện tượng quá dư thừa về khả năng sản xuất trong một thời gian dài và tính chất sản phẩm đạt trình độ hợp lý " "Cạnh tranh có hiệu quả" dùng để chỉ một phương thức, hành vi thích ứng với thị trường của doanh nghiệp "Cạnh tranh giá cả" là một thủ đoạn lợi dụng giá cả trên thị trường để tiến hành cạnh tranh (thông qua việc bán hàng với giá cả thấp hơn giá hàng cùng loại tại thị trường gốc để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường)."Cạnh tranh phi giá cả" dùng để chỉ một thủ đoạn cạnh tranh không thay đổi giá bán sản phẩm mà tạo sự khác biệt về mẫu mã, tính năng (Các yếu tố thuộc về nội tại sản phẩm) hoặc các yếu tố khác thuộc về phân phối (địa điểm bán hàng, dịch vụ sau bán hàng, uy tín và thương hiệu sản phẩm ) Như vậy, khái niệm về cạnh tranh trong Đại từ điển kinh tế thị trường được hiểu tương đối cụ thể, chi tiết thông qua các khái niệm cạnh tranh nhất định
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, cạnh tranh được định nghĩa là sự "tranh đua giữa các
cá nhân, tập thể có chức năng như nhau nhằm giành phần hơn, phần thắng về mình";
"cạnh tranh quốc tế" được hiểu là "cạnh tranh giành nguồn nguyên liệu và thị trường tiêu thụ của sản phẩm trên thế giới" Cũng về khái niệm này, Từ điển Thuật ngữ Kinh tế cho rằng: "cạnh tranh - sự đấu tranh đối lập giữa các cá nhân, tập đoàn hay quốc gia Cạnh tranh nảy sinh khi hai bên hay nhiều bên cố gắng giành lấy thứ mà không phải ai cũng có thể giành được" Mục đích cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh là lợi nhuận; tuy nhiên để thu được lợi nhuận thì các nhà sản xuất nhất thiết phải chiến thắng trong cạnh tranh đối với
Trang 8các đối thủ cạnh tranh trên thương trường hoặc chí ít là cùng phân chia một thị trường có giới hạn với các đối thủ cạnh tranh của mình Như vậy, rõ ràng là bản chất của cạnh tranh là nhằm tới tối ưu hóa đầu vào (hạ thấp tối đa chi phí sản xuất) và tối đa hoá đầu ra (thu lợi nhuận cao nhất có thể) Đến lượt mình, cạnh tranh cũng là quy luật sinh tồn trong nền kinh tế thị trường: Các doanh nghiệp không chiến thắng trong cạnh tranh (do nhiều nguyên nhân khác nhau từ chi phí sản xuất cao; quy trình phân phối hàng hóa, dịch vụ kém hiệu quả; dịch vụ sau bán hàng kém phát triển ) tất yếu sẽ bị đào thải Trái lại, các doanh nghiệp luôn nỗ lực giảm thiểu chi phí sản xuất, nâng cao chất lương dịch vụ (thông qua nhiều con đường như: đổi mới dây chuyền công nghệ, đầu tư vào đào tạo, nâng cao tay nghề công nhân ) sẽ chiến thắng trong cạnh tranh và thu về mức lợi nhuận cao
Một số nhà nghiên cứu kinh tế Việt Nam quan niệm rằng: Cạnh tranh là vấn đề giành lợi thế về giá cả hàng hóa, dịch vụ và đó là con đường, phương thức để giành lợi nhuận cao cho các chủ thể kinh tế
Tóm lại, còn có nhiều nhìn nhận chưa thật sự thống nhất về khái niệm cạnh tranh, song, xét về bản chất của nó thì cạnh tranh luôn được phân tích, nhìn nhận, đánh giá trong trạng thái động và được ràng buộc trong mối quan hệ so sánh một cách tương đối Theo cách nhìn nhận đó thì mọi nỗ lực mà các bên tham gia nhằm tìm kiếm, giành dật những lợi thế về mình đều được thống nhất diễn tả trong các khái niệm khác nhau về cạnh tranh Cũng trên cơ sở phân tích như vậy thì cạnh tranh cũng bao hàm hai mặt: Tích cực và tiêu cực
Về mặt tích cực thì cạnh tranh đã tạo động lực để các chủ thể vươn tới, đạt tới trạng thái tiến
bộ hơn (năng suất cao hơn, mẫu mã đẹp hơn, chất lượng tốt hơn ) nhằm mang lại hiệu quả tốt nhất có thể Tuy nhiên, nếu cạnh tranh được tiến hành bằng các động thái tiêu cực thì sẽ trở nên kìm hãm sự hình thành và phát triển cái mới, mang lại một thực trạng cực đoan hơn
và kết quả trái ngược lại so với tích cực Dù vậy, khái niệm cạnh tranh ngày nay đang ngày càng trở nên phổ biến và được nhìn nhận dưới khía cạnh tích cực nhiều hơn Mặt khác, chính sức mạnh của cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường đã buộc các nhà sản xuất phải thường xuyên nâng cao năng lưc cạnh tranh của mình nếu muốn tồn tại và phát triển trong lĩnh vực mình đang tham gia
