1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Bài thảo luận khai thác giá trị văn hóa thời Nguyễn trong kinh doanh du lịch

47 1,5K 6

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 244,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài thảo luận khai thác giá trị văn hóa thời Nguyễn trong kinh doanh du lịch . MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Nhà Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng cai trị Việt Nam trong lịch sử Việt Nam từ năm 1802 đến 1945, được thành lập sau khi hoàng đế Gia Long lên ngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và chấm dứt hoàn toàn khi hoàng đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 – tổng cộng là 143 năm. Triều đại Nhà Nguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộc xâm lược người Pháp giữa thế kỷ 19. Thời Nguyễn đã để lại một khối lượng khổng lồ về văn học của lẫn cả Triều Đình và của dân gian nhất là dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức sau khi đã thanh lập quốc sử quán. Thời kỳ nhà Nguyễn, văn học phát triển trong cả Hán văn, lẫn một cách mạnh mẽ ở chữ Nôm với nhiều thành tựu lớn, trong đó tác phẩm chữ nôm tiêu biểu nhất là Truyện Kiều và Hoa Tiên. Ở miền Nam Việt Nam, thành hình một lãnh thổ văn chương mới với nhiều nét độc đáo riêng so với các vùng cũ85. Về nội dung, ngoài các nội dung văn chương mang đậm tư tưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con người và phụ nữ cũng được đề cập đến.Bên cạnh đó, Nhà Nguyễn đã để lại nhiều di sản cho dân tộc Việt Nam, một số di sản đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới như Nhã nhạc cung đình Huế, Quần thể di tích Cố đô Huế hoặc Mộc bản triều Nguyễn. Giáo sư sử học Việt Nam Phan Huy Lê nhận xét rằng:“ Chưa có một thời kỳ lịch sử nào để lại cho dân tộc ba di sản văn hoá được thế giới công nhận và tôn vinh với những giá trị mang ý nghĩa toàn cầu như vậy. Nhà Nguyễn cũng để lại hệ thống thư tịch khổng lồ; hệ thống giáo dục, kho lưu trữ châu bản; hàng ngàn đình, chùa miếu, nhà thờ... trải dài từ Nam chí Bắc... Nhiều di sản trong số này có thời kỳ dài bị lãng quên và bị coi như một thứtàn dư của phong kiến thối nát. Đó là điều mà ngành du lịch Huế nói riêng và du lịch Việt Nam nói chung cần tiếp tục khám phá và thấu hiểu những giá trị quý báu của văn hóa Nhà Nguyễn để khai thác tốt hơn. Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc giới thiệu với du khách trong và ngoài nước về những giá trị văn hóa đặc trưng của văn hóa Nhà Nguyễn , đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa Phật giáo Huế, từ đó thúc đẩy việc khai thác những giá trị này, nhóm em đã chọn đề tài :” Phân tích giá trị văn hóa đặc trưng của văn hóa Nhà Nguyễn. Khai thác giá trị văn hóa đó trong kinh doanh du lịch” làm đề tài thảo luận. 2. Mục đích nghiên cứu Qua việc tìm hiểu những giá trị văn hóa đặc trưng của văn hóa nhà Nguyễn, để nắm bắt, hệ thống hóa những giá trị về văn học, kiến trúc, nghệ thuật, chính trị, từ đó kết nối với phát triển du lịch, nghiên cứu thức trạng khai thác các giá trị văn hóa nhà Nguyễn trong đời sống và trong du lịch. Trên cơ sở tìm hiểu về thực trạng khai thác hiện nay, nhóm em đã tiến hành phân tích tổng hợp, rút ra kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh khai thác và bảo tồn giá trị văn hóa nhà Nguyễn phục vụ một cách có hiệu quả vào sự phát triển du lịch tại Việt Nam. 3. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Triều Nguyễn (18021945) là vương triều cuối cùng của thời đại quân chủ Việt Nam. Với tất cả 13 đời vua, khởi đầu từ Gia Long và kết thúc với Bảo Đại, thời Nguyễn có thể chia ra làm hai giai đoạn : thời Nguyễn Sơ (18021883) và thời Nguyễn Mạt thuộc Pháp (18851945). Sau khi đánh bại triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi, niên hiệu Gia Long, vẫn đặt kinh đô tại Phú Xuân (thành phố Huế ngày nay), đặt quốc hiệu là Việt Nam (18041838) rồi Đại Nam (18381945). Cương vực nước ta thời Nguyễn tương đương với phần lớn lãnh thổ Việt Nam ngày nay. Thời kỳ Nguyễn Sơ đã chứng kiến sự phát triển rực rỡ của 80 năm văn hóa PhúXuân trong nhiều lãnh vực. Sông Hương đã được nhiều người xem như là một dòng sông thơ, một dòng xanh văn hóa, và xin được dùng một hình tượng lãng mạn để gọi dòng sông êm đềm là người tình muôn thuở của đế đô Phú XuânHuế. Quả thật, sông Hương rất diễm lệ. Tự bao đời Hương vẫn lững lờ trôi qua những xóm làng, những nhà vườn xinh tươi, từ làng Nguyệt Biều tới cửa Thuận An. Hương là bản giao hưởng xanh giữa trời và nước, điểm xuyết bằng mảng đỏ hoa phượng, mảng trắng nón bài thơ và tà áo dài nữ học sinh dập dìu trên những nẻo đường, nhịp cầu, bến nước. Kinh thành Phú XuânHuế, chốn thần kinh. Đại Nam nhất thống chí đã dành những lời đẹp đẽ và trang trọng để nói về kinh thành Huế: Đây là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng cân phân giữa miền Nam miền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng, đường thủy có cửa Thuận An, cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ có đèo Ngang với ải Hải Vân chặn ngăn, sông lớn giăng phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuộn, hổ ngồi, hình thế vững chãi, ấy là do trời đất xếp đặt thật xứng là thượng đô của nhà vua.Các cụm kiến trúc chính trên địa bàn kinh thành là Hoàng Thành, Tử Cấm Thành, khu Lục Bộ, Khâm Thiên Giám, viện Thương Bạc, lầu PhuVăn, đình Nghinh Lương… Trung tâm của kinh thành là khu Đại Nội với gần 140 công trình kiến trúc, được xây dựng và trang trí độc đáo : cửa Ngọ Môn, điện Thái Hòa, cung Diên Thọ, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, Triệu Miếu, thư viện Thái Bình Ngự Lãm,nhà hát Duyệt Thị… Nằm ngoài kinh thành là đàn Nam Giao, Hổ Quyền, Văn Miếu, Võ Miếu, điện Hòn Chén và hàng chục ngôi chùa cổ kính mà nổi tiếng nhất là chùa Thiên Mụ được xây dựng từ 1061.Xa xa ở phía Nam sông Hương là quần thể các lăng tẫm của sáu vua Nguyễn từ Gia Long tới Khải Định, một thành tựu rực rỡ của nền kiến trúc truyền thống Việt Nam.Giữa thế kỷ 19, vua Thiệu Trị (18411847) đã từng gọi Phú Xuân là chốn Thần Kinh, sau đó người Phápđã dịch ra là LaMerveileuse Capitale. Cơ quan khoa học nhân văn quan trọng nhất thời Nguyễn là Quốc Sử Quán, được thành lập từ 1821, với những công trình quan trọng hàng đầu là: Đại Nam thực lục : 560 quyển Đại Nam liệt truyện 85 quyển Đại Nam nhất thống chí 45 quyển Khâm định Việt sử thông giám cương mục 53 quyển : trên 4000 trang. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các giá trị văn hóa đặc trưng của văn hóa Việt Nam thời kì nhà Nguyễn như tôn giáo, tín ngưỡng , ẩm thực khoa học kỹ thuật, chính trị, kinh tế, văn hóaxã hội và thực trạng khai thác những giá trị này trong kinh doanh du lịch. Còn phạm vi nghiên cứu của đề tài đi sâu vào tìm hiểu không gian văn hóa nghệ thuật và đời sống xã hội dưới triều Nguyễn . 5. Phương pháp nghiên cứu Trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu sau: Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Là phương pháp chính được sử dụng trong đề tài. Trên cơ sở thu thập thông tin tư liệu từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồn khác nhau có liên quan tới đề tài nghiên cứu, người viết sẽ xử lý, chọn lọc để có những kết luận cần thiết, có được tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu. nhằm có một cái nhìn tổng quan nhất về loại tài nguyên giá trị này. Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp: Phương pháp này giúp định hướng, thống kê, phân tích để có cách nhìn tương quan, phát hiện ra các yếu tố và sự ảnh hưởng của yếu tố tới hoạt động du lịch trong đề tài nghiên cứu; việc phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin và số liệu mang lại cho đề tài cơ sở trong việc thực hiện các mục tiêu dự báo, các định hướng và giải pháp phát triển du lịch trong phạm vi nghiên cứu của đề tài. 6. Bố cục của đề tài Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì bố cục của bài thảo luận bao gồm 3 chương: Chương I: Đặc trưng của văn hóa Việt Nam dưới triều Nguyễn. Chương II: Khai thác giá trị văn hóa thời Nguyễn trong kinh doanh du lịch. Chương III: Kết nối tour du lịch : Hà Nội_Huế_Hà Nội. Chương IV: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác giá trj văn hóa thời Nguyễn.   Chương I: Đặc trưng văn hóa trong văn hóa Việt Nam dưới triều Nguyễn. 1. Tôn giáo, tín ngưỡng thời nhà Nguyễn. a, Tư tưởng nho giáo thời nhà Nguyễn: Nho giáo dưới triều Nguyễn giữ vị trí độc tôn Về Nho giáo Nhà Nguyễn tuyên dương “Nhân trị” và “Đức trị”. Do vậy, nhà Nguyễn muốn xây dựng chính trị theo đạo nhân, giáo dục đức hoá, gây phong tục, coi đó là một ưu điểm lớn trong việc trị đạo của nhà Nguyễn. Đồng thời, cùng với việc thi hành đường lối chính trị “Đức hoá”, nhà Nguyễn cho ban Tư hành bộ “Hoàng triều luật lệ “(tức bộ Luật Gia Long). Kiên định sùng bái hệ tư tưởng Tống Nho và chủ nghĩa giáo điều, khước từ cải cách, duy tân, thực hiện chính sách bài ngoại cô lập, khủng bố đạo Gia Tô, có thể nói, đây là những nội dung cơ bản của sự độc tôn Nho giáo dưới triều Nguyễn. Đường lối “trọng vương kinh bá” hay mối quan hệ giữa “nghĩa và lợi”, có thể nói, là đường lối cơ bản trong trị đạo của nhà Nguyễn. Nho giáo vốn dĩ đề cao vương đạo. Triều Nguyễn đã sử dụng đường lối này trong việc cai trị, cải hoá các phong tục tập quán, đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục và cho rằng, giáo dục cải hoá là phương thức hiệu quả nhất so với việc đàn áp bằng vũ lực. Vương triều Nguyễn được thành lập vào đầu thế kỷ XIX. Các vua Nguyễn đã ra sức xây dựng và củng cố chế độ quân chủ quan liêu chuyên chế lấy Nho giáo làm bệ đỡ hệ tư tưởng, nói cách khác, là làm nền tảng ý thức hệ cho chế độ phong kiến trung ương tập quyền. Sự suy thoái đó được biểu hiện trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Mục đích của triều Nguyễn về khôi phục Nho giáo, đưa nó lên địa vị độc tôn, tức là địa vị “chính đạo” được thể hiện rõ ràng từ vị vua đầu tiên là Gia Long đến Tự Đức. Nhà Nguyễn đã thực hiện những biện pháp nhằm củng cố, phát triển Nho giáo và đồng thời hạn chế sự phát triển của các tôn giáo khác, chẳng hạn các chùa quán bị đổ nát mới cho phép sửa chữa, không được phép làm mới . Nho giáo dưới thời vua Gia long :Hoạt động lập pháp nhằm duy trì trật tự xã hội và kỷ cương phép nước được xem là công việc hệ trọng nhất của các bậc vua chúa. Đi đôi với việc củng cố bộ máy nhà nước, Gia Long rất coi trọng hình luật, từ đó ông chỉ thị biên soạn bộ luật của triều Nguyễn gọi là Hoàng triều luật lệ. Việc làm luật tuy dựa trên tinh thần đức trị kết hợp với pháp trị, không lệch bên nào, song như chỉ dụ nêu trên rõ ràng là thiên về mặt pháp trị nhiều hơn, bởi vì: “điều nghiêm cấm mạnh như sấm sét”.Và vã có vua Gia Long đã có sự kế thừa những sản phẩm mà Nho giáo mà các triều đại trước đã làm được bên cạnh đó ông cũng mở rộng, xây dựng nhiều đền miếu, văn miếu để củng cố giáo lý , lấy nho giáo làm hệ tư tưởng. Năm 1804 Gia Long cho xây dựng thái miếu để thờ cúng tổ tiên dòng họ Nguyễn. Nho giáo thời này còn thể hiện ở việc thờ cúng tổ tiên và các anh hung . Nho giáo thời vua Minh Mạng: Nho giáo ngày càng được củng cố và thể hện khá rõ. Trong đời sống tinh thần cũng như vật chất, ông chăm lo đến đời sống của người dân, là một triều đại phát triển, nhân dân được sống ấm no hạnh phúc là nhờ ơn đức lớn của vua dưới hệ tư tưởng nho giáo. Đặc biệt dưới thời vua Minh Mạng nền khoa cử có những bước phát triển, lấy nho học làm nền tảng dung nó để tuyển chọn hệ thống quan lại và tổ chức kì thi nhằm tìm ra nhân tài cho đất nước.Đến năm 1825 vua Minh Mạng ra lệnh cho bộ lễ lập danh sách những người có công lao ở các đình, chấn và lập đền thờ họ ở các địa phương. Thờ thành hoàn làng ở đình làng là đặc trưng tín ngưỡng độc đáo của người Việt. . Nho giáo thời vua Thiệu Trị: Đã tiếp tục và phát triển nho giáo trong bình diện ý thức quan hệ của mình. Việc sử dụng nho giáo trong các hệ thống tôn giáo làm tư tưởng cho việc xây dựng và củng cố vương quyền của mình. Ngoài việc áp dụng nho giáo vào xây dựng cuộc sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, cũng như trong chính trị và giáo dục. . Nho giáo thời vua Tự Đức: Nho giáo càng được đề cao và là người chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nho học. Giữa nho giáo và hệ thống thi cử có mối quan hệ mạnh, vua không chỉ đề cao nho giáo trong việc tổ chức xã hội, cho cá nhân mà còn coi nho giáo là nội dung học tập chính và quan trọng, là một phương tiện khái niệm học thuyết để tiến than “ tu thân, trị quốc, bình thiên hại” Như vậy: là một triều đại trọng dụng nho giáo, lấy nho giáo làm tư tưởng độc tôn. Đứng trước sự hiện diện của tín ngưỡng tôn giáo cổ truyền của dân tộc Việt Nam ở đầu thế kỷ XIX, các vua triều Nguyễn đã có một thái độ ứng xử thích hợp, hài hoà. Một mặt, nhà nguyễn vẫn đề cao nho giáo, lấy nho giáo làm hệ tư tưởng chính thống của mình, song mặt khác các vua triều nguyễn vẫn tôn trọng, duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên khéo kết hợp nội dung của nho giáo với tín ngưỡng truyền thống.

Trang 1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

Chương I: Đặc trưng văn hóa trong văn hóa Việt Nam dưới triều Nguyễn 6

1 Tôn giáo, tín ngưỡng thời nhà Nguyễn 6

2 Ẩm thực 10

3 Tình hình chính trị 13

4 Khoa học kỹ thuật thời Nguyễn 17

5 Kinh tế 20

6 Văn hóa_xã hội 26

Chương II: Khai thác giá trị văn hóa thời Nguyễn trong kinh doanh du lịch .30

1 Thực trạng khai thác văn hóa nhà Nguyễn trong những năm gần đây 30

2 Những mặt tích cực : 32

3 Tồn tại 33

Chương III: Kết nối tour du lịch 35

1,Đêm 1: Hà Nội- Huế 35

2,Ngày 1: Thành phố Huế 35

3,Ngày 2: Thăm cố đô Huế- Du thuyền sông Hương( Ăn trưa) 36

4,Ngày 3: Huế- Hà Nội( Ăn sáng) 36

5,Ngày 4 : Huế- Hà Nội 36

6,Kết thúc tour: 37

Chương IV: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác giá trị văn hóa thời Nguyễn 38

1 Định hướng phát triển du lịch của Thừa Thiên- Huế 38

2 Một số giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa thời Nguyễn 39

Kết luận 43

Danh mục tài liệu tham khảo 44

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Nhà Nguyễn là triều đại quân chủ cuối cùng cai trị Việt Nam trong lịch sửViệt Nam từ năm 1802 đến 1945, được thành lập sau khi hoàng đế Gia Long lênngôi năm 1802 sau khi đánh bại nhà Tây Sơn và chấm dứt hoàn toàn khi hoàng

đế Bảo Đại thoái vị vào năm 1945 – tổng cộng là 143 năm Triều đại NhàNguyễn là một triều đại đánh dấu nhiều thăng trầm của lịch sử, đặc biệt là cuộcxâm lược người Pháp giữa thế kỷ 19

Thời Nguyễn đã để lại một khối lượng khổng lồ về văn học của lẫn cả TriềuĐình và của dân gian nhất là dưới thời Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức sau khi

đã thanh lập quốc sử quán Thời kỳ nhà Nguyễn, văn học phát triển trong cả Hánvăn, lẫn một cách mạnh mẽ ở chữ Nôm với nhiều thành tựu lớn, trong đó tácphẩm chữ nôm tiêu biểu nhất là Truyện Kiều và Hoa Tiên Ở miền Nam ViệtNam, thành hình một lãnh thổ văn chương mới với nhiều nét độc đáo riêng sovới các vùng cũ[85] Về nội dung, ngoài các nội dung văn chương mang đậm tưtưởng Nho giáo truyền thống thì số phận con người và phụ nữ cũng được đề cậpđến.Bên cạnh đó, Nhà Nguyễn đã để lại nhiều di sản cho dân tộc Việt Nam, một

số di sản đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới như Nhã nhạc cungđình Huế, Quần thể di tích Cố đô Huế hoặc Mộc bản triều Nguyễn Giáo sư sửhọc Việt Nam Phan Huy Lê nhận xét rằng:“ Chưa có một thời kỳ lịch sử nào đểlại cho dân tộc ba di sản văn hoá được thế giới công nhận và tôn vinh với nhữnggiá trị mang ý nghĩa toàn cầu như vậy

Nhà Nguyễn cũng để lại hệ thống thư tịch khổng lồ; hệ thống giáo dục, kholưu trữ châu bản; hàng ngàn đình, chùa miếu, nhà thờ trải dài từ Nam chíBắc Nhiều di sản trong số này có thời kỳ dài bị lãng quên và bị coi như mộtthứ"tàn dư của phong kiến thối nát" Đó là điều mà ngành du lịch Huế nói riêng

và du lịch Việt Nam nói chung cần tiếp tục khám phá và thấu hiểu những giá trịquý báu của văn hóa Nhà Nguyễn để khai thác tốt hơn Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mình vào việc giới thiệu với

du khách trong và ngoài nước về những giá trị văn hóa đặc trưng của văn hóaNhà Nguyễn , đồng thời góp phần bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa Phậtgiáo Huế, từ đó thúc đẩy việc khai thác những giá trị này, nhóm em đã chọn đềtài :” Phân tích giá trị văn hóa đặc trưng của văn hóa Nhà Nguyễn Khai thác giátrị văn hóa đó trong kinh doanh du lịch” làm đề tài thảo luận

Trang 3

2 Mục đích nghiên cứu

Qua việc tìm hiểu những giá trị văn hóa đặc trưng của văn hóa nhà Nguyễn,

để nắm bắt, hệ thống hóa những giá trị về văn học, kiến trúc, nghệ thuật, chínhtrị, từ đó kết nối với phát triển du lịch, nghiên cứu thức trạng khai thác các giátrị văn hóa nhà Nguyễn trong đời sống và trong du lịch Trên cơ sở tìm hiểu về thực trạng khai thác hiện nay, nhóm em đã tiến hànhphân tích tổng hợp, rút ra kinh nghiệm và đề xuất một số giải pháp nhằm đẩymạnh khai thác và bảo tồn giá trị văn hóa nhà Nguyễn phục vụ một cách có hiệuquả vào sự phát triển du lịch tại Việt Nam

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Triều Nguyễn (1802-1945) là vương triều cuối cùng của thời đại quân chủViệt Nam Với tất cả 13 đời vua, khởi đầu từ Gia Long và kết thúc với Bảo Đại,thời Nguyễn có thể chia ra làm hai giai đoạn : thời Nguyễn Sơ (1802-1883) vàthời Nguyễn Mạt - thuộc Pháp (1885-1945) Sau khi đánh bại triều Tây Sơn,Nguyễn Ánh lên ngôi, niên hiệu Gia Long, vẫn đặt kinh đô tại Phú Xuân (thànhphố Huế ngày nay), đặt quốc hiệu là Việt Nam (1804-1838) rồi Đại Nam (1838-1945) Cương vực nước ta thời Nguyễn tương đương với phần lớn lãnh thổ ViệtNam ngày nay

Thời kỳ Nguyễn Sơ đã chứng kiến sự phát triển rực rỡ của 80 năm văn hóaPhúXuân trong nhiều lãnh vực

Sông Hương đã được nhiều người xem như là một dòng sông thơ, một dòngxanh văn hóa, và xin được dùng một hình tượng lãng mạn để gọi dòng sông êmđềm là người tình muôn thuở của đế đô Phú Xuân-Huế Quả thật, sông Hươngrất diễm lệ Tự bao đời Hương vẫn lững lờ trôi qua những xóm làng, những nhàvườn xinh tươi, từ làng Nguyệt Biều tới cửa Thuận An Hương là bản giaohưởng xanh giữa trời và nước, điểm xuyết bằng mảng đỏ hoa phượng, mảngtrắng nón bài thơ và tà áo dài nữ học sinh dập dìu trên những nẻo đường, nhịpcầu, bến nước

Kinh thành Phú Xuân-Huế, chốn "thần kinh" Đại Nam nhất thống chí đãdành những lời đẹp đẽ và trang trọng để nói về kinh thành Huế: "Đây là nơi miền núi, miền biển đều họp về, đứng cân phân giữa miền Nammiền Bắc, đất đai cao ráo, non sông phẳng lặng, đường thủy có cửa Thuận An,cửa Tư Hiền sâu hiểm, đường bộ có đèo Ngang với ải Hải Vân chặn ngăn, sônglớn giăng phía trước, núi cao giữ phía sau, rồng cuộn, hổ ngồi, hình thế vữngchãi, ấy là do trời đất xếp đặt thật xứng là thượng đô của nhà vua".Các cụm kiếntrúc chính trên địa bàn kinh thành là Hoàng Thành, Tử Cấm Thành, khu Lục Bộ,

Trang 4

Khâm Thiên Giám, viện Thương Bạc, lầu PhuVăn, đình Nghinh Lương…

Trung tâm của kinh thành là khu Đại Nội với gần 140 công trình kiến trúc,được xây dựng và trang trí độc đáo : cửa Ngọ Môn, điện Thái Hòa, cung DiênThọ, Thái Miếu, Hưng Miếu, Thế Miếu, Triệu Miếu, thư viện Thái Bình NgựLãm,nhà hát Duyệt Thị…

Nằm ngoài kinh thành là đàn Nam Giao, Hổ Quyền, Văn Miếu, Võ Miếu, điệnHòn Chén và hàng chục ngôi chùa cổ kính mà nổi tiếng nhất là chùa Thiên Mụđược xây dựng từ 1061.Xa xa ở phía Nam sông Hương là quần thể các lăng tẫmcủa sáu vua Nguyễn từ Gia Long tới Khải Định, một thành tựu rực rỡ của nềnkiến trúc truyền thống Việt Nam.Giữa thế kỷ 19, vua Thiệu Trị (1841-1847) đãtừng gọi Phú Xuân là chốn Thần Kinh, sau đó người Phápđã dịch ra làLaMerveileuse Capitale

Cơ quan khoa học nhân văn quan trọng nhất thời Nguyễn là Quốc Sử Quán,được thành lập từ 1821, với những công trình quan trọng hàng đầu là:

-Đại Nam thực lục : 560 quyển

-Đại Nam liệt truyện 85 quyển

-Đại Nam nhất thống chí 45 quyển

-Khâm định Việt sử thông giám cương mục 53 quyển : trên 4000 trang

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của đề tài là các giá trị văn hóa đặc trưng củavăn hóa Việt Nam thời kì nhà Nguyễn như tôn giáo, tín ngưỡng , ẩm thực khoahọc kỹ thuật, chính trị, kinh tế, văn hóa-xã hội và thực trạng khai thác những giátrị này trong kinh doanh du lịch

Còn phạm vi nghiên cứu của đề tài đi sâu vào tìm hiểu không gian văn nghệ thuật và đời sống xã hội dưới triều Nguyễn

hóa-5 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, người viết đã vận dụng các phương phápnghiên cứu sau:

Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: Là phương pháp chính được sử dụngtrong đề tài Trên cơ sở thu thập thông tin tư liệu từ nhiều lĩnh vực, nhiều nguồnkhác nhau có liên quan tới đề tài nghiên cứu, người viết sẽ xử lý, chọn lọc để cónhững kết luận cần thiết, có được tầm nhìn khái quát về vấn đề nghiên cứu.nhằm có một cái nhìn tổng quan nhất về loại tài nguyên giá trị này

Trang 5

Phương pháp thống kê, phân tích, so sánh tổng hợp: Phương pháp này giúpđịnh hướng, thống kê, phân tích để có cách nhìn tương quan, phát hiện ra cácyếu tố và sự ảnh hưởng của yếu tố tới hoạt động du lịch trong đề tài nghiên cứu;việc phân tích, so sánh, tổng hợp các thông tin và số liệu mang lại cho đề tài cơ

sở trong việc thực hiện các mục tiêu dự báo, các định hướng và giải pháp pháttriển du lịch trong phạm vi nghiên cứu của đề tài

6 Bố cục của đề tài

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục thì bố cục củabài thảo luận bao gồm 3 chương:

Chương I: Đặc trưng của văn hóa Việt Nam dưới triều Nguyễn

Chương II: Khai thác giá trị văn hóa thời Nguyễn trong kinh doanh du lịch.Chương III: Kết nối tour du lịch : Hà Nội_Huế_Hà Nội

Chương IV: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả khai thác giá trj văn hóa thờiNguyễn

Trang 6

Chương I: Đặc trưng văn hóa trong văn hóa Việt Nam dưới triều Nguyễn.

1 Tôn giáo, tín ngưỡng thời nhà Nguyễn.

a, Tư tưởng nho giáo thời nhà Nguyễn: Nho giáo dưới triều Nguyễn giữ vị trí

độc tôn

Về Nho giáo Nhà Nguyễn tuyên dương “Nhân trị” và “Đức trị” Do vậy, nhàNguyễn muốn xây dựng chính trị theo đạo nhân, giáo dục đức hoá, gây phongtục, coi đó là một ưu điểm lớn trong việc trị đạo của nhà Nguyễn Đồng thời,cùng với việc thi hành đường lối chính trị “Đức hoá”, nhà Nguyễn cho ban Tư

hành bộ “Hoàng triều luật lệ “(tức bộ Luật Gia Long) Kiên định sùng bái hệ tư

tưởng Tống - Nho và chủ nghĩa giáo điều, khước từ cải cách, duy tân, thực hiệnchính sách bài ngoại cô lập, khủng bố đạo Gia Tô, có thể nói, đây là những nộidung cơ bản của sự độc tôn Nho giáo dưới triều Nguyễn Đường lối “trọngvương kinh bá” hay mối quan hệ giữa “nghĩa và lợi”, có thể nói, là đường lối cơbản trong trị đạo của nhà Nguyễn Nho giáo vốn dĩ đề cao vương đạo TriềuNguyễn đã sử dụng đường lối này trong việc cai trị, cải hoá các phong tục tậpquán, đặc biệt chú trọng đến việc giáo dục và cho rằng, giáo dục cải hoá làphương thức hiệu quả nhất so với việc đàn áp bằng vũ lực

Vương triều Nguyễn được thành lập vào đầu thế kỷ XIX Các vua Nguyễn đã

ra sức xây dựng và củng cố chế độ quân chủ quan liêu chuyên chế lấy Nho giáolàm bệ đỡ hệ tư tưởng, nói cách khác, là làm nền tảng ý thức hệ cho chế độphong kiến trung ương tập quyền Sự suy thoái đó được biểu hiện trên nhiều lĩnhvực của đời sống xã hội Mục đích của triều Nguyễn về khôi phục Nho giáo, đưa

nó lên địa vị độc tôn, tức là địa vị “chính đạo” được thể hiện rõ ràng từ vị vuađầu tiên là Gia Long đến Tự Đức Nhà Nguyễn đã thực hiện những biện phápnhằm củng cố, phát triển Nho giáo và đồng thời hạn chế sự phát triển của cáctôn giáo khác, chẳng hạn các chùa quán bị đổ nát mới cho phép sửa chữa, khôngđược phép làm mới

Nho giáo dưới thời vua Gia long :Hoạt động lập pháp nhằm duy trì trật tự

xã hội và kỷ cương phép nước được xem là công việc hệ trọng nhất của các bậcvua chúa Đi đôi với việc củng cố bộ máy nhà nước, Gia Long rất coi trọng hìnhluật, từ đó ông chỉ thị biên soạn bộ luật của triều Nguyễn gọi là Hoàng triều luật

lệ Việc làm luật tuy dựa trên tinh thần đức trị kết hợp với pháp trị, không lệchbên nào, song như chỉ dụ nêu trên rõ ràng là thiên về mặt pháp trị nhiều hơn, bởi

Trang 7

vì: “điều nghiêm cấm mạnh như sấm sét”.Và vã có vua Gia Long đã có sự kếthừa những sản phẩm mà Nho giáo mà các triều đại trước đã làm được bên cạnh

đó ông cũng mở rộng, xây dựng nhiều đền miếu, văn miếu để củng cố giáo lý ,lấy nho giáo làm hệ tư tưởng Năm 1804 Gia Long cho xây dựng thái miếu đểthờ cúng tổ tiên dòng họ Nguyễn Nho giáo thời này còn thể hiện ở việc thờcúng tổ tiên và các anh hung

Nho giáo thời vua Minh Mạng: Nho giáo ngày càng được củng cố và thể

hện khá rõ Trong đời sống tinh thần cũng như vật chất, ông chăm lo đến đờisống của người dân, là một triều đại phát triển, nhân dân được sống ấm no hạnhphúc là nhờ ơn đức lớn của vua dưới hệ tư tưởng nho giáo Đặc biệt dưới thờivua Minh Mạng nền khoa cử có những bước phát triển, lấy nho học làm nềntảng dung nó để tuyển chọn hệ thống quan lại và tổ chức kì thi nhằm tìm ra nhântài cho đất nước.Đến năm 1825 vua Minh Mạng ra lệnh cho bộ lễ lập danh sáchnhững người có công lao ở các đình, chấn và lập đền thờ họ ở các địa phương.Thờ thành hoàn làng ở đình làng là đặc trưng tín ngưỡng độc đáo của ngườiViệt

Nho giáo thời vua Thiệu Trị: Đã tiếp tục và phát triển nho giáo trong bình

diện ý thức quan hệ của mình Việc sử dụng nho giáo trong các hệ thống tôngiáo làm tư tưởng cho việc xây dựng và củng cố vương quyền của mình Ngoàiviệc áp dụng nho giáo vào xây dựng cuộc sống vật chất và tinh thần cho nhândân, cũng như trong chính trị và giáo dục

Nho giáo thời vua Tự Đức: Nho giáo càng được đề cao và là người chịu

ảnh hưởng mạnh mẽ của nho học Giữa nho giáo và hệ thống thi cử có mối quan

hệ mạnh, vua không chỉ đề cao nho giáo trong việc tổ chức xã hội, cho cá nhân

mà còn coi nho giáo là nội dung học tập chính và quan trọng, là một phương tiệnkhái niệm học thuyết để tiến than “ tu thân, trị quốc, bình thiên hại”

Như vậy: là một triều đại trọng dụng nho giáo, lấy nho giáo làm tư tưởng độc

tôn Đứng trước sự hiện diện của tín ngưỡng tôn giáo cổ truyền của dân tộc ViệtNam ở đầu thế kỷ XIX, các vua triều Nguyễn đã có một thái độ ứng xử thíchhợp, hài hoà Một mặt, nhà nguyễn vẫn đề cao nho giáo, lấy nho giáo làm hệ tưtưởng chính thống của mình, song mặt khác các vua triều nguyễn vẫn tôn trọng,duy trì tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên khéo kết hợp nội dung của nho giáo với tínngưỡng truyền thống

Trang 8

b, Thiên chúa giáo trong thời nhà Nguyễn

Triều Gia Long (1802 - 1819) : Trong các vua triều Nguyễn ở thời kỳ tự chủ ,

Gia Long là người rất có thiện chí với Thiên chúa giáo nhưng ông vẫn chủtrương bảo vệ Nho giáo và nghi lễ thờ cúng tổ tiên; ông cũng cho rằng địa ngục,thiên đàng của luận thuyết Thiên chúa giáo là sự dị đoan chỉ làm mê hoặc,quyến rũ những người thiếu hiểu biết Nhưng quan điểm của vua Gia Long chorằng người theo Thiên chúa giáo cũng là công dân nếu họ không tin tưởng vàothờ cúng tổ tiên và các thần linh thì cũng không nên cấm đoán họ Không mộtlệnh cấm đạo nào được ban hành dưới thời Gia Long, các giáo sĩ đều cho rằngđây là giai đoạn thuận lợi cho việc truyền giáo ở Việt Nam Tuy nhiên, Gia Longvẫn thấy nguy cơ về mất chủ quyền mỗi khi cơ hội đến với phương Tây thôngqua con đường bảo vệ đạo Thiên chúa nên ông căn dặn người kế vị (MinhMạng) không nên đối xử phân biệt giữa các đạo Nho, Phật, Thiên chúa giáo.Việc khủng bố tôn giáo sẽ là nguyên nhân dẫn đến các biến động xã hội và gây

ra thù oán trong nhân dân; đôi khi làm sụp đổ cả ngôi vua

Triều vua Minh Mạng : Năm 1824, chính phủ Pháp cử J B Chaigneau sang

Huế để duy trì hoạt động ngoại giao có từ thời Gia Long Năm đó, có một tàuPháp đến Đà Nẵng mang thư và lễ vật của vua Pháp gửi đến vua Minh Mạngnhưng bị Minh Mạng từ chối, một số giáo sĩ nhân đó trốn lên được đất liền đểtruyền giáo Năm 1831, chính phủ Pháp cử một tàu đến Huế đặt lại quan hệngoại giao nhưng bị vua Minh Mạng cự tuyệt Những động thái đối ngoại đầykiêu kỳ này của Minh Mạng đã gây sự phản ứng cho nhiều giới chức Pháp Năm

1832, Minh Mạng ra dụ: “Cái thuyết thiên đường, tóm lại chỉ là chuyện hoangđường, không có bằng chứng Hơn nữa nếu không kính thần minh, không thờtiên tổ thì rất trái với chính đạo Những việc trái luân lý, hại phong hóa, điều ấy

kể ra còn nhiều, thực đã phạm đến pháp luật Đạo ấy quy là tà đạo hơn đạo nàohết”

Triều Thiệu Trị (1841 - 1847): Dưới thời Thiệu Trị, nhà vua vẫn duy trì

chính sách cấm đạo được ban hành từ thời Minh Mạng nhưng không tỏ ra tíchcực như triều vua trước Phần lớn các giáo sĩ bị bắt đều được Thiệu Trị cho lãnh

án “trảm giam hậu” (tội chết nhưng giam đợi xét), rồi cuối cùng cũng được trả

tự do Đối với các quan theo đạo nhà vua kiên trì thuyết phục tạo cho họ có cơhội bỏ đạo đó là trường hợp quan thủ ngự Hồ Văn Dường ở tỉnh Đồng Nai đã tựnguyện bỏ đạo bằng cách bước qua cây Thánh giá nhưng vẫn chưa chịu dự lễ tếthần ở miếu Kỳ , trình nhà vua xem xét1F 12 Năm 1841, các giáo sĩ Miche,Duclos, Galy, Berneux và Charries bị bắt và bị kết án tử hình nhưng Thiệu Trị

Trang 9

không cho thi hành án Năm 1843, tàu chiến Pháp Héroine tự tiện đến Đà Nẵng,thuyền trưởng Felix Favin Lévecque yêu cầu triều đình Huế thả các giáo sĩ trên.Thiệu Trị chấp thuận và trao các giáo sĩ cho viên thuyền trưởng nói trên; tàuPháp rời cảng Đà Nẵng ngày 16-3-1843

Triều Tự Đức (1848 - 1883): Những áp lực quân sự và ngoại giao của Pháp

đã đưa đến những sóng gió dưới triều đình Tự Đức đã gây ra nhiều biến cố tronggiáo hội Thiên chúa giáo ở Việt Nam Giai đoạn 1848 - 1862 là thời kỳ khốc liệttrong cuộc chiến Việt - Pháp không cân sức cũng là thời kỳ sát đạo gay gắt củatriều đình Huế với các nhà truyền giáo và giáo dân Năm 1848, lúc mới lên ngôivua, Tự Đức đã phê duyệt lệnh cấm đạo: “Phàm những đạo trưởng Tây Dươngđến nước ta thì cho quân dân mọi người ai có thể bắt được nộp quan, thưởng cho

300 lạng bạc Còn người đạo trưởng Tây Dương ấy do quan sở tại xét hỏi rõràng lý lịch , lập tức đem việc dâng tâu, cho đem đích thân nạn nhân ấy némxuống biển Còn những đạo trưởng và bọn theo đạo là người nước ta, xin do cácnha lại xét việc hình hai, ba lần mới báo cho biết tội, nếu họ biết hối cải bỏ đạobước qua cây giá chữ thập thì thả ra ngay Người nào không chịu nhảy qua câygiá chữ thập thì người đạo trưởng cũng nên xử tử, các con chiên theo đạo hãytạm thích vào mặt , đuổi về cho vào sổ dân Nếu họ biết hối cải thì cũng cho đếnquan để trừ bỏ thích chữ ấy đi

Như vậy: Chính sách cấm đạo của các vua Nguyễn là một trong những nguyên

nhân để liên quân Pháp - Tây Ban Nha đánh vào Đà Nẵng (1858) và cũng là mộttrong những nguyên nhân đưa đến sự thất bại của triều đình Tự Đức trong cuộcchiến chống Pháp vào thế kỷ XIX

Chính sách đối với Thiên chúa giáo có liên quan trực tiếp đến chủ quyền vàvận mệnh dân tộc là một sai lầm của triều Nguyễn để cả dân tộc phải trả giábằng máu xương và sự sĩ nhục là bài học muôn thuở để các thế hệ Việt Nam tìmcho mình một chính sách tôn giáo đúng đắn , phù hợp trong từng giai đoạn lịch

sử và bối cảnh chính trị trong nước và quốc tế khác nhau

c, Phật giáo dưới triều Nguyễn

Triều nguyễn sau khi xây dựng được vương triều của mình rất chú tâm pháttriển tôn giáo truyền thống như phật giáo, ấn độ giáo,… trong đó nổi bật hơn cả

là ảnh hưởng tâm linh trong đời sống các vua thời nhà Nguyễn

Trang 10

Phật giáo là tôn giáo lớn có sức lan toả rộng đặc biệt là các nước Châu á trong

đó có Việt Nam, Huế là một trong ba trung tâm phật giáo lớn của cả nước, chịuảnh hưởng sâu đậm văn hoá,lối sống

Dưới triều Nguyễn phật giáo được truyền bá rộng rãi, nhiều chùa ở Huế vàđược trùng tu, khởi tạo Dù đề cao Nho giáo nhưng phật giáo cũng được các vuaNguyễn quan tâm như là biện pháp để thu phục nhân tâm Nói tới phật giáo triềuNguyễn không thể không nhắc tới hệ thống chùa chiền đã được các vua Nguyễncho xây dựng mới hoạc trùng tu cải tạo chùa Diệu Đế, chùa Tư Hiếu, Đặc biệt

là chùa Thiên Mụ ngôi chùa đã trở thành biểu tượng kinh thành Huế

Chùa Thiên Mụ ( còn gọi là chùa Linh Mụ) được chúa Nguyễn Hoàng xâydựngvào năm 1661 Ngoài ra, nghệ thuật điêu khắc phật giáo cũng được nângcao

Tiểu kết: Như vậy đời sống tín ngưỡng của mình, tôn giáo chiếm một vị trí khá

lỡn trong đời sống của các vua Nguyễn Tôn giáp không chỉ mang lại sự uynghiêm độc tôn cho các vị vua mà còn là công cụ cho các vị vua cai trị vươngquyền của mình

2 Ẩm thực

"Đối với Huế, ăn uống cũng là một loại hình văn hoá" và chia ẩm thực Huế làm hai hệ, ẩm thực cung đình và ẩm thực dân gian Thật ra, ẩm thực cung đình cũng là ẩm thực dân gian được nâng cao lên, và đến lượt ẩm thực cung đình ảnh hưởng trở lại làm thay đổi chất lượng của ẩm thực dân gian bởi đầu bếp cung đình cũng là những người khéo tuyển mộ từ dân gian

*Ẩm thực cung đình

Trang 11

Yến tiệc cung đình – đỉnh cao ẩm thực Huế

Trong cung đình, việc tổ chức các món ăn trong mỗi bữa thành một "phươngthang" để vừa bổ dưỡng, vừa trị bệnh là trách nhiệm của viện Thái Y

Thành lập năm 1802, "Nội Trù thuyền" trực thuộc vệ Thị Nội do bộ Binh quản

lý, năm 1808 cơ quan này đổi tên là "Tư Thiện đội" và năm 1802, dướitriều Minh Mạng gọi là "Thượng Thiện đội" là một bộ phận chuyên lo việc bếpnúc, từ mua sắm thức ăn, nấu nướng, chuẩn bị bát đĩa, tăm, thìa cho bữa ăn củavua và cúng giỗ của hoàng gia Nhân viên đội Thượng Thiện có khoảng 50người, phải chịu nhiều "điều cấm" để bảo đảm an toàn trong việc ăn uống và đặtdưới sự giám sát của viện Thái Y

Bên cạnh đội Thượng Thiện, trong cung còn có viện Thượng Trà chuyên tráchviệc cung cấp đồ uống cho vua và cúng giỗ của hoàng gia

Vua Gia Long được ghi nhận là ăn uống giản dị nhất "nhà vua không bao giờ

uống rượu, bữa ăn chỉ gồm ít thịt, cá, cơm, rau, bánh, trái Khi vua ăn không ai được ngồi cùng, kể cả hoàng hậu" Một số món ngự thiện đã được đưa vào ca

Huế qua điệu Nam Ai, liệt kê gồm: nem công, thấu thỏ, xôi vò, nham bò, trứng

gà lộn, khum lệt, xào lươn, bó sò trâu Chiên cua gạch, hầm câu, cao lầu, kho tàu, thịt quay, dưa gia, kiệu thịt phay, gầm ghì, măng cày Hon hôn, nướng sẻ,

um cò, tao sò, mực trộn, gân chân vịt, giò nai, cháo hải sâm Kim châm, da bì, bánh mì tây Địa phương Huế còn có loại "gạo de An Cựu" dành để tiến vua.

Trang 12

Ngoài những món chế biến từ nguyên liệu mua từ các chợ kinh kỳ, một số đặcbiệt quý hiếm hay lạ do địa phương khác cống nạp Ở ngoài Bắc thì có

giống nhãn tiến từ Hưng Yên Bát trân là tám món quý gồm yến sào (tổ chim

yến), hải sâm (đỉa biển), bào ngư (cửu khổng), hào xi, lộc cân (gân nai), tê bì(da tê giác), hùng chưởng (tay gấu)

mỹ thuật, bữa ăn thường ngày đơn giản là cua đồng, cá ruộng, rau vườn tuynhiên khi cần thanh nhã như tiệc, kỵ giỗ thì đầu bếp vẫn có thể thực hiệnnhững món ăn tinh xảo

Trang 13

Ngoài những nét đặc trưng tổng quát của ẩm thực Việt Nam ẩm thực dân gianHuế mang những đặc trưng riêng, nổi bật Một là tính đa dạng, trên mỗi bữa ănthường với nhiều chất liệu thịt, cá, rau quả và được thể hiện qua nhiều món nhưcanh, kho, luộc, nướng, xào, hấp Hai là tính mỹ thuật, dù giàu nghèo, mâmcơm bao giờ cũng sắp xếp gọn gàng, tươm tất trên bàn, trên phản, chõng haytrên chiếc chiếu trải giữa nhà; lễ tiệc phải chú ý bày biện, phối hợp màu sắc củacác thực đơn để hấp dẫn người ăn Thứ ba là tính tập thể, tất cả các món đềuđược bày ra hết, nhất là trọng kỵ giỗ và có thể chúng được bày chồng lên nhau,mỗi mâm cỗ dành cho nhiều người Thứ tư là tính tinh tế và ngon lành, kế cảmón mặn lẫn món chay, và để thu hút thực khách, người Huế thường đặt tên chomón ăn những tên gọi đầy hoa mỹ

Đến Huế ngoài hệ thống cung đình lăng tẩm triều Nguyễn, du khách sẽ có dịpđược thưởng thức vô vàn các món ăn ngon nơi đây Từ các món ăn cầu kỳ theokiểu vua chúa đến các món dân dã thôn quê, người Huế đã biến ẩm thực thànhmột thứ "tinh hoa" mà không nơi nào có được Như một số đặc sản cơm hến,bún bò huế, bánh bèo, bánh ướt thịt nướng, bánh khoái, và các lọi bánh khácnhư bánh in, bánh bột lọc, bánh nậm, bánh xu xê, tôm chua, các lọai chè Huế nổitiếng ngon và lạ

do các Thượng thư đứng đầu và Tả hữu tham tri Tả hữu thị lang giúp việc

Quản lý một đất nước thống nhất kéo dài từ Lạng Sơn đến Hà Tiên đối với GiaLong lúc đó là hoàn toàn mới mẻ Gia Long cho tổ chức lại các đơn vị hànhchính từ Trung ương xuống cả nước chia làm 23 trấn, 4 doanh Từ Ninh Bình trở

ra gọi là Bắc Thành gồm 11 trấn (5 nội trấn và 6 ngoại trấn); Từ Bình Thuận trởvào gọi là Gia Ðịnh thành gồm 5 trấn; ở quãng giữa là các trấn độc lập: ThanhHoá, Nghệ An, Quảng Nghĩa, Bình Ðịnh, Phú Yên, Bình Hoà, Bình Thuận; đấtkinh kỳ đặt 4 doanh: Trực Lệ Quảng Ðức doanh (tức Thừa Thiên), Quảng Trịdoanh, Quảng Bình doanh và Quảng Nam doanh Cai quản Bắc thành và GiaÐịnh thành có Tổng trấn và Phó tổng trấn Mỗi trấn có Lưu trấn hay Trấn thủ,

Trang 14

Cai bạ và Ký lục Trấn chia ra phủ, huyện, châu có trên một lãnh thổ thống nhất,các tổ chức hành chính được sắp đặt chính quy như vậy

Quản lý đinh khẩu, ruộng đất và thuế khoá áp dụng theo mẫu hình thời Lê sơnhưng được thực hiện trên quy mô lớn hơn, có quy củ hơn Ðáng chú ý là việclàm sổ ruộng (địa bạ) dưới thời Gia Long được tiến hành nhất loạt, có quy môtoàn quốc Các làng xã phải lập sổ địa bạ ghi rõ từng loại ruộng đất, diện tích, vịtrí, công, tư chép thành 3 bản nộp lên bộ Hộ Bộ đóng dấu kiềm, lưu mộtquyển, tỉnh giữ một, xã giữ một Năm năm làm lại địa bạ một lần Ðến nay cònlưu giữ khá đủ toàn bộ địa bạ Gia Long của các trấn, doanh cả nước Trên cơ sởđiều tra kê cứu địa chỉ các địa phương Cả nước gồm 4 đại hình sông núi, cầuquán, chợ búa, phong tục, thổ sản năm Bính Dần (1806), vua Gia Long saibiên soạn và ban hành bộ "Nhất thống đại dư chí" gồm 10 quyển

Năm ất Hợi (1815) bộ "Quốc triều hình luật" gồm 22 quyển với 398 điều luật

đã được ban hành

Công cuộc khai hoang vùng đồng bằng sông Cửu Long được tiếp tục Nhànước đã bỏ tiền đào kênh thoát nước Thuỵ Hà và sông Vĩnh Tế tạo thuận lợi choviệc khẩn hoang Những công trình lớn như sông Vĩnh Tế huy động sức người,sức của cả dân Việt và Chân Lạp dọc hai bờ có sông chảy qua Việc trị thuỷvùng đồng bằng Bắc Bộ cũng được Gia Long chú ý ngay từ đầu Năm Giáp Tí(1804), trên đường ra Bắc làm lễ thụ phong của nhà Thanh, Gia Long cũng nêuvấn đề đắp đê để sĩ phu Bắc Hà bàn luận Mặc dù chưa nhất trí, nhà vua vẫnquyết định đắp đê Thời Gia Long khối lượng đê, kè, cống được đắp nhiều

nhất so với các triều trước

*Ðối ngoại:

Triều Nguyễn một mặt tranh thủ sự ủng hộ và giữ lễ thần phục nhà Thanh,mặt khác lại tạo quan hệ đàn anh với Chân Lạp và Ai Lao Ðối với các nướcphương Tây, từ chỗ dựa vào lực lượng của họ để giành thắng lợi chuyển sanglạnh nhạt Năm Quý Hợi (1803), nước Anh xin mở cửa hàng buôn bán ở TràSơn (Quảng Nam) bị nhà vua từ chối Sĩ quan Pháp đã từng giúp vua được trọngđãi, giữ chức tại triều, mỗi người có 50 lính hầu, gia đặc ân buổi chầu khôngphải lạy Còn yêu sách khác của chính phủ Pháp đều bị khước từ Năm ÐinhSửu (1817) tầu buôn Pháp tên là "La paix" (hoà bình) chở hàng sang bán nhưnghàng không hợp thị hiếu người Việt Nam, phải trở về, được miễn thuế Ðến khitàu Cybèle vào Ðà Nẵng đưa thư Hoàng đế Pháp nhẵc lại việc thi hành điều ước

Trang 15

ký năm Ðinh Mùi (1787) (Bá Nha thay mặt Nguyễn ánh, có khoản Nguyễn ánhnhường cho Pháp cửa biển Ðà Nẵng và đảo Côn Lôn) Gia Long kiên quyết bác

bỏ viện lý rằng: Ðiều ước tuy đã ký song thủa đó phía Pháp không thực hiện thìnay không còn giá trị nữa! Nhà Nguyễn cấm hẳn các thuyền buôn phương Tâysong cũng không mời chào khuyến khích hoặc có một chính sách tỏ ra chủđộng,tích cực hơn

Trong việc dùng người Minh Mạng đặc biệt chú trọng đến học thức Chế độtiền lương cho quan lại cũng được quy định khá chi tiết, từ Chánh nhất phẩmđến tòng Cửu phẩm cách nhau chừng 18 bậc, tiền lương cũng chênh nhaukhoảng 18 đến 20 lần Ngoài ra, Tri phủ, đồng Tri phủ, Tri huyện, Tri châu còn

có khoản tiền "dưỡng liêm" từ 20 đến 50 quan tuỳ theo cương vị khác nhau, nhàvua nghiêm trị bọn quan lại tham nhũng Có viên quan không dùng thước để gạtđong thóc thuế, thường dùng tay để dễ bề lạm dụng, biết chuyện nhà vua lập tứcsai chặt tay tên vô lại đó

Minh Mạng rất quan tâm đến võ bị, đặc biệt là thuỷ quân Ngay những nămđầu lên ngôi, vua đã sai người tìm hiểu cách đóng tàu của châu Âu và quyết tâmlàm cho người Việt tự đóng được tàu theo kiểu Tây Âu và biết lái tàu vượt đạidương, các quy chế luyện tập thuỷ quân, khảo sát vị trí bờ biển, hải cảng cũngđược chú ý Hàng năm, nhà vua thường phái nhiều tàu vượt biển sang các nước

và các cảng lớn vùng biển Ðông như Jakarta, Singapore, Malaisia để bán hàng,mua hàng, luyện tập đi biển và xem xét tình hình các nước Minh Mạng đã chohoàn chỉnh hệ thống đê điều ở Bắc Bộ, đặt quan khuyên nông, khai hoang venbiển Bắc Bộ, lập hai huyện mới Kim Sơn và Tiền Hải Công cuộc khai hoang vàthuỷ lợi ở Nam Bộ cũng được đẩy mạnh Minh Mạng đã thử nghiệm giải pháp

bỏ đê phía Nam Hà Nội , đào sông thoát lũ Cửu An (Hưng Yên)

Trang 16

Trên cơ sở đã có từ thời Gia Long, nay Minh Mạng củng cố và hoàn thiện hơn

bộ máy quản lý đất nước: đặt nội các trong cung điện để khi cần, vua hỏi han vàlàm giấy tờ: biểu sắc, chế cáo năm Kỷ Sửu (1829); đặt cơ mật viện năm GiápNgọ (1834) dùng 4 đại thần, đeo kim bài để phân biệt chức vị Cơ mật viện cùngvua bàn bạc và quyết định những việc quan trọng nhất Năm Tân Mão (1831),Minh Mạng cho tiến hành cải cách hành chính trên quy mô lớn, chia cả nước ralàm 31 tỉnh Từ đây, tỉnh là đơn vị hành chính thống nhất trong cả nước, cócương vực và địa hình khá hợp lý Mỗi tỉnh có Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính,

án sát để trông coi công việc Các châu miền núi được chia theo đơn vị hànhchính thống nhất với miền xuôi

*Đối ngoại

Minh Mạng đặc biệt chú ý thần phục nhà Thanh Lễ thụ phong của vua ởthành Thăng Long được tổ chức cực kỳ trọng thể Ngày 10 năm Tân Tỵ (1821),nhà vua dẫn đầu một đoàn tuỳ tùng có 1782 người gồm Hoàng thân, bá quan văn

võ và 5150 lính (tổng cộng 6932 người) rời Phú Xuân ra Thăng Long để nhậnsắc phong của "thiên triều" Hành trình kéo dài 33 ngày đêm Ðoàn người đôngđúc đó phải nằm chờ ở Thăng Long mãi từ khi sứ Thanh đến và xong lễ Thủ tụcđón tiếp và chiêu đãi sứ Thanh diễn ra hết sức chu đáo và long trọng

Ðối với các nước phương Tây, nhà vua lại tỏ ra lạnh nhạt và nghi kỵ Chínhsách thụ động như vậy đã kìm hãm sự phát triển của đất nước

Niên hiệu: Thiệu Trị

Tập trung giải quyết hậu quả của thời Minh Mệnh:

*Đối nội:

Khắc phục hậu qủa của giải pháp bỏ đê ở Bắc Bộ Vào năm Quý Tỵ (1883),sau nhiều cố gắng củng cố và hoàn thiện hệ thống đê điều ở Bắc Bộ mà vẫn lụtlội, Minh Mệnh mạnh dạn áp dụng giải pháp "đào sông thay đê" Vua cho phá

bỏ đê điều vùng trũng phía Nam Hà Nội, khơi đào sông thoát lũ vùng HảiDương, Hưng Yên nhưng vô hiệu Theo ý nguyện thần dân địa phương, ThiệuTrị lại cho đắp đê, đập chắn ngang cửa sông Cửu An Việc thứ hai là giải quyếtvấn đề Chân Lạp Cuối thời Minh Mệnh, thành Trấn Tây là mối lo cần giảiquyết Trương Minh Giảng, Nguyễn Tiến Lâm, Lê Văn Ðức, Nguyễn Công Trứđem quân đánh dẹp mãi không yên Vì thế ngay năm đầu lên ngôi, triều quannhư Tạ Quang Cự tâu xin bỏ đất Chân Lạp, rút quân về giữ An Giang Vua nghetheo, xuống chiếu bãi binh Trương Minh Giảng về đến An Giang thì mất.Tháng 6 năm Ất Tỵ (1845), Chân Lạp bị Xiêm chiếm đóng, đáp lời cầu viện của

Trang 17

Chân Lạp, triều đình lại cử binh sang buộc tướng Xiêm là Chất Tri Ký hoà ướcrồi hai nước cùng bãi binh Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn rút quân về đóng ởTrấn Tây, Năm Bính Ngọ (1846), Nặc Ðơn Ông sai sứ sang dâng biểu và cốngphẩm Tháng Hai Ðinh Mùi (1874), triều đình Nguyễn phong Nặc Ông Ðơn CaoMiên quốc vương và Mỹ Lâm quận chúa, Cao Miên quận chúa Lại xuống chiếucho quân thứ ở Trấn Tây rút về An Giang Từ đó Chân Lạp lại có vua và phíaTây Nam bắt đầu yên dần.

*Đối ngoại:

Khi Thiệu Trị lên cầm quyền thì việc cấm đạo có nguôi đi ít nhiều Một sốgiáo sĩ bị bắt giam từ trước tại Huế, bị kết án tử hình nay được tự do nhờ sự canthiệp của hải quân Pháp

d, Tự Đức Hoàng đế (1848-1883)

Niên hiệu: Tự Ðức

Vì lý do ốm yếu mà vua ít sát dân tình, ngày càng trở nên quan liêu, mệnhlệnh Trên thế giới, khoa học và công nghệ đã phát triển mạnh mẽ, cạnh tranhbuôn bán ngày càng gay gắt, thế mà đình thần quanh vua chỉ chăm lo việc vănchương, khéo nghề nghiên bút, bàn đến quốc sự thì lấy Nghiêu Thuấn, Hạ,Thương, Chu xa xưa làm gương, tự vỗ ngực là văn minh, chê thiên hạ là ngoại

di Vì thế, Tự Ðức cấm buôn bán ngày càng gay gắt hơn, quần thần vẫn chầnchừ, ngại cải cách, nếu có làm, lại dè dặt, nửa chừng Triều đình chia làm haiphe: Cách tân và bảo thủ, người chủ trương cách tân dù rất kiên quyết nhưngtrong điều kiện quá chênh lệch về lực lượng nên cuối cùng bị thất bại Khi đất nước sa vào tay Pháp lại nảy sinh hai phe: chủ chiến và chủ hòa, nhưng

do phe chủ chiến không đủ mạnh nên đã thất bại

4 Khoa học kỹ thuật thời Nguyễn

-Sử học:

Sử học dưới thời nhà Nguyễn rất phát triển Có thể nói đây là ngành phát triểnnhất thời vương triều Nguyễn Đặc biệt khi cơ quan phụ trách sử học là Quốc sửquán ra đời năm 1820 dưới thời vua Minh Mạng với nhiệm vụ thu thập các bộ

sử xưa, in lại Quốc sử thời Lê và biên soạn các bộ sử mới Quốc sử quán phảinói là được tổ chức kỷ cương, hoạt động một cách đầy hiệu quả Nhà nguyễncũng cho lập các kho tàng lưu trữ các sáng tác từ cổ chí kim

Trang 18

Sử học nhà nguyễn có các thành tựu sau:

+ Tìm kiếm, lưu trữ và cho in lại các tác phẩm sử học của các triều đại trước + Biên soạn nhiều bộ sử rất lớn và các công trình sử học có giá trị lớn như:Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục, Đại Nam liệt truyện, Đại NamThực lục – Tiền biên và chính biên, Khâm định tiễu bình lưỡng kỳ phi khẩuphương lược,… Các nhà sử học cũng cho ra đời nhiều công trình của cá nhânnhư: Lịch triều tạp ký của Ngô Cao Lãng, Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bản,Quốc sử dĩ biên của Phan Thúc Trực,…và nhất là Lịch triểu hiến chương loạichí của Phan Huy Chú Trong đó, Đại Nam thực lục chính biên có tới 587quyển

+ Các công trình địa phương chí, và Gia Phả các dòng họ cũng xuất hiện rấtnhiều Việc biên soạn các bộ địa phương chí gần như thành phong trào: từ cáctỉnh lớn cho đến tận các huyện xã cũng có chí Trong đó có rất nhiều bộ chíđược biên soạn khá công phu với nhiều chi tiết quý mà các bộ sử lớn không có.Tiêu biểu cho địa phương chí là Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức,Nghệ An ký của Bùi Dương Lịch Thể loại Gia Phả thì có Mạc Thị Gia Phả của

Vũ Thế Dinh Ngoài ra còn có các tác phẩm soạn theo kiểu quy cách nhiều vấn

đề khác nhau của lịch sử, nổi bật của thể loại này là bộ Lịch triểu Hiến chươngloại chí của ông Phan Huy Chú

Năm 1942,giám đốc Nhà lưu trữ Đông Dương Paul Boudet cho biết rằng cáctài liệu trước thế kỷ XIX ( thời Nguyễn) chỉ còn lưu lại được khoảng 20 bản bởingoài lý do chiến tranh, môi trường… còn bởi các triều trước không đặt cácchức quan, cơ quan trông coi công tác lưu trữ, thiếu ý thức bảo tồn di sản quákhứ Từ triều vua Minh Mạng công tác lưu trữ mới được quan tâm.Cũng năm

1942, số lượng địa ba ở Tàng thư lâu giữ được có tới 12000 quyển

- Địa lý và địa lý lịch sử

Thời nguyễn cũng là thời có nhiều tác phẩm đia lý học lớn như bộ Hoàng ViệtNhất thống dư địa chí do Thượng thư Lê Quang Định soạn theo lời của vua GiaLong Sau đó cơ quan Quốc sử quán triều Nguyễn cũng soạn tiếp nhiều côngtrình khác gồm Đại Nam nhất thống toàn đồ, Đại Nam nhất thống chí Ngoài ra,còn có nhiều tác phẩm có giá trị cao khác ngoài Quốc sử quán như Bắc Thànhđịa dư chí và Hoàng Việt dư địa chí của Phan Huy Chú , Phương Đình dư địachí của Nguyễn Văn Siêu; Đại Việt cổ kim duyên cách địa chí khảo và GiaĐịnh thành thông chí của Trịnh Hoài Đức, Nam Hà tiệp lục của Quốc sử quán,

Trang 19

…Ngoài ra thời Minh Mạng cũng xuất hiện rất nhiều bản đồ về các địa phươngcủa nước Đại Nam thời kỳ đó.

Nhìn chung theo nhận xét của Vương Quảng Hàm thì tuy có nhiều giá trịnhưng do vẫn còn thiếu một phương pháp nghiên cứu khoa học tốt nên các tácphẩm về sử học và địa lý thời kỳ này vẫn có nhiều khuyết điểm Dù vậy, cáctriều đại trước cũng không khá hơn nhà Nguyễn trong việc này

- Kỹ thuật công nghệ

Từ các cuộc đại chiến ở Đại Việt trước, kỹ thuật công nghệ của phương Tây

đã được các vua chúa đem vào Việt Nam rất nhiều đặc biệt trong lĩnh vực quân

sự Thời nhà Nguyễn vẫn kế thừa những thứ đã du nhập ấy, nhiều công trìnhđược du nhập theo kiểu kiến trúc Vauban của phương Tây như thành Bát Quái,kinh thành Huế, thành Hà Nội,…Thời Gia Long đã từng cho đóng một loạithuyền lớn bọc đồng để tuần tra biển

Sang đến thời Minh Mạng, nhiều máy móc mang tính mới mẻ đã được chế tạogồm: máy cưa chạy bằng sức trâu và sức nước, máy xé gỗ chạy bằng sức trâu

Cụ thể là, năm 1834, Nguyễn Viết Túy dưới sự đồng ý của vua Minh Mạng đãchế tạo ra chiếc máy nghiền thuốc súng bằng sức nước mang tên Thủy hỏa kí tế.Sau đó những năm 1837-1838, theo mẫu của phương Tây, thợ thủ công Nhànước đã chế tạo được máy cưa vân gỗ, xé gỗ bằng sức nước, máy hút nước tướiruộng,…và còn có cả xe cứu hỏa Đặc biệt là năm 1839, dựa theo các kiểuphương Tây, các đốc công Hoàng Văn Lịch, Vũ Huy Trịnh cùng các thợ củaông đã đóng thành công chiếc tàu máy hơi nước đầu tiên, được vua Minh Mạnghết sức khen ngợi Năm sau, Minh Mạng lại chỉ đạo cho họ đóng một chiếc kiểumới tân tiến hơn và sửa chữa một chiếc bị hỏng Điều đáng tiếc là sau đó mọiviệc dường như bị đình lại Thời Tự Đức, nhiều sách kỹ thuật phương Tây đượcdịch sang tiếng Hán như Bác Vật tân biên, Khai Môi yếu pháp, Hàng hải Kimchâm Nhưng một điều đáng tiếc là những tiến bộ này vẫn chưa kịp tác động vàoquá trình phát triển của xã hội Việt Nam Đén giữa thế kỷ XIX, Việt Nam vẫn làmột quốc gia với nền sản xuất nông nghiệp chậm tiến so với các nước phươngTây

- Kiến trúc

Trang 20

Kinh thành Huế nằm ở bờ Bắc sông Hương với tổng diện tích hơn 500 ha và 3vòng thành bảo vệ.Kinh thành do vua Gia Long bắt đầu cho xây dựng năm 1805

và được Minh Mạng tiếp tục hoàn thành năm 1832 theo kiến trúc của phươngTây kết hợp kiến trúc thành quách phương Đông Trải qua gần 200 năm khukinh thành hiện nay hầu như còn nguyên vẹn với gần 140 công trình xây dựnglớn nhỏ Kiến trúc cung đình Huế đã tiếp thu và kế thừa kiến trúc truyền thốngthời Lý, Trần, Lê đồng thời tiếp thu tinh hoa của Mỹ thuật Trung Hoa nhưng đãđược Việt Nam hóa Huế cũng đã được hiện đại hóa bởi những công trình sưngười Pháp phục vụ dưới thời vua Gia Long Khi xây dựng hệ thống thànhquách và cung điện, các nhà kiến trúc dưới sự chỉ đạo của nhà vua đã bố trí trụcchính của công trình theo hướng Tây Bắc – Đông Nam.Yếu tố Ngũ hành quantrọng trong bố cục mặt bằng của kiến trúc kinh thành tương ứng với ngũphương

5 Kinh tế

Kinh tế Việt Nam thời nhà Nguyễn phản ánh kết quả hoạt động của các

ngành công nghiệp, thủ công nghiệp và thương mại Việt Nam dưới sự cai trị củanhà Nguyễn thời kỳ còn độc lập (1802-1884) (giai đoạn kinh tế tiếp theo đượcphản ánh trong bài Kinh tế Việt Nam thời Pháp thuộc)

Nền kinh tế Việt Nam thời nhà Nguyễn là nền kinh tế chủ yếu dựa trên nôngnghiệp Bên cạnh đó là sự tái phục hồi hoạt động nội thương sau thời gian dàiđất nước bị chia cắt Dưới thời Thiệu Trị, chính sách ngoại thương với các nướcphương Tây có một số ưu đãi, trong khi với các nước láng giềng thì còn nhiềuhạn chế và thủ tục phiền phức

 Nông nghiệp:

Triều Nguyễn có những chính sách ưu đãi để phát triển nông nghiệp, như là cấmmua bán ruộng đất công, lập kho Thường bình, Sở Tịch điền, Sở Diễn canh, khoBình thiếu, Sở Đồn điền, Đàn Xã Tắc, Đàn Tiên Nông

Cũng nhằm khuyến khích người dân cày ruộng, vua Minh Mạng khôi phụclại Lễ tịch điền (nhà vua đích thân xuống ruộng cày) và vào năm 1828, nhà vuagiao cho bộ Lễ soạn thảo chu đáo các điển lễ làm thành luật lệ lâu dài

*Vấn đề ruộng đất:

Trong đình thần có ý kiến tịch thu ruộng đất bị chiếm trong thời loạn để phâncấp cho dân nghèo nhưng vua Gia Long cho rằng phép này khó thực hiện nênông chỉ tịch thu những ruộng đất của quan lại triều Tây Sơn và ruộng trang trạiriêng của Tây Sơn làm quan điền Thời Minh Mạng định lại phép quân cấpruộng khẩu phần, quan lại, binh lính, công tượng (thợ làm quan xưởng) cùng cáchạng dân đinh, không kể phẩm trật cao thấp đều được hưởng một phần khẩu

Trang 21

phân nhưng quan lại, cường hào cũng giành được những phần tốt hơn Ngườigià, người tàn tật thì được nửa phần Cô nhi, quả phụ được 1/3.

*Vấn đề khai hoang và phục hóa:

Nhà Nguyễn tiếp tục một số công việc từ thời các chúa Nguyễn để lại như việckhẩn hoang, mở rộng, phát triển nông nghiệp Ở Nam Kỳ, người dân đã tự dođến khẩn hoang với tư cách cá nhân hoặc tập thể dưới sự giúp đỡ của triều đình

Sử sách cũng ghi lại tên tuổi nhiều người đã có công trong việc đào kênh, vỡ đấtnhư Thoại Ngọc Hầu

Triều đình nhà Nguyễn dành cho việc khai hoang, phục hóa rất nhiều sự quantâm, họ đã cho tiến hành nhiều chính sách khai khẩn hoang khác nhau và đã đemlại nhiều kết quả tốt đẹp Diện tích ruộng đất thực trưng tăng lên nhiều: năm

tổ chức vào năm 1853-1854, lập được 21 cơ, 124 ấp phân phối ở cả 6 tỉnh

*Doanh điền:

Đây là hình thức triều đình và nhân dân cùng kết hợp khai hoang, mới ra đời

từ thời Nguyễn theo đề xuất của Tham tán quân vụ Bắc thành Nguyễn CôngTrứ

1thời vua Minh Mạng Cách thức được quy định cụ thể như sau: nhà nước sẽ bỏvốn ban đầu và cử ra một quan chức sẽ dứng ra chiêu mộ và chỉ đạo dân chúngđưa đi khai hoang theo hai trường hợp

Ngoài ra, triều đình Nguyễn còn khuyến khích nhân dân tự do khai hoang kếthợp phục hóa Việc đinh điền cũng có chỉnh đốn và kiểm soát chặt chẽ hơn.Ruộng đất ở Nam Việt thời Minh Mạng được đo đạc lại, tính ra được 630.075mẫu Tổng số đinh toàn quốc là 970.516 xuất và 4.063.892 mẫu ruộng đất Tuynói trên toàn diện, đất công điền không quá 1/5 diện tích canh tác, nhưng phầnđất còn lại được phân phối giữa nông dân mà đa số chỉ làm chủ tới 5 mẫu lànhiều Hạng người có 100 mẫu trở lên thì rất ít, mỗi tỉnh được nhiều nhất là dăm

ba người

Trang 22

*Việc trị thủy:

Vua Gia Long vừa lên ngôi đã quan tâm đến vấn đề đê điều và cho người tu

bổ đê cũ, đắp thêm đê mới Năm 1809, ông lại cho đặt nha Bắc thành đê chánh

và các chức Tổng lý và Tham lý đê chánh để lo vấn đề đê điều ở các trấn xứ Bắc

Kỳ Tới năm 1828, theo đề nghị của các quan, vua Minh Mạng cho cho tăngcường thêm nhân sự cho nha môn đê chánh nhưng tới 1833 thì bỏ nha này đi đểchuyên ủy việc đê điều cho các Đốc biện tại các tỉnh

Việc đắp đê, sửa chữa và khám xét được quy định tỉ mỉ Thời Tự Đức nhiềulần đã xác định lại cách thưởng phạt về sự phòng hộ đê và phân định tráchnhiệm của các phủ, huyện, tổng, lý sở tại các nơi đê vỡ

Năm 1809, hệ thống đê điều ở Bắc Thành tổng cộng là 239.933 trượng tươngđương 960 km Sau 21 năm dưới thời nhà Nguyễn, chiều dài các con đê ở Bắc

Kỳ đã tăng lên 303.616 trượng tương đương 1.215 km Tới cuối thế kỷ XIX, hệthống đê này đã dài tới 2.400 km

Mặc dù triều đình dành rất nhiều quan tâm nhiều tới việc trị thủy như vậynhưng vấn đề này vẫn không được giải quyết như mong đợi, vì thiếu sự phốihợp đồng bộ và quy hoạch chung giữa các địa phương, do tác động của môitrường, sinh thái, các đê đắp lên cứ vỡ liên miên Đặc biệt là ở sông Hồng, vìđất bồi nên lòng sông giữa 2 con đê cao hơn mặt đất, mỗi khi nước lớn thì đêkhông tài nào cản nổi Triều đình phân vân trong 3 cách: giữ đê, phá đê, đào

thêm sông Ngay từ thời Minh Mạng, nhà vua đã nhiều lần hội nghị về việc này,

ý kiến bất đồng quá nhiều tới nỗi thời 2 vua Thiệu Trị và Tự Đức phải treo bảngkhắp nơi để trưng cầu dân ý

Năm 1833, theo lệnh nhà vua, vị Tổng đốc Nam Định là Đặng Văn Thiêm đikhám xét đê điều đã tâu lên Minh Mạng chủ trương" Sửa đắp đê mới hay đê cũ,công trình nặng nhọc, phí tổn công khố cũng nhiều, thế mà khó nói trước có giữđược chắc chắn hay không Nếu đổi ra làm việc khai sông như vậy khôngnhững bớt được chút phí tổn mà lại có thể phân được thế nước và bớt được sự

xô mạnh dồn xuống." Vua Minh Mạng ra lệnh đình chỉ việc đắp đê để chờ xem

tình hình ra sao rồi mới bàn định lại Nhưng năm 1834, Minh Mạng sai Giámthành Phó sứ là Trương Viết Sùy kiểm tra lại thì ông cho rằng "không thể bỏ đêđược"

Năm 1852, vua Tự Đức lại tiếp tục mở cuộc trưng cầu ý kiến về việc phòng đê

ở Bắc Kỳ,

*Việc cứu đói:

Trải qua nội chiến, nhân dân lại gặp mất mùa liên tiếp Triều đình thường phảigiảm thuế, miễn thuế và chẩn cấp Người dân bị đói tràn khắp vùng thôn quê, tụhọp nhau đi cướp và những người chống triều đình lợi dụng sự bất mãn của

Trang 23

những đoàn dân đói này để xách động nổi loạn như ở Thanh Hóa và Nghệ

An năm 1819

Mỗi khi mất mùa, triều đình phải áp dụng những biện pháp khẩn cấp để cứuđói Để có phương tiện thực hiện cứu trợ khẩn cấp, triều đình thiết lập các kholương trữ lúa cho việc cứu tế được gọi là Bình Chuẩn Thương, người nghèo túng

có thể mua gạo giá rẻ hơn bình thường và không giới hạn, từ 1, 2 phương tới

cả thưng, đấu, bát

Ngoài ra triều Nguyễn còn lập ra Nghĩa Thương là những kho trữ lúa ởcác tỉnh và phủ huyện Những khi đói kém thì các kho này được mở ra để phátchẩn cho dân nghèo Triều Nguyễn cũng cho tổ chức Xã Thương rất nhiều dướithời vua Tự Đức, khi gạo đắt thì bán ra, khi gạo rẻ thì đong lại để lưu trữ, có thểcho vay, thu lợi bao nhiêu dùng để cấp dưỡng binh đinh và giúp kẻ nghèo khó Thời Minh Mạng triều đình cũng bắt quan lại các tỉnh phải xuất lúa giống

ở kho cho dân nghèo vay để làm mùa sau, nhằm làm cho nông nghiệp không bịđình trệ và việc mất mùa không ảnh hưởng nhiều sang các năm sau

Để làm nhẹ bớt sự khổ cực của người nông dân, triều Nguyễn cho áp dụngchính sách giảm hay miễn thuế cho những tỉnh bị nạn Riêng với các tỉnh bị thiệthại nặng, nhà vua cho miễn luôn tất cả các khoản thuế còn thiếu ở những nămtrước Năm 1841, vua Thiệu Trị cho dân Hưng Yên được miễn số thuế là 23.385quan và 83.162 hộc lúa

 Thủ công nghiệp:

Thủ công nghiệp Nhà nước thời Nguyễn chế tạo tất cả những đồ dùng chohoàng gia, tham gia đóng thuyền cho quân đội, đúc vũ khí, đúc tiền, Chính vìvậy, nhà Nguyễn cũng tập trung xây dựng hệ thống các xưởng thủ công Nhànước, nhất là ở kinh đô và các vùng phụ cận Năm 1803, Gia Long thành lậpxưởng đúc tiền Bắc Thành tiền cục ở Thăng Long Nhà Nguyễn cũng lập các Ti

trông coi các ngành thủ công Ví dụ như ti Vũ khố chế tạo quản lý nhiều ngành

thủ công khác nhau, gồm 57 cục: làm đất, đúc, làm đồ vàng bạc, vẽ tranh, làmngói, làm đồ pha lê, khắc chữ, đúc súng, làm trục xe, luyện đồng,

Ti Thuyền chịu trách nhiệm về các loài thuyền công và thuyền chiến, gồm 235

sở trên toàn quốc Ngoài ra còn có các ti Doanh kiến, ti Tu tạo, ti Thương báchoả dược

Phần lớn nhân lực trong các xưởng thủ công Nhà nước là do triều đình trưngdụng thợ khéo trong các ngành như khảm xà cừ, kim hoàn, thiêu thùa tới làmviệc để cung cấp đồ dùng cho triều đình Vì vậy người thợ luôn tìm cách trốntránh dù chính phủ áp dụng những biện pháp trừng phạt nặng nề để ngăn chặn

Trong nghề đóng tàu, năm 1820 sĩ quan người Mỹ John White đã nhận xét:"

Người Việt Nam quả là những người đóng tàu thành thạo Họ hoàn thành công

Ngày đăng: 17/12/2017, 20:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w