1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Giam sat danh gia cho tang truong xanh

21 182 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 21
Dung lượng 597,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giam sat danh gia cho tang truong xanh tài liệu, giáo án, bài giảng , luận văn, luận án, đồ án, bài tập lớn về tất cả cá...

Trang 1

ĐÁNH GIÁ GIÁM SÁT TĂNG TRƯỞNG XANH: THỰC TIỄN TRÊN

THẾ GIỚI VÀ KHẢ NĂNG ÁP DỤNG Ở VIỆT NAM

1 ĐẶT VẤN ĐỀ

Tăng trưởng xanh và chiến lược tăng trưởng xanh đã được đề cập nhiều trong thời gian gần đây, đặc biệt là do Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển đưa ra vào năm 2008 (OECD, 2011a), cũng như các tổ chức quốc tế khác như Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2011) và được nhiều các tổ chức lồng ghép vào các hoạt động của mình, như Ngân hàng Thế giới (WB, 2012), Ngân hàng Châu Á (ADB, 2013) và nhiều tổ chức phát triển khác Nhiều quốc gia cũng đã bắt đầu xây dựng và áp dụng chiến lược tăng trưởng xanh trong hoạch định chính sách phát triển của mình, trước tiên là các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OEDC) như Đức (Federal Statistical Office of Germany, 2012), Sec (Czech Statistical Office, 2011), Đan Mạch (Danish Energy Agency, 2012) và cả Hàn Quốc (Statistics Korea, 2012)

Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 2012), tăng trưởng xanh là sự tăng trưởng hiệu quả trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, là sự tăng trưởng sạch vì nó giảm thiểu ô nhiễm và tác động môi trường, là sự tăng trưởng có sức chống chịu vì nó đã tính tới ứng phó thiên tai Như vậy, tăng trưởng xanh đã đề cập nhiều tới khía cạnh môi trường và tài nguyên thiên nhiên, mà các mô hình phát triển kinh tế trước đó chưa xem xét một cách đúng mức

Ở Việt Nam, mối quan hệ giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đã được xem xét đánh giá một cách đầy đủ nhất trong Định hướng Phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) được thông qua vào năm 2004 theo Quyết định số 153 của Thủ tướng Chính phủ (Chính phủ, 2004) Trong Định hướng chiến

Trang 2

lược này, mối tác động qua lại giữa phát triển kinh tế và tài nguyên – môi trường đã được xem xét đánh giá thông qua 19 lĩnh vực ưu tiên, trong đó có 9 lĩnh vực về tài nguyên và môi trường, liên quan đến tài nguyên đất, nước, rừng, đa dạng sinh học khoáng sản Chiến lược quốc gia của Việt Nam về Tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 cũng được ban hành vào năm 2012 theo Quyết định số 1393 của Thủ tướng Chính phủ (Chính phủ, 2012a), đặc biệt nhấn mạnh tới sản xuất xanh – như tiết kiệm năng lượng và tài nguyên, tiêu dùng xanh – như thay đổi hành vi để sử dụng tiết kiệm hàng hóa và dịch vụ và xây dựng nền kinh tế cacbon thấp – như hướng các ngành lĩnh vực theo hướng giảm phát thải khí nhà kính và đã được cụ thể hóa trong

Kế hoạch hành động quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2014-2020 (Chính phủ, 2014) Kế hoạch Phát triển kinh tế-xã hội 2011-2015 nhấn mạnh đến nền kinh kế chuyển đổi từ tăng trưởng theo chiều rộng (phụ thuộc vào tài nguyên và lao động đơn giản), sang tăng trưởng theo chiều sâu (tiết kiệm năng lượng và tài nguyên, nâng cao hơn nữa vai trò của khoa học công nghệ) Để thúc đẩy tiến trình phát triển bền vững, năm 2012, Chính phủ đã ban hành Chiến lược Phát triển bền vững giai đoạn 2011-2020, đồng thời thông qua bộ Chỉ tiêu giám sát phát triển bền vững, mà quan trọng nhất là Chỉ tiêu GDP xanh, Chỉ tiêu năng lượng trên đơn vị GDP tăng thêm và Chỉ số bền vững về môi trường, bắt đầu được thực hiện từ năm 2015 (Chính phủ, 2012b)

Nhiều nước, trong đó có Việt Nam, bắt đầu thực hiện tăng trưởng xanh, xây dựng Chương trình hành động Tăng trưởng xanh Tuy nhiên, một vấn đề đặt ra là, làm thế nào để đo đạc tăng trưởng xanh, để lượng hóa mức độ “xanh” của sự tăng trưởng, để giám sát quá trình tăng trưởng xanh hoặc để giám sát được những thành tựu của tăng trưởng xanh Bài viết này là một nỗ lực để xem xét những kinh nghiệm trên thế giới để giải quyết những vấn đề nêu trên và khả năng áp dụng những kinh nghiệm đó trong thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam

2 PHƯƠNG PHÁP LUẬN VÀ CÁCH TIẾP CẬN

Báo cáo dựa trên cách tiếp cận DPSIR (động lực – áp lực – hiện trạng – tác động – phản hồi),

được áp dụng rộng rãi trong hoạch định chính sách, nhằm làm rõ những tác động qua lại giữa phát triển kinh tế và môi trường, đặc biệt trong xây dựng các Chỉ số phát triển bền vững Cách tiếp cận này cũng được các tổ chức quốc tế sử dụng trong Đánh giá Hệ sinh thái thiên niên kỷ, trong xây dựng các Chỉ số đánh giá phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc (United Nations, 2007), trong đánh giá đa dạng sinh học (BIP, 2011) và trong đánh giá tăng trưởng xanh của Tổ chức OECD (OECD, 1993, 2011b; Kristensen, 2004)

Báo cáo áp dụng các phương pháp tổng quan thực tiễn xây dựng và đánh giá tăng trưởng xanh trên thế giới, hướng tới xây dựng một xã hội bền vững, đặc biệt làm rõ từ khái niệm, nguyên tắc, nội dung, các bước và xây dựng Chỉ số đánh giá tăng trưởng xanh

Báo cáo áp dụng phương pháp tổng quan, đánh giá thể chế chính sách liên quan đến phát triển bền vững và tăng trưởng xanh ở Việt Nam, đặc biệt chú ý tới xây dựng các Chỉ số giám sát thực hiện phát triển bền vững và đề xuất Chỉ số áp dụng cho tăng trưởng xanh

Trang 3

3 THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ TĂNG TRƯỞNG XANH TRÊN THẾ GIỚI

3.1 Nội hàm của tăng trưởng xanh và việc đánh giá, đo đạc tăng trưởng xanh

Trong một phần tư thế kỷ vừa qua, nền kinh tế thế giới đã tăng gấp bốn lần và đem lại lợi ích to lớn cho hàng trăm triệu người Tuy nhiên, 60% hàng hóa và dịch vụ hệ sinh thái phục vụ cho phát triển sinh kế hiện đang bị suy thoái hoặc sử dụng thiếu bền vững (UNEP, 2011) Điều này được lý giải là sự tăng trưởng kinh tế của mấy thập kỷ gần đây đã được thực hiện chủ yếu thông qua khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách quá mức và chưa chú ý đúng mức để phát triển tài nguyên tái tạo Vì vậy, việc tìm kiếm một mô hình tăng trưởng thân thiện với môi trường ngày càng trở nên bức thiết và khái niệm tăng trưởng xanh/kinh tế xanh đã được hình thành từ thực tế này Hiện nay, khái niệm “tăng trưởng xanh” và “nền kinh tế xanh” có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng chúng cũng có rất nhiều điểm chung Tăng trưởng xanh có xu thế hợp nhất các trụ cột kinh tế và môi trường trong phát triển bền vững vào quá trình hoạch định chính sách, với mô hình phát triển kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ và bền vững (Samans, 2013) Nó nhằm mục đích thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phát triển, đồng thời đảm bảo rằng, tài sản thiên nhiên được sử dụng bền vững và tiếp tục cung cấp các hàng hóa và dịch vụ môi trường mà sự tăng trưởng phụ thuộc vào chúng (OECD, 2011b) Đó là sự tăng trưởng hiệu quả trong sử dụng tài nguyên thiên nhiên, là sự tăng trưởng sạch không gây ô nhiễm và là sự tăng trưởng có sức chống chịu, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu (WB, 2012) Nền kinh tế xanh nhằm mục đích cải thiện phúc lợi của con người và bình đẳng xã hội, trong khi giảm đáng kể rủi ro môi trường và sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên (UNEP, 2011) Khái niệm về nền kinh tế xanh dựa trên trụ cột kinh tế, môi trường và xã hội của phát triển bền vững Một khái niệm tăng trưởng xanh rộng lớn hơn “bao gồm mọi thứ”, hay phát triển bền vững, kết hợp đầy đủ các khía cạnh bền vững xã hội, đặc biệt

là tăng cường phát triển con người và các điều kiện cho người nghèo và dễ bị tổn thương

Như vậy, trong quan hệ với phát triển bền vững, tăng trưởng xanh chủ yếu tập trung vào 2 trụ cột chính, đó là trụ cột về kinh tế và trụ cột về môi trường/tài nguyên thiên nhiên Tăng trưởng xanh còn có thể là một con đường hướng tới thực hiện phát triển bền vững một cách đầy đủ

Ngân hàng Thế giới, trong nghiên cứu “Từ tăng trưởng tới tăng trưởng xanh: Một khuôn khổ” (WB, 2011) đã xác định nội hàm của tăng trưởng xanh là thực hiện quá trình tăng trưởng hiệu quả về tài nguyên, sạch hơn và có sức chống chịu hơn Trong nghiên cứu sau đó của mình, Ngân hàng Thế giới (WB, 2012) đã đề cập tới Khung phân tích tăng trưởng xanh và nhấn mạnh tới nội dung chính của tăng trưởng xanh, bao gồm vốn con người, vốn thiên nhiên và vai trò của đổi mới công nghệ Tổ chức Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2011) đã khẳng định vai trò của việc đo đạc những tiến bộ của tăng trưởng xanh, mà qua đó, mới có thể quản lý và thúc đẩy quá trình này

và đề xuất cách đo đạc kinh tế xanh/tăng trưởng xanh thông qua sử dụng cách tiếp cận DPSIR để xây dựng những tiêu chí đánh giá, đặc biệt tập trung vào nội dung về sử dụng tài nguyên thiên nhiên, năng lượng và phát thải khí nhà kính (UNEP, 2012) Rõ ràng rằng, các tổ chức này đều nỗ lực đo đạc hoặc đánh giá tăng trưởng xanh để có thể thúc đẩy được tiến trình này một cách mạnh

mẽ hơn

Tuy nhiên, đo lường sự tiến bộ về tăng trưởng xanh trong sự thay đổi phức tạp và đa chiều là một thách thức lớn Hiện nay, chưa có sự thống nhất về một Khung phân tích hoặc một bộ Chỉ số đánh giá tăng trưởng xanh/kinh tế xanh Hơn nữa, dữ liệu về tài nguyên thiên nhiên và vốn tự

Trang 4

nhiên cũng còn hạn chế và cần nhiều nỗ lực hơn nữa để thu thập và tổng hợp thông tin về những nội dung này Điều kiện, năng lực và mức độ phát triển khác nhau của các quốc gia cũng là một thách thức Tuy nhiên, các tổ chức quốc tế cũng như quốc gia cần nỗ lực hơn nữa để thống nhất hình thức đánh giá tăng trưởng xanh/kinh tế xanh là hết sức cần thiết (OECD, 2011a)

Trong kinh tế, môi trường có thể được coi như là vốn thiên nhiên và cũng như các hình thức vốn

khác, vốn cung cấp nguyên liệu thiết yếu đầu vào cho quá trình sản xuất và tiêu thụ Trên thực tế, nhiều yếu tố đầu vào và các dịch vụ không được xem xét đầy đủ trong quá trình sản xuất, đặc biệt là các dịch vụ môi trường và sinh thái Tuy nhiên, khái niệm về tài nguyên thiên nhiên như một yếu tố đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất, mà nói rộng ra, trong nền kinh tế, có thể giúp minh họa nhiều yếu tố và tác động qua lại của tăng trưởng xanh/kinh tế xanh

Một cách tiếp cận thống nhất, mô phỏng theo thiết lập của một hình cầu sản xuất của một mô hình kinh tế vĩ mô, trong đó đầu vào được chuyển thành kết quả đầu ra, có thể được sử dụng để phân loại Chỉ số tăng trưởng xanh/kinh tế xanh theo các đặc điểm chính của chúng (OECD, 2011b; GGKP, 2013):

(1) Đầu vào: Nền tảng tài sản nhiên nhiên: Vốn thiên nhiên cung cấp cả hai dịch vụ (bao gồm cả

dịch vụ của bể chứa ô nhiễm) và tài nguyên thiên nhiên, tạo thành đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất, trực tiếp ảnh hưởng đến phúc lợi của con người Nhưng cũng cần phải quan trắc các rủi ro liên quan đến việc sử dụng quá mức, làm cạn kiệt và có những giới hạn để thay thế, đặc biệt là trong quy mô ngắn hạn, do đó, sự suy giảm có thể dẫn đến tắc nghẽn hoặc đe dọa sự thịnh vượng trong tương lai Những Chỉ số về hiện trạng của nền tảng tài sản thiên nhiên là rất quan trọng để xác định các rủi ro đó

(2) Sản xuất: Cường độ/năng suất: Hợp phần này bao gồm các biện pháp tập trung vào “năng

suất” có mối quan hệ tới môi trường, hoặc ngược lại, đó là “cường độ” Chỉ số tăng trưởng xanh/kinh tế xanh có thể đo lường sự tiến bộ trong sản xuất và tiêu thụ nhiều hơn nữa trong khi

sử dụng ít dịch vụ môi trường và tài nguyên thiên nhiên hơn bằng cách liên hệ một số lượng giải pháp của hoạt động kinh tế (như GDP, giá trị gia tăng, hoặc tiêu thụ) với số lượng các dịch vụ môi trường hoặc đầu vào tài nguyên thiên nhiên Tiến trình này cũng có thể được ghi nhận bằng các thước đo dấu chân môi trường/sinh thái của sản phẩm trong suốt cuộc đời của chúng hay thước đo gián tiếp của sự đổi mới – là động lực chính của tăng trưởng xanh/kinh tế xanh

(3) Sản phẩm đầu ra: Vật chất và phúc lợi phi vật chất: Sản phẩm đầu ra đề cập đến một khái

niệm rộng về phúc lợi, đến những khía cạnh mà thường không được xem xét bằng các thước đo kinh tế vĩ mô thông thường Do đó một số các chỉ số cố gắng xem xét các khía cạnh có liên quan tới môi trường của chất lượng cuộc sống, đó là các chỉ số liên quan đến chất lượng và tính sẵn sàng của một số dịch vụ và tiện nghi liên quan tới môi trường Nhiều khía cạnh chất lượng cuộc sống được đo đạc cũng tác động trực tiếp tới quá trình phát triển kinh tế, ví dụ như, nâng cao sức khỏe dân số có thể làm ảnh hưởng tới năng suất lao động

Nghiên cứu của UNEP (2011) về “Hướng tới một nền kinh tế xanh: Con đường để tới sự phát triển bền vững và xóa đói giảm nghèo” đã đưa ra 3 kết luận quan trọng: (i) xanh hóa nền kinh tế hay tăng trưởng xanh không chỉ làm gia tăng sự giàu có, đặc biệt là gia tăng vốn thiên nhiên, mà còn tạo ra một mức tăng GDP cao hơn – là một công cụ truyền thống đo đạc hiệu quả của nền kinh tế; (ii) mối liên hệ chặt chẽ giữa xóa đói giảm nghèo và bảo tồn các tài sản chung về sinh

Trang 5

thái đã được thể hiện bằng việc người nghèo được nhiều lợi ích hơn từ vốn tự nhiên; và (iii) trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, công việc mới được tạo ra lớn hơn số công việc bị mất đi trong nền “kinh tế nâu” Trên thực tế, vốn thiên nhiên đã đem lại giá trị kinh tế vô cùng to lớn cho con người (xem Bảng 3.1)

Bảng 3.1 Vốn thiên nhiên trong tăng trưởng xanh: Một số ví dụ hàng hóa, dịch vụ

hệ sinh thái và giá trị kinh tế

Đa dạng sinh học Hàng hóa và dịch vụ

hệ sinh thái Giá trị kinh tế

Hệ sinh thái (đa dạng

và mức độ/khu vực)

Vui chơi giải trí Điều tiết nước Lưu trữ cacbon

Giảm phát thải khí nhà kính bằng cách bảo tồn rừng: 3,7 nghìn tỷ USD (NPV)

Loài (đa dạng và phong

Gen Những phát minh y học

Chống chịu bệnh tật Năng lực thích ứng

25-50% trong tổng số 640 tỷ USD của thị trường dược của Hoa Kỳ có nguồn gốc tài nguyên di truyển

