1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Các yếu tố biểu thị tình thái nhận thức trong câu tiếng Pháp - những biểu đạt tương ứng trong câu tiếng Việt

10 157 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 10
Dung lượng 237,63 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRẦN THỊ MỸ CÁC YẾU TỐ TÌNH THÁI NHẬN THỨC TRONG CÂU TIẾNG PHÁP - NHỮNG BIỂU ĐẠT TƯƠNG ỨNG TRONG CÂU TIẾNG VIỆT LUẬ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

TRẦN THỊ MỸ

CÁC YẾU TỐ TÌNH THÁI NHẬN THỨC TRONG CÂU TIẾNG PHÁP

- NHỮNG BIỂU ĐẠT TƯƠNG ỨNG TRONG CÂU TIẾNG VIỆT

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2004

MỞ ĐẦU

Trang 2

1 Mục đích và yêu cầu của luận án

Trong thời gian dài các nhà ngôn ngữ học cấu trúc hậu Saussure (1916) chỉ quan tâm nghiên cứu ngôn ngữ ở trạng thái tĩnh, chú trọng đến khía cạnh hệ thống cấu trúc của ngôn ngữ Những sự kiện có tính chất cá nhân, lời nói bị xem nhẹ và không được quan tâm đúng mức Từ những thập niên gần đây, ngữ pháp chức năng và dụng học là hai trào lưu chiếm ưu thế trong nghiên cứu ngôn ngữ Trong hai trào lưu này thì vấn đề tình thái được quan tâm hàng đầu, đặc biệt là tình thái nhận thức

Theo thuyết hành động trong tương tác ngôn ngữ, các câu nói có cấu trúc khác nhau thể hiện những mục đích và ý nghĩa khác nhau Việc sử dụng câu bằng các yếu tố tình thái khác nhau là vấn đề đáng được quan tâm trong giao tiếp Tình thái là một phần ngữ nghĩa không thể thiếu được của câu Đặc trưng của tình thái nhận thức là phản ánh quan điểm của người nói thể hiện thái độ đánh giá, xét đoán, phán xét về nội dung trong câu Quan điểm này đặt trên mối quan hệ giữa người nói và người nghe, với thực tế và hoàn cảnh giao tiếp Tình thái câu đánh dấu những giá trị ngữ nghĩa - ngữ dụng rất đáng lưu ý trong giao tiếp Những đặc trưng cơ bản này của tình thái câu đã được nhiều tác giả trong

và ngoài nước đang bàn đến dựa trên những đặc trưng của nhiều thứ tiếng khác nhau

Tuy nhiên, hiện nay vấn đề dạy và học ngoại ngữ chưa được quan tâm đúng mức đến vấn đề ngữ pháp - ngữ nghĩa của câu Việc dạy ngữ pháp trong nhà trường vẫn còn chú trọng đến ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp cấu trúc Trong các giáo trình dạy học tiếng Pháp, việc dạy ngữ pháp vẫn chú trọng đến miêu tả các hình thức biểu đạt như cấu trúc câu, chưa quan tâm đúng mức đến nghiên cứu tình thái câu một cách có hệ thống Vậy việc làm rõ nét các giá trị ngữ nghĩa và giá trị sử dụng của yếu tố biểu thị tình thái câu nói chung và

TTNT có mặt trong câu tiếng Pháp và tiếng Việt là cần thiết đối với người học

để giao tiếp Bởi vì xét trên bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng, hai giá trị này tác

Trang 3

động lẫn nhau trong biểu đạt câu nói Hơn nữa, sự đối chiếu tương đồng và khác biệt về cách biểu đạt tình thái nhận thức trong câu của hai thứ tiếng là điều còn mới mẻ tại Việt Nam Qua việc lý giải phân tích yếu tố TTNT trong câu của hai thứ tiếng, luận án có thể giải quyết được một số vấn đề còn băn khoăn về mối quan hệ giữa tình thái và nội dung câu tiếng Pháp đối với việc lĩnh hội một ngoại ngữ trong dạy / học Đồng thời đề tài hy vọng đóng góp phần nhỏ vào việc biên soạn sách song ngữ về ngữ pháp - ngữ nghĩa thuộc phạm trù này