Năng lực cạnh tranh
"Năng lực" được định nghĩa trong Đại Từ điển Tiếng Việt là: "Những điều kiện đủ hoặc vốn có để làm một việc gì" hay "khả năng đủ để thực hiện tốt một công việc" Cũng trong tài liệu này, "năng lực cạnh tranh" được hiểu là: "Khả năng giành thắng lợi trong
Trang 9cuộc cạnh tranh của những hàng hóa cùng loại trên cùng một thị trường tiêu thụ" Theo nghĩa đó, chiến lược cạnh tranh chính là một phần, một khía cạnh của chiến lược thương mại; nó bao gồm việc doanh nghiệp phát triển các chính sách để đối phó và đánh bại các đối thủ của mình trong vấn đề cung cấp một sản phẩm nhất định Cũng như cạnh tranh, hiện nay đang tồn tại nhiều khái niệm, quan niệm khác nhau về năng lực cạnh tranh Một
số nhà nghiên cứu cho rằng năng lực cạnh tranh chỉ có ý nghĩa trong quan hệ thương mại
và nó được mô tả qua các chỉ số đánh giá khác nhau Trong khi đó, một số nhà nghiên cứu khác lại xem năng lực cạnh tranh bao gồm cả các điều kiện để triển khai hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh tới điểm cuối cùng của quá trình cung ứng hàng hóa, dịch
vụ, là đảm bảo nâng cao mức sống cho người dân Tương tự như vậy, một số người cho rằng năng lực cạnh tranh chỉ phù hợp với cấp độ công ty và một số khác lại cho rằng năng lực cạnh tranh phù hợp với mọi cấp độ từ quốc gia, ngành, công ty đến cấp độ sản phẩm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT:
- Cơ sở khoa học của một số vấn đề trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam
đến năm 2010 và tầm nhìn 2020, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2002
- Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX,
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001
- TS Đỗ Đức Định: Một số vấn đề chiến lược công nghiệp hoá và lý thuyết phát triển, Nxb
Thế giới, Hà Nội, 1999
- Nguyễn Mạnh Hùng: Quy hoạch, chiến lược phát triển ngành, chương trình ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam đến năm 2010 và định hướng 2020, và hệ
thống văn bản pháp quy hướng dẫn thực hiện,
Nxb Thống kê, Hà Nội, 2004
- Bùi Tất Thắng (chủ biên): Các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
trong thời kỳ công nghiệp hoá ở Việt Nam, Nxb Khoa học - Xã hội, 1997
- Tập thể tác giả: Dự báo thế kỷ 21, Nxb Thống kê, Hà Nội, 2000
- PGS.TS.Trần Văn Tùng (chủ biên): Chất lượng tăng trưởng nhìn từ Đông Á,
Trang 10Nxb Thế giới, Hà Nội, 2003
- PGS.TS.Trần Văn Tùng (chủ biên): Cạnh tranh kinh tế, Nxb Thế giới, Hà Nội-2003
- Tư duy lại tương lai, Nxb Trẻ, TP Hồ Chí Minh, 2002
- Từ điển Bách khoa Việt Nam Hà Nội - 1995
- Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Dự án VIE 01/025: Hội nhập kinh tế - Áp lực cạnh tranh trên thị trường và đối sách của một số nước,
Nxb Giao thông - Vận tải, Hà Nội - 2003
- Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, Dự án VIE 01/025: Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, Nxb Giao thông- Vận tải, Hà Nội- 2003
TÀI LIỆU TIẾNG ANH:
- F Betz: Strategic technology management Mcgraw - Hill international Editions - 1996
- Rohland Fleck: Khuyến khích công nghệ – Những nhược điểm, triển vọng Châu Âu cùng những phương án mới, Nxb Wiesbaden, 1996
- Christopher Freemen: Chính sách công nghệ và tiềm lực kinh tế – Bài học kinh nghiệm từ Nhật Bản Nxb Pinter, London - 1997
- Jurgen Gausemeier: Kỹ thuật dung kịch bản - công cụ tiếp cận với tương lai nhiều chiều,
Nxb Đại học tổng hợp Paderborn, Paderborn, 1996
- K.W Grewlich: Châu Âu trong cuộc chạy đua công nghệ toàn cầu: Thị trường quốc tế trở thành thị trường nội địa, Nxb Bertelsmann, Berlin - 1992
- Riedel, James (1999), “Economic Development in East Asia: Doing What Comes
naturally”, in Helen Hughes, Achieving Industrialization in East Asia, UK: Cambridge
Univesity Press, pp.1-38
- Tarek M Khalil: Management of Technology: The Key to Competitiveness and Wealth Creation, Mc Graw - Hill Higher Education International Editions 2000
CÁC TRANG WEB:
+ HTTP://WWW.MOF.GOV.VN