Nguồn: UNEP, 2011, Bảng 1, tr 7

Tiếp nối những nỗ lực của các tổ chức quốc tế như WB và UNEP, nhiều tổ chức quốc tế đã thảo luận về khả năng và cách thức đánh giá hay “đo đạc” tăng trưởng xanh trong khuôn khổ phát triển bền vững (OECD, 2011a; GGKP, 2013) Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD, 2011b), tăng trưởng xanh được đo bằng 4 nội dung chính: (i) Hiệu suất tài nguyên và

môi trường (environmental and resource productivity); (ii) Nền tảng tài sản thiên nhiên (natural

asset base); (iii) Chất lượng cuộc sống về môi trường (environmental quality of life); và (iv) Cơ

hội kinh tế và phản hồi chính sách (economic opportunities and policy responses) Khuôn khổ

chung đo đạc, đánh giá tăng trưởng xanh được trình bày trong Hình 3.1 dưới đây

Trang 6

Nguồn: OECD, 2011b, 2014

Hình 3.1 Khuôn khổ đo đạc tăng trưởng xanh theo các nội dung và các Chỉ số đánh giá chính

Hiện nay, nhiều quốc gia đã áp dụng theo mô hình này để đánh giá, giám sát tăng trưởng xanh như Đức (Federal Statistical Office of Germany, 2012), Sec (Czech Statistical Office, 2011), Hà Lan (Statistics Netherlands, 2011) và cả Hàn Quốc (Statistics Korea, 2012) Thông qua các kết quả này, mỗi quốc gia có thể đánh giá được tiến trình thực hiện tăng trưởng xanh của mình và từ đấy đề xuất những chính sách điều chỉnh phù hợp Nội dung chính của những hợp phần đánh giá giám sát tăng trưởng xanh được miêu tả dưới đây (xem Bảng 3.2)

3.2 Xây dựng bộ Chỉ số đánh giá giám sát tăng trưởng xanh

Cũng giống như xây dựng các Chỉ số đánh giá phát triển bền vững, được sự hướng dẫn của Ủy ban Liên Hợp Quốc về Phát triển Bền vững (United Nations, 2001, 2007), các Chỉ số đánh giá giám sát tăng trưởng xanh được các nước trong Tổ chức OECD đề xuất theo 4 nội dung như đã trình bày ở Bảng 3.2 Tổ chức Liên Hợp Quốc đã có nỗ lực để đánh giá phát triển bền vững thông qua đề xuất bộ Chỉ số đo đạc những vốn kinh tế, vốn tự nhiên, vốn xã hội, vốn con người

và vốn sản xuất (United Nations, 2008) Sau đó, Tổ chức OECD đã thông qua Chiến lược Tăng trưởng xanh vào năm 2009 và đề xuất 4 nội dung đánh giá giám sát tăng trưởng xanh, bao gồm: Hiệu suất tài nguyên và môi trường; Nền tảng tài sản thiên nhiên; Chất lượng cuộc sống về môi trường; và Cơ hội kinh tế và phản hồi chính sách, đồng thời cũng đề xuất bộ Chỉ số tương ứng với các nội dung trên (OECD, 2011b) Sau đó, một loạt các nước đã áp dụng nguyên tắc này của

Tổ chức OECD để đánh giá giám sát sự tiến bộ của tăng trưởng của nước mình và đề xuất bộ Chỉ

số đánh giá cho quốc gia mình (Federal Statistical Office of Germany, 2012; Czech Statistical Office, 2011; Statistics Netherlands, 2011; Statistics Korea, 2012) Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện từng nước mà bộ Chỉ số đánh giá giám sát tăng trưởng xanh cũng không giống nhau

Trang 7

Bảng 3.2 Tổng quan những nội dung chính và chủ đề để giám sát tăng trưởng xanh

và xây dựng Chỉ số tăng trưởng xanh

+ Giá cả và chuyển nhượng + Kỹ năng và đào tạo + Quy định và cách tiếp cận trong quản lý

Nguồn: OECD, 2011a

3.2.1 Hiệu suất môi trường và tài nguyên

Các Chỉ số về hiệu suất sử dụng môi trường và tài nguyên được dùng để đánh giá và đo đạc, liệu tăng trưởng hoặc sản lượng đầu ra và mức độ tiêu thụ có thể đạt được với ít nguyên liệu tài nguyên thiên nhiên đầu vào hơn, ít ô nhiễm hơn và ít phụ thuộc vào các dịch vụ môi trường được hay không? Chúng bao gồm các Chỉ số gián tiếp như là động lực then chốt của tăng năng suất và hiệu quả, qua đó là thực hiện tăng trưởng xanh Ví dụ như các dữ liệu về bằng sáng chế, nghiên cứu và triển khai nói chung và đặc biệt là ở lĩnh vực tăng trưởng xanh Những thước đo khác có thể bao gồm hiệu suất cacbon/cường độ, hiệu suất sử dụng nguyên vật liệu phi năng lượng/cường

độ, hiệu quả năng lượng, nước hoặc cường độ chất thải hoặc cường độ dinh dưỡng của nông nghiệp Vì vậy, nội dung của hiệu suất sử dụng môi trường và tài nguyên bao gồm những chủ đề chính sau (OECD, 2011b): (i) hiệu suất cacbon và năng lượng; (ii) hiệu suất tài nguyên; và (iii) hiệu suất đa yếu tố

3.2.2 Nền tảng tài sản thiên nhiên

Các Chỉ số của nền tảng tài sản thiên nhiên có thể được đánh giá với mục đích xác định các mối

đe dọa tiềm tàng phát sinh từ sự suy giảm và/hoặc suy thoái tài nguyên thiên nhiên Tiến bộ cho tăng trưởng xanh có thể được giám sát bằng cách xem xét nguồn dự trữ tài sản thiên nhiên cùng với dòng chảy dịch vụ môi trường Các giải pháp chủ yếu liên quan đến sự sẵn có và chất lượng của các nguồn dự trữ tài nguyên thiên nhiên tái tạo bao gồm nước ngọt, rừng, thủy sản; sự sẵn

có, khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên không tái tạo và tài nguyên khoáng sản đặc biệt, bao gồm

cả kim loại, khoáng chất công nghiệp, năng lượng hóa thạch, đa dạng sinh học và hệ sinh thái,

Trang 8

bao gồm đa dạng các loài và môi trường sống cũng như tài nguyên đất và thổ nhưỡng Tóm lại, nội dung nền tảng tài nguyên thiên nhiên bao gồm những chủ đề chính sau (OECD, 2011b): (i) nguồn dự trữ tài nguyên tái tạo; (ii) nguồn dự trữ tài nguyên không tái tạo; và (iii) đa dạng sinh học và hệ sinh thái

3.2.3 Chất lượng sống về môi trường

Điều kiện môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe và phúc lợi của người dân và vì vậy, chất lượng môi trường bị suy thoái có thể là cả nguyên nhân và kết quả từ mô hình phát triển không bền vững Chúng có thể gây ra những hậu quả kinh tế và xã hội đáng kể, từ chi phí y tế gia tăng đến năng suất lao động thấp (Graff Zivin và Neidell, 2011), tới sản lượng nông nghiệp giảm, chức năng của hệ sinh thái bị suy giảm và chất lượng sống nói chung thấp hơn Vì vậy, nội dung của chất lượng về môi trường bao gồm các chủ đề chính sau (OECD, 2011b): (i) sức khỏe và rủi ro môi trường; và (ii) dịch vụ và tiện nghi môi trường

Những chỉ số này xem xét các khía cạnh khác nhau của chất lượng và an toàn cuộc sống môi trường, bao gồm cả việc tiếp cận tới các dịch vụ và tiện nghi môi trường có liên quan (nước sạch,

vệ sinh môi trường và thiên nhiên) tiếp xúc với ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, chất độc hại,

và tiếng ồn; thay đổi trong chu kỳ nước, thất thoát đa dạng sinh học và thiên tai có ảnh hưởng đến sức khỏe của hệ sinh thái và gây thiệt hại về tài sản và cuộc sống của người dân Một ví dụ

về Chỉ số chất lượng của sống về môi trường là sự tiếp xúc của người dân tới mức độ gây hại của

ô nhiễm không khí – được tính như phần dân số sống trong khu vực ô nhiễm có nồng độ vượt ngưỡng có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe

3.2.4 Chính sách và cơ hội kinh tế

Nội dung này kết hợp hai loại chỉ số – các chính sách quan trọng đối với tăng trưởng xanh và các

cơ hội và chuyển đổi kinh tế liên quan đến tăng trưởng xanh Các yếu tố này tác động tương hỗ với nhau, vì chúng có có mối liên hệ mật thiết với quá trình tăng trưởng xanh: cơ sở tài sản tự nhiên, năng suất, chất lượng môi trường của cuộc sống và của cải toàn diện của xã hội Nội dung chính của Chính sách và cơ hội kinh tế bao gồm những chủ đề chính sau (OECD, 2011b): (i) công nghệ và đổi mới; (ii) hàng hóa và dịch vụ môi trường; (iii) dòng tài chính quốc tế; (iv) giá

cả và chuyển nhượng; (v) kỹ năng và đào tạo; và (vi) quy định và cách tiếp cận trong quản lý Các chính phủ đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng xanh bằng cách thiết lập các điều kiện khung thống nhất: (i) thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng bền vững; (ii) khuyến khích phát triển và sử dụng công nghệ mới và đổi mới công nghệ; (iii) nâng cao tính cạnh tranh

và phản ứng tới các chính sách môi trường; và (iv) cải thiện tiếp cận thông tin Các Chỉ số về chính sách tăng trưởng xanh và cơ hội, mà Tổ chức OECD hiện đang xây dựng, với những kết quả ban đầu cho năm 2014, là nhằm đánh giá việc sử dụng, phạm vi sử dụng, và một số kết quả của các chính sách tăng trưởng xanh Những chỉ số này cũng sẽ giúp xác định sự phối hợp tiềm năng và sự đánh đổi giữa các mục tiêu chính sách khác nhau và giữa các mục tiêu xanh và mục tiêu tăng trưởng

Trang 9

4 THỰC TIỄN CÔNG TÁC ĐÁNH GIÁ GIÁM SÁT TĂNG TRƯỞNG XANH Ở VIỆT NAM 4.1 Khái niệm và nhận thức tăng trưởng xanh ở Việt Nam

Khái niệm tăng trưởng xanh đã được thể hiện rõ nét nhất trong “Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh thời kỳ 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050” theo Quyết định số 1393/QĐ/TTg, ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ, trong đó nhấn mạnh đến mục tiêu chung của tăng trưởng xanh là tiến tới nền kinh tế cacbon thấp, làm giàu vốn tự nhiên trong phát triển kinh tế bền vững, đồng thời giảm phát thải và tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính Nội dung chính của Chiến lược bao gồm: (i) giảm cường độ phát thải khí nhà kính và thúc đẩy sử dụng năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; (ii) xanh hóa sản xuất, đặc biệt chú trọng tới sử dụng tiết kiệm và hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, khuyến khích sản xuất và công nghệ thân thiện với môi trường; và (iii) xanh hóa lối sống và thúc đẩy tiêu dùng bền vững, gắn với nâng cao chất lượng sống về môi trường ở vùng đô thị và nông thôn, nâng cao nhận thức về môi trường và phát triển bền vững Như vậy, Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh (năm 2012) đã nhấn mạnh nội hàm của tăng trưởng xanh, bao gồm sản xuất xanh, tiêu dùng xanh và kinh tế cacbon thấp và đây cũng chính là nội dung quan trọng của Định hướng Chiến lược Phát triển bền vững ở Việt Nam (năm 2004), được thể hiện trong 19 lĩnh vực ưu tiên của chính sách phát triển về kinh tế, xã hội và tài nguyên thiên nhiên và môi trường Song song với xây dựng Chiến lược Tăng trưởng xanh, một số chiến lược có tác dụng bổ trợ như Chiến lược Biến đổi khí hậu (2012), Chiến lược Giảm nhẹ và phòng chống thiên tai (2011), Chiến lược Phát triển bền vững giai đoạn 2011-2012 cũng đều có những nội dung tương đồng với Chiến lược Tăng trưởng xanh Đặc biệt là gần đây, năm 2013, Trung ương Đảng đã đặt vai trò hết sức quan trọng của ứng phó với biến đổi khí hậu, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong khuôn khổ chung về phát triển bền vững, được thể hiện trong Nghị quyết “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường” (Số 24-NQ/TW năm 2013) Những văn kiện này càng khẳng định vai trò và mối quan hệ khăng khít giữa khía cạnh môi trường, tài nguyên thiên nhiên và tăng trưởng xanh

Nội hàm của tăng trưởng xanh đã bước đầu được các bộ ngành lồng ghép vào các hoạt động của mình Tổ chức Phát triển Công nghiệp của Liên Hợp Quốc (UNIDO, 2012) đã đánh giá tiềm năng phát triển công nghiệp xanh của Việt Nam, bao gồm những thiếu hụt trong chính sách, xem xét hiệu suất sử dụng tài nguyên trong một số ngành, lĩnh vực như ngành thép, làng nghề tái chế nhôm, hệ thống khách sạn và làng nghề thủ công mỹ nghệ ở Hội An và từ đó, đề xuất hướng đi cho ngành công nghiệp trong thời gian tới Tổng cục Môi trường (2012), Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổng kết một số kinh nghiệm thực hiện tăng trưởng xanh trên thế giới, xem xét những thách thức của Việt Nam khi triển khai thực hiện trong tài liệu “Sổ tay hành trang kinh tế xanh”, nhằm mục đích nâng cao nhận thức của xã hội về tăng trưởng xanh ở Việt Nam Hơn nữa, khái niệm “phát triển xanh” cũng được xem xét trong mối quan hệ với Chiến lược Phát triển kinh tế-

xã hội của Việt Nam giai đoạn 2011-2020, trong đó nhấn mạnh đến việc gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo vệ và cải thiện môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, nhằm hướng tới phát triển bền vững của đất nước (Chu Văn Cấp, 2012) Vì vậy, thay đổi mô hình tăng trưởng

ở cấp độ nền kinh tế, cấp độ các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài FDI theo hướng gắn tăng trưởng với sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm

Trang 10

ô nhiễm môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu đang trở nên ngày càng bức thiết (CIEM, 2012a; Nguyễn Quang Thuấn và Nguyễn Xuân Trung, 2012)

Về khía cạnh pháp luật, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống luật pháp khá đầy đủ để thúc đẩy mạnh mẽ hơn thực hiện tăng trưởng xanh và phát triển bền vững, đặc biệt là các luật có liên quan tới môi trường và tài nguyên thiên nhiên như Bảo vệ môi trường (1991, 1993, 2005), Bảo

vệ và phát triển rừng (1991, 2004), Dầu khí (1993, 2000, 2008), Khoáng sản (1993, 2005, 2010), Tài nguyên nước (1998, 2012), Đất đai (2003), Hóa chất (2007), Năng lượng nguyên tử (2008),

Đa dạng sinh học (2008), Thuế tài nguyên (2009), Quy hoạch đô thị (2009), Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả (2010), Thuế bảo vệ môi trường (2010), Biển Việt Nam (2012), Phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai (2013) Đây thực tế là những cơ sở pháp lý mạnh mẽ để thực hiện tăng trưởng xanh trong thời gian tới

4.2 Khả năng xây dựng bộ Chỉ số đánh giá giám sát thực hiện tăng trưởng xanh ở Việt Nam

Tăng trưởng xanh gắn chặt với khái niệm sử dụng tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên thiên nhiên, gắn với nền kinh tế ít phát thải khí nhà kính, gắn với một xã hội có lối sống lành mạnh, và thân thiện với môi trường Với những ý nghĩa đó, tăng trưởng xanh có nội hàm của phát triển bền vững, nên tham khảo những kinh nghiệm giám sát phát triển bền vững cũng sẽ là

cơ sở để xây dựng bộ chỉ tiêu giám sát tăng trưởng xanh

Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam trong Chiến lược Phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020 (Chính phủ, 2012b), bao gồm 30 chỉ tiêu, trong đó có 3 chỉ tiêu tổng hợp, 27 chỉ tiêu phân chia theo lĩnh vực kinh tế,

xã hội, môi trường và được giao cho các bộ, các ngành thực hiện

Bộ Chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững này đã được xây dựng thông qua việc tham khảo kinh nghiệm trên thế giới trong các tài liệu hướng dẫn của Liên Hợp Quốc (United Nations,

2001, 2007), dựa theo những nguyên lý xây dựng Chỉ tiêu phát triển bền vững đã được tổng kết trên đây, thông qua rất nhiều diễn đàn hội tham vấn và sự đóng góp của các bộ ban ngành, các tổ chức quốc tế cũng như cộng đồng khoa học (Trương Quang Học và Võ Thanh Sơn, 2010; Võ Thanh Sơn, 2013) Bộ tiêu chí này đã đặc biệt nhấn mạnh tới GDP xanh, tiết kiệm năng lượng và

sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên

Như vậy, những Chỉ số/Chỉ tiêu liên quan tới kinh tế, xã hội, môi trường, phát triển bền vững và tăng trưởng xanh đã được phê duyệt và ban hành từ trước cho đến nay bao gồm:

(1) Các Chỉ tiêu giám sát và đánh giá phát triển bền vững Việt Nam giai đoạn 2011-2020, bao gồm 30 chỉ tiêu (2012)

(2) Hệ thống Chỉ tiêu thống kê quốc gia (NSIS), với 24 nhóm và 274 chỉ tiêu bao trùm các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường (2005)

(3) Bộ Chỉ tiêu giám sát ngành lâm nghiệp (FORMIS) và điều tra rừng (2006)

(4) Hệ thống Chỉ tiêu thống kê ngành tài nguyên và môi trường, gồm 231 chỉ tiêu (2007)

(5) Các hệ thống chỉ tiêu/chỉ thị khác

Ngày đăng: 17/12/2017, 18:50

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w