2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án

Đối tượng nội dung nghiên cứu chính của đề tài là tình thái hoá với yếu tố TTNT và lí giải các giá trị ngữ nghĩa có liên quan đến giá trị sử dụng của chúng trong câu Tình thái câu được biểu đạt bằng các phương tiện ngữ âm, phương tiện

từ vựng, phương tiện ngữ pháp, và từ vựng - ngữ pháp trong những cấp độ khác nhau Quá trình miêu tả phân tích và lý giải các phương thức biểu đạt tình thái nhận thức ở hai thứ tiếng; luận án chú trọng đề cập đến ba phương tiện cuối cùng ở cấp độ câu

Nội dung của luận án sẽ đề cập đến vấn đề tình thái nói chung và TTNT nói riêng Sự có mặt của các yếu tố TTNT trong câu sẽ được miêu tả và phân tích trên ba bình diện : Phương thức tình thái hoá đồng thời phân tích và lý giải , giá trị ngữ nghĩa và giá trị sử dụng của các yếu tố này trong câu

Luận án sẽ không đặt nặng vấn đề đối chiếu so sánh hai loại hình ngôn ngữ Pháp – Việt, mà chỉ trình bày những biểu đạt tương ứng của các yếu tố TTNT được dựa trên các hình thức kết hợp, giá trị ngữ nghĩa và giá trị sử dụng trong câu tiếng Pháp và dịch tương ứng tiếng Việt Phần nội dung đề cập đến giá trị sử dụng của các yếu tố TTNT, đề tài cũng chỉ nhấn mạnh đến tính lịch sự của các yếu tố này, xét trên mối quan hệ liên nhân

Để thực hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra trên đây, luận án triển khai nội dung nghiên cứu bằng cách phân tích, lí giải các yếu tố TTNT trong mối quan hệ với thời và thức của nội dung mệnh đề theo dạng thức

Trang 4

Khung tình thái Nội dung mệnh đề

(Yếu tố TTNT) ( Thức + Thời )

3 Phương pháp nghiên cứu

Luận án được thực hiện dựa trên cơ sở kết hợp các phương pháp chính sau đây:

3.1 Phương pháp diễn dịch

Luận án sẽ thừa kế và vận dụng các thành tựu về mặt lý luận có liên quan đã được công bố để xây dựng cho phần lý luận và giải thích trong nội dung Mặc dù việc miêu tả, phân tích và lý giải các yếu tố TTNT ở cấp độ câu được đặt trên nền tảng mô hình của ký hiệu học tam phân: Kết học - Nghĩa học và Dụng học; nhưng luận án không phủ nhận các thành tựu của trường phái ngôn ngữ học truyền thống Phương pháp nghiên cứu sẽ dẫn từ những nguyên lý chung để đi đến những kết luận riêng

3.2 Các phương pháp khác được sử dụng phối hợp

Phương pháp miêu tả cũng là một trong những phương pháp được sử dụng phối hợp chính trong lĩnh vực miêu tả câu Ngoài ra luận án còn vận dụng các phương pháp sau :

- Phương pháp cải biên

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp phân tích - so sánh

- Phương pháp phân loại cấu tạo và ý nghĩa

4 Bố cục của luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục luận án gồm bốn chương với các nội dung sau:

4.1 Chương 1 Một số vấn đề lý luận liên quan đến luận án

Nội dung của chương này trình bày những vấn đề lý luận có liên quan đến luận

án Hai khái niệm chính được miêu tả và giải thích trong chương này là:

Trang 5

- Tình thái của câu nói chung

- Tình thái nhận thức và các yếu tố biểu đạt tình thái này trong câu

4.2 Chương 2 Phương tiện biểu đạt tình thái nhận thức trong tiếng Pháp -

Những tương ứng trong tiếng Việt

Đây là một trong những chương chính của luận án Nội dung của chương này trình bày về sự tình thái hoá câu bằng phương tiện từ vựng - ngữ pháp - Sự có mặt của các yếu tố này được các nhà nghiên cứu về ngữ pháp - ngữ nghĩa gọi là tình thái hoá câu Tình thái hoá câu là sự kết hợp của các yếu tố tình thái nhận thức với nội dung mệnh đề (P) Kiểu kết hợp này tạo nên sự tương tác qua lại về mặt cú pháp

- ngữ nghĩa giữa hai vế tình thái - nội dung Nội dung chương 2 đặt nền tảng cho việc giải thích, phân tích tính tình thái nhận thức và phép lịch sự trong sử dụng các yếu tố này ở cấp độ câu trong các chương 3 và 4

4.3 Chương 3 Lý giải tính tình thái nhận thức

Nội dung của chương này thể hiện mục đích nghiên cứu của luận án Sự có mặt của các yếu tố TTNT trong câu về phương diện nghĩa, chúng biểu thị

những tình thái nhất định Mối quan hệ giữa tình thái - nội dung đánh dấu

những giá trị tình thái và đặc trưng ngữ nghĩa quan trọng trong câu Hai nội dung chính của tình thái nhận thức sẽ được đề cập đến đó là:

- Tình thái phán xét đánh giá ( Jugement évaluatif )

- Tình thái xét đoán : hiện thực / không hiện thực / phản hiện thực

4.4 Chương 4 Tình thái nhận thức và phép lịch sự

Việc trình bày giá trị sử dụng các yếu tố TTNT câu chỉ xét trên mối quan hệ liên nhân Ba nhân tố quan trọng trong sử dụng các yếu tố TTNT trong giao tiếp đó là : Xuất phát từ giá trị tình thái và đặc trưng ngữ nghĩa, các yếu tố này đáp ứng nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên lý lịch sự nhằm mục đích giao tiếp được thuận lợi Câu, lời, không chỉ chứa đựng nội dung miêu tả, nội dung thông tin mà xuyên qua tính tình thái

và đặc trưng ngữ nghĩa, nó còn chứa đựng nội dung quan hệ liên nhân Giá trị sử dụng

Trang 6

của các yếu tố TTNT không những chỉ biểu đạt đặc trưng ngữ nghĩa mà qua tính tình thái này chúng còn thể hiện phép lịch sự, làm cho cuộc giao tiếp thuận lợi

5 Cái mới về khoa học của luận án

Các công trình nghiên cứu ở trong và ngoài nước đã đề cập đến rất nhiều vấn

đề tình thái Thành tựu nghiên cứu về lĩnh vực này đã đem lại nhiều kết quả rất đáng được lưu ý Cho đến nay có thể nói rằng, nghiên cứu một cách hệ thống các yếu tố TTNT trên ba bình diện: phương thức kết hợp, đặc trưng ngữ nghĩa và giá trị sử dụng là vấn đề nghiên cứu rộng và đang mở ra nhiều hướng khác nhau

Tuy nhiên với đề tài và hướng nghiên cứu này, chúng tôi có thể khẳng định luận án có những đóng góp trong thành tựu nghiên cứu ngôn ngữ với các kết quả sau:

- Luận án là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề tình thái hoá câu bằng các yếu tố TTNT có tính hệ thống

- Luận án cũng là công trình đầu tiên phân tích lý giải tính tình thái, các đặc trưng ngữ nghĩa và giá trị sử dụng câu có chứa các yếu tố TTNT một cách hệ thống

- Xuất phát từ sự so sánh khác biệt giữa phương thức biểu đạt của tiếng Pháp và tiếng Việt, người học cần nắm rõ cấu trúc, ý nghĩa và giá trị sử dụng các yếu tố tình thái nhận thức Bởi vì hình thức biểu đạt TTNT của hai thứ tiếng có những tương đồng và khác biệt đáng lưu ý Đây là những yếu tố quan trọng cần thấu hiểu để người học lĩnh hội những đặc trưng ngữ nghĩa và giá trị sử dụng của chúng trong câu

- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể có những đóng góp tích cực trong lĩnh vực dạy / học tiếng Pháp với phương pháp dạy học được đổi mới hiện nay, trong nhà trường với mục đích học để giao tiếp

Trang 7

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Để tổng quan về khái niệm tình thái nói chung và TTNT nói riêng, chương 1 của luận án sẽ đề cập đến những vấn đề sau:

1 Một số cách hiểu về tình thái trong ngôn ngữ

2 Tình thái hoá câu

3 Vấn đề tình thái trong quan hệ với kết học, nghĩa học và dụng học

4 Các phương tiện biểu thị tình thái trong ngôn ngữ

5 Vấn đề phân loại tình thái

6 Tình thái nhận thức và các yếu tố TTNT trong câu

1.1 Một số cách hiểu về tình thái trong ngôn ngữ

1.1.1 Khái niệm tình thái

Tình thái câu nói chung và khái niệm TTNT nói riêng đã được nhiều nhà ngôn ngữ học bàn đến trong lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ và giao tiếp Tuy nhiên, cách hiểu về khái niệm tình thái chưa được nhất quán giữa các nhà nghiên cứu khác nhau

- Ở phương Tây, các nhà ngôn ngữ học đều coi tình thái thuộc phạm trù ngữ nghĩa, khác với phạm trù ngữ pháp Nhưng tình thái không phải là thứ ngữ nghĩa của nghĩa học hiểu theo truyền thống, mà là một phạm trù ý niệm (catégorie conceptuelle) trong sự biểu đạt câu nói Dictionnaire de linguistique et des sciences

du langage định nghĩa “ tình thái xác định thực trạng của câu : câu xác nhận, câu mệnh lệnh hay câu nghi vấn ( La modalité définit le statut de la phrase : assertion, ordre ou interrogation) “.[107 tr 305]

" Theo Ch.Bally, trong sự phân tích nghĩa của câu, cần phải phân biệt hai yếu tố khác nhau: " Dictum" và "Modus" Dictum (sự tình thuần tuý) được xem ngoài sự can thiệp của người nói Modus ( tình thái) là một chuổi yếu tố chỉ ra rằng sự tình được xem xét như hiện thực hay phi hiện thực, mong muốn hay không

Trang 8

mong muốn, được chấp nhận một cách vui vẻ hay luyến tiếc từ người nói hoặc từ người khác Như vậy toàn câu được làm rõ nét bằng một tình thái hiển ngôn (modalité apparente) hay hàm ẩn (implicite) Các thức (modes) thuộc phạm trù ngữ pháp là một trong những phương tiện được sử dụng để diễn đạt tình thái Tình thái câu cũng có thể là dạng câu chêm xen (une incise) hoặc dạng mệnh đề như “je crois(tôi tin), je crains que ” (tôi sợ rằng) Các trạng từ ( adverbes ) cũng thường đóng chức năng tình thái của câu [107; tr 305,306]

Dựa vào khái niệm tình thái của Ch Bally, như đã trích dẫn trên đây, có thể phân tích tính tình thái của câu như sau:

Ví dụ:

(1) Loan est venue (Loan đã đến rồi.)

(2) Je pense que Loan viendra (Tôi nghĩ rằng Loan sẽ đến.)

(3) Loan ne viendra jamais (Loan sẽ không bao giờ đến.)

Trong ba câu nói trên đây, nội dung cốt lõi của câu là sự việc được diễn tả

bằng những yếu tố ngôn ngữ, đó là chủ ngữ “Loan” và vị ngữ “đến” Nội dung

“Loan đến”, theo Charles Bally, được tách khỏi phần tình thái, tức phần chỉ thái

độ của người nói được lồng trong nội dung này Phần tình thái có mặt trong ba câu

trên làm cho nội dung “Loan đến” mang sắc thái khác nhau

Ở câu (1) tình thái là sự việc đã được thừa nhận và đã xảy ra trên thực tế Trong tiếng Pháp, tình thái này, thể hiện ở thời quá khứ và thức chỉ định (mode

indicatif) được gắn với động từ “venir” (est venue) Trong tiếng Việt, tình thái của câu (1) thể hiện ở các hư từ “đã”, “rồi” kèm theo với động từ, biểu đạt sự tình đã

được khẳng định đã xảy ra trên thực tế Vậy tình thái của câu (1) là tình thái hiện thực đã xảy ra trong thực tế

Ở câu (2) tình thái là một nhận định được kết hợp trong dạng câu ghép, bao

gồm : Mệnh đề chính “Je pense” được kết hợp bằng động từ cảm nghĩ “penser” với chủ ngữ “Je”; tạo nên sắc thái chủ quan trong nhận thức Đây là “ kiểu tình thái hoá câu nói bằng phương tiện từ vựng - ngữ pháp ’’ Mệnh đề chính được ghép với mệnh đề phụ “que Loan viendra” làm cho NDMĐ giảm bớt tính khẳng định Có

Trang 9

nghĩa là việc “Loan sẽ đến” chỉ nằm trong tư duy của người nói và trên thực tế là

chưa xảy ra Câu nói biểu thị tình thái nhận định mang tính chủ quan về khả năng có

thể xảy ra đối với nội dung “Loan sẽ đến”

Ở câu (3) tình thái của câu được biểu đạt bằng sự kết hợp trạng ngữ phủ định “

ne jamais” (không bao giờ) đánh dấu tình thái phủ định về sự tình “Loan đến” Tương ứng với tình thái này, của tiếng Việt, phụ ngữ “không bao giờ” cũng có tầm tác

động vào cấu trúc NDMĐ của câu, biểu thị tình thái phủ định của hành động đến của Loan

Vậy cùng một nội dung là “Loan đến”, ba câu nói biểu đạt ba loại tình thái khác nhau Câu (1) biểu thị tình thái khẳng định sự việc đã được thừa nhận là “Loan đến”

Câu (2) TTNT biểu đạt sự nhận định về một khả năng xảy ra trong tương lai mang tính chủ quan Câu (3) tình thái là sự phủ định không có thật trong thực tế

Cách nhìn nhận tình thái câu như vậy, Ch Bally cho rằng: ở phát ngôn bất kỳ đều có biểu hiện sự đối lập nội dung cái được nói đến (dictum) với sự đánh giá của cá nhân về sự việc được trình bày trong câu

Các nhà ngôn ngữ học sau Ch Bally về cơ bản chia sẻ quan điểm của ông

Trong số những nhà ngôn ngữ học này có Lyons (1977),(76 tr 425), palmer

(1986) [77], Benveniste (1974) [84], Halliday (1989) [35], Caron (1989) [87],

Charaudeau (1985) [88], Kerbrat.Orecchioni (1999) [112], Vion (1992) [128],

Chomsky [90] v.v Cụ thể Lyons định nghĩa: "Tình thái là thái độ của người

nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị, hay sự tình mà mệnh đề đó miêu

tả "[76 tr 425] Trong cuốn "Mood and Modality", khi nghiên cứu khảo sát về tình thái, Palmer (1986) ghi nhận rằng "cách định nghĩa tình thái là "ý kiến

hoặc thái độ " của người nói của Lyons tỏ ra là có hứa hẹn" [77 tr 2]

Trang 10

Dựa vào cơ sở phân tích của các câu (1), (2), (3) trên đây, có thể nói rằng tình thái là đặc trưng cơ bản của cấu tạo câu Đặc trưng này được thể hiện qua bốn vấn đề mà Palmer ( 1986) đã lưu ý khi nghiên cứu câu

- Thứ nhất phải xác định một phạm trù tình thái: Phạm trù ở đây là phạm trù ngữ nghĩa bao gồm tính tình thái, thái độ và quan niệm của người nói

- Thứ hai, về vấn đề các phương tiện biểu hiện ý nghĩa tình thái, cần chú ý đến mức

độ sử dụng các phương tiện biểu thị tình thái nhiều hay ít hoặc cách biểu hiện như thế nào Chẳng hạn như “thức” trong các ngôn ngữ biến hình là sự đánh dấu tình thái Còn những ngôn ngữ khác có thể sử dụng hệ thống động từ tình thái hay các loại tiểu từ tình thái

- Thứ ba, tính chất qui ước của phương tiện biểu hiện tình thái: Không có quan hệ một đối một giữa hình thức biểu đạt và ý nghĩa tình thái

- Thứ tư, sự biểu hiện các phạm trù ngữ pháp như thời, số, ngôi và các thức trong các ngôn ngữ không hoàn toàn giống nhau Vì vậy không thể xem xét một cách máy móc về sự biểu hiện tính tình thái trong các ngôn ngữ [ Phỏng theo77

tr 33]

Vậy có thể nói rằng tình thái là phạm trù ngữ pháp - ngữ nghĩa biểu thị quan

hệ của người nói với phát ngôn và quan hệ của nội dung phát ngôn với hiện thực khách quan

Trong cuốn “Dẫn luận ngữ pháp chức năng”, khi bàn đến một phán đoán

Halliday cho rằng “Trong một nhận định, tình thái là sự thể hiện quan điểm của người nói” [35 tr 181] Khi bàn đến tính phân cực, ông viết : “Tình thái liên quan đến khu vực ý nghĩa nằm giữa hai cực có và không - vị trí trung gian giữa cực

Ngày đăng: 17/12/2017, 21:06

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm