1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

DSpace at VNU: Lễ hội cung đình triều Nguyễn và vấn đề khai thác các lễ hội này để phát triển văn hóa-du lịch ở Huế

19 241 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 10,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DSpace at VNU: Lễ hội cung đình triều Nguyễn và vấn đề khai thác các lễ hội này để phát triển văn hóa-du lịch ở Huế tài...

Trang 1

LẺ HỘI CUNG ĐÌNH TRIÈƯ NGUYỀN VÀ VẤN ĐÈ

KHAI THÁC CÁC LỄ HỘI NÀY ĐẺ PHÁT TRIỂN

VĂN HÓA - DU LỊCH Ỏ HƯÉ

Trần Đức Anh Sơn*

Do hoàn cảnh lịch sử Huế được vương triều N guyễn chọn làm kinh đỏ của Việt Nam trong suốt 143 năm (1802 - 1945) Cùng với việc thiết lập bộ máy nhà nước theo thể chế phong kiến trung ương tập quyền, vương triều Nguyễn đã thiết lập một chế độ lễ nghi phong phú, bài bản, chặt chẽ và tổ chức thực thi, chủ yếu là ở Huế, trong suốt thời gian tồn tại của vư ơne triều này N hững lễ nghi này, thường

được gọi là lễ hội cung đình triều N guyễn hay lễ hội cu n g đình H u ế, là một phần

của văn hóa cung đình Huế, một trong hai thành tố hợp thành văn hóa Huế, và là thành tố quan trọng trong việc tạo nên bản sắc văn hóa Huế, làm cho văn hóa Huế khác biệt với văn hóa của các nơi khác ở Việt Nam

1 Tống quan về lề hội cung đình triều Nguyễn

1.1 L ễ hội cung đình

Theo chúng tôi, lễ hội cung đình là những lễ hội do các vương triều phong kiến khai sình và tố chức thực hiện nhằm biêu hiện quyền lực, tư tưởng và nhận thức về thế giới quan và vũ trụ quan của g ia i cấp thống trị; đáp ứng các nhu cầu về tâm linh, tín ngưỡng, vai chơi, giải tri của gia i câp thống trị và các tầng lớp trên trong x ã hội p h o n g kiến.

Chủ thể của ỉễ hội cung đình là nhà nước phong kiến, thông qua các đại diện là vua chúa, quan lại (tùy từng trường họp cụ thể), nhưno đổi tượng tham gia lễ hội cung đình thì không chỉ có giai cấp thống trị của nhà nước phong kiến mà còn có sự tham gia của nhiều tầng ỉớp nhân dân trong xã hội đươne thời Khi nhà nước phona kiến cáo chung thì lễ hội cung đình cũng biến mất do chủ thể tổ chức khône, còn tồn tại

Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt chế độ p hone kiến ờ Việt Nam

Vì thế, lễ hội cung đình cũng khône còn được tổ chức m à đã trở thành di sản và chỉ

* TS., Viện N ghiên cứu Phát triển Kinh tế - Xã hội Đ à Nằng.

2 6 4

Trang 2

LỄ HỘI CUNG ĐÌNH TRIỀU NGUYỄN V À VẤN ĐỀ KHAI THÁC CÁC LỂ HỘI.

được phản ánh trone các nguồn sử liệu, các công trình nghiên cứu hay được lưu giũ trong ký ức của một bộ phận dân chủne từng có mối quan hệ với triều Nguyễn, triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam

Cũng vì lý do này, m à Cục Văn hóa thông tin cơ sở (thuộc Bộ Văn hóa Thông tin trước đây) khi tiến hành thống kê di sản lễ hội ở Việt Nam đã đưa ra con số: đên năm 2003, Việt Nam có 8.902 lễ hội các loại, bao gồm: 25 lễ hội du nhập từ nước neoài, 7.005 lễ hội dân gian, 1.399 lễ hội tôn giáo, 409 lễ hội lịch sử cách mạng, 64

lễ hội k h ác1, không có số liệu nào về lễ hội cung đình Nhiều công trình nghiên cứu

về lễ hội ở Việt Nam đã bỏ qua các lễ hội cung đình do họ không biết (hoặc không quan tâm) đến sự tồn tại của các lễ hội này trone lịch sử Việt N am 2

1.2 L ễ h ộ i cu n g đ ìn h triều N g u yễ n

Lê hội cun g đình triều N guyên là những lê h ộ i do triêu N guyên khai sinh và tỏ chức thực hiện, chủ y ế u ở kinh đô Huế, trong thờ i gian triều đại này cai trị đất nước N hữne lễ hội này còn được gọi là lễ hội cung đình H uế vì nhiều người đã đồng nhất cung đình H u ế với cung đình triều N g u yễn , do Huế là kinh đô của vương

triều Nguyễn

Triêu Neuyễn chia lễ hội cung đình thành hai loại: các lê tiết và các lê tế tự và tồ

chức thực hiện hai loại hình lễ hội c u n o đình này trong suốt thời eian trị vì ở Huế

1.2.1 Các lễ tiết

Đó là các dịp triều hội hàng tháng, gồm: Đại triều (vua ngự điện Thái Hòa đè nhận chầu) và Thường triều (vua ngự điện c ầ n Chánh để nhận chầu); ba cuộc lễ lớn hàng năm nhân các đại tiết: N guyên đán (Tết âm lịch), Đoan dương (Tết Đoan ngọ), Vạn thọ (sinh nhật nhà vua); các lễ m ừng nhân các dịp: Hưng quốc khánh niệm (quốc khánh của triều Nguyễn), Thánh thọ (sinh nhật hoàng thái hậu), Tiên thọ

1 Dần theo: Lê Hồng Lý, “Những hoạt động lễ hội tín ngưỡng của người Việt trong sự đôi

mới kinh tế hiện nay”, trong sách Giá trị và tính đa dạng của Folklore châu Á trong quá

trình hội nhập, Nxb Thế giới, 2006, tr 196

2 Sách Từ điển hội lễ Việt Nam của Bùi Thiết (Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1993) thống kê cả nước

có 403 lễ hội; cuốn Lịch lễ hội của Lê T rung Vũ và Nguyễn Hồng Dương (Nxb Văn hóa

T hôn" tin, Hà Nội, 1997) thống kê cả nước có 385 lễ hội N hưng cả 2 cuốn sách này không

có dòng nào đề cập đến những lễ hội cung đình đã từng tồn tại trong lịch sử Việt N am Theo chúng tôi, công trình nghiên cứu nghiêm túc và bài bản về lễ hội cung đình Việt Nam có lẽ

là cuốn Những đại lẽ và vũ khúc cùa vua chúa Việt Nam của Đỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng

Huề (Nxb Văn học, Hà Nội, 1992) Cuốn sách này đã khảo cứu và giới thiệu 36 đại lễ từng được tổ chức dưới các triều Lý - Trần - Lê - Tây Sơn - Nguyễn và 11 vũ khúc cung đình, cluì yếu là vũ khúc cung đình thời Nguyễn.

Trang 3

VIỆT NAM H ỌC - KỶ YÉƯ HỘI TH ẢO QUỐC TÉ LẦN THÚ T ư

(sinh nhật hoàng thái phi); Thiên thu (sinh nhật hoàng hậu), Thiên xuân (sinh nhật hoàng thái tử ) 1

Triều N guyễn cũng xếp vào mục lễ tiết các lễ sau: lễ đăng quang (lễ lên ngòi

của nhà vua), lễ tấn tôn (lễ sách phong hoàng thái hậu, hoàng thái phi), lễ mừng nhà vua n s ự cung mới, lễ m ừng h o àn e thái hậu ngự cung mới, lễ sách phong2

Ngoài ra, vảo các tiết: lập xuân, đông chí, thirợns nguyên (15 tháng l ) 3, trung nguyên (15 tháng 7), hạ nguyên (15 tháng 10), thất tịch (7 tháng 7), trùng dương (9 tháng 9 ) triều đình cũng tổ chức triều hội hay tế lễ tại các miếu N hững lề hội này

cũng được xếp vào m ục lễ tiết.

1.2.2 Các le tế tự

Đó là các lễ tế tại các đàn, miếu do triều đình lập ra, thờ tự và tổ chức tế lễ hàng năm Triều N g uy ễn quy định các lễ tế tự theo ba bậc:

* Đ ại tự: G ồm các lễ tế tại: đàn Nam Giao; các miếu trong Hoàng Thành gồm:

Triệu miếu, Thái miếu, H ưng miếu, Thế miếu, điện P h ụ n e Tiên; điện Hiếu Tư; điện Long An; miếu Triệu T ư ờng và miếu Trừng Quốc công; các lăng tẩm của các vị chúa N guyễn v à các vua triều N guyễn; đàn Xã Tắc.4

* Trung tự: G ồm các lễ tế tại: miếu Lịch đại đế vương; miếu Lê Thánh Tông;

Văn miếu; đàn Tiên N ô n g 5

* Q uần tự: G ồm các lễ tế tại: đền Khải T h ánh6; Võ miếu; miếu Quan Công; miếu Quốc vư ơng C hiêm Thành; miếu Q uốc vương Chân Lạp; miếu Khai quốc công thần; m iếu T rung hưng công thần; miếu Trung tiết công thần; miếu Đô Thành hoàng; miếu Hội đồng; miếu Thai D ương phu nhân; miếu Nam Hải long vương; miếu Hậu thổ; m iếu M ộc thương, miếu Hỏa pháo thần; miếu Tiên Y; miếu Vũ sư; miếu Phong bá; miếu Thiên phi; miếu H ỏa thần; miếu Sơn thần; miếu Tiên nương; miếu thờ thần hồ; m iếu thờ thần các đảo; đàn Ân tự; đàn Âm hồn; đàn Sơn xuyên;

1 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nom hội điển sự lệ, Bản dịch của Viện Sử học, Tập 6, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1993, tr 13-66

2 Nội các triều N guyễn, Sđd, tr 67-83 Lễ sách phong thời N guyễn bao gồm các lễ: sách lập

hoàng hậu, sách lập hoàng thái tử, sách phong cung giai, sách phong hoàng tử, hoàng thân, sách phong c ô n g chúa.

3 Toàn bộ ngày tháng sử d ụng trong tham luận này đượ c tính theo âm lịch.

4 Nội các triều N gu y ễ n , Sđd, tr 338.

5 Nội các triều Nguyễn, Sđd, tr 339

6 Dưới triều Gia Long, lễ tế tại các miếu: Phong bá, Vũ sư, N am Hải long vương và đền Khải

Thánh được xếp vào bậc trung lự nhưng sang triều Tự Đức, lễ tế tại 4 đền miếu này được xếp vào bậc quần tự.

Trang 4

LỄ HÔI CUNG ĐÌNH TRIỀU NGUYỄN VÀ VẤN ĐỀ KHAI TH ÁC CÁC LỀ HỘI

miếu thờ Thô kỳ; từ đường thờ các thân huân, hoàne thân; từ đ ư ờna thờ gia tiên các phi tần có c ô n a lao, đức hạnh lớn với triều đình, hoàng g ia

Neoài ra, triều N guyễn còn tổ chức một số lễ nghi và hội hè khác như: lễ kỳ đạo (lễ tế cờ); lễ đảo vũ (lễ cầu mưa); lễ ban sóc (lễ ban lịch năm mới tổ chức vào ngày m ồne 1 tháng 12 âm lịch); lễ phất thức (lễ lau chùi và niêm phong các kim bảo neọc tỉ để nehỉ Tết, tổ chức vào hạ tuần tháng 12 âm lịch); lễ tiến xuân ở kinh đô và

ở các tỉnh (tồ chức vào ngày lập xuân); lễ tịch điền (lễ vua ra cày ruộng để khuyến khích dân chúng chăm lo nehề nông, tổ chức vào tháng 5 âm lịch); ỉễ Tứ tuần đại khánh (mừng sinh nhật lần thứ 40 của nhà vua), lễ N gũ tuần đại khánh (m ừ n s sinh nhật lần thứ 50 của nhà vua); cuộc du xuân của nhà vua (cùng h o à n g gia và đình thần) vào dịp đầu xuân; ngày Hổ quyền (tổ chức cho voi ngựa đấu nhau để vua và đình thần thưởng lãm )

Triều Nguyền rất quan tâm tổ chức và thực hiện các lễ nehi, tế tự Sách Khâm định Đ ại Nam hội điên s ự lệ (phần Chính biên) đã dành 68 quyển trong tống số 263

quyển để bàn về các quy thức, điển chế tổ chức thực hiện nehi lễ, tế tự Điều này cho thấy tế, lễ là hoạt động quan trọng trong chính sự của triều Nguyễn, đồng thời cho thấy sự phong phú của các loại lễ hội cung đình triều N guyễn

1.3 Tổng quan về lễ hội cung đình triều Nguyễn

Dựa vào thông tin trong các bộ sách: K hâm định Đ ạ i N am hội điển s ự lệ , Đ ại Nam nhất thống chí2 v à N hữ ng đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt N am , chúng tôi

đã thống kê được hơn 100 lề hội cuna đình khác nhau do triều N guyễn thực thi, chủ yếu là ở kinh đô Huế, trong thời gian triều đại này cai trị đất nước

1.3.1 Quá trình hình thành lễ hội cung đình triều N guyễn

Hơn 100 lễ hội cung đình nói trên không phải đều do triều N guyễn đặt ra Đó

là kết quả của quá trình kế thừa, tiếp thu, bổ túc và điều chỉnh trải dài suốt lịch sử tồn tại của vương triều này Lễ hội cung đình triều N guyễn được hình thành từ quá

t r ìn h sau:

* Ke thừa lễ hội của các triều đại trước đây

Các triều đại phong kiến Việt N am kể từ thời tự chủ đầu thế kỷ X, dù ít dù nhiều cũng chịu ảnh hưởng Trung H oa trong việc tổ chức triều chính, pháp luật,

1 Nội các triều Nguyễn, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Bản dịch của Viện Sử học, 15

tập, Nxb Thuận Hóa, 1993

2 Quốc sử quán triều N guyễn, Đại Nam nhất thống chí, Phạm T rọng Điềm dịch, Đào Duy

A n h h i ệ u đ í n h , 5 t ập, N x b T h u ậ n Hóa, 1992.

3 Dỗ Bằng Đoàn và Đỗ Trọng Huề, N hững đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt N am , Nxb

Văn học, Hà Nội, 1992.

Trang 5

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉƯ HỘI THẢO QUỒC TÉ LẰN T H Ủ T ư

lê nghi, văn hóa, giáo dục, khoa cử Trong lĩnh vực lê nghi, có nhiêu lễ hội có gòc gác Trung Hoa nhưng đã được du nhập vào nước ta và được các triều Đinh - Lê (963 - 1009), Lý (1010 - 1225), Trần (1225 - 1400), H ồ (1400 - 1407), Hậu Lê (1427 - 1788), Tây Sơn (1788 - 1802) tổ chức thườna xuyên, trở thành những lễ hội tru\ên thống của nhà nước phone kiến Việt Nam C hấng hạn: lễ tế Giao du nhập vào nước ta từ đời Lý Anh Tông (1 138 - 1175), được duy trì dưới các triều: Hồ, Hậu Lê và Tây Sơn (1788 - 1802)'; lễ cày ruộng tịch điền (và tế đàn Xã Tắc hay đàn Tiên Nông) có từ năm 987 triều Tiền Lê2, được tổ chức thường xuyên vào thời

Lý - Trần - Hậu Lê; lễ tế Văn miếu có từ năm 1070 đời vua Lý Thánh Tông3, tiếp tục được thực hiện vào thời Trần và thời Hậu Lê; các lề: kỳ đạo đăne quang, tấn tôn sách phong, truyền lô, tiến xuân ngưu đều được các triều Trần - Hồ - Hậu Lê

tô chức N hữne lễ hội này đã được nhà Neuyễn kê thừa, tiêp thu và có những bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp với tính chất và hoàn cảnh đường thời

* Tiếp thu từ lễ hội cung đình Trung Hoa

Triều Nguyễn chọn khuôn mẫu Trung Hoa làm mô hình đế cai trị đất nước Vì thê, nhiêu nghi lễ, điển chương của triều đình Trune Hoa cũng được triều Nguvễn tham khảo, tiếp thu và thực hiện vì nhiều mục đích khác nhau Chẳng hạn: các lễ triêu hội nhân các dịp: m ừng thọ vua (lễ Vạn thọ), m ừng thọ hoàng thái hậu (lễ Từ cung thánh thọ), m ừ n s thọ hoàng hậu (lễ Thiên thu), m ừng thọ hoàng thái tử (lễ Thiên xuân), m ừng thọ vua (lễ Vạn thọ), mừng vua hay hoàng thái hậu ngự cung điện mới, Tứ tuần đại khánh, Ngũ tuần đại khánh Bát tuần thánh th ọ ; các lễ tế như: tế đền Khải Thánh, tế đền Quan Công, tế Văn miếu, tế Võ miếu (là những nơi thờ rât nhiều danh tướng, công hầu Trung Hoa); các cuộc du xuân của vua, hoàng gia và đình thần

* Cung đình hóa và điên chế hỏa những lễ nghi truyền thống của dân tộc

Nhiều lễ nghi truyền thống của dân tộc Việt N am đã được triều Nguyễn cung đình hóa bans các nghi lễ long trọng, điển lệ chặt chẽ và tổ chức bài bản hơn nhằm thê hiện địa vị cao quỷ của dòng họ Nguyễn hay quyền uy tối thượng của nhà vua Chăng hạn, các lễ tế, h ư ở n s tại các miếu thờ tô tiên, các bậc tiền bôi và các vị đế hậu triều Nguvễn như Triệu miếu, Thái miếu, Hưng miếu, Thế miếu, điện Phụng liên, điện Hiếu Tư, điện Long A n thực chất là việc cung đình hóa và điển chế hóa tục thờ p hụns và cúng bái tổ tiên mà neười dân Việt Nam đã thực hiện từ bao đời

1 Tri ều T r ầ n k h ô n ỵ tổ c hức lễ tế Giao Dan theo: Đỗ B ằ n g Đ o à n vả Đồ T r o n g Huề, Sđđ,

tr 15.

2 Đỗ B ằ n g Đ o à n và Đ ỗ T r ọ n g Huề, Sđd, tr 87.

3 Đỗ B ằ n g Đ o à n và Đ ỗ T r ọ n g Huề, Sđd, tr 105.

268

Trang 6

LỀ HỘI CUNG ĐÌNH TRIỀU NGUYỄN VÀ VẤN ĐỀ KHAI THÁC CÁC LỄ h ộ

nay Thông qua các lễ tế, hưởng ở các miếu này, triều Nguyễn đã nâne việc tầờ cúng tổ tiên của mình thành biểu tượna quyền uy của chế độ và dòng họ Chhh

thuộc tính cung đình của các lễ hội này đã 2Óp phần tạo nên bản sắc cho lễ hội cứ Huế, là yếu tố làm cho lễ hội ở Huế nói riêne và văn hóa Huế nói chung khác b ệt với lễ hội và văn hóa của những địa phương khác

* Xuất p h á t từ nhu cầu của đời sống; tử nhu cầu tâm linh, tín ngưỡng của nhiều bộ phậ n dân cư trong xã hội

Rất nhiều lễ hội cung đình triều Nguyễn do triều đình tổ chức thực hiện xiât phát từ y ê u c ầ u c ủ a đ ờ i s o n s x ã h ộ i n h ư : lễ đ ả o v ũ ( lễ c ầ u m ư a v à c ầ u tạ n h đ ế C IO

mùa màng được phong đ ăn e hòa cốc), lễ truyền lô (tôn vinh những người đỗ đạt đê khuyến khích tinh thần hiếu học trong xã hội); hay xuất phát từ đạo lý “uổng nuớc nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam như các lễ tế tại các miếu thờ: Lịch đại đế vương, vua Lê Thánh Tông, quốc vương Chiêm Thành, quốc vương Chân Lạp, khai quốc công thần, trune, hưne công thần, trune tiết công th ần ; hay xuất phát từ tâm lý cảm thông, chia sẻ với những hoàn cảnh éo le, thương tâm của tha nhân như: lê tê

mộ hoang, lễ tế đàn Âm hồn, lễ cúng cô hồn

Sự hình thành của các lễ hội cung đình triều Nguyễn là một quá trình, gắn liền với lịch sử tồn tại và phát triển của vưong triều Nguyễn Phân lớn các lễ hội cung đình triều Nguyễn đều được thiết lập dưới triều Gia Long (1802 - 1820) và tr.ều Minh Mạng (1820 - 1841) trên cơ sở tiếp thu, duy trì các lễ hội dã có từ các triều iỉại trước và đặt thêm các lễ hội mới vì các nhu cầu lịch sử, xã hội, văn hóa, tín ngưỡng của triều đại mới Các triều vua kế vị khôna, chỉ tiếp nối duy trì thực thi

mà luôn bổ túc, điều chỉnh và kiện toàn các lễ hội này Đó là các hoạt động trùng tu,

tu bổ đền, miếu, đàn, tự (là nơi thờ tự và hành lễ); di dời, thay đổi vị trí đền, miếu, đàn, tự so với vị trí ban đầu đến những nơi cao ráo, phong quang hơn; điển chế hóa thời điểm, thời gian và quy mô tổ chức lễ hội cũng như các nghi thức tiến hành và lê vật dâne cúng trona lễ h ộ i Thậm chí, sự điều chỉnh, bố túc và kiện toàn này diên

ra nhiều lần neay trong m ột triều vua, nhiều nhất là dưới triều Minh Mạng

1.3.2 Các đặc trư ng của lễ hội cung đình H uế

Lễ hội c u n s đình triều Nguyễn là sự tiếp thu, vận dụng và phát triển đa dạng các lễ hội cung đình của các triều đại trước ở Việt N am và lễ hội cung đình Trung Hoa trong một bối cảnh mới, triều đại mới, với những mục đích vừa có nét tương đồne, vừa có nét khác biệt so với trước Vì thê, ngoài những đặc trưng chung của lê hội cung đình như: quy mô, hoành tráng, có tính điển chế cao, thì lễ hội cung đình triều N euyễn còn có các đặc trưng sau:

Trang 7

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI TH ẢO QUÓC TÉ LẦN T H Ứ TU

* Phản ánh m ột nhu cầu tâm linh vừa có tính ch ấ t tín ngưỡng thần quyền, vừa tốn vinh vương quyền của vương triều N guyễn

Vua chúa triều N guyễn cũng là con người nên họ cũ n ẹ có nhừne nhu cầu tâm linh như những người bình thường khác Lễ hội cung đình chính là sợi dây kết nổi giữa thế giới trần tục với thế giới thần linh, là phương thức để các bậc vua chúa gửi đén thần linh những nguyện vọng, khẩn cầu (của họ và của những thần dân mà họ đại diện) vì một mục đích nào đó; hay gửi đến tô tiên và những người đã khuất lòng tièc thương, sự hiếu nghĩa, sự tri ân và chia sẻ Đây là m ột nhu cầu có thực, thể hiện tín ngưỡns thần quyền, tin vào quyền năng của các vị thần linh, vào những người

"khuất mặt, khuất m ày” ở thế giới bên kia Tuy nhiên, do nhà vua là “thiên tử” (con trời), đứng trên các bậc thần linh, nên nhà vua vừa tin tưởng vào quyền năng cùa thân linh, lại vừa tự cho mình quyền được sai bảo các vị thần Các vị thần được nhà vua tô chức tế lễ hàng năm cũng chính là những vị được vua sac phone, (thượng đãng thần, trung đ ẳn ạ th ần ), nên vua cũng có quyền sai khiến, thậm chí trừng phạt các vị thần vì những “ lỗi lầm ” của h ọ 1 Vì vậv, lễ hội cung đình còn thể hiện V nghĩa tôn vinh vư ơng quyền

* Phản ánh s ự tôn vinh triều đại và dỏ n g họ N guyễn

Trong hệ thống tế lễ của triều N guyễn có rất nhiều lễ hội, chủ yếu ỉà các lễ tự, hưởng, được tổ chức tại các m iếu thờ các vị tổ tiên, liệt vương, liệt đế, hậu p h i

cao dòng họ của nhà vua Leopold Cadière nhận xét ràng: "Các vua Nguyễn được thờ củng trong Thế m iếu dướ i danh nghĩa của các cựu nguyên thủ quốc gia, và người thực thi nọjíĩa vụ này là vị hoàng đ ế đươ ng nhiệm đóng vai trò thủ lãnh hiện thời của vương q u ố c ''} Điều này khẳng định uy quyền của vương triều ỉuôn luôn tôn tại và được kế thừa liên tục và chính thống N hiều người tin ràng "việc thờ cũng góp phần củng cổ tình đoàn kết trong dòn g họ và m ang lạ i sức m ạnh tinh thần của friều đ ạ i''2 hay “việc th ờ cúng tô tiên theo nghi lễ của các bậc vua chúa còn m ang

ỉ V u a Minh M ạ n g đ ã t ừ n g " t r ừ n g p h ạ t ” n ữ t hầ n Kỳ t h ạ c h p hu nhân, được t h ờ ờ xã T h a n h Phước, hu yệ n H ư ơ n g Tr à , phủ T h ừ a T h i ê n vỉ đã k h ô n g đ á p ứ n g yêu cầu cầu mư a t r ong lễ đảo vũ do triều đình tổ chức.

2 Dan theo: Đỗ Trinh Huệ, Văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng Việt Nam dưới nhãn quan học ẹ/ả

Cadière, Nxb Thuận Hóa, 2006, tr 221.

3 SurDesai, D.R, Southeast Asia, Past & Present, o s Printing House, Bangkok 1997, p 42

Dan theo: H u ỳ n h T hị A n h Vâ n, " V ấ n đề bàn sắc q u a nghi lễ tế mi ếu: m ộ t cách tiếp cận nhân

học" trong Di sản văn hóa Huế, Nghiên cínt vò Dao tồn, Trung tâm BTDT cố đô Huế xuất

bàn, Huế, 2007, tr 234.

270

Trang 8

LỀ HÔI CUNG ĐÌNH TRIỀU NGUYỀN VÀ VẤN ĐỀ KHAI TH ÁC CÁC LỄ HỘI

lại uy thế của dòng họ nhà vua, đề cao uy quyền của vư ơng triều Vì điều này nèn nhừne nehi lễ thờ cúng tổ tiên của v ư ơ n s triều N guyễn trở nên phức tạp và được điển chế hóa ở mức cao nhất so với các triều đại trước đó.2

* Diên ra quanh năm, linh hoạt về thời gian, p h o nọ, p h ú về hình thức tô chức

và cỉiên ra ở nhiêu địa điềm khác nhau

Triều N euyễn tố chức lễ hội quanh năm, tập trune vào một số tiết lớn như: lập xuân, neuvên đán, thượng nguyên, đoan dương, trung nsuyên, hạ nguyên, đông chí nhưng tập truna nhiều nhất vẫn là mùa xuân và m ùa thu (xuân thu nhị kỳ) mồ đỉnh điểm là vào tháng 2 và tháne 8 âm lịch Thời eian tổ chức lễ hội linh hoạt, CC

lễ hội chỉ diễn ra trono 1 neày, một số lễ hội kéo dài đến 3 ngày, thậm chí 7 ngà)

(như các lễ tế đàn) Hình thức lễ hội và nehi thức lễ hội rất phong phủ “Tất cả các

lê hội cung đình H uế đều có phầ n âm nhạc đi kèm M ột sô lê hội quan trọng còn ct

cả các tiết m ục ca và m úa ” Các lễ hội cune đình này được tổ chức ở nhiều nơi tạ

kinh đô Huế xưa, một số lễ hội còn có sự phối hợp tổ chức giữa kinh đô với các die phương khác trong nước

* Anh hưởng m ạnh m ẽ đến lễ hội dân gian ở H u ế

Như đã đề cập ở phần trên, nhiều lễ hội cung đình ở Huế có gốc gác từ dâi gian nhưng đã được triều N guyễn cung đình hóa và điển chế hóa thành lễ hội cunị đình, chẳng hạn như các lễ tể, hưởng ở các miếu, điện thờ vua chúa nhà Nguyêi trong H oàng T hành (bắt nguồn từ việc kỵ giỗ tổ tiên của dân gian), lễ yết hái ở các lăng tẩm vua chúa triều N guyễn (bắt nguồn từ lễ tảo mộ của dân gian) Tuy nhiên khi những lễ nghi dân gian được cung đình hóa, đến lượt nó, lại ảnh hưởng trở lại đô

với các lễ hội trong dân gian, nhất là trong phần lễ, thể hiện ở trình tự hành lễ, lễ vậ

dâng cúng và neôn từ của các bài văn khấn, kể cả trang phục của những nsười hàm

lễ và dự lễ "Anh hưởng của nghi lễ cung đình thật rõ nét trong nghi le dãn gian i Huế Sự tổ chức cúng bái, cung cách thể hiện, nghi thức m ột cách trang trọng, đủni phép cho ta thấy nghi lễ dân gian vùng H uế không ch i do truyền thống mà còn chịi

sự chi đạo, hướng dẫn và tác động của nghi thức xu ấ t p h á t từ cung đình ”4.

1 Lương Kim Thoa, “Các vua triều Nguyễn đối với tín ngưỡng truyền thống ở Việt Nam nìa

đầu thế kỷ XIX”, trong Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thời Nguyền ở Dại học, Coo đăre;

sư phạm và phổ thông (Kỷ yếu hội thảo Khoa học quốc gia), Bộ Giáo dục và Đào tạo-

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, 2002, tr 116

2 Huỳnh Thị Anh Vân, “ B đd” , tr 234.

3 Phan Thuận An, “Lễ hội cung đình triều Nguyễn nhìn từ góc độ văn hoá và du lịch ngry

nay”, Sông Hương, số 167, tháng 1, 2003, tr 47.

4 Tôn Thất Bình, “Một số đặc điểm của lễ hội dân gian hiện nay ở Thừa Thiên Huế”, Văn h(ũ Nghệ thuật, Số 3 (117), 1994.

Trang 9

VIỆT NAM HỌC - KỶ YÉU HỘI THẢO QUỐC TẾ LẰN T H Ứ TU

* Nặng p h ầ n lễ, nhẹ p h ầ n hội

Xem xét lề hội cung đình triều N guyễn theo cấu trúc, tức là tách bạch thành

hai phân: le và hội, thì chúng tôi nhận thấy phần lễ tro n e lề hội cung đình triều Nguyễn được coi trọng hơn phần hội N guyên nhân là do triều Nguyễn coi trọng

thực hành lễ nghi hơn là tổ chức hội hè, vui chơi, siải trí trong các lễ hội Đây cùng

là nét khác biệt giữa lễ hội cung đình với lễ hội dân gian

Le hội cung đình triều N euyễn do vua định ra và đình thần tổ chức thực hiện

Cả người khai sinh lễ hội, lẫn naười hành lễ đều là n h ữ n s naười học thức, chịu anh

hưỏng sâu đậm của tư tưởng Nho giáo N ho giáo quan niệm “Le giả, thiên địa chi

tự d ã " (Lễ vốn là trật tự của trời đất - Kinh Lễ) V ua là người thav trời để điều hành

cái trật tự ấy cho nên phải lấy lễ làm gốc Ngoài ra, m ục đích của các lễ hội cung đình là đế tôn vinh thần quyền và vư ơne quyền, tôn vinh những giá trị tinh thần cao đẹp theo nhãn quan của giai cấp thống trị Vì thế, họ quan tâm đến tính chất nghiêm trang, sự uy nghi, tính điển chê của lễ nghi hơn là quan tâm đến nhữ ng sinh hoạt hội

hè đi kèm lễ hội Mặt khác, với địa vị cao quý của mình, giai cấp thong trị không cho phép mình tham dự những sinh hoạt hội hè có tính trần tục như trong các lễ hội

dân gian, nên cho dù m ột số lễ hội cung đình triều N guyễn có tổ chức phần hội kèm theo thì phần hội này cũng mang tính hình thức hơn là nhữ ng hoạt động vui chơi,

giải trí thực sự như trong các lễ hội dân gian

* Giàu tính nhân văn

Đây là một trong n h ữ n s giá trị văn hóa đáng trân trọng của lễ hội cung đình triêu Nguyễn Triều Nguyễn tổ chức lễ hội không chỉ vì mục đích suy tôn vương quyên, đề cao dòng họ và thỏa mãn nhu cầu tâm linh của các bậc đế vương Nhiều

lê hội do triều Nguyễn tố chức như tể N am Giao, tể X ã Tắc, lễ cày ruộng tịch điền ỉà để cầu cho “ quốc thái dân an”, “p h o n g điều vũ thuận” , “phong đăng hòa cốc” Những lễ hội này được tổ chức hàng năm m ả người chủ lễ chính là nhà vua Điều này thể hiện rằng các vua triều N guyễn coi việc cầu m ong mưa thuận gió hòa, đât nước thái bình, nơười dân an lạc là việc trách nhiệm của họ N goài ra vua cũng

cử các vị đại thần khâm mạng thay m ặt vua tiến hành các lễ đảo vũ (mỗi khi có hạn hán hay mưa dầm), lễ tế miếu Phong bá, lễ tể miếu V ũ s ư để cầu khấn và tạ ơn các vị thần mưa, thần gió Tính nhân văn trong các lề hội cunạ đình Huế còn được thê hiện trong việc triều đình lập miếu thờ và tổ chức tế tự các vị đế vương của các triều đại trước (miếu Lịch đại đế vương, miếu Lê Thánh T ô n e ) thể hiện sự trọng thị và biết ơn đối với các triều đại trước Sự trọng thị này k h ô n s chỉ đối với các vị vua chúa Việt Nam m à còn đối với các vị quốc vương của Chiêm Thành và Chân Lạp xưa thôna, qua việc lập đền miếu và duy trì tế lễ các vị này Triều Nguyễn lập Văn miếu và Võ miếu để tôn vinh văn trị, võ công; lập các miếu thờ côna thần và

2 7 2

Trang 10

LỄ HÔI CUNG ĐÌNH TRIỀU NGUYỄN VÀ VẤN ĐỀ KHAI THÁC CÁC LỄ HỘI

tô chức tê lề ở các nơi này đế tôn vinh những nsười có cô n2 với đất nước, với triều dại Không những thế, các lề tế mộ hoang, lề tế đàn Âm h ồ n m ang ý nghĩa nhân văn sâu sắc thế hiện sự đồng cảm cảm thông, thương xót đôi với đôna loại bât hạnh Trong khi đó, các lễ triều hội như: nguyên đán, đoan d ư ơ n a lại thể hiện sự tiếp nối những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc; lễ truyền lô thể hiện việc tôn vinh người tài và tuyển chọn neười tài ra s iú p n ư ớ c Tất cả n hữ ns nét tích cực ấy là phần cốt lõi tạo nên n h ữ n g giá trị nhân văn trong lễ hội cung đình triều Neuyễn Loại trừ n h ữ ne phần hạn chế do thòi đại và hệ tư tưởng p h o ns kiến, lễ hội cung đình triều N guyễn chứa đirns những giá trị văn hóa tích cực và giàu tính nhàn văn

2 Khai thác lỗ hội cung đình triều Nguyễn để phát triển văn hoá - du lịch

ỏ Huế

Do hoàn cảnh lịch sử và những biến đổi của xã hội, sau khi triều Nguyễn cáo chung, hầu hết các lễ hội cung đình khôna còn được tồ chức do chủ thể lễ hội khôns còn tồn tại Tuy nhiên, m ột sổ hình thức tế lễ như lễ tế, hưởng tại các miếu thờ trong Hoàng Thành, lễ yết bái lăng tẩm các vua chúa nhà Nguyễn nhân tiết thanh minh hay vào các dịp giỗ kỵ nhà vua vẫn được con cháu họ Nguyễn, dưới sự điều hành của Hội đồng trị sự N guyễn Phúc tộc, vẫn được duy trì, nhưng trong phạm vi dòng

họ chứ không phải là những quốc lễ như trước

Đặc biệt, sau nhiều năm gián đoạn, vào năm 1972, với mục đích nguyện cầu cho hòa bình, bà Từ Cung (Đoan Huy hoàng thái hậu), mẹ vua Bảo Đại đã đứng ra

tổ chức một cuộc lễ tế khá quy mô tại đàn Nam Giao của triều Nguyễn, với sự chứng kiến của đại diện chính quyền đương thời ở Huế Đâv là lễ tế Giao đầu tiên được tổ chức sau khi triều N guyễn kết thúc, và người đứng ra tố chức lễ tế này là một bà (cựu) hoàng thái hậu của triều Neuvễn

Sau khi đất nước thống nhất vào năm 1975, những lễ hội cune đình triều Nguyễn bị coi là tàn dư của chế độ phong kiến nên bị loại bỏ Thậm chí, những

“dấu vết” liên quan đến các lễ hội này cũng bị xóa bỏ

Tuy nhiên, từ đầu thập niên 1990, khi H uế bắt đầu được du khách trong và ngoài nước quan tâm, đặc biệt, sau khi quần thể di tích triều Nguyễn ở Huế được UNESCO côna; nhận là Di sản Văn hóa Thế siới vào năm 1993, chính quyền tỉnh Thíra Thiên Huế đã có những thay đổi trong cách “đối xử” với các di sản văn hóa

do vương triều N euyễn để lại, cả di sản vật thể lẫn di sản phi vật thể

Níìoài việc đầu tư tiền của và trí lực cho công cuộc bảo tồn quần thể di tích kiến trúc triều Nguyễn, chính quyền cũng cho phép người dân tố chức một số lễ hội truvên thống của địa phư ơns, trong đó có những lễ hội có gốc gác gắn vói văn hóa

Ngày đăng: 17/12/2017, 17:42

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm