Đạo đức nghề nghiệp củaluật sư bao gồm các quy định chung về đạo đức của bản thân luật sư trong các mối quan hệgiữa luật sư với khách hàng, với cơ quan tiến hành tố tụng và với đồng nghi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA LUẬT LỚP LUẬT TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG CỬ NHÂN TÀI NĂNG
--
MÔN ĐẠO ĐỨC NGHỀ LUẬT
ĐỀ TÀI: GIỚI THIỆU BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ Ở
CHÂU ÂU, MỸ VÀ PHÁP, SO SÁNH BỘ QUY TẮC ỨNG XỬ ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ GIỮA VIỆT NAM VỚI MỸ, GIỮA PHÁP VỚI MỸ
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ Ở HOA KỲ 5
1.1 LỊCH SỬ HÌNH THÀNH CỦA BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ Ở HOA KỲ: 5
1.2 KHÁI QUÁT BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ Ở HOA KỲ: 6
1.2.1 Hình thức: 6
1.2.2 Nội dung: 6
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CHI TIẾT BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ Ở HOA KỲ 8
2.1 NỘI DUNG CHI TIẾT CỦA BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC HOA KỲ: 8
2.1.1 Quan hệ giữa khách hàng và luật sư (Client-Lawyer Relationship) 8
2.1.2 Trong vai trò cố vấn 9
2.1.3 Trong vai trò biện hộ 9
2.1.4 Giao dịch với người khác ngoài khách hàng (Transactions with Persons Other Than Clients) 10
2.1.5 Các công ty luật và Hiệp hội Luật (Law Firms and Associations) 10
2.1.6 Dịch vụ công cộng (Public Service) 10
2.1.7 Thông tin về các dịch vụ pháp lý (Information about Legal Services) 11
2.1.8 D uy trì tính toàn vẹn của nghề (Maintaining the Integrity of the Profession) bao gồm 5 quy tắc 11
CHƯƠNG III: SO SÁNH BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ Ở HOA KỲ VÀ BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC VIỆT NAM 12
3.1 PHÍ/ THÙ LAO 12
3.2 TỪ CHỐI CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ 14
3.3 BẢO VỆ BÍ MẬT THÔNG TIN KHÁCH HÀNG 16
3.4 QUAN HỆ CỦA LUẬT SƯ VỚI CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG 18
Trang 3CHƯƠNG IV: NHỮNG NGUYÊN TẮC/QUY TẮC NỔI BẬT CỦA HOA KỲ
VÀ VIỆT NAM 27
4.1 NHỮNG NGUYÊN TẮC/QUY TẮC NỔI BẬT CỦA HOA KỲ: 27
4.1.1 Tiền đề (Preamble) 27
4.1.2 Thuật ngữ 27
4.1.3 Mối quan hệ giữa luật sư và khách hàng 27
4.1.4 Luật sư trong vai trò luật sư tư vấn 28
4.1.5 Dịch vụ cộng đồng 28
4.1.6 Duy trì sự chính trực của nghề luật sư 29
4.2 NHỮNG NGUYÊN TẮC/QUY TẮC NỔI BẬT CỦA VIỆT NAM: 29
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN 32
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
Từ xưa đến nay, đạo đức là những tiêu chuẩn, nguyên tắc được xã hội thừa nhận, quyđịnh hành vi, quan hệ giữa con người với nhau và đối với xã hội Đạo đức nghề nghiệp củaluật sư bao gồm các quy định chung về đạo đức của bản thân luật sư trong các mối quan hệgiữa luật sư với khách hàng, với cơ quan tiến hành tố tụng và với đồng nghiệp Mỗi luật sưphải ý thức được sứ mệnh của mình, biết giữ gìn phẩm chất và danh dự nghề nghiệp, tạoniềm tin và sự kính trọng từ khách hàng để xứng đáng với sự tôn vinh của xã hội
Ông Nguyễn Đức Hùng, trong bức thư gửi đến ông Nguyễn Hồng Bách - Chủ tịchHội Đồng tư vấn Công ty Luật hợp danh Hồng Bách và Cộng sự, đã nói: “Tôi tin nghề luật làthầy thuốc chữa bệnh về tâm hồn và đạo đức, đây là một nghề cao quý Đã là thầy thuốc thìchỉ có dùng thuốc chữa bệnh, giảm đau, không ai chỉ định dùng thuốc độc cho bệnh nhân (kể
cả có người thuê đầu độc) Luật sư cũng thế, có quyền dùng kiến thức và đạo đức của mình
để gỡ tội và cứu sống con người, đó là trách nhiệm với thân chủ của mình và được xã hội tôntrọng… Còn nếu lạm dụng vị trí nghề nghiệp, xã hội mà đẩy người khác vào đường cùng thì
là điều thất đức, bị lên án Băng đảng giang hồ nó giết người thuê bằng dao búa, còn ngườicầm bút giết người một cách tinh vi hơn, nhưng mục đích giết người để kiếm tiền thì đáng sợ
“tâm” và chữ “tầm” đi theo trong suốt quá trình hoạt động nghề nghiệp, phải ý thức được cácvấn đề xã hội, nghiên cứu, chuẩn bị kỹ, cân nhắc mọi lời nói, hành vi để mọi người “tâmphục, khẩu phục” Không nên để mọi người cho rằng luật sư “nhận tiền để đổi trẳng thayđen” Nhiệm vụ của luật sư là bổ trợ tư pháp, góp phần bảo vệ công lý, giúp làm rõ sự thậtkhách quan của vụ án, người luật sư nên có kỹ năng riêng để làm sáng tỏ những vấn đề của
vụ án, không nói suông, chung chung, nói vô căn cứ hoặc sai sự thật
Trang 5phạm pháp luật khác Vậy, Bộ quy tắc đạo đức thế giới, điển hình là Bộ quy tắc đạo đức củaHoa Kỳ so với Bộ quy tắc đạo đức của Việt Nam thì có điểm gì giống và khác nhau, và sựkhác nhau đó đem lại những ảnh hưởng đặc trưng gì đối với từng khu vực Từ những câu hỏi
đó, nhóm em đã tìm hiểu đề tài “Giới thiệu Bộ quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư ở Châu
Âu, Mỹ và Pháp, so sánh Bộ quy tắc ứng xử đạo đức nghề nghiệp luật sư giữa Việt Nam với Mỹ, giữa Pháp với Mỹ” Với tư duy và cách nhìn nhận của một sinh viên, chúng em
không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình nghiên cứu, kính mong cô và các bạn cùngxem xét và góp ý để bài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Trang 6CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ
Ở HOA KỲ
1.1 Lịch sử hình thành của Bộ quy tắc Đạo đức nghề nghiệp luật sư ở Hoa Kỳ:
Cho đến đầu thế kỷ 20, không có một bộ luật đạo đức nào thống nhất về mối quan hệgiữa luật sư và khách hàng Trước thời điểm đó, những câu hỏi về hoạt động pháp luật đã đểlại cho các tòa án địa phương tự giải quyết
Năm 1887, tiểu bang Alabama đã thông qua luật đạo đức đầu tiên Tuy nhiên, đạo luậtnày đã mù mờ xuất hiện từ 12 năm trước, trước khi nó chính thức được công bố Hiệp hộiLuật sư hoa Kỳ American Bar Association (sau đây gọi là "ABA") đã có thái độ công khaiđầu tiên về Bộ quy tắc đạo đức khi thông qua Đạo luật Đạo đức năm 1908, phần lớn dựa trênLuật về Đạo đức (Canons of Ethics) của Alabama Vào nửa sau của thế kỷ 20, Luật về đạođức đã được phổ biến nhưng bị coi là vô ích vì thiếu tính áp dụng
Do đó, vào năm 1969, ABA thông qua một đạo luật mới, được gọi là Bộ quy tắc mẫucủa ABA về Trách nhiệm Chuyên nghiệp ("CPR" hoặc "Quy tắc Mẫu") Bộ quy tắc này đãthành công đến nỗi cuối cùng nó đã được thông qua, ít nhất một phần, bởi tất cả thẩm phántại Hoa Kì CPR được chia thành nhiều phần khác nhau, bao gồm lời mở đầu, lời tuyên bốban hành luật, các quy tắc, các vấn đề về đạo đức, các quy tắc kỷ luật và định nghĩa Nhữngquy định về đạo đức nhằm cung cấp hướng dẫn cho luật sư và người đại diện về những mụctiêu mà họ nên cố gắng thực hiện Việc vi phạm các Quy tắc đạo đức là hành vi sai pháp luật,luật sư sẽ bị áp dụng kỷ luật nếu vi phạm những quy tắc đạo đức này
Năm 1983, Bộ Quy tắc Mẫu về Quy tắc Ứng xử Chuyên nghiệp của ABA ("Quy tắcmẫu" hoặc "RPC") được thông qua lần đầu tiên và đã được sửa đổi nhiều lần kể từ đó, gầnđây nhất vào năm 2002 Những sửa đổi gần đây này được chấp nhận lần đầu tiên vào năm
2000 bởi ABA Các Quy tắc Mẫu đã không được hưởng thành công như Quy tắc Mẫu, được
áp dụng gần như toàn bộ ở tất cả các tiểu bang và vẫn được giữ lại trong một số khu vực pháp
lý Tuy nhiên, Quy tắc Mẫu đã được thông qua ở khoảng ba phần tư các tiểu bang, mặc dù cónhiều mức độ sửa đổi khác nhau
Cơ cấu của Bộ quy tắc mẫu về ứng xử nghề nghiệp được chia thành những nhóm vấn
đề trong đó có các quy tắc Mỗi quy tắc đều có phần bình luận Quy tắc bao gồm những quy
Trang 71.2 Khái quát Bộ quy tắc Đạo đức nghề nghiệp luật sư ở Hoa Kỳ:
1.2.1 Hình thức:
Bộ quy tắc chia làm 8 chương Mỗi nguyên tắc điều chỉnh một khía cạnh và có sốlượng quy tắc bổ trợ khác nhau Cụ thể là:
Chương 1: Quan hệ khách hàng – luật sư (bao gồm 18 quy tắc bổ trợ)
Chương 2: Luật sư tư vấn (bao gồm 3 quy tắc bổ trợ)
Chương 3: Luật sư tranh tụng (bao gồm 9 quy tắc bổ trợ)
Chương 4: Giao dịch với người khác khác với khách hàng của mình (bao gồm
4 quy tắc bổ trợ)
Chương 5: Các Công ty luật và Hiệp hội Luật sư (bao gồm 7 quy tắc bổ trợ)
Chương 6: Dịch vụ cộng đồng (bao gồm 5 quy tắc bổ trợ)
Chương 7: Cung cấp thông tin về dịch vụ pháp lý (bao gồm 6 quy tắc bổ trợ)
Chương 8: Duy trì tính toàn vẹn của nghề luật sư (bao gồm 5 quy tắc bổ trợ)
Có thể thấy, bố cục và cách sắp xếp các khía cạnh đi từ phạm vi hẹp đến phạm virộng Xét trong mối quan hệ với khách hàng, rồi mở rộng ra là ở vị trí của luật sư (bao gồm 2loại là luật sư tư vấn và luật sư tranh tụng), sau đó là trong các mối quan hệ với Công ty luật,Hiệp hội luật sư, cuối cùng đó là sự chỉn chu, toàn vẹn trong nghề luật sư
1.2.2 Nội dung:
Như đã phân tích ở trên, Bộ quy tắc đạo đức của Hoa Kỳ có 8 chương
Chương 1 là nguyên tắc nhận được sự điều chỉnh nhiều nhất trong Bộ quy tắcvới 18 quy tắc Quan hệ khách hàng và luật sư là mối quan hệ phổ biến, haygặp trong đời sống xã hội và cũng từ đây phát sinh ra những sự kiện pháp lýkhác
Chương 3 có số quy tắc nhiều thứ 2 (9 quy tắc), ở vị trí luật sự tranh tụngkhông chỉ có vai trò bảo vệ công bằng lẽ phải, họ còn phải hành động sao chophù hợp trong mối quan hệ với thân chủ cũng như những nguyên tắc đạo đức
cơ bản
Trang 8 Các chương còn lại (chương 2, 4, 5, 6, 7, 8) có số quy tắc dao động từ 4 đến
7 quy tắc Dù không có nhiều quy tắc bổ trợ như những chương nhưng nhữngchương này đều có sự điều chỉnh thích hợp
Bộ quy tắc đạo đức nghề luật của Hoa Kỳ đã đạt được sự bao quát khi điều chỉnhđược các quan hệ phổ biến của luật sư Đồng thời, sự rõ ràng và chính xác cũng được quantâm đúng mực
Sự bao quát và đẩy đủ ở đây bao gồm các khía cạnh ở mỗi nguyên tắc và các quy tắc
bổ trợ trong mỗi nguyên tắc đó Chúng ta thường hay cho rằng bao quát, đầy đủ là phải baogồm tất cả mọi thứ có liên quan, càng chi tiết càng tốt Nhưng pháp luật thay đổi theo sự thayđổi của xã hội Việc Bộ quy tắc đạo đức nghề luật của Hoa Kỳ mang tính đầy đủ, bao quátbởi vì đã tác động đến những mối quan hệ phát sinh trong bối cảnh xã hội, đáp ứng được yêucầu thực tiễn cũng như chưa có sự xuất hiện thêm của các nhân tố
Ví dụ: Trong nguyên tắc 2, việc chỉ có bốn quy tắc bổ trợ điều chỉnh (thực tế chỉ có baquy tắc bổ trợ điều chỉnh, một quy tắc đã bị xóa bỏ) không làm cho tính đầy đủ, bao quát của
Bộ quy tắc đạo đức nghề luật của Hoa Kỳ bị giảm đi Theo quan điểm của nhóm, không phải
có nhiều điều khoản quy định là sẽ tốt Vì luật cần tính linh hoạt có thể áp dụng trong nhiềutrường hợp, tránh lỗ hổng pháp luật Hơn nữa, ba quy tắc bổ trợ này đã khái quát đầy đủ vềbản chất, vai trò của một luật sư tư vấn cho nên đã đạt được sự đầy đủ cần thiết
Sau nhiều lần thay đổi cùng những diễn biến diễn ra trong lịch sử luật pháp của Hoa
Kỳ, chúng ta có thể thấy Bộ quy tắc đạo đức nghề luật của Hoa Kỳ đã đạt được sự hợp lý vàkhả thi để có thể điều chỉnh và giúp luật sư phát huy hết khả năng của bản thân
Nhìn nhận từ góc độ thực tế, pháp luật Hoa Kỳ nói chung và nghề luật sư nói riêng đãthực hiện tốt vai trò trong xã hội Bởi xã hội và người dân có cuộc sống tốt, ngoài các nhân tốnhư: đảng cầm quyền lãnh đạo, bối cảnh kinh tế hay thuận lợi sẵn có thì luật pháp là mộtnhân tố tác động không nhỏ đến sự phát triển của xã hội
Trang 9CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CHI TIẾT BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ Ở HOA KỲ
2.1 Nội dung chi tiết của Bộ quy tắc đạo đức Hoa Kỳ:
Bộ quy tắc mẫu gồm 8 phần, trong đó chứa các quy tắc khác nhau:
2.1.1 Quan hệ giữa khách hàng và luật sư (Client-Lawyer Relationship)
Phần này bao gồm 18 quy tắc bổ trợ Luật sư phải tuân thủ một số tiêu chí đạo đứcnhất định khi làm việc với khách hàng của mình Luật sư phải có trách nhiệm thực hiện vàhoàn thành nhiệm vụ của mình trong phạm vi cho phép của các quy tắc ứng xử Một trongnhững quy tắc mà luật sư phải tuân thủ, đó là quy tắc tính phí (quy tắc 1.5) Vì tính chất làmột nghề tự do nên luật sư có nguồn thu nhập chính từ phí dịch vụ pháp lý do khách hàng chitrả Với một hợp đồng dịch vụ pháp lý điển hình, tiền đặt cọc (retainer) là khoản chi đầu tiên
để thuê một luật sư Tiền đặt cọc có thể là một con số xác định hoặc được tính phần trăm dựatrên phí luật sư thỏa thuận trong hợp đồng Tùy vào loại dịch vụ, mức độ phức tạp của vụviệc mà chi phí này cao hay thấp Hoặc phí luật sư có thể tùy thuộc vào kết quả cuối cùng của
vụ việc, chẳng hạn sẽ được tính theo phần trăm đã thỏa thuận dựa trên số tiền thắng kiệntrong một tranh chấp dân sự tại tòa; khi đó phí này gọi là phí phụ thuộc
Sau khi hoàn tất dịch vụ pháp lý, luật sư có quyền tạm thời sở hữu các giấy tờ và tàisản liên quan trong vụ việc cho đến khi khách hàng thanh toán đầy đủ chi phí cho mình
Xuất phát từ thuật ngữ La-tin có nghĩa “vì lợi ích công cộng”, pro bono public/pro
bono là nghĩa vụ đạo đức đặt ra cho những người làm nghề thực hành luật Theo đó, một luật
sư có thể cung cấp dịch vụ pháp lý mà không tính phí với thiện ý đóng góp cho xã hội Vì vậynên các vụ việc được trợ giúp pháp lý miễn phí thường thuộc một số lĩnh vực và hoạt độngnhư y tế, giáo dục, văn hóa – nghệ thuật, hỗ trợ nhóm người yếu thế trong xã hội,
Ngoài ra một yếu tố thường được nói tới trong trách nhiệm nghề nghiệp đó là giữ bímật mọi thông tin liên quan đến việc đại diện khách hàng Tuy nhiên, có những quy tắc giữ bímật đòi hỏi luật sư phải tố cáo khi có bất kỳ hành vi tội phạm công ty hoặc lừa đảo mà mìnhbiết được trong quá trình quan hệ luật sư - khách hàng, được quy định tại điểm b tại quy tắc1.6 về mật thông tin khách hàng
Xung đột lợi ích cũng là một quy tắc mà luật sư cần chú ý tới khi hành nghề luật sư.Xung đột lợi ích (conflict of interest) là một thuật ngữ thường thấy ở lĩnh vực pháp luật vàhành chính công Trong phạm vi công việc của một luật sư, xung đột lợi ích xảy ra khi có sự
Trang 10đối lập về lợi ích kinh tế, quyền lợi tài sản hoặc nhân thân giữa các khách hàng, giữa luật sư
và nhân viên, người nhà của luật sư với khách hàng trong cùng một vụ việc hoặc trong những
vụ việc khác có liên quan đến vụ việc đó (quy tắc 1.7 đến quy tắc 1.11)
2.1.2 Trong vai trò cố vấn
Tại đây, luật sư tư vấn có thể đưa ra những tư vấn phải công bằng về những yếu tốđạo đức, kinh tế, xã hội và chính trị liên quan đến tình trạng của khách hàng Luật sư đóngvai trò là người thứ 3 trung lập (quy tắc 2.4), có thể làm trung gian cho nhiều khách hàngnhưng chỉ khi mỗi khách hàng đồng ý và việc trung gian được tiến hành một cách công bằng
mà không làm ảnh hưởng đến trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư đối với bất kỳ khách hàngnào
2.1.3 Trong vai trò biện hộ
Luật sư tranh tụng đòi hỏi phải là người bào chữa cho khách hàng Luật sư phải cónhững nỗ lực phù hợp để tiến hành tranh tụng sao cho thống nhất với lợi ích của khách hàng(quy tắc 3.2)
Đây là một trách nhiệm quan trọng trong hệ thống thông luật vì nó cho phép các bêntranh tụng nghĩa vụ phải thu thập chứng cứ, đưa ra lập luận pháp lý và trình chứng cứ và lậpluận tại tòa để cho thẩm phán và bồi thẩm đoàn xem xét và quyết định
Tuy nhiên, luật sư không được phép đi quá giới hạn đạo đức trách nhiệm nghề nghiệpnhằm để đạt được thành công về pháp lý, cố ý đại diện sai trái tại tòa hoặc tiếp cận chứng cứmột cách sai trái Luật sư phải làm sáng tỏ mọi tình tiết nội dung và pháp lý cần thiết để tránhgây nhầm lẫn cho Tòa, phải công bằng với bên đối phương và luật sự đối phương (quy tắc3.4)
Đồng thời, luật sư cũng cần tìm cách để bảo vệ tính toàn vẹn, và tính vô tư trong quátrình tố tụng Vì thế, luật sư không thể tìm mọi cách để gây ảnh hưởng đến thẩm phán, hoặchội thẩm thông qua giao tiếp không đúng mực hoặc đưa ra những tuyên bố công khai về vụviệc nếu luật sư biết rằng những tuyên bố đó sẽ gây thiên vị cho quá trình tố tụng Nếu luật sưbiết rằng mình sẽ là một nhân chứng cần thiết tại tòa, thì không được làm người bào chữa tạiphiên tòa (quy tắc 3.7)
Trang 112.1.4 Giao dịch với người khác ngoài khách hàng (Transactions with Persons Other Than Clients)
Luật sư phải hành động một cách có đạo đức như trung thực, công tâm khi giao tiếpvới những người khác ngoài khách hàng của mình trong quá trình đại diện cho khách hàng
Vì thế, luật sư không được chủ ý đưa ra các tuyên bố sai trái hoặc tiếp tay cho tội phạm hoặclừa đảo bằng cách không tố cáo những tình tiết nội dung cho bên thứ ba Luật sư bị cấm giaodịch với khách hàng của bên kia Khi giao dịch với bên thứ 3, là người khác ngoài kháchhàng, luật sư phải cố gắng để giải thích vai trò của mình nhằm tránh sự hiểu lầm và khôngđược lấy chứng cứ từ bên thứ 3 một cách bất hợp pháp Luật sư vi phạm trách nhiệm nghềnghiệp của mình nếu sử dụng những hành động chỉ nhằm mục đích gây lúng túng, trì hoãnhoặc tạo thêm gánh nặng
2.1.5 Các công ty luật và Hiệp hội Luật (Law Firms and Associations)
Ngoài những quy tắc đối với khách hàng, luật sư còn tuân thủ những quy tắc đạo đứcứng xử đối với các cộng sự của mình trong một tổ chức
Tại Hoa Kỳ, quy định về thành viên trong các tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý thìmột luật sư có thể là giám đốc, nhân viên hay thành viên của một tổ chức dịch vụ pháp lý,ngoài các công ty luật nơi mà luật sư hành nghề, dù rằng tổ chức đó phục vụ cho nhữngngười có lợi ích bất lợi cho một khách hàng của luật sư đó
2.1.6 Dịch vụ công cộng (Public Service)
Luật sư là một ngành nghề cao quý và một trong những ngành nghề có lương cao nhấttại Mỹ Quy tắc đạo đức nghề nghiệp không đòi hỏi luật sư phải làm dịch vụ pháp luật miễnphí nhưng có quy định một thời gian nhất định trong năm (quy tắc 6.1) Cụ thể là mỗi luật sưđược khuyến khích phải có 50 giờ làm việc miễn phí cho cộng đồng, đối với các đối tượngđặc biệt được pháp luật quy định như các tổ chức từ thiện, tôn giáo, người bị hạn chế nănglực hành vi dân sự hay người chưa thành niên
Khi không muốn cung cấp các dịch vụ pháp lý công cộng này, luật sư có quyền từchối, nhưng phải có lý do chính đáng chứng tỏ mình không có khả năng làm tốt được nhiệm
vụ được giao hoặc mình không đủ năng lực để có thể đem lại lợi ích cao nhất cho khách hàngcủa mình Ngoài ra, luật sư còn được khuyến khích nên tự nguyện đóng góp tài chính củamình vào các tổ chức cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người bị hạn chế năng lực hành
vi dân sự
Trang 122.1.7 Thông tin về các dịch vụ pháp lý (Information about Legal Services)
Trước đây việc luật sư quảng cáo dịch vụ của mình thì bị coi là thiếu đạo đức Mặc dùnhững năm trở lại đây việc quảng cáo được cho phép nhưng có quy định rất chặt chẽ Luật sưkhông được đưa ra những quảng cáo so sánh thiếu căn cứ hoặc không chính xác đối với cácluật sư khác nhằm các mục đích làm xấu hình ảnh của nhau (quy tắc 7.2)
2.1.8 Duy trì tính toàn vẹn của nghề (Maintaining the Integrity of the Profession) bao gồm 5 quy tắc
Luật sư có nghĩa vụ duy trì sự toàn vẹn của việc hành nghề pháp luật thông qua hành
vi ứng xử cá nhân của mình và thông qua giám sát các luật sư khác
Hơn thế nữa, luật sư phải góp phần duy trì sự thống nhất của hệ thống pháp luật Vìthế cho nên, sẽ coi là ứng xử không chuyên nghiệp nếu đưa ra những tuyên bố sai trái hoặcthiếu thận trọng liên quan đến chất lượng hoặc sự thống nhất của thẩm phán, viên chức Tòa
án hoặc công ty luật Luật sư phải có nghĩa vụ báo cho nhà chức trách có thẩm quyền việcmình biết về hành vi ứng xử mà theo đó có nghi ngờ về sự trung thực, đứng đắn hoặc khôngphù hợp của một luật sư khác
Trang 13CHƯƠNG III: SO SÁNH BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ ỞHOA KỲ VÀ BỘ QUY TẮC ĐẠO ĐỨC VIỆT NAM
- Việc tính phí sẽ được thựchiện trước hoặc trong thời gian đạidiện, và bằng văn bản
- Phí phụ thuộc vào kết quảcủa vấn đề Trong quá trình đại diện,nếu có phí phát sinh sẽ được xác định
rõ trong hợp đồng cũng như phươngpháp tính phí
- Để xác định tính hợp lý củakhoản phí, bao gồm các yếu tố đượcliệt kê kèm theo
( Nguyên tắc 1.5 Phí )
- Luật sư, tổ chức hànhnghề luật sư phải tư vấn chokhách hàng về căn cứ tính thù lao,phương thức thanh toán thù lao;thông báo rõ ràng mức thù lao, vàmức thù lao phải được ghi rõtrong hợp đồng
( Nguyên tắc 7 )
Giống: Để tính mức phí, khoản phí đều dựa trên những yếu tố xác định như:
+ Thời gian và công sức mà luật sư dành ra để đáp ứng yêu cầu khách hàng
+ Nội dung, tính chất công việc được yêu cầu
+ Kinh nghiệm, danh tiếng của luật sư
+ Số thời gian luật sư làm việc
Khác:
- Cách thức quy đinh:
+ Phí, hay thù lao là khoản tiền mà luật sư được nhận sau khi cung cấp dịch vụ pháp
lý cho khách hàng Bộ quy tắc của Việt Nam không trực tiếp làm rõ, mà sử dụng cum từ
“những quy định của pháp luật” Từ đó, phải tìm hiểu cụ thể trong các văn bản luật liên quan
Trang 14khác Cụ thể là Luật luật sư năm 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012, quy định tại chương 4
“Thù lao và chi phí, tiền lương theo hợp đồng lao động” :
Điều 55 Căn cứ và phương thức tính thù lao đã đặt ra các tiêu chí cụ thể
Điều 56 Thù lao, chi phí trong trường hợp luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý theo hợpđồng dịch vụ pháp lý
Điều 57 Thù lao, chi phí trong trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của
cơ quan tiến hành tố tụng
Điều 58 Tiền lương theo hợp đồng lao động của luật sư hành nghề với tư cách cánhân
Điều 59 Giải quyết tranh chấp về thù lao, chi phí, tiền lương theo hợp đồng laođộng
+ Bộ quy tắc của Hoa Kỳ quy định trực tiếp, liệt kê những yếu tố để xác định tính hợp
lý của khoản phí bên cạnh việc nghiêm cấm luật sư thực hiện việc thỏa thuận, tính phí haythu khoản phí bất hợp lý
- Điều khoản hướng dẫn:
+ Bộ quy tắc của Việt Nam ngoài liệt kê các yếu tố làm căn cứ và phương thức tínhthù lao chung, còn có các trường hợp khác như:
Trường hợp luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý theo hợp đồng dịch vụ pháp lý (Điều56)
Trường hợp luật sư tham gia tố tụng theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng(Điều 57)
Trường hợp tiền lương theo hợp đồng lao động của luật sư hành nghề với tư cách cánhân (Điều 58)
+ Bộ quy tắc của Hoa Kỳ không phân chia từng trường hợp, cho dù trong hệ thốngluật pháp của Hoa Kỳ có sự phân biệt giữa luật sư tư vấn và luật sư tranh tụng Nhưng họ đưa
ra các yếu tố chung để xác định tính hợp lý của khoản phí Trong đó:
Các yếu tố có sự tương đồng với bộ quy tắc của Việt Nam, tuy nhiên có một yếu tốtạo nên sự khác biệt đó là lệ phí áp dụng tại địa phương, khu vực đối với các dịch vụ pháp lýtương tự Vì luật sư cung cấp dịch vụ pháp lý cũng như người bán trên thị trường, để đảmbảo sự công bằng, hợp lý thì luật sư không được cung cấp mức giá quá cao hay quá thấp
Trang 15Trong bộ quy tắc của Hoa Kỳ, trường hợp xảy ra tranh chấp về phí, nếu như đã cómột thủ tục được thiết lập để giải quyết thì luật sư phải tuân theo cho dù quy định đó mangtính tự nguyện.Ví dụ, trong trường hợp luật sư đại diện cho khách hàng mà họ được hưởngmột số tiền hợp pháp như một phần của bồi thường Luật sư sẽ được hưởng khoản phí đó vàluật sư đại diện cho một bên liên quan đến khoản phí phải tuân theo quy định ( xem trongcomment [9], nguyên tắc 1.5 )
Kết luận: có thể thấy, bộ quy tắc của Hoa Kỳ đã đạt được sự tiến bộ khi kết hợp hai
yếu tố đó là luật pháp và trao quyền tự trị (trong giới hạn cho phép) để luật sư có thể đưa ramức phí hợp lý Điều này đặt ra tính hợp lý cũng như sự linh hoạt cho bộ quy tắc của ViệtNam để có thể đảm bảo việc tính thù lao của luật sư là chính xác, rõ ràng
- Luật sư được quyền rút khỏiviệc đại diện trong trường hợp quyđịnh tại (b)
- Khi chấm dứt việc đại diệnphải có thông báo cho khách hàng,đồng thời bảo vệ lợi ích của kháchhàng
( Nguyên tắc 1.16 )
- Luật sư từ chối nhận vụviệc của khách hàng trong cáctrường hợp quy định tại quy tắc9.1
- Luật sư từ chối tiếp tụcthực hiện vụ việc trong các trườnghợp quy định tại quy tắc 9.2
- Khi luật sư đơn phươngchấm dứt thực hiện dịch vụ pháp
lý, cần thông báo bằng văn bảncho khách hàng, cũng như có thái
Trang 16+ Việc cung cấp dịch vụ pháp lý sẽ dẫn đến việc vi phạm các quy tắc trong bộ quytắc.
+ Khả năng của luật sư không đủ đáp ứng yêu cầu của khách hàng
+ Khách hàng lợi dụng luật sư nhằm mưu đồ cá nhân, làm việc trái pháp luật
+ Khách hàng không làm đúng theo thỏa thuận trong hợp đồng
+ Khách hàng không chấp nhận ý kiến tư vấn của luật sư, và giữa khách hàng với luật
sư có bất đồng với nhau
- Khi từ chối hay chấm dứt việc cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng, ngoài việcluật sự cần thông báo hợp lý cho khách hàng cùng những công việc liên quan khác đến yêucầu, luật sư còn phải có thái độ tích cực trong việc bảo vệ lợi ích cũng như tôn trọng kháchhàng
Khác:
- Cách thức quy định:
+ Bộ quy tắc của Việt Nam, quy tắc 9 Từ chối nhận và thực hiện vụ việc của kháchhàng Quy tắc này nhằm quy định quyền từ chối của luật sư trong hai giai đoạn, bao gồmnhận vụ việc và từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc của khách hàng
Luật sư từ chối nhận vụ việc của khách hàng (Quy tắc 9.1)
Luật sư từ chối tiếp tục thực hiện vụ việc (Quy tắc 9.2)
+ Bộ quy tắc của Hoa Kỳ, nguyên tắc 1.16 không có sự phân chia theo giai đoạn màphân chia trong những trường hợp nhất định:
Luật sư sẽ không đại diện cho khách hàng, hoặc nếu đã bắt đầu, luật sư sẽ rút khỏiviệc đại diện (a)
Luật sư được quyền rút khỏi việc đại diện (b)
- Điều khoản hướng dẫn:
+ Bộ quy tắc của Việt Nam, trong quy tắc 9.2, có một quy tắc: “Các trường hợp phải
từ chối do quy định của pháp luật hoặc trường hợp bất khả kháng khác” Nhưng hiện tại, chưa
có một văn bản nào hướng dẫn làm rõ quy tắc này Dẫn đến việc hiểu không đúng về trườnghợp bất khả kháng là như thế nào, từ đó hành xử sai quy tắc
+ Bộ quy tắc của Hoa Kỳ, có một điểm khác biệt đó chính là luật sư phải tuân theopháp luật hiện hành hay sư cho phép của tòa án (c) Trong trường hợp tòa án yêu cầu, thì luật
Trang 17tắc đạo đức nghề nghiệp, luật sư không nên vì thế mà từ chối hoặc rút việc đại diện ( xemcomment 2, nguyên tắc 1.16 )
Khách hàng có quyền hủy dịch vụ pháp lý của luật sư bất cứ lúc nào và phải thanhtoán khoản phí thích hợp Nhưng bộ quy tắc của Hoa Kỳ đã dành sự quan tâm khi hướng tớichủ thể là khách hàng Yêu cầu luật sư cần thảo luận kỹ với khách hàng về hậu quả pháp lýxảy ra khi khách hàng đơn phương chấm dứt để có thể hạn chế, giảm thiểu rũi ro xảy ra ( xemcomment 4, 5 nguyên tắc 1.16)
Kết luận: bộ quy tắc của Hoa Kỳ hướng tới sự công bằng, đảm bảo cho mọi người
dân cao hơn khi đã đưa ra các quy định về việc chấm dứt dịch vụ pháp lý của khách hàng.Đây không chỉ là giảm thiểu rủi ro mà còn là sự bảo vệ cho những người dân không có nhiềukiến thức pháp luật, và đặt ra một tiêu chuẩn cao cho luật sư
- Luật sư không được tiết lộ
thông tin việc đại diện cho khách hàngtrừ trường hợp có thỏa thuận
- Luật sư có thể tiết lộ thôngtin nếu có lý do chính đáng, quy địnhtại (b)
- Luật sư có những nỗ lực hợp
lý để ngăn chặn việc tiết lộ thông tintrái phép hay truy cập thông tin tráiphép
( Nguyên tắc 1.6 )
- Luật sư có nghĩa vụ giữ
bí mật thông tin khách hàng, trừtrường hợp có thỏa thuận haypháp luật quy định
- Luật sư yêu cầu các đồngnghiệp liên quan và nhân viêncủa mình cam kết không tiết lộthông tin
( Quy tắc 12 )
Giống: Quy tắc này quy định luật sư có nghĩa vụ giữ bí mật thông tin của khách hàng
khi thực hiện dịch vụ pháp lý và cả khi đã kết thúc dịch vụ đó, trừ trường hợp được kháchhàng đồng ý hoặc theo quy định của pháp luật; luật sư có trách nhiệm yêu cầu các đồng