1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Anh (chị) hãy trình bày lý luận về văn hóa trang phục văn hóa trang phục của người Việt Nam và nguồn gốc áo dài, áo tứ thân và áo bà ba

66 3,1K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 19,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Anh (chị) hãy trình bày lý luận về văn hóa trang phục của người Việt Nam và nguồn gốc áo dài, áo tứ thân và áo bà ba.Thảo luận môn Cơ sở văn hóa.TRANG PHỤC = HOẠT ĐỘNG SỐNG + SÁNG TẠO CON NGƯỜI  VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI.

Trang 1

Chủ đề 2: Cơ sở văn hóa trang phục việt nam và nguồn gốc áo

dài, áo tứ thân và áo bà ba.

Trang 2

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

Trang 3

THẾ NÀO LÀ TRANG PHỤC VÀ

VĂN HÓA TRANG PHỤC?

- Khái niệm trang phục và văn hóa trang phục:

Trang phục là một phần không thể thiếu đối với con người, do

đó con người luôn tìm tòi sáng tạo để tìm ra được trang phục phù hợp với điều kiện sống, hoạt động kinh tế, phù hợp với lứa tuổi, giới tính và mục đích sử dụng trang phục Điều kiện sống, tín

ngưỡng, văn hóa mỗi dân tộc khác nhau nên mỗi dân tộc đều có kiểu trang phục khác nhau.

Văn hóa trang phục là kết quả của hoạt động sống và sáng tạo của con người, là văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và xã hội, qua đó thể hiện bản sắc dân tộc rõ nét.

Trang 4

TRANG PHỤC LÀ MỘT THÀNH TỐ

CƠ BẢN CỦA VĂN HÓA TỘC NGƯỜI.

Trang 5

TRANG PHỤC = HOẠT ĐỘNG

SỐNG + SÁNG TẠO CON NGƯỜI

 VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI MÔI

TRƯỜNG TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI.

Trang 6

PHẦN 2: TRANG PHỤC VIỆT NAM

TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI.

BẠN SUY NGHĨ NHƯ THẾ NÀO VỀ PHONG CÁCH ĂN MẶC

DƯỚI ĐÂY ?

Trang 7

PHẦN 2: TRANG PHỤC VIỆT NAM

TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI.

BẠN SUY NGHĨ NHƯ THẾ NÀO VỀ PHONG CÁCH ĂN MẶC

DƯỚI ĐÂY ?

Trang 8

 Trang phục phụ nữ quý tộc

 Trang phục Đông Sơn đã được

chắt lọc hình tượng hóa một số

vũ khí có thể xem như là bảo vật

quyền uy thời kỳ Văn Lang , đó

là hình ảnh ở đuôi kiếm được tìm

dưới chân núi Nưa ( Thanh Hóa)

Thanh kiếm dài 50 cm , phần

cán dài 18,2 cm Trang phục phụ

nữ núi Nưa mặc áo chẽn mở để

lộ phần trang trí của áo trong có

hoa văn , phần cổ tỏa ra hai bên

vạt áo và chạy theo mép tà áo

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI VĂN LANG

Trang 9

Váy chui (váy kín) có đặc

điểm hai mép vải được khâu

lại thành hình ống Khi mặc

chui qua đầu có phần cạp và

thắt lưng Một số váy ngắn có

thêm đệm váy phủ ngoài ở

trước bụng và sau lưng, có

trang trí hình học Váy ngắn

chui là loại trang phục phổ

biến của người Việt, còn được

gọi trong dân gian là quần

không đáy Váy ngắn chui vẫn

còn được mặc nhiều ở miền

Bắc nước ta cho tới giữa thế kỉ

XX

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI VĂN LANG

Trang 10

Váy mở (váy quấn) có đặc

nhật(thường gặp ở dân tộc Thái

ngày nay) Kiểu váy này thấy ở

tượng chuôi kiếm, tượng phụ nữ

núi Nưa (Thanh Hóa) và tượng ở

Làng Vạc (Nghệ An) Váy quấn

dài xuống tận chân, trang trí

hoa văn ở váy chạy dọc xuống

gấu váy theo lối đăng đối Phần

gấu váy cũng có trang trí những

chấm tròn hoặc kẻ sọc chạy

xung quanh Đệm váy ở cả phía

trước và phía sau trên to, thuôn

nhỏ dần xuống dưới

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI VĂN LANG

Trang 11

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI VĂN LANG

KIỂU ĐẦU TÓC

Trang 12

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI VĂN LANG

Trang 13

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI

VĂN LANG

NGỌC TÌNH trong trang phục Văn Lang – Cuộc thi Nam vương Đại

sứ hoàn cầu.

Trang 14

Nước ta trải qua hơn mười thế

kỷ thuộc Bắc, sau chiến thắng

Bạch Đằng oanh liệt (938) Ngô

Quyền đã xưng vương, lập thành

một vương quốc độc lập, là một

việc có ý nghĩa to lớn Rất tiếc là

triều đại nhà Ngô không tồn tại

được lâu (Ngô Quyền mất năm

944) nên chưa làm được nhiều

việc Dù vậy Ngô Vương cũng đã

đặt ra các chức quan văn võ, qui

định các nghi lễ trong triều và

đặc biệt đã qui định về màu sắc

biệt về trang phục của những tượng

này: trên áo tượng thì mang bổ tử

(như tượng ở đình Hàng Kênh, Hải

Phòng), tượng khác lại không.

Tuy nhiên tất cả đều cùng là một loại

long bào, có trang trí rồng, cổ tròn,

tay thụng và đặc biệt đều cùng một

loại mũ hai nấc, có hai cánh chuồn

tròn, hơi chếch lên và hướng về phía

trước (những chi tiết này gợi ý cho

biết có thể tượng được tạc muộn hơn

nhiều thế kỷ Vì đến thời Hậu Lê mới

thấynhắc đến những qui định về bổ

tử, về kiểu mũ Hoặc ngược lại, phải

chăng việc dùng bổ tử và việc thiết

kế cánh chuồn đã có từ lâu nhưng

đến thời Lê mới cải tiến thêm).

Trang 15

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI

NGÔ- ĐINH- TIỀN LÊ

Đến triều đại nhà Đinh (968-980), về trang phục, sử sách đời sau chỉ nhắc đến một số ít hiện tượng như: (năm 974), quân lính “đều đội mũ chỏm bằng, bốn bên hình vuông Mũ làm bằng da, bốn cạnh khứu lại, trên hẹp dưới rộng, gọi là mũ tứ phương bình đính”

Đã có áo giáp Hoặc “NămThái Bình thứ sáu (975) Đinh Tiên Hoàng định phẩm phục của các quan văn võ” Hoặc (năm 980) trong một bức thư của nhà Tống gửi cho triều đình ta có nói tới việc nhân dân ta thời

đó đều cắt tóc ngắn Hoặc có nhắc đến mũ của các đạo sĩ là màu vàng, áo của các nhà sư là màu thâm, các quan được dùng ấn vàng thì thắt lưng dải tím, được dùng ấn bạc thì thắt

lưng dải xanh…

Trang 16

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI

NGÔ- ĐINH- TIỀN LÊ

Sang thời Tiền Lê (981-1009), vua Lê Đại Hành lên ngôi mặc áo long cổn, về sau áo mặc thường dùng vóc đỏ, mũ trang sức trân châu.

Trang 17

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI LÝ

Triều đại nhà Lý (1009 - 1225), kinh

đô từ Hoa Lư dời về thành Đại La, gọi

là Thăng Long Năm 1054, đặt tên

nước là Đại Việt.

Vua mặc áo màu vàng, quần tía, búi

tóc, cài trâm vàng Quan lại, sĩ phu

mặc áo dài thâm bốn vạt, cổ cài khít,

quần thâm, búi tóc, cài râm sắt, đầu

quấn khăn sa đen, đội nón chóp, đi

dép da, tay cầm quạt lông hạc.

.

Trang 18

VĂN HÓA TRANG PHỤC

THỜI LÝ

Các bộ võ phục khá hoàn chỉnh, mũ

đâu mâu chùm kín tai, áo dài đến đầu

gối, cánh tay áo được may gọn gàng,

chật, bó sát cổ tay Toàn thân áo được

phủ lên bằng những mảnh giáp hoặc

những diềm vải trang trí hình xoắn

ốc lớn

hay hình bông hoa nhiều cánh to ở

ngực Rất nhiều đường viền song

song hình cong hoặc hình xoắn ốc

Năm 1029, vua Lý Thái Tông định quy chế mũ áo của các công hầu và các quan văn võ Nhưng quy định này còn chưa chặt chẽ

kể cả về hình thức trang phục và cách thức sử dụng

Trang 19

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI LÝ

Trang 20

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI LÝ

Trang 21

VĂN HÓA TRANG PHỤC

THỜI LÝ

Thời kỳ này, nền kinh tế phát triển, xuất hiện nhiều cơ sở nuôi tằm, dệt lụa với các mặt hàng thủ công như gấm, vóc, lụa, đoạn nhiều màu, họa tiết đặc sắc

Trang 22

VĂN HÓA TRANG PHỤC

THỜI LÝ

Thời gian này vẫn còn tục xăm mình Từ vua đến quân sĩ ai cũng xăm mình Quân cấm vệ xăm vào ngực và chân những dấu hiệu

riêng và được phép xăm hình 10 rồng lên người Nhân dân cũng

xăm mình nhưng chỉ được xăm hình rắn, hình các lối hoa văn như hình khắc trên trống đồng

Trang 23

VĂN HÓA TRANG PHỤC

Trang 24

 Thời gian này nghề dệt khá phát triển, nhân dân ta đã làm ra nhiều loại vải bông, vải gai, lụa, lĩnh, sa, the, nái, sồi, đoạn, gấm, vóc Nghề thêu cũng phát triển

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI

TRẦN

Trang 25

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI TRẦN

Đàn bà thường mặc áo tứ

thân màu đen, trong lót

vải trắng để may viền vào

cổ áo, rộng khoảng 13cm,

cắt tóc để lại chừng 10cm

rồi buộc túm lên đỉnh

đầu, xong uốn cong đuôi

tóc và buộc lại lần nữa

hình giống như cây bút,

không để tóc mai, không

búi tóc phía sau đầu,

không đeo vòng khuyên

Người giàu cài trâm đồi

Trang 26

 Nhà Hồ sau khi thay thế nhà Trần, đã tồn tại không lâu Sử sách hầu như không nhắc tới

các quy định về trang phục của nhà Hồ đối

với quan lại và dân chúng

chiếm nước ta, nhưng mãi đến năm 1414

chúng mới đặt được bộ máy cai trị Trong thời gian đô hộ (1414 - 1427), quân Minh đổi nước

ta thành quận Giao Chỉ với ý đồ thủ tiêu nền độc lập dân tộc, âm mưu đồng hóa nước ta,

bắt nhân dân ta thay đổi phong tục, tập quán, cách ăn mặc… theo lối phương Bắc

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI HỒ

Trang 27

 Thời Lê đánh dấu bước phát triển cao của nhà nước phong kiến tập quyền Đại Việt nên sự

quy định về lễ, nhạc, trang phục càng nghiêm ngặt và tỉ mỉ

Lê Thái Tổ đã quan tâm đến trang phục của các quan, nhưng do điều kiện khó khăn của

đất nước nên chỉ mới biểu thị qua một số hình thức: quan võ từ thượng tướng tước trí tự và tước phục hầu trở lên, quan văn từ chức nhập nội, hành khiển, và quan phục hầu trở lên đều cho mặc áo lụa màu đỏ

VĂN HÓA TRANG PHỤC

THỜI LÊ

Trang 28

 Đầu thời Nguyễn, trang phục của vua quan cũng được quy định tỉ mỉ như ở những triều đại phong kiến trước và có một cơ quan là Bộ

Lễ chăm lo việc ăn mặc, song nó đã không

mang được sắc thái riêng của dân tộc

VĂN HÓA TRANG PHỤC THỜI

NGUYỄN

Trang 29

Vào thời kỳ này, trong nhân dân, người già như

trẻ lại Họ mặc những bộ quần áo mới đi học, đi

mít tinh Lớp trẻ cảm thấy lớn lên, ghé vai đảm

đương công tác cách mạng Nhiều người cất áo

the, khăn đóng, mặc áo cánh hoặc sơ-mi, gọn

gàng hơn Phụ nữ nhà giàu bớt diêm dúa, đi

theo chị em lao động làm việc công ích Công

nhân áo trắng, quần yếm xanh, nông dân quần

áo nâu mới Đặc biệt, lứa tuổi thiếu niên, nhi

đồng (nhất là các em ở thành thị), các em mặc

đồng phục, tập trung hội họp, ca hát bước

đầu làm xóa ranh giới giữa con "ông chủ", con

"chị sen", con "ông đốc", con "anh thợ" của

những ngày hôm trước

TRANG PHỤC VIỆT NAM THỜI KỲ SAU NĂM 1945

Trang 30

I Trang phục đàn ông:

Sau Cách mạng tháng Tám 1945, trang phục

đàn ông ở thành thị được Âu hóa khá nhanh

ở nông thôn còn phải trải qua một quá trình lâu hơn mới có sự thay đổi căn bản Thông qua cuộc kháng chiến chống Pháp, nhiều thanh niên nông thôn bắt đầu mặc áo sơ mi, quần

Âu, trong khi đó nhiều cán bộ xuất thân ở thành thị cũ đã thường xuyên mặc quần áo nâu để dễ thâm nhập vào quần chúng nông

cổ hai ve Khi mặc thường bỏ ra ngoài quần

Có thời kỳ ống tay và thân áo rộng, sau đó ống tay và thân áo được may hẹp lại, mặc gọn và khỏe áo sơ mi dài tay, mùa hè được vén ống

tay lên trên hay dưới khuỷu tay

Trang 31

Từ năm 1975 đến nay, đa số đàn ông trong cả nước đều mặc quần Âu (thường gọi là quần Tây) Trang phục của đàn ông trong cả nước, nhất là ở thành thị,

đã được may theo các kiểu trang phục châu Âu, xem ra cũng có phần gọn

gàng, thuận tiện Tuy vậy, với những đặc điểm khí hậu, thói quen thẩm mĩ, điều kiện kinh tế ở từng 14 vùng Việt Nam, các loại trang phục đàn ông cũng

đã được cải tiến nhiều cho thích hợp Điều thấy rõ là qua trang phục đàn ông, người ta không thấy còn sự cách biệt giữa các tầng lớp như trong xã hội cũ nữa.

Trang 32

Quần Âu ở Việt Nam cũng qua những chặng đường thay đổi theo trào lưu của thế giới:

Từ ống hẹp 18cm đến 20cm, mông và đũng rộng, ở cạp quần có nhiều đường chiết Đến năm 1938 - 1939, ống quần rộng ra một chút, mông hẹp hơn Năm 1950 - 1970 ống quần thanh (ống đứng) từ 20cm - 22cm, mông và đũng may sát gọn Có thời kỳ một

số thanh niên mặc quần ống bó khoảng 15cm (ống tuýp) Năm 1970 - 1980 một số thanh niên mặc mốt quần ống loe từ 30cm đến 70cm Đến năm 1982, mốt quần Âu lại trở về dạng ống "tuýp", một số quần bó ống, bó mông và đùi bằng loại vải bò hay ka ki trắng hoặc nhung kẻ, quần có túi nổi sau mông, kéo phéc mơ tuya hay đính nhiều khuy bằng

đồng

Những chi tiết của quần Âu như ly lật vào trong hoặc ra ngoài, đỉa to, nhỏ ở cạp, túi thẳng, túi chéo v.v đều mang cả hai yếu tố:

thực dụng và thẩm mỹ

Trang 33

Thắt lưng hoặc bằng ny lông, bằng vải, bằng da Khóa bằng kim loại nhỏ, to, tùy theo loại thắt lưng với nhiều hình tròn vuông, bầu dục, chữ nhật, có những họa tiết hoặc hình chữ nhiều

màu: xanh, đỏ, trắng

Do quan niệm là quần soóc có tính chất thể dục thể thao, nên tuy thời tiết nước ta nóng nực nhưng nam giới ít mặc soóc cho mát Tư tưởng bảo thủ vẫn còn phổ biến: cho rằng mặc soóc ra

đường không được đứng đắn

Ngoài ra, có nhiều kiểu áo rét như măng-tô bằng

dạ, áo mút, áo bay, áo blu-dông bằng da, áo len

dệt, đan các kiểu v.v

Nhìn chung trang phục của đàn ông trong cả nước, nhất là ở thành thị, đã được may theo các kiểu trang phục châu Âu, xem ra cũng có phần gọn gàng, thuận tiện Tuy vậy, với những đặc điểm khí hậu, thói quen thẩm mỹ, điều kiện kinh tế ở từng vùng Việt Nam, các loại trang phục đàn ông cũng đã được cải tiến nhiều cho thích hợp Điều thấy rõ là qua trang phục đàn ông, người ta không thấy còn sự cách biệt giữa các tầng lớp con người như trong xã hội cũ nữa

Trang 34

II Trang phục phụ nữ:

Trong những năm kháng chiến chống Pháp, trang phục của phụ nữ nông thôn có nhiều thay đổi để phù hợp với cuộc sống vừa lao động sản xuất, vừa chiến đấu Chị em mặc gọn gàng: áo cánh nâu, cổ tròn hay cổ quả tim, trong mặc áo lót không tay, quần đen bằng vải phin hay láng Vấn khăn và chít khăn vuông mỏ quạ Những người thoát ly làm cán bộ mặc áo kiểu sơ mi đại cán, tay thẳng, cổ hình cánh nhạn, áo thường may bằng vải màu xanh hòa bình hay ka-ki màu xi-măng, màu be hồng Búi tóc hoặc cặp tóc Đi dép cao su đen Thời gian này, ở vùng tự do, hầu như vắng bóng những chiếc áo dài màu sắc của nữ thanh niên Nhưng các bà, các cụ vẫn mặc áo tứ thân dài đi mít tinh, đi lễ, đi họp Người nhiều tuổi thường mặc áo cánh ngắn hoặc áo kiểu bà ba, may sát eo, tà rộng, thân dài, đường gấu cong hình vành lược Cửa tay rộng Cổ áo hình quả tim hoặc cổ thìa, cổ vuông , áo may bằng các loại vải mỏng như

phin nõn, lụa, pô-pơ-lin

Trang 35

Phụ nữ lao động ở thành thị, ở nông thôn Trung

Bộ vẫn thường mặc áo cánh ngắn hay áo bà ba bằng nhiều loại vải và nhiều màu khác nhau Mặc quần màu đen, ống rộng, bằng sa-tanh hay ni-lông Tóc búi gọn sau gáy, có người vấn khăn

như phụ nữ miền Bắc

Phụ nữ đứng tuổi tầng lớp trên ở thành phố, thị trấn mặc áo dài may sát thân, thường ưa màu sáng như màu hoàng yến, màu xanh da trời

Cổ đứng, cao từ 3 - 5cm Đặc biệt màu tím Huế của chiếc áo dài vẫn được phụ nữ ưa chuộng

Nữ sinh mặc áo dài màu trắng, quần trắng

Nữ thanh niên tầng lớp trên và đa số tiểu tư sản thay đổi kiểu ăn mặc chạy theo "mốt hiện đại" từ thế giới thời trang, được sự khuyến khích của Mỹ - Ngụy , hàng ngày tác động vào

mạnh mẽ

Nhờ có áo dài, vẻ đẹp của người phụ nữ dường như được mềm mại và thướt tha hơn rất nhiều

Trang 37

Kể từ năm 1954, áo dài được nhiều nữ sinh mặc đến trường Áo dài thời kỳ này có tà rộng nhưng ngắn hơn bây giờ, eo cũng rộng hơn, cổ cao có lót cứng, ống tay hẹp Vài năm sau, bà Trần Lệ Xuân (vợ ông Ngô Đình Nhu) tung ra kiểu áo dài cổ thuyền Ban đầu, kiểu áo này bị phản đối dữ dội, nhiều người cho rằng nó đi ngược lại với thuần phong mỹ tục Tuy nhiên,

áo dài cổ thuyền lại rất thịnh hành sau đó và vẫn được ưa chuộng cho đến hôm nay

Các loại áo, váy, đầm của nữ giới ngày càng phong phú, đa dạng về kiểu dáng, chất liệu: sơmi cổ tròn, cổ bẻ, không cổ, cổ khoét sâu hình bầu dục, cổ ngang, cổ vuông… tay ngắn, tay dài, tay phồng, tay lỡ… may bằng vải trắng, vải màu hay vải hoa; Váy thì có váy dài, váy ngắn, váy xòe, váy phồng, váy chữ A, may xếp

li hoặc bó sát Sau năm 1968, chiếc váy mini bắt đầu du nhập vào Việt Nam và được phái nữ

ưa chuộng, váy ngắn trên đầu gối, càng ngắn càng thời trang Quần jeans cũng trở nên phổ biến trong thời kỳ này, đặc biệt là kiểu ống loe 30cm – 40cm, kết hợp với thắt lưng da to bản

Trang 38

Áo dệt thun chui đầu với các kiểu cộc tay hay không tay, cổ bẻ hay không cổ, gấu áo bỏ ra ngoài váy Có cả các loại quần thun bó sát, ống

ngắn, hoặc rộng dài hơn

Du khách phương xa khi đến Sài Gòn đã không khỏi xao xuyến trước hình ảnh thiếu nữ Sài Gòn

để tóc lọn xoăn hay bới cao hợp thời, mặc váy ngắn hay áo dài cách tân, mang giày bít ngón, đeo bao tay, kính đen sành điệu lả lướt trên những chiếc Vespa, Velo Solex được xem là

thời thượng lúc bấy giờ

Áo quần kiểu "híp-pi" đã một thời chiếm lĩnh mốt thời trang của Sài Gòn Áo may bằng vải xô mỏng, thêu rối rắm, tay dài hoặc tay ngắn Có loại áo may rất ngắn, để hở cả lưng, bụng người mặc, ống tay áo dài hoặc ngắn nhưng rộng, gấu tay áo thít lại cho tay áo phồng lên Quần bò Jeans bạc phếch, có khi vá miếng da ở đầu gối, ở mông Xuất hiện thêm loại váy dài đến mắt cá nhân, có hàng khuy ở giữa từ thắt lưng xuống gấu, cài mấy khuy là tùy thuộc ở

chủ nhân

Ngày đăng: 17/12/2017, 20:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w